KHOA HỌC- HUYỀN BÍ -KỲ THÚ - ẤN TƯỢNG

Trí Tuệ Nhân Tạo trong Y khoa: Một toan tính thay thế

Trí Tuệ Nhân Tạo trong Y khoa: Một toan tính thay thế

Bs Phạm Thị Ngọc Chân (Aurore Marcou)

Giảng dạy tại Trường Đại Học Y Khoa Paris và Viện Curie

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH chuyển ngữ

       Cuộc cách mạng Trí Tuệ Nhân Tạo đang chuyển đổi cả thế giới, mọi ngành nghề. Máy móc kỹ thuật toán làm thay các bộ óc con người: tính toán, phân tích, dịch thuật, lưu trữ ký ức.. Trí tuệ nhân tạo (TTNT-IA) ngày càng mở rộng cánh quạt về đủ hướng ngaiành nghề. Trong thương mại với các sản phẩm tùy theo thị hiếu khách hàng, tính toán mang hàng lưu trử trong kho. Trong tài chánh phân tích thị trường. Trong giao thông giúp người lái xe dễ dàng hơn GPS chỉ đường,  và xe chạy không cần người lái, trong lãnh vực y tế, rô bô giúp bác sĩ giải phẩu chính xác, rô bô giúp người già, người tật nguyền, làm các công việc y tá phát thuốc mang thức ăn. Kỹ thuật toán và các logiciels tìm ra ung thư da hiệu quả hơn bác sĩ. Dự án Âu Châu Désiré, giúp bác sĩ chọn lựa trị liệu ung thư vú hiệu quả, đo lường các nguy hiểm, nhận ra nhanh chóng hậu quả thứ hai một món thuốc. Với sự lưu trử hàng ngàn, hàng vạn thông tin hồ sơ người bệnh. TTNT đang mở ra một nền y khoa mới. 

             Thật may mắn, được cô con gái, giảng dạy tại Trường Đại Học Y Khoa Paris tặng cho luận văn triết học y khoa: «Intelligence artificielle en médecine: La tentation de la Subtitution: người viết dịch ra tiếng Việt trước nhất là để tự mình học thêm những khám phá  ngày nay, và mong cùng bạn đọc hiểu thêm về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật số đang xãy ra trong ngành y khoa.

 

Bạn được đặt nằm trong phòng giải phẩu trắng toát, những nút dẫn được thiết lập, chiếc kẹp nơi ngón tay trỏ dẫn vào máy đo độ dưỡng khí, bạn hít thở, nút dẫn nơi ngực để xác định nhịp đập bình thường của tim bạn, nút dẫn nơi cổ tay để đo sự co giản của bắp thịt, nút dẫn nơi trán để đo mức độ tỉnh táo, nút dẫn nơi sườn để đo lường sự lo lắng. Bác sĩ điều trị ghi vào máy điện toán: trọng lượng, chiều cao, tuổi tác, nam hay nữ. Các ống chích tự động chung quanh bạn, nó tiêm thuốc để bạn được gây mê, và giữ bạn trong trạng thái hôn mê y học nhờ các ống thở tự động. Bạn không còn chú ý đến tiếng nói quanh bạn, ống nghe trên tai một điệu nhạc nhẹ giúp bạn chậm dần nhịp thở và thoải mái. Trí tuệ nhân tạo đang canh chừng bạn.

Kịch bản này không phải là chuyện dã tưởng, các «logiciels» đã cấu tạo từ nhiều năm nay mang tên:

AIVOC (Anesthésie Intra Veineuse à Objectif de Concentration)

BIS (Bispectral Index)

ANI (Analgesia Nociception Index) hay Musicare.

Sự phát triển các logiciels sử dụng trí thông minh nhân tạo tham gia vào sự tiến bộ của ngành gây mê và hơn nữa toàn thể các ngành y khoa.

Thật hiếm có một công cụ kỹ thuật mới trong y khoa gây biết bao hậu quả và đặt các câu hỏi nghi vấn. Là bác sĩ gây mê hồi sức, tôi đã hành nghề tại viện Curie, một cơ sở bệnh viện và trung tâm nghiên cứu trị liệu bệnh ung thư. Tôi đã gây mê đưa vào giấc ngủ nhiều trẻ em, người lớn đến từ nhiều nơi xa xôi để chữa bệnh ung thư quái ác. Tôi đã bên cạnh các bác sĩ giải phẩu để cắt bỏ các cục u tế bào ung thư. Tôi đã ở bên cạnh các bác sĩ rọi quang tuyến, soi chính xác các tế bào biến chứng để phá vỡ các khối ung thư bằng tia quang tuyến. Tôi đã ở bên cạnh các bệnh nhân để thiết lập hộp để tiêm vào các liều thuốc hóa trị.

Từ nhiều năm nay, tôi nhiệt thành với kết quả các áp dụng đầu tiên cuả TTNT, trong ung thư. Tôi nhận thức sự phát triển hình thành trí tuệ nhân tạo (TTNT) trong ngành y khoa. Việc sử dụng các dữ liệu từ hàng ngàn bệnh nhân, để rút ra những thông tin để tiên đoán, khám bệnh và chữa trị ung thư. Những cục bứu ung thư hiếm có được nhận biết bởi các thông tin từ các cứ liệu rộng lớn cũng như các kinh nghiệm đã dùng để chữa trị. Từ việc khám phá, chuẩn đoán, đến xét nghiệm bệnh lý đến lựa chọn phương pháp chữa trị theo dõi, từ nghiên cứu đến hành xử chữa trị các logiciels thông minh nhân tạo còn có nhiều áp dụng nhân theo hằng số lũy tiến. Trí tuệ nhân tạo hứa hẹn một nền y khoa ngày mai hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và nhân cách hơn. Cùng một lúc, trí tuệ nhân tạo gây sự lo ngại. Sự tiến bộ không thể chối cải các logiciels trong các công việc đã thực hiện, nhân loại đặt dấu hỏi và tương lai vài ngành y học.

Sự tiến bộ kỹ thuật số này sẽ thay thế các bác sĩ bằng các logiciels?

Có cần đến bao nhiêu bác sĩ gây mê khi các máy gây mê có thể dự phần vào giấc mê người bệnh. Có cần đến biết bao bác sĩ giải phẩu bệnh lý nếu sự giải phẩu bằng các kính hiển vi thông minh chỉ cần vài người điều khiển là đủ? Có cần đến bao nhiêu bác sĩ quang tuyến nếu các logiciels có thể giải thích hình ảnh không mỏi mệt bất cứ giờ giấc nào, ngày cũng như đêm. Có cần một đội ngũ mặc áo trắng giả vờ hiện diện đông đảo khi nhân sự chữa trị ngày một khan hiếm?

Các câu hỏi này gây sự khó chịu khi một trong những sinh viên nội trú của tôi ngành gây mê hoàn toàn tự tin một ngày xác định:

«Tôi chắc chắn tin tưởng hơn trí tuệ nhân tạo hơn một bác sĩ gây mê. Dù muốn dù không, con người bác sĩ sẽ bị thay thế bởi trí thông minh nhân tạo và ngành y khoa sẽ không cần đến chúng ta!» Chúng tôi ngồi với đồng nghiệp trong căn phòng làm việc nhỏ. Tôi còn nhớ sự im lặng nặng nề sau lời nói này. Sự sững sờ phân vân không thể hiểu giận dữ đến cùng một lúc. Có phải sự mỉa mai hay chua chát? Có phải là một thách thức vô cớ? Nhưng giọng nói trầm tỉnh, như thành thật và tin tưởng điều mà anh ta xác định. Tôi biết giọng điệu chán chường người sinh viên nội trú này, anh tự xác định trí óc anh thuộc «thế hệ kỹ thuật số». Tại sao thế hệ bác sĩ trẻ này lại để bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo. Tại sao xem quan hệ con người như ngẫu nhiên trong một lãnh vực mà từ lâu nay, người chữa bệnh cho người. Có thể dễ dàng đơn giản cho rằng sự đối đầu giữa các thế hệ khác nhau hay những nhượng bộ không còn hiểu nhau giữa kỹ thuật và người kiếp sợ kỹ thuật như sự phê phán các chiêu bài chính trị hay tố cáo các bất đồng lợi lộc các nhóm khác nhau? Điều này xem thường sự đóng góp các dụng cụ tiến bộ y học và nó không cắt nghĩa được sự đa dạng kiến thức chúng ta đối với trí tuệ nhân tạo. Cùng một lúc chúng ta làm việc với sự nhiệt thành sự phát triển của nó, và sự mở rộng các áp dụng làm chúng ta sợ hãi.

Sự xuất hiện một kỹ thuật tiến bộ như TTNT làm đảo lộn vị trí con người trong xã hội. Nó đặc biệt thúc đẩy nhận thức y khoa và vai trò của nó. Nó đặt lại vai trò con người trong sự chữa trị, chúng ta cần thiết phải điều khiển một thế giới đầy sự phát triển mới sinh học kỹ thuật, chúng ta có thể lấy thì giờ để đặt lại ý nghĩa sự nghiên cứu, và các giá trị mà chúng ta gìn giữ. Sự suy nghiệm này có thể giúp chúng ta định hướng và tránh sự lạc hướng cho chúng ta trong hiện tại và tương lai nhân loại. Để chuẩn bị sự suy nghiệm này, chúng tôi có thể hướng về nhiều hướng các áp dụng TTNT không hề áp đặt chúng ta. Chúng ta làm việc với sự say mê để phát triển nó, tại sao chúng ta lại đơn giản để TTNT thay thế chúng ta.

Trước tiên Trí tuệ nhân tạo có khả năng thực hiện các công việc nhanh chóng, bất cứ giờ giấc nào, chúng phục vụ chúng ta rất hiệu quả, chúng ta đòi hỏi một logic thực dụng, chúng ta giao phó cho chúng các công việc nặng nhọc. Con người tham dự qua các kỹ thuật dùng trí tuệ để phục vụ đời sống. Trí tuệ nhân tạo được tạo ra để phục vụ chúng ta. TTNT còn giúp ta các công việc vượt qua các giới hạn khả năng chúng ta. Chúng thực hiện một chức năng mà chúng ta thú nhận rằng chúng vượt qua chúng ta, qua kỹ thuật chúng giúp ta làm tròn ước vọng và làm hoàn hảo, đưa chúng ta đến một lý tưởng con người tiến bộ. Đôi khi chúng ta tuyên bố trung thực, vô danh, chúng ta hối tiếc các cảm xúc mà chúng ta không làm nỗi. Chúng ta có thể toan tính dùng TTNT để làm xa cách hơn quan hệ con người mà chúng ta cảm thấy khó chịu.

Đặt câu hỏi trong ý nghĩ này, qua bài này khai thác những khía cạnh quan hệ phức tạp của TTNT và chính chúng ta. Ý thức các ý nghĩa cho ta hiểu được sự đa năng, đa dạng con người chúng ta trước kỹ thuật và ra khỏi các hành động dễ dãi, lôi cuốn cũng như hồ nghi. Có thể chúng ta giúp cho hiện đại phán đoán thông thái sự phát triển các ứng dụng hôm nay để rồi đồng hành tốt hơn với sự phát triển y khoa tương lai.

CHƯƠNG I

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG Y HỌC ĐỂ HỔ TRỢ CHÚNG TA

 

Trí tuệ nhân tạo trong y khoa

 

Định nghĩa quanh IA

 

Trí tuệ nhân tạo (IA) như toàn thể các lý thuyết và kỹ thuật kết hợp để thực hiện các máy móc để kích động trí thông minh và sản sinh vài khả năng nhận thức. Các thành tích này nhờ sự tiến bộ đồng loạt trong nhiều lãnh vực nghiên cứu, tiến bộ đồng hành sau nhiều thập niên nghiên cứu, sau ba đợt phát triển kỹ thuật.

Trước tiên việc kỹ thuật số các dữ kiện cho phép chúng ta ngày nay sử dụng một số lượng bao la các dữ kiện (big data) đáp ứng một nhu cầu sản xuất lũy tiến. Sau đó trên phương diện điện toán, các máy điện toán không những tăng trưởng khả năng chứa đựng mà còn khả năng tính toán nhanh chóng. Việc thu nhỏ các máy điện toán khổng lồ trở thành máy điện toán nhỏ tại các phòng nghiên cứu, đã mang điện toán đến cho tất cả mọi người. Cuối cùng sự tiến bộ toàn hảo toán học không ngừng tăng trưởng dẫn đến một kiến trúc mới nhiều tới đa dạng, cho phép cấu trúc cơ bản sự tính toán hay bộ óc nhân tạo từ hình ảnh bộ óc sinh học, nối liền việc này đến việc khác thật linh động. Các tiến bộ này cho phép đặt nền tảng các kỹ thuật toán học có thể sửa đổi các mối quan hệ để cải tiến kết quả, và hành động để cải tiến chính xác trong chừng mực chúng phối hợp các dữ kiện mới.

