Đặng Thùy Trâm – ngọn lửa từ Đức Phổ thắp sáng trái tim thời đại.
Đặng Thùy Trâm – ngọn lửa từ Đức Phổ thắp sáng trái tim thời đại.
![]()
Đặng Thùy Trâm (26 tháng 11 năm 1942 – 22 tháng 6 năm 1970) là một bác sĩ, liệt sĩ cho Việt Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Nhật ký thời chiến của bà, kể lại hai năm cuối đời, đã thu hút sự chú ý của quốc tế sau khi được xuất bản vào năm 2005.
Tiểu sử
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh tại Huế[1] nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình giàu tri thức. Bố chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội.[1] Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn ba em gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người thân đều gọi Thùy Trâm là “Thùy” để phân biệt.
Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội. Bằng các ca khúc Bài ca hy vọng (của Văn Ký), Cây thùy dương (ca khúc Nga), Sullico…, chị đã đoạt hàng chục huy chương trong các cuộc đua tài văn nghệ quần chúng thủ đô. Bên cạnh việc say mê học tập, luôn giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn, Thùy Trâm còn tích cực tham gia câu lạc bộ thơ văn cùng khóa của trường Chu Văn An, gồm có các thành viên sau này trở thành các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhàn… Chị và các anh bạn cùng lớp Lê Văn Kiếm, Hoàng Ngọc Kim, Dương Đức Niệm kết thành nhóm phấn đấu vào Đảng. Nối nghiệp gia đình, Thùy Trâm thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội chuyên khoa Mắt và được nhà trường cho tốt nghiệp sớm một năm để đi chiến trường.
Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ưu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể, hoặc nhận lời ở lại trường làm cán bộ giảng dạy hoặc nhận công tác tại một bệnh viện hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín, có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhưng vì có người yêu vào chiến trường trước mấy năm nên sau khi tốt nghiệp chị xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.[2]
Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai táng tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn (NTLS TP. Hà Nội), Từ Liêm, Hà Nội [3](nay là phường Tây Tựu, Hà Nội)
Chị đồng thời là tác giả hai tập nhật ký được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, 2 ngày trước khi hy sinh. Hai tập nhật ký này được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ suốt 35 năm cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4 năm 2005. Nhật ký của cô sau đó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập thành quyển sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm và trở thành một hiện tượng văn học với hơn 400.000 bản được bán. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được báo chí nước ngoài bình luận như một “Nhật ký Anne Frank của Việt Nam”.[4]
Cuộc gặp gỡ
Trong loạt bài phóng sự “Huyền thoại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển“, Nhà báo Nguyễn Thành Luân (Báo Đại Đoàn Kết) thuật lại cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử, trong đó có Thuyền phó con tàu đầu tiên ra miền Bắc – Nguyễn Văn Đức, kể lại về cuộc gặp của các thủy thủ trên con tàu “Không số” vận chuyển vũ khí đầu tiên ra Bắc với liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trên tuyến đường mòn nổi tiếng này vào năm 1968 mà đến nay ông vẫn còn nhiều ấn tượng tốt đối với Đặng Thùy Trâm.[5]
Cuộc sống tình cảm
Trong nhật ký, Đặng Thùy Trâm viết về người mình yêu bằng chữ viết tắt “M” (Mộc). Tên thật của người chiến sĩ này là Khương Thế Hưng. Anh sinh ngày 18 tháng 9 năm 1934 tại thị xã Hội An, Quảng Nam, là con thứ ba của Nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng, sau Khương Thế Xương và Khương Băng Tâm. M. là chữ đầu của chữ Mộc. Nguyên Mộc tức Đỗ Mộc, là bút danh của Khương Thế Hưng ở chiến trường.
Năm 1966, Đặng Thùy Trâm vào chiến trường. Khương Thế Hưng gặp chị khi trong mình đã có hàng chục vết thương. Trong một lá thư, viết ngày 15 tháng 2 năm 1968, gửi cho bạn là Dương Đức Niệm, Thùy viết về M: “Anh bây giờ sống thật đơn giản, anh không mơ gì hơn là diệt được thật nhiều giặc Mỹ, anh không cần gì cho bản thân, kể cả tình yêu và sự nghiệp. Đối với Thùy, anh thương với tình thương rất đỗi chân thành, anh tôn trọng và cảm phục trước tình yêu thủy chung của Thùy, nhưng chỉ có thế thôi. Con tim anh không còn những rung cảm sâu xa, những vần thơ thắm đượm tình yêu, những lời ca bay bổng ước mơ nữa rồi”.
