TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐÀ NẴNG.
TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐÀ NẴNG.
Có lẽ ngày xưa – mây nước ở chung một chỗ…
Hương đam mê – rong ruổi đỉnh Sơn Trà .
Có lẽ ngày xưa …dưới sương mai nắng vàng óng ả …
Dáng nghê thường của em , người ta ngỡ Tiên sa.
Có lẽ ngày xưa giữa biển xanh bạt ngàn sóng vỗ…
Đất vươn mình năm ngón vẫy trời xanh.
Có lẽ ngày xưa đã có Em và Anh –
chờ đợi nhau giữa hai bờ sông lạnh …
Nỗi thương nhớ khiến thời gian đặc quánh.
Dòng sông nào chở được tình ta…
Có lẽ ngày xưa Hải Vân ước hẹn Sơn chà-
gởi niềm nhớ áng mây mà mượt .
Nam Ô gập ghềnh sóng nước –
Theo bóng cá chuồn gặp gỡ Hà khê.
Hà Thân ngập ngừng những bước chân quê.
Theo dòng sống về nơi đây tụ hội.
Đường Hoàng Diệu chờ chân ai sáng tối
Gõ nhịp đều trở về lối thân quen…
Có lẽ ngày xưa trời đất vốn nhá nhem…
Đà Nẵng nguyên sơ ngượng ngùng e thẹn.
Nửa giữ chân người…nửa ước hẹn bâng quơ.
Lịch sử đổi thay – trời đất cũng ngẩn ngơ.
Có lẽ ngày xưa….có lẽ ngày xưa…
Đà Nẵng
Thường Hỷ Lê Niên.
Một thi phẩm mộc mạc mà thấm đẫm tình hoài niệm về Đà Nẵng của những năm tháng trước thềm tách tỉnh (1996–1997). Điệp từ “Có lẽ ngày xưa…” lặp đi lặp lại như một tiếng thở dài dịu dàng, khơi gợi cả một miền ký ức lẫn huyền tích về thành phố bên bờ sóng.
Bài thơ đan cài rất khéo giữa cảnh sắc tự nhiên, thần thoại dân gian và những địa danh đã thành máu thịt của người xứ Quảng:
-
Huyền tích đất trời: Bán đảo Sơn Trà với bãi Tiên Sa gắn liền truyền thuyết tiên nữ giáng trần tắm mát; năm ngọn Ngũ Hành Sơn (“đất vươn mình năm ngón vẫy trời xanh”) sừng sững bên biển Đông; đèo Hải Vân mây phủ hướng về mỏm Sơn Chà như lời hẹn ước thiên thu.
-
Tình người bên dòng sông Hàn: Hình ảnh “chờ đợi nhau giữa hai bờ sông lạnh” gợi nhớ thời Đà Nẵng chưa có những cây cầu hiện đại nối đôi bờ; đôi bờ Hàn giang khi ấy còn chia cách đôi ngả Đông – Tây, cách trở bởi những chuyến đò ngang và nỗi nhớ da diết.
-
Dấu ấn đời sống và địa danh xưa: Từ sóng nước ghềnh đá Nam Ô, bãi cát Hà Khê (vịnh Đà Nẵng), bến chợ Hà Thân bên bờ đông, đến con phố Hoàng Diệu nhộn nhịp nơi phố cũ trung tâm — tất cả hiện lên bình dị, chân chất như chính cốt cách người miền Trung.
Nét đẹp của bài thơ nằm ở cảm thức “Đà Nẵng nguyên sơ ngượng ngùng e thẹn” trước khúc quanh của lịch sử. Đọc lại những dòng viết năm 1996 của tác giả Thường Hỷ Lê Niên giữa một Đà Nẵng hiện đại, hoa lệ hôm nay, người ta càng thêm trân trọng những nét trầm tích, hoang sơ của một thời mây nước còn quấn quýt.