Kỹ thuật của TTNT dựa trên khả năng học tập tự động (machine learning), Sự học tập bao trùm tổng quát, khi nó kéo theo sự phân biệt, sắp xếp các dữ kiện giữa một hệ quy chiếu được biết (référentiel) các logiciels trở nên có khả năng tự nó xếp loại các dữ kiện mới. Ví dụ một kỹ thuật toán mang đến một số dữ kiện căn bản các bệnh nhân, cùng có bệnh trạng và chuẩn đoán bệnh lý trở nên có thể thực hiện được để chuẩn đoán các bệnh trạng mới của bệnh nhân.

Sự học tập không bao trùm tổng quát, khi kỹ thuật toán đối diện với các dữ kiện căn bản không thuộc hệ qui chiếu không dẫn giải và tự nó thiết lập các thể loại. Tin tưởng vào kỹ thuật toán các dữ kiện căn bản, chúng ta có thể rút ra các tương quan một kinh nghiệm lâm sàng nhân tạo mà chúng ta khó có thể nhận biết. Môi trường nghiên cứu này (le datamining) đặc biệt hữu dạng để tìm kiếm các yếu tố mới các nguy hiểm một căn bệnh hay nói trước các nguy cơ một biến chứng hay hiệu quả sự trị liệu.(1)

Các kỹ thuật gọi là «phát hiện» (heuristiques) và «suy diễn»(inférence) cuối cùng cho phép hướng nhanh chóng các nghiên cứu kỹ thuật toán, hầu tránh được việc liệt kê thái quá tất cả các hiện trạng và trở lại trực giác con người.

Các nghiên cứu TTNT nhắm vào ba lãnh vực:(2)

– Nhận thức môi trường, nhận thức thị giác (nhận các hình ảnh, chữ viết), âm thanh (nhận thức giọng nói, điệu nhạc) hiểu các ngôn ngữ tự nhiên.

– Hiểu biết một hoàn cảnh.

– Lấy quyết định: kết luận, giải quyết vấn đề, kế hoạch, sắp đặt chương trình.

Trong y khoa áp dụng TTNT gồm các áp dụng mang đến trong tiến trình chữa bệnh:

– Y khoa dự kiến, dự phòng.

– Giúp cho một quyết định bệnh lý hay chữa bệnh.(3)

– Cá nhân hóa việc cho thuốc, giao tiếp với người bệnh (đối thoại tự động)

– Áp dụng các công việc phức tạp (rô bô giải phẩu)

Một môi trường nghiên cứu mới cuả các kỹ sư, các kiến thức phụ thuộc vào việc sản sinh ra các lý luận người trong nghề bằng hệ thống chuyên gia.

Một logiciels gồm việc nhận ra các ung thư vú trên các mô tuyến trong vòng một tuần lễ có thể hiệu quả bằng một bác sĩ cơ thể học có 10 năm kinh nghiệm.

I A trí thông minh nhân tạo một công cụ sống

Hannah Arends xem các công cụ có thể trợ giúp trí thông minh con người, vì thế các công cụ có đặc tính cuối cùng kiểm soát lại tất cả tiến trình và dự đoán. TTNT biết đối mặt các sự kiện không tiên liệu trước và thích nghi chúng.

Triết học hiện đại đặt câu hỏi: những điều kiện các công cụ thông minh có thể sống như cơ quan dùng nó.(5) TTNT phân biệt được những dữ kiện liên hệ và chọn lựa có nguồn gốc truy nguyên từ tiếng Latinh ‘Inter-légère’ đọc giữa các hàng chữ, «Inteligence» chúng có thể học tập. TTNT có thể định nghĩa riêng, cải tiến hiệu quả của nó, đi theo các trực giác, tự động hóa và thích nghi vào môi trường của nó. Trí thông minh ngày nay còn thích ứng với định nghĩa một ‘công cụ trí tuệ’ như Arendt định nghĩa. TTNT đang trở thành có khả năng để thay thế bác sĩ, bị giới hạn bởi sự nhận thức, kiến thức, kinh nghiệm, sự hiện hữu của thân thể. Bác sĩ y khoa sẽ đang bị toan tính thay thế ?

Tự thay thế để có hiệu quả hơn

Kỹ thuật phục vụ chúng ta

 

Cách đây 2500 năm tại Hy Lạp, người xưa (thi hào Homère) đã tưởng tượng đến các công cụ hoạt động máy móc xuất phát từ bàn tay khéo léo của Héphaïstos phục vụ thần thánh:

“Các đầy tớ gái bằng vàng,

Đến bên giúp đỡ ông Hoàng Thiên cung,

Y như người thật thanh xuân,

Cũng linh hồn giữa bàng quang trên mình.

Có sức mạnh có tinh thần,

Có thần tập luyện dạy thành đã quen”(6)

“Ba chân đặt trên bánh xe vàng”.

“Chiếc đe to quái chân xa chuyển mình.

Ống bể to rời bếp hồng.

Đồ nghề rương bạc gọn gàng dọn ngay.”

Các công cụ này thực hiện các tác phẩm, “chiếc thoi dệt qua lại vang lên âm thanh như tiếng đàn lia, không cần bàn tay ném.”(7)

“Nó có thể có hình ảnh bề ngoài như một người sống, các cô gái bằng vàng, các trinh nữ biết suy nghĩ, biết nói, được các thần dạy dỗ” (8). Chuyện này không phải là trò ảo thuật, mà do sự sáng chế của thần Thợ Rèn Héphaïstos, các công cụ này hoạt động cho nhu cầu và sở thích hành động tự chúng cho các thần. Con người thời cổ đại đã mơ tưởng đến các sáng tạo nhân tạo để sử dụng. Họ đã mơ ước, thúc đẩy đến ngạc nhiên điều mà ngày nay chúng ta gọi là “robots”. Sự tiến bộ con người từ bao giờ đến một sức mạnh liên tục để vượt qua giới hạn khả năng khả năng con người.

Con người là một sinh vật kỳ lạ không có lông mao, lông vũ, biết sử dụng hai bàn tay như một khí cụ trước khi sáng chế. Con người phát triển các công cụ để tăng thêm sức mạnh và sự khéo léo để diễn tả sự suy nghĩ và thông minh với đồng loại. Sự cố gắng này là dấu ấn của trí thông minh. Thần thoại Protagoras kể rằng Prométhée đánh cắp của Trời hai báu vật để cho con người sống sót là lửa và kỹ thuật. Kỹ thuật ở đây cần thiết để bù trừ cho thân thể dễ bị tổn thương của con người và sự nghèo nàn của bản năng. Platon còn kể đến “sự thông minh trong cần thiết của đời sống”. Kỹ thuật là điều kiện sống sót của con người.

Công cụ lý tưởng một lô-gic thực dụng

 

TTMNT là một công cụ lý tưởng, biết phản ứng, gây hiệu quả và có thể sản xuất. Nó thực hiện hai công việc trong bất cứ giờ giấc nào, nó không làm trật và không mệt mõi. Tin tưởng vào thông tin các máy móc sử dụng, hành sự bất ngờ phải chú ý và không bận rộn cho con người, nó đáp ứng trực tiếp nhu cầu cho sự đòi hỏi. Đối diện một áp dụng ví dụ có thể đáp ứng vô thời hạn một cá nhân trước một nốt ruồi. Sau khi so sánh với một số lượng dữ kiện rộng lớn, nó xác định đúng hành động, giữa các lựa chọn có thể trong một lúc nào đó. Không xúc động cơ động, TTNT thích ứng cho mọi người sử dụng và đáp ứng hơn điều họ chờ đợi.

Kỹ thuật TTNT được tiếp nối với các ngành thống kê để phát triển vững vàng. Với thống kê dân số trong một viễn kiến quản trị và dự kiến. TTNT nhắm vào hiệu quả. Kỷ thuật không đến trong bất ngờ và ngẫu nhiên trong lịch sử chúng ta. Nó đáp ứng một nhu cầu, một chờ đợi và một nền văn hóa. Arends xem đó là một công cụ phản ảnh một nền văn minh.(9) TTNT thích nghi với mục đích làm cho hoàn hảo, làm ra lợi nhuận là giá trị của nền kinh tế tự do chúng ta. Nó cũng đồng hành với các dữ kiện quan trọng đến từng con người và thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Mặt khác kỹ thuật TTNT biểu hiện một nội dung khách quan để đo lường gần nhất sự thật một cách toàn diện.

TTNT có thể nói chính xác không thời hạn sự cần đến kỹ thuật toán đóng khung một cái “logique” thuần lý làm nền tảng cho khoa học Tây Phương. Y học tự nó có sứ mệnh hiệu quả, có hiệu năng tính sẳn sàng và nhanh chóng, đó là những đặc tính chờ đợi của y học giúp ích cho dân chúng. Một kỹ thuật được nhìn nhận hữu ích, hữu dụng là nguyên tắc có ích để định nghĩa cho xã hội, và kết nối các logic thực dụng. Dụng cụ có thể phán đoán bởi tính hiệu quả nó mang đến có lợi cho dân chúng, mang lại đời sống hạnh phúc chung và hữu ích cho mọi người. Chấp nhận viễn tượng kết quả này người ta có thể bằng lòng sự thay thế TTNT có hiệu quả hơn người bác sĩ bị giới hạn trong khả năng làm việc và thì giờ giới hạn.

Sự thay thế vì lười biếng

Héraclès (Hercule) và sự lệ thuộc vào việc làm:  Eurysthée quyết định thử thách Héraclès trong việc giao cho chàng một nhiệm vụ rất cực nhọc và đê tiện : Dọn chuồng bò Augias, vua Augias xứ Elide nuôi một đàn bò lớn và ông ta xem thường không cho quét dọn thường xuyên vì thế mùi hôi thối lan tràn cả xứ Péloponnèse (Bắc Hy Lạp) do phân tích tụ trong chuồng và trên cánh đồng. Khó chịu bởi sự bẩn thiểu, ngay cả những người nô lệ cũng từ chối đi vào. Héraclès không lùi bước trước thử thách này nhắm vào việc hạ nhục ông. Ông đã đổi hai dòng sông bên cạnh nhắm vào chuồng bò và hoàn thành công việc.

Người thời cổ đại cho rằng: việc làm mang tính chất hạ thấp phẩm giá do sự cực nhọc và sự lập lại không ngừng. Sự đối mặt công việc được xem là lòng can đảm, Aristote xem hành động để đáp ứng nhu cầu đời sống như một việc mất thì giờ và mất tự do.(10) Việc làm dùng để hạ thấp phẩm giá con người, nó kéo theo sự biến đổi bản chất con người và hạ thấp nó. Con người tự do tránh nói công việc nặng nhọc và hướng đến sự thật, nó có tự do hoàn thành tự nó các công việc tự nó, chứ không phải chỉ là điều cần thiết. Tránh sự cực nhọc công việc, được sống như một ưu đãi xã hội. Tất cả để chứng minh cần nô lệ, Aristote mơ ước đến một thế giới kỹ thuật không cần dùng đến người nô lệ.

Tiến bộ kỹ thuật như sự giải thoát

Lịch sử sự tiến bộ kỹ thuật đi theo giấc mơ xa xưa ấy, sự phát triển các dụng cụ, máy tự động, máy rô bô tự động như một cách giải thoát đi đến cần thiết. Theo Arends việc làm cần thiết để thiết lập con người trong thế giới(11), nó chống lại không ngừng tiến trình thoái hóa, sự co cụm tự nhiên, những diễn biến thiên nhiên đe dọa đến đời sống thế giới, kỹ thuật đáp ứng cho sự cố gắng này. Các công cụ giúp sức và nhân lên sức mạnh con người đến mức có thể thay thế họ. Sự hoàn thiện các công việc làm giảm bớt nỗi cực nhọc.

Người được sự hổ trợ được xem như là kẻ ưu đải của xã hội. Trong đời sống thường ngày, những áp dụng TTNT làm tròn một cách kỳ diệu vai trò giúp đỡ con người. Nó bỏ qua các công việc đều đặn, cơ động được xem là việc giảm nhẹ, việc lựa chọn không phải chọn lựa được xem như một xa xỉ.(12)

Công việc y khoa lẽ đương nhiên gồm các nhiệm vụ lập lại và theo giờ giấc : nhận biết một tế bào trên kính hiển vi, nhìn hình ảnh từng phần này sang pgần khác, sử dụng ống chích. Nhận thức nặng nhọc vài công việc cho phép sử dụng những phương tiện kỹ thuật thích hợp để nhẹ bớt công việc chữa bệnh, ví dụ đầu tư vào các tự động lau rửa các dụng cụ nội soi để giảm bớt thời gian chữa bệnh. Chúng ta được thay thế bởi TTNT hiệu quả, có thể là một dự định để giải thoát nô lệ công việc.

