Hàn Mặc Tử -Nguyễn Trọng Trí, Hàn Mạc Tử
Hàn Mặc Tử – Nguyễn Trọng Trí, Hàn Mạc Tử.

chân dung Hàn Mạc Tử
Hàn Mặc Tử (22/9/1912 – 11/11/1940) tên thật Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Phêrô Phanxicô, còn có các bút danh Lệ Thanh, Phong Trần, Minh Duệ Thị. Ông sinh ở làng Lệ Mỹ, huyện Đồng Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là Quảng Bình) trong một gia đình công giáo nghèo, cha mất sớm. Thuở nhỏ sống và học tiểu học ở Quy Nhơn, học trung học ở Huế, sau làm ở Sở Đạc Điền, bị thôi việc vì đau ốm. Năm 1934-1935, ông theo Thúc Tề vào Sài Gòn làm báo (viết báo Công luận, phụ trách trang văn báo Sài Gòn), về sau lại trở ra Quy Nhơn. Năm 1936, bị mắc bệnh phong, phải vào nhà thương Quy Nhơn và qua đời ở đó.
Hàn Mặc Tử làm thơ sớm, 14 tuổi đã làm thơ Đường luật đăng báo với bút danh Minh Duệ Thị. Năm 1930, ông đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ do một thi xã tổ chức. Cùng Chế Lan Viên lập Trường thơ…
TÁC PHẨM:
- Ái khanh hỡi
- Ăn tết
- Biết anh
- Bức thư xanh
- Canh khuya cảm tác
- Cảnh Phan Thiết trong ngày tuần du
- Chạy theo hạnh phúc
- Chưa biết yêu
- Cô Bích Ngọc trả lời
- Đàn ngọc
1
- Đánh lừa
- Đêm khuya ở nhà quê
- Đêm khuya tự tình với sông Hương
- Đón gió
- Em đau
- Em sắp lấy chồng
1
- Gái lấy chồng già
- Ghẹo cô bán chè bông cỏ
- Gởi cho người không quen biết
- Hình ảnh xưa
- Hỏi thăm cô Bích Ngọc
1
- Hồn lìa khỏi xác
- Hồn qua đêm
- Kén chồng
- Khách qua đường và cô bán trầu
- Lòng anh
- Lượng vàng
- Lưu luyến
- Một cõi quên
5
- Mùa thương Rụng rồi
- Này đây lời ngọc song song
- Nắng vàng
- Ngày tết xa nhà
- Ngày xuân đi chơi đề thơ ở chùa
- Ngoạn cảnh chùa
- Ngoạn cảnh chùa
- Nhạc bay
- Nhàn
- Nước mây
- Phong hoa tuyết nguyệt
- Phút mơ màng
- Say máu ngà
- Siêu thoát
1
- Sống khổ và phấn đấu
- Sớm mồng một Tết đi xe lửa ra Huế
- Thắm thiết
- Thầm lặng
- Thương
- Tởn làm thơ Đường luật
- Trên bờ
- Trên cầu Tràng Tiền
- Trên dòng tiêu Kim Thuỷ
- Tự thuật
- Tự trào
- Tương tư
- Vẩn vơ…
- Vớt hồn
1
- Xuân như ý
- Ý trinh
- Yêu để sống
Cẩm châu duyên
Lệ Thanh thi tập
- Âm thầm
22
- Bán túi thơ
1
- Bán túi thơ (tự hoạ)
- Bẽn lẽn
212
- Buồn thu
3
- Bút thần khai
- Bước giang hồ
- Ca dao
- Ca dao
1
- Ca dao Em sắp lấy chồng
2
- Cảm tác
- Chơi thuyền gặp mưa
- Chùa hoang
- Chùa ông núi Phù Cát
- Chuyến đò ngang
1
- Cửa sổ đêm khuya
2
- Duyên muộn
2
- Đàn nguyệt
1
- Đêm thu câu cá
- Đêm trăng
- Đi thuyền
- Em lấy chồng
2
- Gái ở chùa
- Gái quê
2
- Giang hồ nhớ mẹ
- Hái dâu
2
- Hoạ bài Ngọn gió canh khuya
- Hoa phong lạc – Đi đường ban đêm
- Hồn cúc
- Khuê phụ thán
- Mất duyên
2
- Một đêm nói chuyện với gái quê
2
- Mơ…
2
- Nắng tươi…
2
- Ngâm vịnh