Anh rất cảm phục trước tình yêu chung thủy của Thùy nhưng trái tim anh đau đớn khi thấy miền Nam đau thương, khi đồng đội của anh từng ngày, từng giờ đã và đang ngã xuống để giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong một lá thư gửi cho em gái, anh Hưng viết:
- Anh đã hành quân qua hàng ngàn thôn xóm cháy rụi, những cánh đồng khô héo vì chất độc… Anh đã từng lặng người trước 70 bà con Hành Đức bị thuốc độc Mỹ làm chết trong hầm, thân thể bầm tím… Anh đã nhìn tận mắt chị phụ nữ Gành Cả bị giặc Pắc Chung Hi (Hàn Quốc) hiếp, ruột chị dao găm giặc rọc từ dưới lên trên, cổ chị bị giặc vác cối đá chần lên, lưỡi chị phải thè ra ngoài!
- Tay anh đã từng cầm chuỗi cườm của em bé, mảng da đầu dính tóc của người con gái, mảnh xương sọ của bà mẹ – những người trong số 394 người bị giặc Pắc Chung Hi tàn sát trong một giờ vào một sớm mưa lạnh ngày Đông 1966 ở Bình Hòa… Anh đã từng chứng kiến những vụ vây ráp bắt thanh niên ta đi làm bia đỡ đạn cho chúng, chúng đã giành giật trong tay những bà mẹ những người chị, những đứa con thân yêu, những người em hiền hậu… một cách vô cùng man rợ!
- Nhưng đối với đồng bào Quảng Ngãi ta, mỗi tội ác của giặc Mỹ và tay sai gây ra chỉ có tác dụng như đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù, chỉ có tác dụng làm cho quân và dân Quảng Ngãi ta thêm quyết tâm, thêm sức mạnh chiến đấu vì độc lập tự do, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc.
Năm 1970, khi Thùy Trâm hi sinh, anh Hưng cũng bị thương nặng phải chuyển ra Bắc. Dòng nhật ký được viết sau ngày anh Hưng biết tin Đặng Thùy Trâm hi sinh:[6]
- “Em dịu dàng là vậy, chưa biết nói nặng ai câu nào. Em dũng cảm là vậy. Giặc đốt hầm bí mật vẫn bình tĩnh cứu chữa thương binh. Cuỡi hon đa phóng qua trước rào lính địch để cấp cứu ca thương binh nặng. B-52 trên đầu. Quân đánh bộ bên cạnh vẫn bình tĩnh băng bó thương binh, dìu đi khỏi vòng vây.
- Bà con thương yêu đùm bọc em. Các mẹ gọi em là Con gái. Các em gọi em là Chị. Cánh lính trẻ gọi em là Sao Vệ nữ. Các nhà thơ gọi em là người của làng thơ họ. Các nhà văn cãi lại bảo em là người của họ gửi nhờ Sê Khốp dạy nuôi. Vậy mà em ngã xuống. Và em cũng không nhận ra anh! Em chết đi biến thành ngọn gió lượn trên đầu anh. Trên đời anh. Thành tiếng gọi đằng trước để anh đi tới… Anh đã nghĩ, đó là tình yêu của người lính!…”.
Ông Khương Thế Hưng mất ngày 13 tháng 11 năm 1999, sau nhiều năm dài vật lộn với thương tật và bệnh tật do di chứng chiến tranh, thọ 65 tuổi.[7]
Em gái ông là bà Khương Băng Kính đã giữ lại bức thư viết ngày 17–3–1969 của chị Thùy Trâm gửi anh Hưng, được anh kẹp trong cuốn nhật ký. Bức thư được gia đình tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cuối năm 2009 và đang được trưng bày trong triển lãm Những kỷ vật kháng chiến tại Bảo tàng Quân khu 4 (Nghệ An).

Vinh danh
- Năm 2006, chị được Chủ tịch nước Trần Đức Lương truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
- Tên chị được đặt cho một trạm xá[8] tại thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Tên chị cũng được lấy làm tên cho ‘bệnh viện đa khoa khu vực Đặng Thùy Trâm’ tại thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Tại Hà Nội, tên chị được đặt cho ngõ 477 Hoàng Quốc Việt trước đây.
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh, trục đường từ đường sắt Bắc Nam đến bờ sông Vàm Thuật thuộc Phường 13, quận Bình Thạnh được đặt theo tên chị.[9]
- Ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu có một trường mẫu giáo tên Đặng Thùy Trâm.
- Bộ phim Đừng đốt[10] do Đặng Nhật Minh làm đạo diễn được dựng lên từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm, trong đó chị là nhân vật trung tâm của bộ phim.
- Ngày 5 tháng 9 năm 2019, trong khuôn khổ lễ khai giảng năm học 2019-2020, trường THPT Chu Văn An đã khánh thành bức tượng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm.[11]
- Một xã ở tỉnh Quảng Ngãi được đặt tên chị.[12][13]
theo BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ.