Khuynh hướng lười biếng :

Có thể dẫn các tư tưởng thời cổ đại để giảm bớt các công việc nặng nhọc và sự nô lệ. Sự rút ngắn có thể là lý lẽ của sự lười biếng và khả năng được sự trợ giúp, sự thay thế mà chúng ta khuyến khích. Aristote nói đến ý chí con người tự do dùng trí tuệ là nhiệm vụ trang trọng như triết học. Tránh cho người các công việc này không nhắm đến cho sự nhàn rỗi tự nhiên. Giảm sự nặng nhọc công việc không chứng minh được nếu thời gian dành được có thể dùng vào các công việc trọng đại hơn. Như một bác sĩ thay vì dùng thì giờ lau chùi dụng cụ để tìm thấy thích thú trong nhiệm vụ tiếp đón bệnh nhân.

Sự biến chất về nhận thức việc làm và mất ý nghĩa :

Sự cần thiết logic y tế kinh tế nhắm đến sự tối ưu công việc mang đến giá trị việc làm. Tích tụ nhiều chỉ dẫn số lượng bệnh nhân hiện trên màng ảnh điện toán, chúng ta nhận thức công việc chúng ta như danh sách các bệnh nhân phải chữa bệnh nhiều ý nghĩa quản trị hơn chữa bệnh.

Trật tự đạt đến đông người trong phòng đợi, khu giải phẩu thì vắng bệnh nhân, ngày này qua ngày khác một danh sách đang chờ đợi. Nhịp điệu của lợi nhuận làm cho chúng ta mất đi ý nghĩa người chữa bệnh như người thợ trong phim Temps Moderne (Thời Hiện Đại) Charlie Chaplin 1936. Chúng ta trở thành người thực hiện hoàn toàn phụ thuộc công việc, không còn khát vọng nhìn thấy chân trời. Arendt lấy ra sự mâu thuẩn một vinh danh trên lý thuyết công việc với sự khích lệ sản xuất, song song với sự dèm pha của người làm việc. Cũng như thế lô gic sự sinh lợi mang theo sự mâu thuẩn nhận thức mệt nhọc công việc và  đánh bóng ý nghĩa.

Tìm lại giá trị công việc :

Sự lập đi lập lại công việc, bất cứ việc gì, sự nhọc nhằn hiện ra khi chúng ta không tìm thấy ý nghĩa. Chúng ta có thể dán cùng những nút dẫn mạch điện tiêm cùng các ống chích cho bệnh nhân, chúng ta nhàm chán nếu không tìm thấy ý nghĩa trong hành động chúng ta. Trái lại tìm thấy đơn thuần trong mỗi cuộc gặp gỡ một bệnh nhân mới cho chúng ta ý nghĩa việc chữa bệnh. Tránh tính cách lập lại mỗi hành vi chữa bệnh.

Công việc không thể đơn giản hóa bằng sự cực nhọc, nó có giá trị tự nó. Theo Karl Marx: sức lực làm việc có tiềm năng biểu tượng trong mỗi người giá trị họ trong xã hội. Điều này khác biệt với loài thú, nó tham gia vào trong cộng đồng nhân loại. Việc làm cho một chỗ đứng mỗi người trong đời sống tập thể, Arendt nói đến mối nguy hiểm trong xã hội những người không có việc làm.

Marc Fugain khai thác trong truyện dã tưởng Transparence (13) điều mà cả xã hội được giúp đỡ bởi TTNT. Các cá nhân nhàn rỗi không việc làm, không còn giá trị bởi vật chất sản xuất ra. Trong khi đó những người được ưu đãi giữ được sự mật thiết không tách rời không phân biệt những người bình thường, bị mất đi sự giao tiếp để đổi lấy lợi tức phổ quát. Điều này có một ranh giới không thấy được và vô hình.

Ngoài các giá trị xã hội việc làm còn có giá trị cá nhân. Sự ưu tú đạt đến một cá nhân trong một lãnh vực nào cũng có thể là nguồn lực tăng trưởng cá biệt, sở thích công việc, sự hành động mỗi người trong thực hiện công việc tham dự vào danh dự con người.

Ngày nay chúng ta định nghĩa giá trị công việc người chữa bệnh, tìm thấy lại chức năng chúng ta, nghề chữa bệnh là nghề chúng ta chọn lựa. Nó không cần thiết trực tiếp việc sống còn, nó cho giá trị mỗi hành động, tìm thấy niềm vui sướng, cảm giác có một ảnh hưởng trong nhận thức công việc. Chúng ta tự do lựa chọn thực hành công việc mà chúng ta ham thích không còn muốn nó bị thay thế.

CHƯƠNG 2

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỂ VƯỢT QUA CHÚNG TA

 

CHÚNG TA ĐƯỢC THAY THẾ ĐỂ KIỂM SOÁT TỐT HƠN

Từ giả tưởng đến sự thật :

Chúng ta bước vào thế giới giả tưởng Gattaca(14)  : con cái được sinh ra từ sự xúc động cực độ của cha mẹ, lập tức một giọt máu lấy từ gót chân trẻ sơ sinh soi lên kính trắc nghiệm di truyền. Trên một tấm thẻ tương lai đứa trẻ đã được biết trước, những tính chất nó thiếu hụt, các bệnh tương lai của nó, tuổi thọ nó sẽ đạt đến. Mỗi một chữ làm cha mẹ chìm đắm trong niềm vui hay tình trạng phạm tội đã tạo nên đứa trẻ ngoài sự kiểm soát y tế. Họ không lập lại lầm lẫn lần thứ hai, đứa con thứ hai được lựa chọn.

Chúng tôi ở Viện Curie, các bác sĩ làm việc để phát triển một logiciel có thể đo lường hiệu nghiệm của hóa trị : tỷ lệ biến chứng, khả năng sống sót của bệnh nhân bị ung thư. Để có logiciels đó, chúng tôi cho vào máy chụp tổng quát (scanner) các loại hình mô được phân tích, các dữ kiện di truyền của bệnh nhân. Bệnh viện sẽ đo lường để biết trước tất cả.

Từ chối quả quyết cái không:

 

Trước căn bệnh chúng ta cần thiết tức thì một thái độ chắc chắn. Bệnh gì, cách chữa bệnh nào sẽ hiệu quả chắc chắn, tiên đoán bệnh tình ra sao. Những câu hỏi, sự ngập ngừng làm các bệnh nhân cảm thấy lo âu. Chúng ta cần phát biểu chắc chắn, chúng ta cần xác định chính xác bất cứ lúc nào, trong mỗi hành động chúng ta. Chúng ta xem lại ý kiến những người đã trải qua những căn bệnh như thế. Chúng ta tin tưởng Google, ít câu hỏi, ít sự không biết. Chúng ta vẽ ra sự thật một cách thái quá. Chúng ta muốn ra khỏi các nguyên nhân của quá khứ và dự đoán khả năng những biến cố tương lại. Từ người bệnh đến người chữa bệnh, chúng ta khó có hành động vô định. Chúng ta đồng lỏa với chắc chắn của sự ngu dốt, từ ngu dốt đến bất lực. Chúng không thể trả lời, chúng không biết có thể con người có khả năng biết được. Vị bác sĩ sẽ trở thành bất lực nếu không trả lời được câu hỏi của bệnh nhân.

TTNT để an toàn:

 

TTNT đáp ứng nhu cầu vì sự do dự của chúng ta, nó có tính cách khách quan của dụng cụ để đo lường gần nhất sự thật, một cách chấp nhận được. chúng có khả năng nói chính xác không thời hạn. TTNT gắn liền với trí thông minh lý tưởng, có tính cánh thuần lý và chính thức. Nó biểu hiện thực tế dựa trên thái độ sự thật người sử dụng hơn là quan niệm hay ước vọng của họ.(15)

Chúng ta muốn bảo đảm quyết định của chúng ta trong hiện tại, chúng ta đòi hỏi giảm bớt nguy hiểm mà chúng ta có với bệnh nhân trong một nền y học ngày càng đối mặt với pháp lý. Các áp dụng TTNT được phát triển để nhận thức trong thời gian thật sự hiệu quả một hành động. Các kỹ thuật số dựa trên thống kê, các xác xuất tính toán tất cả các hiệu quả có thể để giảm thiểu các sự việc trong quá khứ và trong tương lai. Chúng ta hoàn thiện qua TTNT một nghệ thuật “kairos” để dẫn dắt quyết định chúng ta. Nghệ thuật này nghiên cứu để xác định trong hiện tại và quá khứ (Các yếu tố nguy hiểm) và trong tương lai (nói trước khả năng bệnh tình).

Chế ngự môi trường chúng ta như chúng ta :

Lý tưởng sự chế ngự được tăng thêm trong quan niệm thực dụng cho sức khỏe. Sức khỏe không là một tài sản con người mà là một phương tiện để đạt đến hạnh phúc cao độ và tiện nghi. Kỹ thuật sinh học trở thành một phương tiện để cải thiện sức khỏe và sự tiến bộ của nhân loại. Sự phát triển kỹ thuật đi trong chiều hướng đóng góp vào nền an sinh chúng ta nhu cầu thể xác và tinh thần.

Tạo cho y khoa những phương tiện để giải thích và biết trước để xác định hành động đúng trong hiện tại, các kỹ thuật đáp ứng lý tưởng chế ngự. Hơn nữa nó tăng lên nhân cách và các mối liên hệ, Các kỹ thuật TTNT khuyến khích người bệnh vai trò chủ động nó khích lệ người bệnh tự có những động lực chính mình, vận động để thực hiện các hành động tốt tự chăm sóc mình.

Cardon sáng chế ra một phương pháp thực hành “tăng năng lượng chính mình”. Phương pháp này dựa trên suy nghiệm thuần lý quan sát một cá nhân trong một môi trường sinh học khép kín. Các dụng cụ tự kiểm soát, được xếp đặt như một công cụ để cấu trúc bản tính. Sự sử dụng này được liên kết với một chương trình tự hoàn thiện được công nhận trong xã hội. TTNT tham dự vào một lý tưởng chế ngự hoàn thiện và kiểm soát điều chúng ta không dự kiến cho môi trường mà cho chính chúng ta,

Hậu quả đạo đức một lý tưởng kiểm soát :

Theo Corinne Pelluchon sứ từ chối việc do dự là đặc tính con người chúng ta với một kỹ thuật mới, dù thế nào TTNT với sự sản xuất giống nhau, các trắc nghiệm di truyền học hay sự chuẩn đoán trước khi sinh ra, việc lựa chọn các kỹ thuật này được biện luận bằng nỗi lo sợ chúng ta trước cái chết. Vì thế sự do dự thường có trong lãnh vực y khoa là chính đặc tính của đời sống.

Michael Sandal (16) chỉ rõ làm thế nào một thế giới có kiểm soát, đối nghịch với sự do dự là một thế giới khép kín, khép kín vì chính đó đầy những thèm muốn không thỏa mản, những mục tiêu không đạt được, thế giới này cho chúng ta dùng đến để quản trị  những bất trắc của cuộc sống. Hơn nữa chỉ chúng ta phương cách để dùng các phương tiện kiểm soát được các mặt mà chúng ta có trách nhiệm. Một người mẹ nhìn như thế nào khi từ chối sự chuẩn đoán đứa con trước khi sinh ? Bà ta nhìn thế nào chính bà ta ? Người ta có thể chọn lựa tự do sinh ra hay không sinh khi người ta đã biết. Chúng ta khó có thể có tự do tránh được trách nhiệm một sự lựa chọn tạo ra bởi kỹ thuật. Điều được trình bày như một khả năng trở nên bó buộc. Tiêu chuẩn sự bó buộc trở nên một gánh nặng đạo đức tác động đến tự do. Trách nhiệm trở nên nặng nề trong mọi phương cách hành vi sơ xuất. Con người muốn kiểm soát đồng thời mất tự do.

Michael Sandal đưa ra một yếu tố khác trong cảnh đạo đức đặt ra bởi lý tưởng chúng ta và ước muốn hoàn hảo : sự khiêm tốn. Ước vọng kiểm soát gia tăng ý tưởng con người tự cấu tạo chính mình. Nó làm tăng giá trị trở thành một quyền lực cao cả cấu tạo bởi chính họ, và một mình có trách nhiệm sự thành tựu của họ. Ước vọng kiểm soát quét sạch tất cả mọi sự khiêm tốn.