- Ngâm vịnh
- Ngâm vịnh
- Nhớ nhung
2
- Nhớ Trường Xuyên
2
- Nụ cười
2
- Núi Vọng Phu
- Phá tề trận – Vườn hoa sau trận bão
- Quả dưa
2
- Sầu xuân
- Sượng sùng
2
- Thanh nhàn
- Thuật hoài
- Thức khuya (Đêm không ngủ)
- Tiếng vang
2
- Tình quê
21
- Tình thu
21
- Tôi không muốn gặp
2
- Trả lời người rao bán thơ
- Trả lời người rao bán thơ (tự hoạ)
- Trái mùa
2
- Trồng hoa cúc
- Tuồng đời
- Uống trăng
2
- Vịnh hoa cúc
- Vịnh lầu ông Hoàng
- Vô đề
- Vội vàng chi lắm
1
- Xuân hứng
Thượng thanh khí
Xuân như ý
Gái quê (1936)
- Nụ cười
2
- Gái quê
2
- Nắng tươi…
2
- Bẽn lẽn
212
- Tôi thích làm con gái
- Khóm vi lau
- Tiếng nấc…
- Tôi không muốn gặp
2
- Ngủ mớ
- Uống trăng
2
- Ngày mai…
- Hồn thơ
- Mất duyên
2
- Duyên muộn
2
- Sượng sùng
2
- Hái dâu
2
- Quả dưa
2
- Trái mùa
2
- Hái trầu tươi
- Nhớ nhung
2
- Em làm dáng
- Hát giã gạo
- Âm thầm
22
- Tiếng vang
2
- Tình quê
21
- Mơ…
2
- Tình thu
21
- Một đêm nói chuyện với gái quê
2
- Nhớ chăng?
- Đời phiêu lãng
1
- Lòng quê
1
- Cô bán trầu
- Ca dao Em sắp lấy chồng
2
- Em lấy chồng
2
Đau thương (Thơ điên, 1937)
Chơi giữa mùa trăng (1941)
Tuyển tập chung
100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)
Đôi hồn
Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (1942)
- Bẽn lẽn
12
- Đêm xuân cầu nguyện
- Mùa xuân chín
18
- Ra đời
1
- Thánh nữ đồng trinh Maria Ave Maria
5
- Tình quê
1
- Trường tương tư
Thi nhân Việt Nam hiện đại – quyển thượng (1959)
- Buồn thu
3
- Chùa hoang
- Đêm xuân cầu nguyện
- Mùa xuân chín
18
- Ra đời
1
- Thánh nữ đồng trinh Maria Ave Maria
5
- Tình quê
1
- Trường tương tư
Số bài tiêu biểu
Đây thôn Vĩ Dạ Ở đây thôn Vĩ Giạ
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Hàn Mặc Tử » Đau thương (Thơ điên, 1937) » Phần 1: Hương thơm
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Bài thơ này được Hàn Mặc Tử được làm vào thời gian cuối đời khi đang điều trị bệnh phong và sống trong cô đơn, tuyệt vọng. Bài thơ viết về mối tình đơn phương với Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ người Huế dịu dàng, kín đáo mà Hàn thầm yêu khi làm việc tại sở Đạc Điền ở Quy Nhơn, nhưng không dám thổ lộ, mà rào cản chính theo cô Hoàng Cúc là do lương giáo, khi nhà cô theo Phật mà Hàn theo Chúa. Một thời gian sau, cô Cúc trở về thôn Vĩ Dạ (hay Vĩ Giạ), Huế, biết tin Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng, đã gửi cho ông một bức bưu ảnh phong cảnh thôn Vĩ. Chính hình ảnh ấy, cùng với nỗi nhớ thương và khát vọng tình yêu, đã trở thành chất xúc tác để ông viết nên bài thơ.
Tiêu đề bài thơ ban đầu là Ở đây thôn Vĩ Giạ, một số sách in về sau đổi thành Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành bài hát cùng tên.