……
![]()
“Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí.” Dòng chữ ấy không phải là lời thêu dệt từ một huyền thoại hư cấu, mà là tâm nguyện gan ruột của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, được viết bằng trái tim đầy nhiệt huyết và tinh thần dấn thân vào giữa khói bom ác liệt ở Đức Phổ, Quảng Ngãi năm 1968. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ngọn lửa ấy vẫn không tắt. Không phải vì bi kịch hay sự tận hiến của cái chết, mà bởi cuộc đời vỏn vẹn 27 năm của chị là câu chuyện về trách nhiệm sống, về văn hóa của dấn thân, về phẩm chất không thể phai mờ.
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, tại Huế, lớn lên giữa những năm khó khăn ở Hà Nội, nơi gian khổ giữa chiến tranh và đói rét trở thành nền tảng rèn giũa sức sống và lòng nhân hậu. Con gái của bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và giảng viên Dược khoa Doãn Ngọc Trâm, từ nhỏ chị đã chứng kiến cận cảnh khổ đau của đồng bào vùng sơ tán. Mười tuổi, chị đã thay người lớn cấy lúa, bắt ốc để cải thiện bữa ăn gia đình; đêm về, dưới ánh đèn dầu, đọc Balzac, Nam Cao như mở rộng tâm hồn, kết hợp giữa nghị lực và cảm thông. Bi kịch sống không khiến chị uất ức, mà giúp chị tỉnh táo nhận ra rằng: “Sự sống không chỉ đếm bằng từng ngày, mà bằng những gì mình cho đi và giữ lại cho người khác.”
Năm 1958, đỗ vào Trường Chu Văn An, Hà Nội, ngôi trường danh tiếng và nền tảng của nhiều tri thức Việt, chị vừa say mê văn chương, vừa nổi bật trong hoạt động văn nghệ với giọng hát Alto truyền cảm. Tuy nhiên, chị quyết định theo học Y, một lựa chọn rất dũng cảm với lý tưởng: “Phục vụ Tổ quốc bằng y đức hơn là dùng ngòi bút để tô đẹp đời.”
Khi đất nước bước vào giai đoạn khó khăn nhất, năm 1967, tốt nghiệp sớm, chị tình nguyện tham gia miền Nam, địa bàn ác liệt nhất và nhận nhiệm vụ tại Bệnh xá huyện Đức Phổ (T18). Ở đó, những điều kiện y tế thiếu thốn đến mức sơ khởi: phòng mổ là hầm chữ A, bàn mổ là tấm ván gỗ, dao mổ phải mài từ bu-ri xe, thuốc khan hiếm đến mức chị dùng lá kia lim thay thế. Song Đặng Thùy Trâm không than trách: nhật ký chị vẫn đầy ắp tình thương, niềm tin và lời hứa với chính mình: “Mình không được bỏ sót một bệnh nhân nào, dù là chiến sĩ hay người dân.”
Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, bệnh xá trở thành nơi cứu sinh cho hàng chục thương binh mỗi ngày. Khi máy bay B‑52 ném bom dày đặc, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội dời viện qua 15 điểm bằng cách đào hầm, xây dựng lán dã chiến; họ thức trắng đêm để tiếp tục cứu người, không một lần nghĩ đến bản thân mệt mỏi. Nổi bật nhất là câu chuyện 14 thủy thủ tàu không số 643: bị thương nặng, phải nhập viện, họ được chị nhường phần cơm gạo trắng, món ăn hiếm hoi giữa chiến dịch dài ngày; họ gọi chị là: “Thiên thần áo trắng.” Điều này nói lên một tinh thần sống không chỉ bằng cống hiến, mà bằng cả lòng trắc ẩn và sự chia sẻ từ trái tim trong túi thuốc.
Ảnh: Tư liệu về Bác sĩ Đặng Thùy Trâm
Ngày 22/7/1970, khi đang trên đường tới lán thăm dân, Đặng Thùy Trâm và y tá Kim Liên bất ngờ bị phục kích. Trong giây phút sinh tử, chị không chút do dự dùng thân mình che cho đồng đội, chịu đạn thay. Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị đã thể hiện khí chất của một người chiến sĩ mẫu mực, chiến đấu và hy sinh vì người khác. Chị ngã xuống lặng lẽ, nhưng đã cứu sống người còn lại. Hai cuốn nhật ký mà chị để lại tưởng chừng đã bị đốt khi rơi vào tay lính Mỹ. Thế nhưng, trung úy Frederic Whitehurst, xúc động trước dòng chữ đỏ trên bìa “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa,” đã giữ lại suốt hơn 35 năm, trước khi trao lại cho gia đình chị năm 2005. Ngay sau khi được công bố, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã tạo nên hiện tượng xuất bản với hơn 400.000 bản in, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ. Báo chí quốc tế gọi chị là “Anne Frank của Việt Nam,” như một cách thừa nhận sức lan tỏa từ trái tim quả cảm của chị. Ngọn lửa ấy, từ hầm chữ A Đức Phổ năm xưa, vẫn cháy trong trái tim nhiều thế hệ hôm nay.
Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ chạm tới hàng triệu trái tim trên khắp thế giới, mà còn trở thành biểu tượng sống động của khát vọng cống hiến, tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm. Đối với cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, câu chuyện ấy không dừng lại ở giá trị lịch sử, mà là lời mời gọi hành động; đó là: hành động bằng bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tác phong sư phạm và tinh thần cống hiến.
Trước hết, sống và học theo tấm gương Đặng Thùy Trâm là giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng. Nếu như Đặng Thùy Trâm đã kiên trung với lý tưởng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thì hôm nay, trong môi trường Quân Đội, cán bộ, giảng viên phải luôn vững vàng trước những thách thức tư tưởng, kiên định lập trường, sẵn sàng đấu tranh với cái sai, định hướng giá trị đúng đắn cho thế hệ học viên. Đó là cách thể hiện lòng trung thành với Đảng, với Quân đội và với sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới.
Tiếp đó, không ngừng tự học, đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới. Nếu ngày xưa, Đặng Thùy Trâm mài dao từ bu-ri, truyền dịch bằng ống tre, thì hôm nay, cán bộ, giảng viên phải chủ động tiếp cận công nghệ, phát triển bài giảng ứng dụng thực tế, xây dựng học liệu số, tổ chức mô phỏng, tọa đàm, chuyên đề… để nâng cao chất lượng giảng dạy. Đó là cách nối dài tinh thần vượt khó và sáng tạo mà Đặng Thùy Trâm từng thể hiện trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Quan trọng hơn, cần giữ gìn phẩm chất mẫu mực, nhân văn trong tác phong sư phạm. Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ giàu lòng nhân ái, là người chị, người đồng chí trầm tĩnh mà quyết đoán. Trong môi trường quân đội, người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là tấm gương về nhân cách: trung thực, khiêm nhường, tận tâm, truyền cảm hứng và trách nhiệm lâu dài với sự trưởng thành của học viên.
Hơn nữa, tinh thần cống hiến không vụ lợi, bền bỉ và âm thầm vì sự nghiệp lâu dài. Đặng Thùy Trâm không mang quân hàm lớn, không có chức vụ cao, nhưng lại để lại một di sản lớn bằng chính cuộc đời giản dị, đầy tận hiến. Cán bộ, giảng viên hôm nay có thể không đứng nơi trận tuyến, nhưng vẫn đang lặng thầm chiến đấu mỗi ngày: biên soạn tài liệu, đổi mới phương pháp, sát cánh cùng học viên trong học tập và rèn luyện.
Hơn 50 năm kể từ ngày Đặng Thùy Trâm ra đi, không chỉ trong mỗi dòng nhật ký, ngọn lửa từ Đức Phổ vẫn được thắp lên bằng những hành động hàng ngày, bằng từng người thầy, người chiến sĩ, người cán bộ đã và đang tiếp bước. Và chúng ta, với vai trò cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, cũng là người giữ gìn và phát huy ngọn lửa ấy: ngọn lửa từng bùng lên trong hầm chữ A Đức Phổ không chỉ kể một câu chuyện đã qua; đó là, ngọn đèn thắp sáng từng giờ giảng, từng trang giáo án của chúng ta hôm nay. Giữ vững lý tưởng, làm giỏi chuyên môn, nuôi dưỡng tâm hồn và tận tụy với thế hệ học viên, chính là cách cán bộ, giảng viên Khoa Tin học - Ngoại ngữ tiếp mạch lửa ấy, viết tiếp: “Nhật ký thế kỷ XXI” bằng trí tuệ, trách nhiệm và nhân cách.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Thùy Trâm. (2005). Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Đặng Vương Hưng, biên soạn). Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
2. Đặng Vương Hưng. (2020). Ngọn lửa không bao giờ tắt – 50 năm nhìn lại Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Hà Nội: NXB Văn học.
3. Trần Đình Bá. (2010). Đặng Thùy Trâm – từ hiện tượng xuất bản đến giá trị văn hóa nhân văn Việt Nam. Tạp chí Văn hóa Quân sự, số 3.
4. Nguyễn Thị Thanh Thủy. (2015). Bản lĩnh người thầy trong thời đại mới nhìn từ tấm gương Đặng Thùy Trâm. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 215.