TTNH đôi khi mở ra triển vọng một nền y khoa công bằng đến với tất cả mọi người. Ý muốn công bằng dường như mỏng manh trước cái nhìn ích lợi của lợi tức. Ích lợi kỹ thuật TTNT có thể hướng đến thành phần dân chúng có đời sống dễ dãi và các cơ cấu chữa bệnh có thể được trang bị. Nó có nguy cơ bỏ qua bên lề thành phần dân chúng thấp kém, không có khả năng hay từ chối thích nghi với kỹ thuật. Đi xa hơn nữa Dominique Cardon dẫn chứng các phương cách thống kê sản sinh ra giai tầng xã hội và phân chuẩn sự khác biệt.(17) Nó tác động lên cá nhân, củng cố thái độ tự động, và gây nên bất công xã hội.

Michael Sandel dẫn chứng làm thế nào một thế giới có kiểm soát có thể đặt lại quan niệm hổ tương. Người tốt nhất chế ngự được kỹ thuật tiên liệu, đặc biệt máy trắc đồ cho biết thành phần dân chúng có nguy cơ có thể đặt lại vấn đề cơ bản sự hổ tương bảo hiểm, các nguy cơ được nhìn nhận bởi các hảng bảo hiểm. Chính ý thức sâu đậm của thành phần và sự bất định của nguy cơ cho phép chúng ta chia xẻ số phận chung và cùng chấp nhận nguy cơ. Tại sao phải đóng bảo hiểm khi chân dung các yếu tố di truyền của tôi vào sự nguy hiểm tối thiểu. Sự biết trước cá nhân hóa cực độ có thể khuyến khích chúng ta trong thái độ đóng tiền hổ tương bảo hiểm.

Các khó khăn trong một thế giới biết trước và kiểm soát :

 

Việc sử dụng tối đa các kỹ thuật cho một lý tưởng có thể kiểm soát và hoàn hảo có thể gây nên những biến chứng. Khi chúng ta toan tính dự phòng chúng ta không biết quản trị thế nào các tác động của nền y khoa biết trước trong hiện tại. Luật lệ thay đổi như thế nào để chúng ta đi đến vạch ra bởi sự di truyền ? Chúng ta đối phó trước mâu thuẩn hành động trong hiện tại bởi khả năng hiểu biết trong tương lai.

Sự biết được các tế bào biến chứng (precos mutants)(18) có thể nói trước được tương lai ? Các căn bệnh có khả năng xãy đến có phải là căn bệnh ? Cũng như thế chúng ta dự đoán khó khăn các số liệu bởi các kỹ thuật y khoa.

Aldous Huxley cho chúng ta thấy trong “Brave New World” (Thế giới mới hùng mạnh)(19) khả năng khó khăn một xã hội ưu việt. Nó tìm thấy giải đáp mọi vấn đề kinh tế, chính trị trong việc thêm vào tính di truyền con người. Các cá nhân được hình thành và giáo dục để thích nghi chặt chẽ với khả năng di truyền và nhiệm vụ họ trong xã hội. Sự kiểm soát được thực hiện nhân danh hạnh phúc được định nghĩa lạnh lùng như “mọi người đều sung sướng họ đạt đến những gì họ muốn và những người không muốn gì cả thì không được gì cả. Họ thoải mái, họ có an ninh, họ không bao giờ bệnh, họ không sợ chết. Họ chân thành không cần biết đến ham muốn và cái chết,”

Để tự thay thế, để không lầm lỗi:

 

Sự lầm lẫn là nhân bản: Có một lầm lẫn khi người ta kiểm kê một sản phẩm trong kho hàng dược phẩm dưới một ký hiệu sai, điều này không nhìn ra, tiếp theo khi chuẩn bị hóa trị, mặc dù kiểm soát 4 lần trong quá trình sản xuất. Để tăng sức sản xuất thuốc men, nhờ đến robot là một ưu điểm bảo đảm sự an toàn cho người bệnh, nó cân, nó sửa soạn tất cả đều điện toán hóa. Gustave Roussy kể đến một chương trình mua sắm một robot mới và hai dược sĩ được viện Gustave Roussy thông báo vào tháng 6-2019 sau khi một tai nạn hóa trị lần thứ hai bởi sự lầm lẫn con người.(20)

Tai nạn này được phán đoán là không thể có được trong y khoa hiện đại. Sự tiến bộ liên quan đến phát triển y khoa giảm bớt tai nạn chết người, các biến chứng liên hệ đến sự trị liệu trong trường hợp đặc biệt của tai nạn. Cái chết một em bé sơ sinh hay lúc sinh đẽ khó mà chấp nhận được trong thời đại chúng ta, khi lầm lẫn là do con người là một lầm lỗi. Đối với người bác sĩ, sai lầm là một thất bại, sự thất bại thường nhận thức do cá nhân.

Sự sai lầm là một lỗi lầm, quyền được sửa sai: Mỗi cá nhân đòi hỏi xã hội loại bỏ các nguy hiểm, họ muốn tất cả đều chắc chắn và thoả mãn mọi khát vọng. Họ đòi hỏi quyền đền bù, quyền được thực hiện giúp đỡ người bị nạn và gia đình được cơ sở công cộng đền bù.(ONIAM đòi hỏi mọi đền bù). Đòi hỏi phán quyết luật pháp (21) gồm vật chất bồi thường, sự đau khổ, thẩm mỹ, hay tài khoản (tiền thuốc men, mất lương do nghỉ việc, cần sự trợ giúp người thứ ba hay phải cải thiện thích nghi cho bệnh nhân). Quan hệ với người bệnh phát triển theo điều của bệnh nhân cho một cơ sở y tế. Tai nạn kéo theo một chấm dứt kế ước và khả năng đền bù.

Người ta có thể nhìn thấy qua đó các trường hợp một chuyển giao trách nhiệm. Người bác sĩ mang trách nhiệm khó khăn đối với người khác, họ dấn thân để đáp ứng mọi chờ đợi người khác trong hối tiếc và ăn năn. Sự lo sợ sai lầm dẫn đến sự từ chức khi một công cụ ưu việt như TTNT dường như không thích ứng với chức năng ấy. Câu hỏi ở đây được đào sâu, nó xứng đáng tất cả chờ đợi công việc chuẩn bị.

“Citius, Altius, Fortius” một lý tưởng hoàn hảo

Nơi con người có một khát vọng “Prométhé” muốn biến đổi vật chất, ngay cả bản chất con người để đạt đến mục đích và thỏa mản khát vọng chúng ta.(22) Theo  Michael Sandal: lý tưởng hoàn hảo này thúc đẩy chúng ta đến “đạo đức tăng trưởng”, chúng ta tìm kiếm không ngừng để tăng thêm khả năng trí tuệ, để vượt qua hơn tiêu chuẩn. Chúng ta sẵn sàng thay đổi chính điều kiện chúng ta, dùng mọi thủ thuật đổi thay bản chất tự nhiên con người. Chúng ta tự thay thế để làm tốt hơn cái chúng ta có. Citius, Attius, Fortius : nhanh hơn. mạnh hơn, cao hơn đề nghị của Pierre de Coubertin như một khẩu hiệu, không chỉ dành cho cuộc thi Olympic. Áp dụng TTNT che dấu một khát vọng hoàn hảo, kỹ thuật sẽ tiến bộ hơn để giúp đỡ công việc chúng ta, không lầm lẫn, không thời hạn, hơn nữa nó đáp ứng giới hạn con người : chú ý, mệt nhọc, khả năng hiện tại, thân thể, nó vượt qua chúng ta.

TTNT: một sáng tạo theo hình ảnh chúng ta :

 

Máy robot Tuq là một chiếc bàn quay có gắn con mắt vidéo thu hình, nó di động trong hành lang để khử trùng một bệnh viện Hoa Kỳ, nó thông báo cho bệnh nhân cách thức bảo quản an toàn, mang bữa ăn, nước và thuốc men, robot này có nhiệm vụ một người y tá. Tại Paris một robot lưu động sau các khung cửa kính bệnh viện Âu Châu Georges Pompidou Paris, nó giúp bệnh nhân tìm đường đến các khu khám bệnh khác nhau.

Sự phát triển TTNT nhắm đến chất lượng con người ký ức và lưu trử các thông tin không chỉ là ưu điểm có được. Người ta còn đòi hỏi các logiciels hành động và tác động (feed back) với môi trường chung quanh. Phối hợp các máy thu nhận cảm giác và các vận động. TTNT kích động các máy móc có thể tự động hoạt động, xác định các hành động, nó có thể kích thích ý thức, hiểu biết. Có cái có thể kích động các xúc động và gây sự lưu luyến (le robot éducatif Cozmo, la peluche Paro) Các TTNT nhắm đến sản sinh tất cả đặc tính con người liên hệ. Tính chất nhân tính hóa máy móc dựa trên sự đóng góp của khoa học não bộ (puce synaptiques, réseaux neuronaux..) củng cố các cảm giác sống động nơi các vật nhân tạo.

Những kỹ thuật tối thiểu hóa hành động con người chiếm một vị trí đặc biệt. Ngoài kỳ công kỹ thuật sự tái tạo gây nên một cảm giác kỳ lạ. Cái gì gây nên sự lôi cuốn hơn là sáng tạo theo hình ảnh chúng ta. Không nghi ngờ gì nữa trong sự tạo nên bản sao con người chúng ta, chúng ta cảm thấy say sưa trong sức mạnh hơn tất cả như một đấng tạo hóa ?  Chúng ta đặt câu hỏi mối tương quan giữa kỹ thuật và sự sống, giữa tự nhiên và nhân tạo. Chúng ta đặt câu hỏi trên bình diện máy móc con người, dù biết rằng nó có tự do và quên đi rằng chúng có điều kiện và giới hạn. Chúng lo âu con người giữa chính con người và có thể một sự lẫn lộn.

Một bản sao thú nhận chúng vượt qua chúng ta

Tất cả những phát triển TTNT không chỉ nhằm đơn thuần những bản sao tự động. TTNT thú nhận vượt qua con người yếu đuối. Trong trào lưu xuyên qua loài người, con người đặt tương lai trên một con người tiến bộ. Con người lý tưởng này được nhanh chóng hơn, mạnh hơn, thực hiện giấc mơ bất tử. Trào lưu tư tưởng này bảo vệ ý tưởng nhắm đến con người liên hệ mật thiết sự phát triển kỹ thuật, kỹ thuật được nhìn như một phương tiện khai phóng, giải thoát con người ra khỏi mọi giới hạn. Trào lưu này phản ảnh ngày nay trong các dự án ủng hộ bởi các nhà kỹ thuật tỷ phú trong các trung tâm nghiên cứu chống lại sự già mua, một chương trình phối hợp con người máy. Ngày nay những tiến bộ TTNT đặt ra khả năng thay thế, khả năng tính toán, vận tốc chuẩn đoán, sự độc lập của chúng sẵn sàng thay thế chúng ta. Chúng ta có thể để thay thế bởi lý tưởng chính chúng ta và chúng hoàn tất công việc của chúng ta.

Sự từ chối giới hạn chúng ta:

Lý tưởng hoàn thiện nói lên sự từ chối, sự tổn thương của chúng ta. Chúng ta vất bỏ trước tiên sự tổn thương của thể xác. Lý tưởng thân thể đặt ra những tiêu chuẩn tối ưu của tuổi trẻ sức khỏe và sức sản xuất. Tuổi trẻ và sự già nua được nhìn như một bệnh lý. Các căn bệnh theo họ được xem như một tai nạn trên hành trình cuộc đời. Có bao nhiêu bệnh nhân đã nói với chúng ta như bối rối trước kẻ thù : “Tôi chẳng bao giờ bệnh trong đời. Tại sao căn bệnh đó lại đến, đến với tôi bây giờ.” Căn bệnh xuất hiện như một sai lầm lớn trong đời một hữu thể lành mạnh. Ngay từ đó, chúng ta dùng tất cả cố gắng để từ chối giới hạn sinh học. Chúng ta sử dụng kỹ thuật không chỉ để sửa chữa để tăng trưởng khả năng chúng ta và chúng ta tăng trưởng vì chúng ta không cho phép các yếu kém, ngay cả chúng ta, bởi vì chúng ta muốn chăm sóc sức khỏe tối đa, chúng ta sợ chúng thay thế công việc chúng ta.