Thời gian vừa qua, bài thơ lãng mạn gây ra nhiều nhận định bất đồng, thậm chí đối lập nhất khi phân tích, bình giảng, hẳn là 12 câu Đây thôn Vĩ Giạ. Nguyên nhân sự hạn chế của một số bài viết có nhiều. Thứ nhất là thói quen xã hội học dung tục; như tác giả bài Tiếng thở dài. Chia sẻ với Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Tác phẩm nào, người phân tích cũng cố quy về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo (…). Cái hay của văn chương nhiều hình nhiều vẻ, đâu phải chỉ có vài ba giá trị được khuôn sẵn rồi cứ thế ép tác phẩm cổ kim đông tây vào những giá trị ấy.” (1) Thứ hai là do người nghiên cứu không thuộc phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; ví dụ: ai cũng rõ một trong mấy nét cơ bản của tiếng thơ Hàn Mặc Tử là hướng nội:
Hàn Mặc Tử luôn luôn có khuynh hướng quay vào nội tâm, ông rất ít tả, ít kể theo cái nhìn của con mắt” (2), nói như Trần Đăng Thao, Hàn Mặc Tử thường “nhìn thấy bằng tâm tưởng” (3); nhưng bởi không thuộc phong cách thi pháp bao trùm này trong thơ Hàn Mặc Tử, người viết những dòng phân tích Đây thôn Vĩ Giạ trong Soạn văn (tập I) chỉ hoàn toàn tập trung phân tích khách thể được tái hiện trong tác phẩm qua 3 đề mục: Đây thôn Vĩ Giạ, Dòng sông Hương, và Những cô gái Huế (4) – Lê Bảo đã nhận xét đúng rằng: Giảng văn như vậy thì mới chỉ chú ý đến “cái ý ở trong lời, ở trong lời, ở tầng thứ nhất của ý nghĩa”, mà thật ra “…cái mạch trữ tình vừa thắm đậm hồn người vừa thể hiện bằng một thiên bẩm tài hoa, chính đây mới là điều cần nói” (5) – Thứ ba là sự cảm thụ nghệ thuật thiếu nhạy bén. Mỹ phẩm hạn chế ấy kết hợp với nguyên nhân thứ tư. Thái độ tuỳ tiện thiếu nghiêm túc trong khâu xác định tư liệu khảo chứng… đã dẫn những ý kiến phân tích hoàn toàn sai lệch, như trường hợp Lê Đình Mai (6). Bài viết của tác giả Lê Đình Mai khiến không ít người, nhất là những ai gắn bó với Huế đẹp và thơ, không thể lên tiếng: “Lẽ ra tôi không viết bài này…Nhưng sao tôi thấy không đành! Không đành với Hàn Mặc Tử, không đành với bà Hoàng Cúc, không đành với bạn đồng nghiệp, với bạn đọc gần xa mến mộ Hàn Mặc Tử” (Mai Văn Hoan). Tác giả bài Nói thêm về bài thơ Thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử (7) cũng có phản ứng tương tự…
Để định hướng tiếp cận đúng đắn và có điều kiện cảm nhận chính xác những tứ thơ vừa xa cách nhau vừa mờ ảo của Đây thôn Vĩ Giạ; thì một khi biết rằng nội dung bài thơ liên quan đến Hoàng Cúc (một thiếu nữ trong trắng con nhà gia giáo lúc bấy giờ đang cư ngụ ở thôn Vĩ Giạ nên thơ nên hoạ, chứ không phải liên quan đến các cô gái “giang hồ” ở cái xóm bình khang Vĩ Giạ “dâm ô” theo một suy diễn tưởng tượng nào đó), ta không thể không nhắc lại đôi điều về mối quan hệ tình cảm giữa Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc – căn cứ vào những tài liệu đáng tin cậy của: Quách Tấn người bạn thơ gần gũi nhất của Hàn Mặc Tử) (8); Đào Quốc Toản (cán bộ giảng dạy Đại học ở Huế, trước đây khi hướng dẫn sinh viên làm khoá luận về thơ Hàn Mặc Tử đã từng gặp gỡ bà Hoàng Cúc) (9); và thầy giáo Mai Văn Hoan, người hiện dạy học ở đất núi Ngự sông Hương đã “có mặt trong đám tang” bà Hoàng Cúc: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết” (10).
Hoàng Cúc khi là một thiếu nữ mới lớn, sống ở Qui Nhơn. Cô con nhà quan, có học, không đẹp nhưng có duyên và thuỳ mị nết na. Nhà cô đi chung một lối với nhà Hàn Mặc Tử (lúc ấy đang làm việc ở Sở Đạc điền). Giữa hai người hẳn có một mối giao tiếp rất đơn giản nhẹ nhàng kiểu những ai gần ngõ. Nhà thơ đã viết những vấn đề Hoàng Cúc (trong tập Gái quê) với tình cảm đơn phương vô vọng; vì không những Hoàng Cúc là một thiếu nữ mới lớn, con nhà nề nếp, tính tình kín đáo, mà hoàn cảnh hai gia đình có một hố sâu ngăn cách: thân phụ Hoàng Cúc là viên chức cao cấp, nhà theo đạo Phật…, còn Hàn Mặc Tử mồ côi cha từ thuở thiếu thời, gia đình theo đạo Thiên Chúa, đời sống khó khăn, thêm nữa lúc ấy Hàn Mặc Tử chỉ là viên chức nhỏ ở Sở Đạc điền, lại đang có nguy cơ thất nghiệp… Khoảng 1935, sau khi Hàn Mặc Tử từ giã Qui Nhơn vào Sài Gòn thì gia đình Hoàng Cúc cũng chuyển từ Qui Nhơn ra Huế (thôn Vĩ Giạ). Cuối năm 1936, lúc chớm có hiện tượng sức khoẻ không bình thường, tuy chưa khẳng định là bệnh phong, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Qui Nhơn thì: “Trước sau nào thấy bóng người…”; nhà thơ coi như Hoàng Cúc đã bước lên xe hoa chung thân vĩnh biệt (mặc dầu, không rõ đích xác vì lý do gì, từ sau đó về sau, Hoàng Cúc khước từ mọi đám cầu hôn, sống độc thân ở Vĩ Giạ và hoạt động ở Hội Phật tử miền Nam cho đến lúc mất). Khoảng năm 1937, nghe tin Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y, Hoàng Cúc đã “gửi vô Qui Nhơn cho Hàn Mặc Tử một tấm hình chụp hồi còn mặc áo dài trường Đồng Khánh (11) có kèm theo lời thăm hỏi sức khoẻ và “trách” Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm Vĩ Giạ? Không thăm lại đất cũ người xưa? (Hàn Mặc Tử đã từng học trung học ở Pellerin ở Huế)” (Đào Quốc Toản).
Nhận được những dòng tình cảm chân thành quý giá của người thiếu nữ vốn có nề nếp sống kín đáo ấy, Hàn Mặc Tử xúc động mạnh, và Đây thôn Vĩ Giạ đã ra đời (hẳn ngay trong năm 1937). Bài thơ được gửi ra Huế cho Hoàng Cúc. Thời gian lặng lẽ trôi, cô rồi bà Hoàng Cúc đã giữ gìn bài thơ kỷ vật này cho đến lúc từ trần.
Biết rõ nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời của Đây thôn Vĩ Giạ là như vậy, chúng ta có thể lướt qua vùng giải vũ chữ nghĩa mờ ảo mơ màng, đặng xâm nhập được hậu cung ý tứ sâu xa của tác phẩm.
Tứ thơ cơ bản đích thực của Đây thôn Vĩ Giạ phải chăng là nỗi niềm lo âu cho hạnh phúc, trong khát vọng cái Đẹp hoá giải trạng huống đau thương. Tứ thơ bao trùm này thể hiện tập trung trong hai câu thoảng ý nghi vấn: “Có chở trăng về kịp tối nay” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng, cái Đẹp của đất trời??), và: “Ai biết tình ai có đậm đà” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng cái Đẹp của tình người?).
Mở đầu bài thơ là câu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Lời thơ khơi dòng thi tứ tương tự sự biến tấu tình cảm trong lời thơ của người thôn Vĩ, như muốn khẳng định việc thăm hỏi ân cần ấy không phải trong mơ mà có thật, và như thế, đồng thời để bản thân được nhấm nháp thứ “tiên dược” không những đối với thân bệnh mà còn cả cho tâm bệnh nan y. Tiếp đó, lời thư đã từ từ gọi thức những hình bóng thôn Vĩ ngày xưa – thời người thơ còn là một cậu học trò Trung học Pellerin Huế:
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Tờ thư “tiên dược” của tấm lòng son thôn Vĩ quả đã có tác dụng nhiệm màu đối với người bệnh: sinh lực hồi sinh; do đó đất trời đã mở ra tràn đầy sức sống: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, và cảnh trí xuất hiện đẹp tươi như trước mắt trẻ thơ: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” (về tứ pháp mà nói, chữ “mướt” thật rất Hàn Mặc Tử, và khi so sánh “xanh như ngọc” thì rõ ràng “thi trung hữu ngọc”, mà đây là bút pháp của một danh hoạ trường phái ấn tượng nhân lực tinh tường và trái tim đa cảm). Rồi không rõ từ nơi đâu trong ký ức trở về một bức chân dung có bố cục hẳn hoi ở xóm thôn Vĩ Giạ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”… Một đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử là phong cách hiện ra trước một số bài rất đậm đà màu dân tộc. Không gắn bó máu thịt với quê hương xứ sở, khó có thể viết được những câu thơ trong khổ I Đây thôn Vĩ Giạ vừa rồi – và những câu hoặc ngọt lịm dân dã (Mùa xuân chín)…
Nhưng hỡi ôi! Niềm vui quá ngắn trước vẻ Đẹp của tình người (Sao anh không về…) và của cảnh đời (Vườn ai mướt quá…). Nghĩ đến cái hố ngăn cách giữa thân phận mình với người thôn Vĩ mà giờ đay hẳn càng sâu rộng hơn (chứng bệnh nan y như đã gọi án tử hình), thi tứ Hàn Mặc Tử vụt bay đến một cõi miền đau thương đối lập: “Gió theo lối gió, mây đường mây…” – có nghĩa: rồi đây thế tất sẽ không tránh khỏi chia lìa và vĩnh quyến. Cái lối chuyển từ rất nhanh, có khi rất xa, cũng là một đặc điểm của thơ Hàn Mặc Tử; và khi “Những đột xuất ấy lặp lại với tần số cao sẽ tạo nên sự khó hiểu” (Vũ Quần Phương). Càng ở những tác phẩm cuối đời (Xuân như ý, Thượng thanh khí), thơ Hàn Mặc Tử càng thể hiện rõ đặc điểm này. Chúng ta sẽ không lạ lùng điều ấy khi nhớ lại rằng: thơ Hàn Mặc Tử trong khoảng hơn 10 năm đã đi từ đời Đường đến chủ nghĩa tượng trưng. Ngay từ tập Thơ điên, trong có bài Đây thôn Vĩ Giạ, yếu tố tượng trưng đã thấp thoáng xuất hiện. Câu thơ thôn Vĩ phảng phất đôi nét bút pháp của trường phái ấy không khỏi gây thêm đôi chút rắc rối khó hiểu nữa (dẫn đến những cảm nhận phân tán) đối với độc giả.