Hậu quả đạo đức một lý tưởng hoàn hảo

Lý tưởng hoàn hảo, cũng như lý tưởng kiểm soát ảnh hưởng khung cảnh đạo đức. Chúng phạm đến trước tiên giá trị đa phương. Corinne Pelluchon cho rằng vì chúng ta là tinh hoa, lý tưởng hoàn hảo lôi kéo theo thời thượng (conformiste), nó chấm dứt bởi làm hại lợi ích xã hội và thăng hoa các thái độ được xem như cao thượng, dẫn đến sự đồng hoá độc hại. Theo thời hạn lý tưởng hoàn hảo làm nghèo đi nguồn cải cách và sáng tạo, làm nẩy sinh những đối kháng khác nhau. “Thế hệ dùng kỹ thuật sinh học trong mục đích cải thiện kéo theo một đồng hóa tổng quát xã hội, ngược lại với sự sáng tạo và sự cải thiện thực sự, qua đó con người như một người mang thông điệp và cắt đứt với ý tưởng thống trị.” (23)

TTNT như một sức mạnh sự thật :

Trao cho một quyền lực

 

Chúng ta có đủ lý do “tốt đẹp” trong y khoa để toan tính thay thế chúng ta bằng TTNT. Kỹ thuật cung ứng cho chúng ta các phương tiện chúng ta mong muốn, để đáp ứng các giới hạn mà chúng thấy bị vượt qua. TTNT mang đến cho chúng ta hiệu quả, cho chúng ta trút đi gánh nặng công việc bạc bẽo, để kiểm soát chúng, không bị lầm lỗi trong một lãnh vực đòi hỏi sự chữa trị hiệu nghiệm đạt đến mức tối đa. Đặt ra bởi các lý tưởng phải kiểm soát và hoàn hảo, chúng ta quay sang kỹ thuật đáp ứng nhu cầu tốt đẹp chúng ta đòi hỏi. Kỹ thuật TTNT không chỉ là một phương tiện mà nó còn đáp ứng được khát vọng và nhu cầu. Qua nó chúng ta nhận thức chúng ta bị tổn thương và tìm chổ ẩn náo. Làm việc này trong khi chúng ta đòi hỏi TTNT, chúng ta giao nó một quyền lực mà tự chúng không có : vai trò sức mạnh của sự thật.

Chuyển giao uy tín

 

Bởi sức mạnh tính toán, kỹ thuật số TTNT đáp ứng nhu cầu chắc chắn chúng ta đòi hỏi. Người ta cho nó chức năng giám sát sự thật, xác định tổng quát chính xác các sự việc và xác định hành động đúng. Trả lời điều hợp lý bởi tính chính xác của thống kê khách quan và đặt căn bản trên các phép toán học. Căn bản hợp lý chúng ta chấp nhận như một hiển nhiên, các kết quả dữ liệu cho bởi TTNT áp đ̣ặt lên lý luận con người. Eric Sadin tố cáo vài cách đáp số cho bởi kỹ thuật số có thể có hậu quả xấu trên con người (24). TTNT đạt đến vai trò uy tín trên con người bởi quyền lực sự thật. Đặt các quan hệ trực tiếp cho bởi thế giới kỹ thuật số, vượt khỏi lằn ranh trung dung. Nó đặt mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và người mua hay một sứ cung cầu chữa bệnh cho người bệnh. Nó dân chủ hóa mọi đánh giá xa lạ, cho phép tất cả mọi khả năng phát biểu và đánh giá. Từ việc này nó tạo ra một hiểu biết thay thế các chuyên gia. Người tiêu thụ hay người chữa bệnh không cần đến trung gian bởi một con người. Chúng có khả năng cho ý kiến, chọn lựa và tự đạt đến chính họ điều mà họ cần. Một hiểu biết song song dường như dân chủ hơn được hình thành, nó lột trần quyền lực các chuyên gia.

Các ‘site’ áp dụng, diễn đàn, blogs phổ biến các thông tin về sức khỏe không cần giới y khoa. Sự chuyển giao quyền lực từ bác sĩ sang chuyên gia tính toán TTNT có thể nói trước(25). Như đã nói ở trên chúng ta cho phép các kết quả kỹ thuật số một sự tin tưởng đôi khi mù quán, được khuyến khích bởi nhu cầu phục vụ và người tiêu thụ, vượt qua làn ranh dung hòa chuyển giao quyền lực đến các chuyên gia xa lạ cách thức tính toán. Nhân loại không cần người đối thoại ưu tiên. Các kiến thức mới này làm giảm quyền lực giới y khoa và tương đối vai trò của bác sĩ.

Một sự thật khép kín và tiêu chuẩn hóa

Sự mù mờ những kỹ thuật số làm xa lìa, thức tỉnh sự nghi ngờ và kéo theo sự tin tưởng chúng ta. Một hình ảnh một Pythie mới. TTNT gây nên một quyền lực cho phép chúng ta chấp nhận sự quyết định mà chúng ta không thể chế ngự. Đại diện cho mọi quyết định chúng ta và các hành động chúng ta trong một vị trí cao cả thuần lý, giống chúng ta mà chúng ta không có thể thích ứng ? Mang tâm trạng thiếu khả năng chúng ta sẵn sàng chấp nhận tin tưởng vào một vật thể chúng ta kiểm soát mà chúng ta không hiểu được chúng vận hành như thế nào. Trong nhu cầu tin tưởng chúng ta thích một hiểu biết sai lầm hơn khó chịu trong nghi ngờ. Nhân loại ám ảnh bởi một ý chí kiểm soát và hợp lý hóa đi đến đôi khi mâu thuẩn trong một tư tưởng kỳ diệu.

Sự thật thống kê

Qua TTNT chúng ta nhận thức cái lô gic thống kê. Chúng ta cho nó giá trị khả năng là sự thật nếu đó là số nhiều. Chúng ta định nghĩa chuẩn mực các loại từ trung tuyến và trung bình. Những đường cong bên ngoài của Gauss là thiểu số, mất đi tính chính thức của số đông. Tình trạng tối thiểu trở nên lầm lạc và bị loại khỏi tiêu chuẩn. Lý luận thống kê ảnh hưởng tới quan niệm chúng ta, tất cả đều trở thành bình thường, bất bình thường, lành mạnh hay bệnh tật. (26)

Bình thường và bệnh tật đối mặt trước thống kê

Từ lúc chúng ta định nghĩa ngưỡng cửa khởi đầu các nguy hiểm, tỉ lệ giới hạn lằn ranh, khả năng sống sót, chúng ta định nghĩa tiêu chuẩn sức khỏe. Qua kỹ thuật số, chúng ta giảng dịch sức khỏe và sự lành mạnh bằng số và bằng các vec-tơ toán học. Bởi tiêu chuẩn đo lường chúng ta chuyển đổi luôn cả sự phê phán chúng ta. Làm thế nào cuộc sống lành mạnh chúng ta khi số liệu chỉ ngón tay cách ly đối với chỉ số cơ thể có thể gọi là bình thường, hay cái được gọi là lý tưởng ? Chuyển đổi qua các tiêu chuẩn gián tiếp ước muốn chúng ta, biểu hiệu biểu tượng đang chế ngự cả xã hội. Trong khoảng cách đối với các tiêu chuẩn các kích thích đạt bởi TTNT có thể mất đi phương diện truyền lệnh, không thừa nhận. Từ cùng một lô-gic, bệnh lý trở thành một tai nạn, sự khác biệt một sai lệch, tính dễ bị tổn thương có một khoảng cách cực đoan trong đời sống ?

Georges Canguilhem đã chiêm nghiệm nhiều suy tư trước sự bùng nổ đối mặt của sinh học. Ông phân biệt ý nghĩa diễn tả chữ “bình thường” là cái đi vào giữa trung bình trong ý nghĩa tiêu chuẩn bao hàm sự phán đoán giá trị. Người ta bảo bình thường là tất cả những điều thích hợp và thoả mãn. Canguilhem đề nghị từ đó để phân biệt chữ ‘bất bình thường’ tương đương một khoảng cách thống kê bởi sự thái quá hay sai lầm với các tiêu chuẩn. Sự bất bình thường này bao hàm sự phán đoán phủ định nó giới hạn tính chất vận hành cơ thể tối đa nó nguy hại đến khả năng sống. Phán đoán trước được tuyên bố trạng thái bất bình thường, bệnh hoạn là một phán đoán tiêu chuẩn.

Canguilhem giải thích sự đồng hóa các trạng thái bình thường và bệnh hoạn với đông đảo số lượng sinh học bởi ý muốn đơn giản nghệ thuật y khoa vào trong một sinh học thực dụng.

Khoảng cách các lằn ranh sinh học “ngoài tiêu chuẩn” không có theo Canguilhem một tính chất đủ để phân biệt đối xử một trạng thái sức khỏe là trạng thái một người bệnh. Chuẩn mực là một toàn thể có thể thích nghi sự thay đổi môi trường không làm nguy hại đến thăng bằng mọi sinh vật.

Vị trí chúng ta đối với kết quả TTNT đặt lại hôm nay đặt biệt soi sáng suy nghĩ của Canguilham, chúng ta đối diện các khoảng cách không sinh học nhưng theo thống kê, chúng ta cần phân biệt ý nghĩa diễn tả và ý nghĩa tiêu chuẩn các phân độ để tránh sự phê phán, để kết quả có được vị trí trong sự thật bình thường. Chúng ta có ý nguyện làm cho khoa học y khoa thúc đẩy nghệ thuật y khoa vào sinh học thực dụng. Chúng ta thúc đẩy hôm nay nhằm biến đổi trong toán học ứng dụng.

Dù sao đi nữa, chúng ta ở vị trí phức tạp khi các bác sĩ ở vào thời đại chỉ có sinh học. Chính bệnh nhân có thể tự đối đầu và trực tiếp với kết quả kỹ thuật số. Sự đối đầu đến cách nhìn của người bác sĩ vượt qua mọi quyền hạn, các dữ kiện thô chưa thông qua sự chắt lọc bởi một suy nghiệm và một giải thích chuyên gia. Cũng vì thế y khoa có thể còn phán đoán trung thực hơn khi quay sang bệnh nhân, làm thế nào bệnh nhân hôm nay có thể tìm thấy trong cô đơn khoảng cách đối với kết quả một tiêu chuẩn ?

Trong khi khuyến khích TTNT để đáp ứng nhu cầu chúng ta, chúng ta tạo cho nó một quyền lực tương đối mà chúng ta chờ đợi. Các phương pháp số học diễn tả qua trung gian những ước mơ với các nguy hiểm trở thành tiêu chuẩn có quyền lực. Thực hiện điều đó, chúng ta cho TTNT một sức mạnh thật sự mà chúng không có.

TTNT không hàm chứa chân lý

 

TTNT tuy nhiên không hàm chứa chân lý. Dominique Cardon nhấn mạnh sự áp đặt vai trò không hợp lý. “Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng các ước lượng thống kê như một quyết đoán nhất định chắc chắn và giữ mãi nguyên trạng. Trong thực tế nó chỉ có thể nói ít nhiều phỏng đoán gần đúng.” (27)

Hậu quả thuật toán học đặt nền tảng trên khả năng có thể xãy ra và thống kê. Chúng thiết lập các kết hợp cùng nghĩa, không xác định nguyên nhân. Chúng gợi ý các liên hệ có thể không xác định bản chất. Ví dụ Google Flu  Trend (28)(29) cánh cửa trước mở tiên đoán các dịch cúm bởi các chữa trị , TTNT  nghiên cứu các tạo từ chủ (mots-clefs) chỉ cho ta rằng làm thế nào có thể phối hợp trong ý nghĩa cùng với từ “oscar”, hay hơn nữa sử dụng kỹ thuật toán trong TTNT để tìm kiếm các yếu tố nguy hiểm cho các toan tính tự tử chỉ cho ta sự phối hợp thống kê vô lý với việc dùng thái quá các sinh tố.

Từ sự kiện đó các kết quả toán số lệ thuộc một phần nào chương trình cho vào máy các dữ liệu toán số và mặc khác các chỉ số đo lường. Trước tiên tất cả các số lượng được xây dựng chọn lựa các dữ kiện đo lường và các phương pháp để diễn giải. Cùng căn bản các dữ kiện có thể có nhiều cách giải thích khác nhau và cách dùng khác nhau theo nhiệm vụ phản ảnh  lợi ích của người đặt câu hỏi. Ví dụ cùng một căn bản các dữ kiện cho bởi bảo hiểm xã hội có thể dùng để tìm kiếm các bác sĩ cho thuốc thái quá và giao cho các tổ chức người bệnh tìm ra sự bất công trong việc tìm người ghép thận.