Do trực cảm mối quan hệ giữa bản thân với Hoàng Cúc (có lẽ là với không ít những người thân thiết khác) trước sau sẽ là gió – mây đôi ngả; nên trước mắt nhà thơ: “nắng mới” thôn Vĩ phút chốc đã lụi tắt, thay vì hình ảnh “Dòng nước buồn thiu” của Tiêu kim thuỷ (nét “hoa bắp lay” lại cũng là một hình tượng thơ xuất hiện đột ngột theo kiểu quen thuộc trong thi pháp Hàn Mặc Tử – mặc dầu về phương diện luận lịch sử có thể cho rằng: nghĩ về Vĩ Giạ là nhớ đến Cồn Hến giữa sông Hương đối diện Vĩ Giạ, trên cồn trồng nhiều vạt bắp với vùng hoa ngút ngát lay động theo gió)… Mong lãng khuây phần nào mối sầu gió – mây đôi ngả, nhà thơ ngóng đợi một bạn cố tri vô cùng thân thiết ấy có “về kịp” không “…Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay” mà cứu rỗi linh hồn: bất hạnh này không? – Kết thúc khổ thơ II là một tín hiệu mong chờ cứu nạn; nhưng lời khẩn cầu đồng thời lại đã chứa đựng niềm hồ nghi hiệu quả.
Khổ thơ II xuất hiện tiếp theo cũng không hoàn toàn rõ mạch. Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều khi như xem tranh đồng hiện: sự vật, sự thể hiện ở những thời gian không gian xa cách nhau đồng loạt xuất hiện và xâm nhập lẫn nhau không quan tâm luận lý – tính luận lý ở đây chỉ tồn tại trong tinh thần toàn khối dòng tâm tưởng. Đọc Hàn Mặc Tử, người ta cũng dễ liên tưởng đến nhà thơ Lamactin: thứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc ngẫu phát: cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào một cõi mù sương, bởi vậy, cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn phản hưởng khi va chạm với sự vật – đó là kiểu thơ “phong cảnh nội tâm”…Tương tự như vậy: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” là ai mơ? Theo mạch thơ và dựa vào ý tư trong nội dung thư Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử, người mơ hẳn đang sống ở Vĩ Giạ, nhưng cũng không loại trừ ý nghĩa là chủ thể lãng mạn cùng mơ theo… Và rồi: “Áo em trắng quá” (màu áo trắng trong tấm ảnh Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử?), có nghĩa: tâm hồn em thánh thiện quá, hạnh phúc đến đột ngột quá…, ta say men sắc màu trinh trắng đến choáng váng “nhìn không ra”? hay chỉ hàm nghĩa là: những nét chữ từ thôn Vĩ gửi về Qui Nhơn đã làm thức dậy bóng hình xa xôi một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào… Đến câu tiếp theo, đôi cánh thơ với phong độ mơ màng quen thuộc vẫn như còn tiếp tục bay lượn tìm kiếm cái đẹp ở miền đất Thần kinh sương khói mịt mờ – miền đất có:
Dòng Tiêu kim thuỷ gà xao xác
Ngẩng thấy kinh kỳ khói vấn vương
(VĂN CAO – Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)
Cuối cùng, nếu ở khổ thơ II, nhà thơ vừa muốn nhờ Trăng Vàng Trăng Ngọc làm tan biến nỗi sầu thương, vừa âu lo ước nguyện không thành:
Có chở trăng về kịp tối nay
thì chấm dứt khổ thơ kết thúc toàn bài, khi muốn nương nhờ cái Đẹp của tình người làm liệu pháp cứu rỗi, người thi nhân hoạn nạn của trần giới và đất trời này cũng vẫn không khỏi ngậm ngùi nghi ngại:
Ai biết tình ai có đậm đà.
Bên cạnh hương sắc quê xứ Việt, phải chăng tỷ trọng chủ yếu trong khối thi tứ Đây thôn Vĩ Giạ có ý nghĩa là những tín hiệu thẩm mỹ chứa đựng những ý nguyện được cứu nạn – Những tín hiệu tuy đứt nối mơ hồ mà thiết tha thấm thía của một tấm linh hồn bất hạnh – chuỗi tín hiệu cần cứu ấy gián tiếp khuyến thiện: cộng đồng con người hãy vị tha và chung thuỷ; nhất là đối với những thân phận bi kịch đã không nén nổi lời rên xiết:
Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng
(Lang thang)
(1) Mai Văn Hoan (Sông Hương, số 2, tháng 2, 3-1990)
(2) Vẻ đẹp độc đáo trong thơ Hàn Mặc Tử – Vũ Quần Phương (Giáo viên nhân dân, số đặc biệt, tháng 7-1989)
(3) Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử (GVND, số đặc biệt, tháng 3-1990)
(4) Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội và Nxb Giáo dục (1989)
(5) Về bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử (Giáo viên nhân dân, số đặc biệt, tháng 11-1989)
(6) Đây thôn Vĩ Giạ – một tiếng thở dài đáng quý (GVND số đặc biệt; tháng 1/1990)
(7) Thuần Hoa (Văn Nghệ, số 26; ngày 30-6-1990)
(8) Thơ Hàn Mặc Tử (Sở VHTT Nghĩa Bình xuất bản – 1998).
(9) Góp thêm ý kiến về bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ (Tuổi trẻ chủ nhật số 1, ngày 7-1-1990).
(10) Bà Hoàng Cúc bị tai nạn giao thông ở Thành phố Hồ Chí Minh, đưa về Huế được mấy ngày thì mất, tang lễ tổ chức hôm 15 tháng 2 năm 1990.
(11) Theo Quách Tấn và Mai Văn Hoan, thì Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu ảnh phong cảnh chứ không phải ảnh chân dung của mình (V.T).
Thông tin cải chính từ thành viên Nguyên Thánh: “Tang lễ cô Hoàng Thị Kim Cúc vào ngày 15 tháng 2 năm 1989 chứ không phải 1990 (xem bài của Mai Văn Hoan, Sông Hương số 2, 1990). Hơn nữa sau khi bị tai nạn, cô Cúc hôn mê, nằm ở Bệnh viện Chợ Rẫy khá lâu, rồi đưa về Huế, 4 tháng nữa mới mất chứ không phải mấy ngày. Thời gian đó, gia đình Phật tử khắp cả nước về thăm viếng nhiều lắm. Vụ này tôi là người Huế nên biết rõ.”
Nguyệt thị cố hương minh.
Mùa xuân chín
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
Bài thơ này từng được sử dụng trong SGK Văn học 8 giai đoạn 1990-2002.
Khác với những bài thơ tả cảnh, kể về việc thông thường, Mùa xuân chín đến với người đọc chúng ta không giống với một cái gì đã hoàn thiện. Nhà thơ dường như tạo điều kiện cho người đọc thơ có mặt từ lúc hình tượng mới chỉ là mô hình, một phôi thai của ý đồ sáng tạo. Nét vẽ thứ nhất, cái đặt bút đầu tiên trên cái nền “khói mơ tan” và phơn phớt màu “nắng ửng” nghĩa là rất mơ hồ ấy là “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Đó là thứ gam màu đệm vẫn rất gần cái sắc màu hư ảo ở trên để trở thành một tổng thể nhạt nhoà chưa định hình rõ nét. Màu vàng ở đây là của rơm rạ, ruộng đồng, mà biết đâu không phải là mấy vùng trăng còn sót lại do bầu trời ngẩn ngơ cố tình lưu giữ? Cái thực và cái ảo cứ xen kẽ, xâm nhập, đan cài vào nhau mông lung, mơ màng để tự nó sẽ thức dậy theo con sóng thời gian chập chờn ở phía sau xô đẩy.