Sau đó các kết quả toán học liên hệ chặt chẽ các dữ kiện cho phép trên đó tạo lập dựa trên sự tập sự. Chúng lệ thuộc trước tiên tính đại diện các dữ liệu. Nhiều nghiên cứu cho rằng qua trung gian các bộ phận tiêu biểu tùy thuộc trên đại diện người bệnh cao tuổi hay các sắc tộc. Các trung gian có thể liên hệ đến chất lượng các số liệu. Hiệu quả TTNT đặt trên sự đối chiếu căn bản rộng lớn các dữ kiện hơn là nghiên cứu các mẫu thống kê. Sự thành lập các ngân hàng lớn dữ kiện có thể lôi kéo không tránh khỏi việc mất chất lượng. Nguy cơ sản xuất các dữ kiện quấy nhiểu và tiếng động liên hệ đến kỹ thuật. Đấy là trường hợp cho các chức năng đa dạng một căn bản dữ kiện. Các dữ kiện kế hợp cho một việc sử dụng khác có thể hấp dẫn đầu tiên hơn là các tính chất có sẳn cho một đo lường mới. Cuối cùng TTNT là một tổng thể duy nhất, nó bao gồm các toán học có thể cho nhiều kết quả khác nhau. Trong tiến trình lịch sử một logiciels dùng để giải quyết các phương trình được xem là không có thể bởi trước đó (le logiciels AlphaGo Zéro dépasse AlphaGo) Các kết quả thống kê chỉ tương đối, không thể xem như sự thật.

Thông báo một trung tuyến xác xuất mang đến một biến cố, một chuẩn đoán căn cứ trên một số đông bệnh nhân không áp dụng cho một cá nhân. Một biến cố quan trọng hiếm có mà cá nhân người bệnh mắc phải. Điều đặc biệt này đặt vấn đề phép tắc thống kê có sẵn. Trong liên hệ thống kê này chỉ có một thoáng hy vọng. Sự thật thống kê không phải là của cá nhân người bệnh.

Canguilheim đề nghị mang đến tiêu chuẩn các phương thức dành cho cá nhân nhằm hiểu biết sự thật : “Về các tiêu chuển sinh học đều theo cá nhân phải khám xét”(30). Một bác sĩ không thể tuyên bố một cá nhân “bị bệnh” nếu không có khám bệnh và không biết ý kiến trong tình trạng của họ. Ý nghĩa các kỹ thuật toán chỉ có thể cho các sự kiện tương đối mà ánh sáng sự thật đơn thuần mỗi cá nhân chứ không phải sự thật tập thể mọi người.

CHƯƠNG 3

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỂ TỰ TRỐN TRÁNH

 

Tự để thay thế để không nhìn nữa

 

Trốn cái nhìn người khác

 

            Là bệnh nhân đôi khi họ mang đến cho chúng ta khát vọng không thể lột trần được cái họ sống, phát biểu những điều họ cảm thấy. Hơn nữa chúng ta tự nguyện đặt thân thể chúng ta dưới cái nhìn kỹ thuật một chuyên gia, hơn thế chúng ta e ngại tự trình bày trước số đông người. Chúng ta e ngại bị phán đoán, không hiểu, không tán thành. Chúng ta không muốn bị khinh dễ vì sự kém hiểu biết của chúng ta, cũng không muốn nắm lấy một hình ảnh xã hội xây dựng với bao cố gắng.

Thế giới kỹ thuật số cung cấp ngày nay gần như tất cả các dữ liệu để trả lời tất cả những câu hỏi về y khoa chúng ta, ngay cả những vấn đề kín đáo mà chúng ta không dám đề cập đến. Chúng ta dễ dàng tìm thấy những hậu quả thứ yếu một loại thuốc, cho thuốc chữa trị các bệnh hiếm, các lời khuyên, các kinh nghiệm. Chúng ta đạt đến tự do có các loại thuốc, kết quả khám nghiệm máu, những áp dụng tìm ra bệnh, những kết quả khám nghiệm di truyền. Tất cả toàn thể những phương tiện y khoa đặt trước mặt chúng ta, ngay cả không cần thiết mục đích y khoa,  Những người đặt quyền lực tin tưởng vào vị bác sĩ gia đình bị xóa mờ. Trung tuyến không cần thiết để đạt đến một chuyên gia trong nghề. Con đường trực tiếp để trả lời những câu hỏi chúng ta trong hiện tại không cần qua một người khác. Chúng ta thích thú với tiện nghi vô danh thuần lý và sự trung lập của logiciels.

Tính vô danh giả tạo trong một quan hệ trung lập

Site Myheritage đề nghị, chỉ cần một món tiền nhỏ, có thể cho chúng ta biết nguồn gốc tổ tiên chúng ta từ ADN lấy từ một que bông gòn trong miệng. Site dược dân chúng ưa thích dựa trên việc tạo một căn bản ADN trên thế giới, tăng trưởng kết quả ngày càng nhiều hơn do việc lấy mẫu ADN những người cần đến nó. Site còn cung cấp khả năng khác  thiết lập quan hệ mà chủ thể cần biết một di truyền đơn giản dựa vào quan hệ sinh học. Người ta tìm ra quan hệ sinh học họ chờ đợi, khám phá ra các bí mật gia đình từ lâu được giữ kín. Căn bản di truyền quốc tế không nhắm đến y học, lợi nhuận đặt trên một TTNT. Nó nằm ngoài mọi sự kiểm soát mọi quyền lực y tế. Nó cũng vượt qua luôn cả mọi bổn phận, qui chế hành nghề. Nếu trong tương quan dường như trung lập trong thế giới kỹ thuật số, sự vô danh chỉ giả tạo. Các dữ kiện mà chúng ta tự ý hay cố ý để lại đã được lưu giữ. Nó cung cấp các ứng dụng cho vô số mục tiêu khó mà nhận biết ngay cả người sử dụng. Sự siêu cá nhân hóa liên hệ với TTNH tăng thêm dữ kiện lưu trử  chúng ta, vì thế có dữ kiện đủ điều kiện để loại bỏ sự vô danh mong manh, chúng ta nhận thức sau đó trong thế giới kỹ thuật số. Chúng ta nghĩ rằng có quyền xem tất cả, nói tất cả và làm tất cả, chúng ta chìm trong bóng tối hàng tỷ người sử dụng, Trái lại chúng ta để lại lưu trử những dấu tích khó mà xóa bỏ.

Nhìn lại cái nhìn nhân bản của chúng ta

“Họ còn than vãn, chắc chắn là một triệu chứng vùng Địa Trung Hải !” “Cơn đau thường kỳ số 304”. Người chữa bệnh có thể khép bệnh nhân trong một nhãn hiệu căn bệnh, những phê phán xã hội, chủng tộc. Tiêu chuẩn của một logiciles trung thực có thể tương quan với sự chối bỏ cái nhìn nhân loại, nó phân loại, phê phán và khinh khi. Khai thác các quan hệ bệnh lý Richard Hycner cho ta một cái nhìn sinh động có thể đóng khép bệnh nhân. “Việc khám bệnh từ bỏ những tiên kiến, các sự hiểu biết, các nhãn hiệu khám bệnh để đón nhận tính độc nhất của bệnh nhân.” (31) . Với cách này, ngưởi chữa bệnh hoàn toàn rãnh rỗi để đón nhận con người đằng sau người bệnh. Cái nhìn sinh động này được gọi là “sự hiện diện bệnh lý” khác cái nhìn trung lập và phân định trước của TTNT, người chữa bệnh có thể đã đề nghị một cái nhìn mở rộng và khoan dung. Không nghi ngờ gì nữa chúng ta, người chữa bệnh trở lại với trách nhiệm cho bệnh nhân với hương vị quan hệ nhân bản.

Thay thế để không rối loạn

Ngờ vực các xúc động và cảm xúc

Sự gắn bó gây nên hoài nghi. Sự giận dữ làm mất kiểm soát. Sự khinh khi gây nghi ngờ.  Sự kinh tởm làm chúng ta hổ thẹn. Việc xúc động gợi lên sự ngờ vực. Người bệnh và người chữa bệnh có thể bối rối bởi xúc động tràn ngập người này trước một người khác. Sự gần gủi người khác thái quá có thể có nguy cơ gây chồng chéo với quan hệ chữa bệnh ? Sự rối loạn có thể tác động tính chuyên nghiệp chữa bệnh chúng ta hay nhân cách người bệnh.

Hình ảnh kết hợp tính chuyên nghiệp có mặt khác là làm cho cá nhân làm tròn bổn phận, giữ mức kiểm soát mình không bị rối loạn trước mọi hoàn cảnh. Nghề nghiệp y tế cho ta thận trọng mọi nguy hiểm chuyển dịch tâm lý bệnh trạng hay chống lại chuyển dịch bệnh trạng. Nó khuyến khích giữ một khoảng cách cho bảo toàn hoàn toàn tâm lý. “Con người thật chín muồi bởi đam mê, cần điều chỉnh xúc động,” Aldous Huxluy trong “Thế giới hoàn hảo” (32) xúc động hăm dọa xã hội. Từ cảm nhận đầu tiên nhất cảm xúc, các cá nhân chạy theo thuốc nước ‘le soma’ để không bao giờ bị rối loạn. Chữ rối loạn perturber có nguồn gốc Latin per-turbare. Nó mang tính chất  lẫn lộn, khuấy động hay đảo lộn. Hình ảnh của nước khuấy động và bất ngờ, vẫn đục ngăn cản việc phân biệt rõ ràng. Sự vắng bóng rối loạn, khoảng cách xúc động có thể nào tránh khỏi cho một nhà chuyên môn trong lúc chữa bệnh ?

TTNT như cái thứ ba trung lập

Mối quan hệ giữa người bệnh và người chữa bệnh không đối xứng. Người bệnh bị hăm dọa nguy hiểm trong cơ thể họ, không có cách nào để tự chữa cho mình nên tìm đến người chữa bệnh có sức khỏe tốt và nắm giữ hiểu biết y học. Cái mất còn trong cuộc sống, sự mất cân bằng trong quan hệ có thể dẫn đến sự căng thẳng, làm ngượng ngịu, gây xúc cảm.

Sự chờ đợi người đến trước tiên, dễ tổn thương và lệ thuộc đối diện với lương tâm trách nhiệm người kia. TTNT đề ra người thứ ba trung lập, nó đối xứng giữa người bệnh và người chữa bệnh. Các logicieles cho phép giữ sự khám xét y khoa trung thực, không để các xúc động lộ ra. Một TTNT bố trí vài tự chủ, nó có thể nhận lãnh trách nhiệm một quyết định hành động. Hình ảnh một GPS (máy dẫn đường) làm yên lòng người lái xe và hành khách ngồi phía sau xe. Sự trung gian TTNT làm nhẹ bớt căng thẳng trong mối quan hệ chữa bệnh. Gánh một phần cho người chữa bệnh các quyết định y học. TTNT giảm bớt gánh nặng chờ đợi và trách nhiệm cho bác sĩ. Một vài thanh thản được hứa hẹn và làm cho tiện lợi bởi cái thứ ba trung lập này.

Tuy nhiên người chữa bệnh có thể so sánh với người lái thứ hai máy bay, không chọn lựa chức vụ mình. Người bác sĩ dấn thân trong nghề nghiệp và nắm lấy trách nhiệm chữa bệnh người khác, cũng như thế họ phải thích nghi và biến đổi mối quan hệ không thích nghi trong quan hệ chữa bệnh. TTNT có thể sử dụng như một tiền đề để trút bớt trách nhiệm.

Sự bối rối biểu lộ nhân bản chúng ta

Các triết gia cổ đại truyền lại giá trị sự yên tỉnh của tâm hồn . “Tôi thiếu gì để trở nên có thể không lay chuyển, điềm tỉnh ?”, Epictète đặt câu hỏi. Tuy nhiên sự yên tỉnh không có khả năng cảm thấy. Người Stoïciens (khắc kỷ) nhắm đến sự tách rời với quan hệ sự vật mà họ không có và biết để chấp nhận, để tập trung cố gắng trên các điều mà họ có một quyền lực. Sự điềm tỉnh mang đến một chọn lựa, nó không tự trân mình cũng không vắng mặt trong cuộc sống.

Emanuel Levinas thấy ngược lại giá trị sự bối rối, ông định nghĩa : “khuynh hướng y học con người như một sinh vật không để người khác một mình trong đau đớn.” khả năng trở nên rối loạn này bởi sự đau khổ người khác định nghĩa như một phẩm cách con người.

Ý thức sự đau khổ người khác bởi vì họ làm chúng ta rối loạn, thúc đẩy chúng ta đến hành động, cùng một lúc chúng ta trở nên nhân bản. Cũng như thế từ chối cảm động trước người khác làm chúng ta xa cách với xúc động. Có phải chúng ta đang từ bỏ những điều nhân bản chúng ta trong quan hệ chữa bệnh.