Sự đặc tả khối hình có ý nghĩa chiến lược ấy là khi nhà hoạ sĩ tài hoa và mơ mộng quyết định chấm vào đó một nét rờn xanh. Cái đốm xanh nõn nà mềm mượt vừa hiện ra đã cựa quậy; “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”. Đó là tín hiệu mùa xuân, cái chồi búp ngọt ngào lấp ló hiện ra trên cái tàn đông giá lạnh. Ỡm ờ và thú vị biết bao là cơn gió đầu mùa như đám trẻ con tinh nghịch. Chiếc áo mùa xuân đẹp thế đang muốn ẩn lánh đi vì nó quá rực rỡ, quá nổi bật, còn cô gái xuân lại dịu dàng e thẹn xiết bao! Song, càng e lệ giấu mình thì cơn gió thóc mách kia lại càng vô tâm biết mấy. Nó lang thang ở tít tận đâu đâu nay chững lại, dồn lại, túm tụm lại trước “tà áo biếc” để trêu chọc, phơi bày. Phải chăng cái “nắng ửng” trên kia đã dự báo cái phút ngỡ ngàng này, sẽ là cái màu thẹn, cái màu làm duyên trên đôi má tròn căng sức lực của nàng xuân đến tuổi dậy thì? Như vậy là cái cửa ngõ mùa xuân vốn đã khép kín trong mấy tháng lạnh lẽo, héo hon vì chờ đợi đã mở ra “Trên giàn thiên lý – bóng xuân sang”. Trên bức tranh lụa, cái bút lông của nhà hoạ sĩ đã có đà. Nó đã có hồn. Nó đã bắt đầu cất cánh. Người xem tranh khi đã nhập cuộc rồi, đến đây không khỏi bồn chồn: cái gì sẽ xuất hiện tiếp theo?
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Màu xanh, bằng cái nét chấm phá ở trên tưởng chừng đã đủ. Nhưng mà không. Chưa ai bạo tay như Hàn Mặc Tử. Dường nếu phải phá vỡ tất cả, nếu cần – cả sự cân đối thăng bằng, độ đậm nhạt vì sự thôi thúc nội tâm, ông vẫn sẵn sàng. Vì vậy mà một mảng xanh khác lại đột ngọt hiện ra bướng bỉnh. Và lần này không phải là một đốm, một nét mà lại là một mặt bằng mênh mông của cỏ. Ngồn ngộn một màu xanh thèm khất mà con người chỉ dám ước mơ đã tươi rói hiện ra, hào phóng, vô tư, vẫy gọi, chào mời. Xưa, Nguyễn Du đã từng viết: “Cỏ non xanh rợn chân trời”. Thảm cỏ ấy của Tiên Điền nay được đẩy lên một tầng nữa, mới mẻ hơn và đặc biệt còn in đậm bàn tay chưa khô mực của người hoạ sĩ đang tròn trịa tuổi xuân đời. Rõ ràng là con “sóng cỏ” đã bay lượn hơn, sống động hơn. Nó đang vỗ bờ từng nhịp bồi hồi từ một nửa trái tim mênh mông đa tình, đa cảm.
Thế là tiếng hát của đất trời, thiên nhiên, cây cỏ cất lên cùng một lúc với tiếng hát con người “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Cái sức xuân đã như một dàn đồng ca nhiều bè quấn quyện. Nhìn vào đâu cũng thấy sắc xuân, hướng về phía nào cũng thấm đẫm hương xuân. Nó đậm đặc như có thể múc lên được từng mảng như múc ánh trăng đêm vậy. Cái thăm thẳm của bức tranh xuân và chân dung thôn nữ trên đây còn có cả độ cao và độ sâu không cùng của nó:
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi…
Diễn tả sức bay của Tiếng sáo Thiên Thai, trước Hàn Mặc Tử, Thế Lữ đã có những câu thơ xuất thần:
Khi cao vút tận mây mờ
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh
Về bút pháp, Hàn Mặc Tử không có gì mới. Song, đóng góp của nhà thơ trẻ này là đem vào những chữ, những câu máu thịt của cuộc đời. Không khí huyền thoại trong thơ Thế Lữ đến đây đã nhường chỗ cho ánh mắt, nụ cười cô gái. Một cái gì đó trần tục hơn, do đó cũng da diết, tan nát cõi lòng hơn. Bởi mùa xuân hiện ra chỉ trong chớp mắt. Phải chớp mắt đời người. Nó rung động đến tận đáy sâu trái tim người đọc. Bởi, cả cái “hổn hển” kia, cả cái “thầm thì” kia phải chăng là hai cung bậc hết mình của những trái tim đang hát và chỉ hát có một lần? Cái “chín” của mùa xuân chính là ở chỗ này. Như một thứ quả ngọt trên cây, chín từ vỏ, chín từ từ, đến lúc này có thể bóc ra mà ăn được.
Dấu ấn của thơ Hàn Mặc Tử là một trái tim nồng nhiệt, cuồng si, khát khao yêu đương, khao khát sống, là một bút pháp tài hoa, táo bạo, bằng một vài vét vờn vẽ đơn sơ mà tái hiện cả một bầu trời. Sẽ là một thiếu sót nếu ta không nói thêm sự liên tưởng, sự mở rộng nhiều chiều của thời gian đồng hiện. Đang miêu tả bức tranh tươi như một nét cười, một nụ hôn đắm say thuần khiết, thì đột ngột cái man mác rình rập ở đâu đó hiện ra trong ý nghĩ đau đớn của nhà thơ:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi
Cái mầm ly biệt hiện ra như một tiền định. Có khác gì cơn ác mộng của Thuý Kiều sau lúc gặp Đạm Tiên cùng một lần hạnh phúc đắm say, dịu ngọt. Ta mới hiểu cái quy luật của lòng ham sống (chứ không phải là chủ nghĩa hưởng lạc!)
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
(Xuân Diệu)
Cái nỗi niềm đứt ruột này nói hộ một tình yêu, một thứ tình yêu đắm đuối không cùng với cuộc đời mà con người trước dòng chảy của thời gian đã không sao giữ lại nổi. Cái xốn xang, xao xuyến hướng về phía trước cũng một lúc với ngoái lại sau: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc…” Rõ ràng con đường xuân đã và đang đi sẽ hướng tới cái cuối cùng, đến chỗ hư vô. Nó không khỏi để lại trong khoảng trống vắng của cõi lòng nhà thơ nhiều bùi ngùi, ngẩn ngơ, luyến tiếc. Thì ra cái đẹp của cuộc đời dù hào phóng, dư thừa đến đâu cũng hạn hẹp. Cho nên phải biết quý nó từng phút, từng giây. Bởi nếu trái tim ta không dành trọn cho nó, nó sẽ vô tình đi qua như một cơn gió nhẹ. Cái tâm huyết của nhà thơ vừa chín với tuổi xuân đã sớm về với khe nước Ngọc Tuyền (1) có phải là ở chỗ đó hay chăng?
Hàn Mặc Tử là nhà thơ tài hoa. Ông để lại cho đời không nhiều thi phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng đáng trân trọng, nâng niu như Mùa xuân chín.
Ngay tên bài thơ đã cho thấy tác giả là người dụng công với câu, chữ. Câu chữ của ông luôn được chắt lọc tìm tòi.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Câu thơ thật gợi mở. Trên những mái nhà tranh vách đất của làng quê ngày xưa lấm tấm những nụ hoa thiên lý ùn nở vàng, xen giữa màu xanh tươi của lá. Lá và hoa thiên lý là niềm đặc sắc của hương vị quê hương:
Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen
(Ca dao)
Của quý như vậy, xanh tươi mơn mởn như vậy nên mới được gió trêu, gió đùa, gió mơn man. Làm bất chợt mùa xuân ào tới.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Mùa xuân từ trong nhà đã lan ra xa đồi núi, từ cây cảnh sang tới người. Con người của mùa xuân thật trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống. Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Hát rằng:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Ở lại làng chơi với các cô thật vui, song ai đó được đi lấy chồng cũng vui không kém, thậm chí đây còn là sự phát triển của mùa xuân.
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Những từ vắt vẻo, hổn hển được tác giả dùng thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sự hồi hộp, đợi chờ trong lồng ngực của những cô gái đang căng tròn sức sống. Làm cho ai đó đang ngồi dưới trúc (trong bối cảnh này mà chịu ngồi yên dưới trúc thì chắc không còn ở tuổi thanh xuân nữa) cũng phải rộn ràng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín?
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Thấy mùa xuân ở quê người lại nhớ tới cảnh làng mình, một cảnh làng mùa hạ có nắng chói chang và bao nhiêu người thân đang oằn lưng lao động giữa nắng. Đây là nét rất nhân bản của con người luôn nặng tình với quê hương xứ sở. Nhớ làng trước hết là nhớ những gì cần phải suy nghĩ, sẻ chia.
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Chị ấy là ai vậy? Rất có thể đây là người bạn gái ngày xưa của khách – đang là lao động chính ở quê nhà. Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nên được xem là câu thơ thần tình nhất của Hàn Mặc Tử. Ta hay nói sông xanh, sông đỏ, đây nhà thơ nói sông trắng. Nắng đến trắng cả sông thì phải biết nắng gay gắt như thế nào. Các cặp vần trắng – nắng, chang – chang kết hợp với năm phụ âm “ng” đứng cuối mỗi từ làm cho câu thơ được kéo dài và ngân nga mãi.
Đúng là Mùa xuân chín, một mùa xuân đầy đặn, nên thơ.