Giá trị sự rối loạn để phê phán tốt

Corinne Pelluchon chỉ ra vai trò trực giác trong nghệ thuật phán đoán y học. Trực giác giúp đỡ chúng ta thích nghi với một tình trạng đơn thuần, nó giúp ta tìm thấy một thái độ đúng, xác định tốt hơn cho người bệnh trong tình trạng đơn giản, nó nối liền sự hiểu biết và kinh nghiệm chúng ta. Như thế trực giác không tuân theo một kỹ thuật toán, nó chính đáng để nghe các xúc động và sự rối loạn chúng ta. “Trực giác giám định, rời khỏi chúng ta để nghe người khác, nó là một trong những chìa khóa để có quyết định đúng.” Trong y khoa và trong chính trị, chính xác bởi vì nó không trong lãnh vực các luật toán học,(33) sự chữa trị khai thác các chữa trị hiện tại đồng thời. Chú trọng trên giá trị các cảm xúc và lắng nghe của nó. Một chữa trị không chỉ dành cho người khác, nhưng nó phải được chú trọng vào cảm xúc riêng bằng cách thức qua lời nói người khác đang hy vọng nơi họ. Sự lắng nghe chính họ cho phép đạt đến sự tự nhiên, trực giác và sáng tạo của họ. Nó cho phép phản ứng một cách thích hợp với người khác trong phúc chốc.

Cũng như thế sự rối loạn các cảm xúc có thể dồn nén trong mối quan hệ chữa bệnh. Sự  từ chối trách nhiệm người này sẽ làm người khác bỏ trốn. Trực giác người khác và tha giác (empathie) ngăn cản trong mọi trường hợp, tìm thấy một khoảng cách đúng đắn trong quan hệ chữa bệnh. Điều nó cho thấy nhận thức sự nguy khốn để có thể đến giúp đỡ. không khổ đau với họ.

Trong mối tương quan không thể tránh khỏi bị gây bởi xúc động, ảnh hưởng qua lại là một nghệ thuật, khoảng cách đúng giữa người bệnh và người chữa bệnh nối liền do sự tế nhị và sôi nổi trong quan hệ với người khác. Cuối cùng chúng ta có thể khao khát một quan hệ giả tạo và từ bỏ mọi xúc động chúng ta. Sự từ chối này tương quan lẫn lộn trên sự rối loạn và xúc động. Trong sự tìm kiếm giá trị nó, chúng ta có thể ngược lại nhận ra mối quan hệ con người.

Tự thay thế để tránh sự bó buộc chúng ta trong hiện tại

 

Paro hay mẹo lừa ngày nay

 

            Một bệnh nhân trong một viện dưỡng lão bị bệnh mất trí thường xao động, người ta đặt trên đùi một con gấu nhồi bông trắng, lông tơ với đôi mắt dài đen bằng hợp chất. Con gấu nhồi bông tên Paro biết rung rinh, gầm gừ thích thú mời gọi bệnh nhân vuốt ve để được yên ngủ.

Dẫn đường bệnh nhân lạc hướng, phân phát bữa ăn, cho người nằm bệnh viện, có mặt bên cạnh bệnh nhân già yếu, các kỹ thuật áp dụng TTNT thay thế hiệu quả con người trong công việc, giới hạn liên hệ giữa người chữa bệnh với bệnh nhân. Khoảng cách tránh cho người chữa bệnh phải đối diện với một người bệnh dường như mất phương hướng, lo lắng và lệ thuộc. Alan Turing đặt điều kiện TTNT không thể phân biệt bắt chước trong suy nghĩ, bởi vì chúng ta không đạt đến cảm tưởng thua kém người khác, mà chỉ có cảm giác cho bởi người khác. Từ đó máy móc không cần thiết để suy nghĩ, nó phải bắt chước tư tưởng. Từ đó trách nhiệm Turing như một thách thức để người nghiên cứu sáng tạo một máy móc có thể lưu trữ, đối với con người không cần lộ ra bản chất. Hôm nay logicieis nói chuyện (bots) kích thích thảo luận dường như đạt đến mục tiêu.

Mục đích TTNT là có khả năng thích nghi gần gủi với người sử dụng và sáng tạo một mối liên hệ siêu nhân cách (hyperpersonnalisation) hay củng cố nhân cách (personnalisation renforcée), (34) mối liên hệ này kích thích trong hiện tại. Phối hợp kỹ thuật chuyên gia chuyên nghiệp cho phép bởi mẫu mực hóa các luận lý y học. TTNT có khả năng thay thế người chữa bệnh trong vài công việc, kỹ thuật mang lại cho chúng ta tiện nghi, tránh bớt sự bó buộc giao tiếp và sự hiện diện người khác.

Trốn tránh giao tiếp

Kỹ thuật canh chừng ngày nay trong việc gửi điện thư mời bệnh nhân và nhắc nhở họ những điều phải làm trước khi giải phẩu. Máy khác đặt câu hỏi khi bệnh nhân trở về nhà họ : “Ông bà đau đớn mực độ thế nào ? Có buồn nôn không ? Có đứng dậy được không ?” . Các đối thoại này được xếp đặc trước theo kỹ thuật toán đánh giá và đặt sẵn để hoàn thành chức năng. Cách thức giao tiếp giảm bớt thông tin trong thực dụng cần thiết, trút bỏ đi bớt sự tế nhị. Tổng quát nó không làm cồng kềnh (quấy rầy), các mối liên hệ đơn giản cố gắng thích nghi cá nhân và hoàn cảnh. Ngay lập tức và đôi khi dữ dội. Điếc, nó không mang đến khả năng phản ứng, trao đổi hay lắng nghe. Trao đổi với TTNT không có thể thoả thuận, được tạo dựng để sự giao tiếp càn thiết trong liên hệ chữa bệnh.Một TTNT không có khả năng hiểu nhân cách người sau người bệnh, nó không có nguyên liệu cảm xúc, ngay lập tức và sáng tạo để tạo ra mối quan hệ đơn giản. Vì thế trong lúc chữa bệnh, người thân thể bị hăm dọa hoàn toàn, mối quan hệ với người khác trở thành một không gian sự thật. Chúng ta có thể sẵn sàng từ bỏ không gian này để trốn tránh giao tiếp với người khác ?

Nhìn lại quan niệm chúng ta với việc chữa bệnh

Ý tưởng một khả năng thay thế bởi TTNT có thể là sự kiện đánh lừa trên “khách quan” việc chữa bệnh.(35) như đã nhấn mạnh bởi Frédéric Worm. Đặt dưới sự đòi hỏi của thời gian, cá nhân, lợi nhuận, y khoa lấy tiêu điểm là sự chữa bệnh thân thể. Nó nhắm đến phục hồi sức khỏe, mang trở lại thăng bằng bị hăm dọa bởi sự sống còn. Nó mang đến trên mệnh nhân một cái nhìn lâm sàng, một quan niệm hoá căn bệnh qua mô tả các triệu chứng biểu hiện như mô tả bởi Michel Faucault (36). Quan niệm chữa bệnh bởi TTNT đơn giản vào việc cho thuốc chữa trị, một công việc tách rời ra khỏi tất cả các nhiệm vụ quan hệ.

Tuy nhiên cử chỉ chữa bệnh không nhắm đến một thân thể mà là một hữu thể. Y khoa không chữa cho một nhu cầu, nó chữa cho người khác trong toàn thể thân xác và tâm hồn. Carolle Gilligan khuyến khích một phương pháp toàn diện mà bệnh nhân được xem xét kỹ trong tất cả con người. Thành phần tình cảm và tâm lý cũng cấu thành đạo đức và nghệ thuật y học. Trong việc chữa bệnh (cure), nó luôn phối hợp với khái niệm (care) gìn giữ sức khỏe của người bệnh.

Mặc khác việc chữa bệnh bao gồm phương diện liên hệ dẫn vào một phân cực giữa chính mình và người khác. Mối liên hệ chữa bệnh là mối liên hệ cấu tạo đối xứng. Sự dễ bị tổn thương hay mất tự chủ của người bệnh đặt họ vào một tình trạng lệ thuộc. Trong quan hệ đối xứng đó có khả năng lạm dụng quyền lực và từ chối phục vụ. Y khoa không những chỉ cho hiểu biết mà còn quyền lực là muốn chữa bệnh người khác. Ngoài phương diện chính trị và xã hội, y khoa còn dự phần vào phương diện triết học và đạo đức, nó có trách nhiệm với người tìm đến họ.

Y khoa tính theo năng xuất và tính thời gian, có thể là một nền y học xuống dốc, gây sự thiệt hại cho việc chữa bệnh (care). Điều đó đơn giản con người vào thân xác. Nó không thể không biết đến phương diện tình cảm, liên hệ vào sự dễ tổn thương do sự trổi dậy của tình cảm và xúc động. Đó là tất cả thách thức phải hiểu biết và nói ra rõ ràng “le care” và “le cure” và đi đến đồng hóa một hình thức thực hành khách quan trong mối quan hệ chủ quan.

Từ đó ta có thể coi như là không đầy đủ sự thay thế bởi một kỹ thuật chỉ đáp ứng cho việc chữa thân xác ?

Để thay thế cho một thân mật mới

Mối liên hệ cung cấp bởi củng cố nhân cách hoá

Vậy thì con người dường như bị vượt qua bởi vật sáng tạo giống nó. Nó cấu tạo một cấu trúc liên hệ TTNT, mối quan hệ này cung cấp bởi khả năng phát triển siêu nhân cách với máy móc. Hiệu quả một logiciel TTNT là một định nghĩa đặc biệt bởi khả năng kết nối với người sử dụng. Khả năng thích nghi gần gủi với người sử dụng cho phép trở nên nhạy cảm trong mối liên hệ với máy móc. Hiệu quả nhân cách hóa đặt trên một kết đôi và đặt ra bởi vòng tập sự giữa các tín hiệu và các dấu hiệu ngầm. Dựa trên các trạng thái trong quá khứ TTNT có khả năng làm lại các lời khuyên bảo cá nhân hóa người sử dụng, hơn các tiêu chuẩn thông thường với tiêu chuẩn dân số học và xã hội học (37). Sự hiểu biết tinh tế này cho phép đạt đến mặt ẩn dấu của người bệnh, điều họ có thể làm và điều họ suy nghĩ thật.

Con người ở trung tâm chú ý của kỹ thuật số

 

Con người có thể đặt vào việc hằng ngày nơi trung tâm quan tâm kỹ thuệt số. Hình ảnh ngôi nhà trong phim Bác Tôi (Mon oncle) của Jacques Tati (38), một kỹ thuật số ngoài sức khỏe được đề nghị đồng hành với chúng ta trong tất cả các mặt của cuộc sống hằng ngày. Sự do dự của chúng ta trước tủ áo, hay chọn một menu làm món ăn, các lời khuyên báo trước tùy thuộc vào số lượng mà không phải chọn lựa cho sự di chuyển, người trợ giúp, người tận tâm, người đồng lõa và vật dụng liên hệ. TTNT đặt ra một bản tính yên lặng, một mối liên hệ gần như tình mẫu tử chung quanh các cá nhân tập trung bởi nhu cầu.

Một thân mật mới

Chúng ta ở vào năm 2025 (39) một nhà văn (Joachim Phoenix) để lấp vào sự im lặng trong căn hộ trống, ông đầu tư vào một logiciels hiện diện có giọng nói một phụ nữ (Scarlett Jonhanson). Dần dà nhà văn tin tưởng thân mật vào giọng nói ngọt ngào, trực cảm, thông minh gây nên tốt đẹp trong cảm giác. Bị quên lãng sự hiện diện một người phụ nữ thật ông dần dà yêu thương sự hiện diện ấy.

Mục tiêu ngắn do TTNT cho ta thích nghi vài sự thân mật. Gần gủi, mang lại cho chúng ta, ngấm vào dưới da ta (như cái bom dưới làn da để làm giảm bớt sự đau đớn bệnh tiểu đường). Nó sẵn sàng để dùng liên tục cho chúng ta. Thâu nhỏ lại, dễ sử dụng và mạnh, chúng ta đã bỏ đi những máy móc trước đó cố định và cồng kềnh. Để mở máy hoạt động, chúng ta được mời gọi để vuốt ve gây xúc giác bề ngoài. Việc siêu nhân cách hóa làm cho chúng ta tập trung trên nhu cầu dễ bảo khi chúng ta muốn. Việc quan hệ tạo nên sự thích nghi riêng biệt mỗi người. Với mục tiêu thông minh nó tạo nên một liên hệ khác biệt với các vật dụng khác. Nó trở lại với chúng ta khi chúng ta quên nó, nó mang một phần ký ức và một mảnh đời sống chúng ta, đôi khi nó mang lại chìa khóa cho sự thân mật chúng ta.

“Cũng như thế, sự hiện diện củng cố trật tự trước mặt và bất thường trong thực tế, vật dụng củng cố.”(40) Arendt chỉ ra làm thế nào một vật có thể nhận lấy trách nhiệm chuyển tiếp bởi sự hiện diện khách quan. Khi giúp chúng ta khám phá bản chất chúng ta, nó mang lại sự bình an. Vật dụng chuyển động và có trí thông minh còn đi xa hơn nữa, nó đề nghị mang lại một phần bản sắc chúng ta.

Mối quan hệ ảo và mối nguy cô lập

 

Mở ra không gian xã hội hóa ảo (chat, forum) chúng ta mang đến mối liên hệ tức thì một sự thân mật. Các vật dụng kỹ thuật số mang đến cho chúng ta dần dà chối bỏ sự thật. Chúng ta tự khép kín trong cái bầu hệ thống sinh thái, đóng kín vây quanh chúng ta. Chúng ta mất đi sự liên lạc với không gian, thời gian và người khác. Tấm màn này nắm giữ độc quyền cái nhìn của bác sĩ khi khám bệnh nhân, vị bác sĩ không còn cái nhìn về người bệnh khi tìm kiếm. Các áp dụng y học lấp đầy nhiệm vụ canh chừng và mang đến các dữ kiện, nó xua đẩy cuộc tiếp xúc với người chữa bệnh là người. Mối quan hệ ảo thỏa mãn nhu cầu mang lại cơ hội hơn nữa và bỏ rơi cái giống chúng ta.

KẾT LUẬN

CHÍNH CHÚNG TA CẦN MANG LẠI CÁI THÚ VỊ CHO CON NGƯỜI

 

Huyền thoại Prométhée làm nhận thức ra một tầm vóc lo lắng. Kỹ thuật sinh ra sự phạm thượng. Sự nổi giận của thần thánh về việc này đã kết án Prométhée một trừng phạt vĩnh cữu. Kỹ thuật bao gồm sự mập mờ hai mối quan hệ biết ơn và lo lắng. Cùng một lúc nó mang đến những lợi ích gần như huyền diệu và nó cũng mang lại cùng lúc một kỹ thuật gây sợ hãi. Kỹ thuật bắt chước con người chiếm một vị trí đặc biệt. Có gì quyến rũ hơn là tạo nên hình ảnh của chúng ta ? Bên kia cái kỳ công kỹ thuật, cái lập lại bắt chước con người làm thức tỉnh chúng ta một tình cảm lạ lùng. Nó đặt câu hỏi mối quan hệ giữa kỹ thuật và con người, giữa thiên nhiên và nhân tạo. Nó làm lo lắng con người trên chính sự nhân bản riêng của mình, trên khả năng lầm lẫn và một tiềm lực thay thế.

Trong cuộc đua bừa bãi phóng túng vô độ hướng đến kỹ thuật toán. Các áp dụng rất nhiều phương hướng của TTNT gây nên ý nghĩa lầm lẫn trong sự phát triển. Thuần lý cũng như vô lý, nó cỏ thể phụng sự con người hay chối bỏ.  Đặt câu hỏi về động lực sâu kín có thể giúp chúng ta phê phán hiệu năng các áp dụng mới. Ý thức ý nghĩa khác nhau có thể cho chúng ta hiểu hơn các vận động, sức hấp dẫn và nghi ngờ.

Chúng ta toan tham dự và thay thế con người mệt nhọc và có thể sai lầm. Chúng ta loại bỏ các hiểu biết quá thời không dùng nữa. Sự quan sát lâm sàng, kinh nghiệm được đặt ra mặt sau lợi ích một số điểm và kỹ thuật số. Để tránh các sai lầm, chúng ta kiểm soát công việc bởi các rô bô, chúng ta tối thiểu hóa vai trò của nó trong việc lấy quyết định. Sự canh tranh kỹ thuật làm cho chúng ta ý thức sự dễ tổn thương và sự thiếu sót của chúng ta. Lý tưởng chúng ta bị che đậy cái xấu, sự từ chối, cái vô hiệu. Ý chí chúng ta chế ngự và hoàn hảo đụng phải khả năng chúng ta và chúng ta tự chấp nhận nó, TTNT gửi lại cho chúng ta bản báo cáo về chúng ta, con người thất vọng bởi con người, quay về với máy móc va tìm kiếm nơi đó một cơ hội xu thời.

Sự tách rời một mảnh trơ trẻn ci-nic trong nội tâm, xác định sự tin tưởng tuyệt đối TTNT đối diện con người. Nó được cảm nhận ít ra như một tṛang thái đáng buồn cũng như sự lựa chọn đã định. Thái độ tùy thuộc đối với máy móc không phải sống như một thất bại, nhưng mà là một sự từ chối mong muốn và tự nguyện. Trước sự tin tưởng và để thay thế bởi TTNT có thể không chỉ là một toan tính mà là một chọn lựa. Con người tự thấy mình thiếu kém trước kỹ thuật và chấp nhận vài hình thái kiêu ngạo không tùy thuộc vào cái giống chúng ta. Họ quy trách nhiệm cho kỹ thuật và sự từ chối của chính họ.

Chính chúng ta ngày nay, nó thuộc về chúng ta tìm lại giá trị cái tên mà chúng ta dấn thân với tư cách người chữa bệnh. Đặt câu hỏi các giá trị tạo nên quan niệm chúng ta về con người và quan niệm nó với đời sống. Chính sự lãnh phần trách nhiệm mối quan hệ chúng ta mà chúng ta mang lại ý vị con người. Như chúng ta nhận thức một bình diện sống động và huyền diệu. Tìm lại mối liên hệ vui vẻ đơn giản, chúng ta vui thú khi gặp người khác ? Có thể chúng ta không bán tống tháo danh dự cho kỹ thuật số, cũng như tiến trình phát triển của nó mà chúng ta nắm giữ.

Sandel nhấn mạnh cuộc thi đua khó khăn : “Làm cho tiến bộ sinh-y học một cách tốt đẹp cho sức khỏe, hơn là đi một bước đến sự lụn bại trong tình cảm nhân loại.” Đặt câu hỏi mối quan hệ chúng ta và chúng ta có thể thích nghi TTNT trong chừng mực làm cho tiến bộ kỹ thuật có ý nghĩa của con người.

CHÚ THÍCH

  1. Lee H. Et al. “Predicting response to neadjuvant chemotherapy in patients with breast cancer”. Clinical Nuclear Medecine janvier 2019. Vol44, 1:21-29.

2.“Intelligence artificiell – Etat de l ́ art et perspectives pour la France” Etude Commissariat Général à l ́ Egalité des Territoires (2019).

  1. Esteva A. Et al, Dermatologist-level claaification of skin cancer with deep neural networks. Nature, 2017.542 : 115-8.
  2. Bataillon B et al. La pathologie à l ́ heure de l ́ intelligence artificielle: exemple de la pathologie mammaire. Once-théranostic, Vol VIII n° 1 mars 2019.
  3. Arendt H., Condition de l’homme moderne, Calmann-Levy, 1958.
  4. Homère, L ‘Illiade, chante XVIII traduction Leconte de lisle 1866, tr.370-421. Nhất Uyên dịch thơ lục bát. Sử thi Iliade thi hào Homère Khuê Văn Paris xb 2011.
  5. Aristote, Politique pp.1253b30-1254a18.
  6. Homère, L’ Illiade, sđd.
  7. Arendt H., Condition de l’homme moderne; sđd.

10.Aristote, Ethique à Nicomaque ; Livre X.

11.Arendt H., Condition de l’ homme moderne,sđd.

  1. Cardon D., A quoi rêve les algorithmes: nos vies à heure des big data, Seuil, 2015,tr.101.
  2. Dugain M., Transparence , Gallimard, 2019.
  3. Niccol A., Bienvenue à Gattaca, 1997.
  4. Cardon D. A quoi rêvent les algorithmes, sđd.
  5. Sandel M.J., Contre la perfection : l ́ éthique à l ́ âge du génie génétique, Vrin, 2007,p.24.
  6. Cardon D. A quoi rêvent les algorithmes, sđd tr.85.
  7. Spielberg S., Minority Report, 2002.
  8. Huxley A., Brave Mew Word,1932.
  9. Roy S Chimiothérapie : une erreur aboutir au décès d ́ un enfant à Gustave-Roussy, Le Figaro, 26 juillet 2019.
  10. Référentiel indicatif d ́ indemnisation par l ́ ONIAM. 1Er janvier 2018.
  11. Sandel M. J., Contre la perfection, Vrin. 2007. tr.24.
  12. Pelluchon C., L ́ autonomie brisée, PUF, 2014, tr.211.
  13. Sadin E., L’ intelligence artificielle ou l ́ enjeu: anatomie d ́un antihumanisme radical, L ́ échappée, 2018, p77.
  14. Cardon D., A quoi rêvent les algorithmes, sđd tr.43
  15. Canghilhem G., Le normal et le pathologique, PUF.
  16. Cardon D., A quoi rêve les algorithmes, sđd tr. 75.
  17. Ginsberg et al.,Detecting influenza epidemics using search engine query data. Nature, Février2009, 457(7232): 1012-1014.
  18. Lazer D. Et al. “The Parable of Google Flu: Traps in Big Data Analysis”. Science, 2014,343(6176): 1203-1205.
  19. Canguilhem G., Le normal et le pathologique, sđd tr.118.
  20. Hycner R. Between Person and Person: Toward a dialogical psychotherepy. New York, Gestalt Press 1993.
  21. Huxley A., Brave New World.1932.
  22. Pelluchon C., L ́autonomie brisée sđd tr 63.
  23. Cardon D. A quoi rêve les algorithmes sđd.
  24. Worms F., Le moment de soin, Presse universitaire de France,2010
  25. Faucault M.. Naissance de la clinique. PUF. 1963.
  26. Cardon D., A quoi rêvent les algorithmes, sđd tr.23
  27. Tati J., Mon oncle, 1958.
  28. Jonze S., Her,2013.
  29. Arendt H., Condition de l ́ homme moderne, sđd tr188.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ouvrages

Arendt Hannah. Condition de l ́ homme moderne, Calmann-Lévy.1958

Aristote. Ethique à Nicomaque.

Canguilhem Georges. Le normal et le pathologique PUF,1966.

Cardon Dominique. A quoi rêvent les algorithmes: nos vies à l ́ heure des big data. Seuil. 2015.

Ellul Jacques, Le bluff technologique, Hachette,1988.

Foucault Michel, Naissance de la clinique, PUF, 1963.

Godart Elsa, Je selfie donc je suis : les métamorphoses du moi à l ́ ère du virtuel. Albin Michel, 2016.

Habermas Jürgen, La technique et la science comme “idéologie”. Gallimard, 1973.

Homère. I ́ Illiade. Traduction de Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh en lục bát. Khuê Văn Paris 2011

Ganascia Jean-Gabriel, Intellligence artificielle : vers une domination programmée ? Le Cahier bleu,2017.

Pelluchon Corinne, L ́ autonomie brisée, PUF 2014.

Sadin Eric, L ́ Intelligence artificielle ou l ́ enjeu : anatomie d ́ un antihumanisme radical. Ĺ Echappée, 2018.

Sandel M,J., Contre la perfection : l ́ éthique à l ́ âge de lu génie génétique, Vrin, 2007.

Worms Fédéric, Le moment de soin, PUF, 2010.

Articles de revues

Battaillon B et al. “La pathologie à l ́ heure de l ́ intelligence artificielle: exemple de la pathologie nammaire”, Once-théranostic, Vol VIII n°1 Mars 2019 !

Esteva Q et al. ‘Dermatologist-level classification of skin cancer with deep neural networks’ Nature 2017.542:115-8.

Ginsberg et al., “Detecting influenza epidemies using search engine query data” Nature, Fév 2009,457 (7232): 1012-1014.

Hycner, R. “Between Person and Person : Toward a dialogical psychotherapy” New York Gestalt Journal Press,1993.

Lazer D et al. “The Parable of Google Flu : Traps in Big Data Analysis” Science, mars 2014,343: 1203-1205.

Lee H et al. “Predicting response to neadjuvant chemotherapy in patients with braest cancer” Clinical Nuclear Medecine, Jan 2019, Vol 44, I :21-29.

Roy S. “Chimiothérapie: une erreur aboutir au décès d ́ un enfant à Gustave-Roussy, Le Figaro, 26 juil 2019.

“Vivre avec les machines” Le Points références 2018.

Pages internet

Intelligence artificielle. Etat de l ́art et perspectives pour la France, Etude Commissariat à Egalité des Territoires (2019)

OMNIAM, Référentiel indicatif d ́ indemnisation, 2018.

Roman

Dugain Marc, Transparence, Gallimard,2019

Huxley Aldous, Brave New Word, 1932.

Chức năng bình luận bị tắt ở Trí Tuệ Nhân Tạo trong Y khoa: Một toan tính thay thế
0914-098-111