admin – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Fri, 27 Sep 2024 04:03:32 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 Dứa chống ung thư, bảo vệ tim mạch, 9 lợi ích lớn, nhưng có 4 điều kiêng kỵ https://thuonghylenien.org/luu-tru/6150 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6150#respond Fri, 27 Sep 2024 04:03:32 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6150 Dứa chống ung thư, bảo vệ tim mạch, 9 lợi ích lớn, nhưng có 4 điều kiêng kỵ
Giá trị y học của quả dứa chủ yếu là do bromelain, một loại enzyme phân giải protein giúp tiêu hóa và giảm viêm khớp. (Shutterstock)
Ngoài vị chua ngọt, thơm ngon, quả dứa đã được các nhà trị liệu liệu pháp tự nhiên sử dụng từ thời cổ đại để làm thuyên giảm các bệnh về dạ dày. Giá trị y học của quả dứa chủ yếu là do bromelain, một loại enzyme thủy giải protein. Bromelain được tìm thấy trong nhiều chế phẩm dinh dưỡng và thảo dược, mọi người vẫn tiếp tục nghiên cứu về tiềm năng sử dụng của dứa trong các ứng dụng trị liệu khác.

9 lợi ích sức khỏe của quả dứa

Dứa có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Vào thế kỷ 15, dứa được du nhập vào châu Âu và Ấn Độ khi các thủy thủ phát hiện, ăn dứa giúp họ khỏe mạnh trong những chuyến hành trình dài. Ngày nay, 100 loại dứa khác nhau được bán trên khắp thế giới, chủ yếu từ Costa Rica, Brazil, Philippines, Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ.

Các hợp chất được tìm thấy trong dứa có nhiều lợi ích cho sức khỏe, bao gồm tăng cường hệ thống miễn dịch, hỗ trợ tiêu hóa, giúp duy trì sự cân bằng axit-bazơ của cơ thể và giảm nguy cơ mắc các bệnh viêm mãn tính.

Điều quan trọng nhất trong số này là bromelain. Là một enzyme phân giải protein, nó giúp phá vỡ các phân tử protein trong thực phẩm để hấp thụ và tiêu hóa tốt hơn. Đặc tính này cũng có những lợi ích khác cho thân thể.

1. Bảo vệ trái tim

Dứa chứa chất xơ và kali, cả hai đều giúp giữ cho trái tim của bạn khỏe mạnh bằng cách giảm nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ. Kali rất cần thiết để điều chỉnh huyết áp, trong khi chất xơ giúp giảm mức cholesterol.

Chất chống oxy hóa của dứa là flavonoid và hợp chất phenolic có tác dụng giảm thiểu chứng viêm và ức chế gốc tự do. Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên chuột cho thấy, những chất chống oxy hóa này có thể giảm thiểu căng thẳng oxy hóa và chứng viêm tâm tạng, khởi tác dụng bảo vệ tim.

Dứa chứa chất xơ và kali, cả hai đều giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ, giữ cho trái tim của bạn khỏe mạnh. (Shutterstock)

2. Cải thiện nhận thức của não

Hàm lượng đồng trong dứa có thể giúp duy trì thông lộ thần kinh trong đại não, từ đó cải thiện chức năng nhận thức. Một nghiên cứu năm 2017 được thực hiện ở Iran cho thấy, nước ép dứa có tác động tích cực đến khả năng nhận biết đồ vật của những con chuột bị suy giảm trí nhớ. Các nhà nghiên cứu kết luận, dứa có khả năng điều trị một số rối loạn nhận thức, chẳng hạn như bệnh Alzheimer.

Tryptophan và magiê trong dứa có thể giảm lo lắng, cải thiện tâm trạng, giúp ích cho sức khỏe tâm lý. Cả hai đều có thể gia tăng tiết thanh huyết tố serotonin của cơ thể, một vật chất giúp cải thiện tâm trạng. Những người bị trầm cảm và lo lắng có thể bổ sung dứa vào chế độ ăn hàng ngày.

3. Chống ung thư

Ung thư là một căn bệnh mãn tính đặc trưng bởi sự tăng trưởng tế bào không kiểm soát được. Sự tiến triển của ung thư có liên quan đến căng thẳng oxy hóa và viêm mãn tính.

Dứa chứa các hợp chất chống ung thư, bao gồm quercetin, beta-carotene, bromelain và vitamin C, giúp tăng cường hệ thống miễn dịch và trung hòa các gốc tự do có hại, từ đó giảm thiểu căng thẳng oxy hóa và giảm nhẹ chứng viêm. Ngoài ra, bromelain đã được chứng minh là có thể ức chế sự sinh trưởng của khối u, dẫn dụ tế bào ung thư tử vong và giảm nhẹ chứng viêm.

Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm phát hiện bromelain có thể ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư vú, và một nghiên cứu khác phát hiện nó có thể ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư ruột kết.

Nghiên cứu về đặc tính chống ung thư của dứa vẫn tiếp tục, một số trung tâm ung thư đang kết hợp dứa vào chế độ ăn hàng ngày của bệnh nhân.

4. Thúc đẩy tiêu hóa

Bromelain, enzyme tiêu hóa chính trong dứa, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1891, được sử dụng như một chất bổ sung vào chế độ ăn uống để điều trị chứng khó chịu và chứng viêm dạ dày trong hơn 50 năm. Trước mắt, từ bromelain đã phân ly ra tám chất thủy giải protein. Liệu pháp bromelain được chỉ định cho những bệnh nhân bị suy tuyến tụy không thể sản xuất đủ enzyme tiêu hóa.

Bromelain không chỉ giúp tiêu hóa protein trong thức ăn, mà chất xơ trong dứa còn hỗ trợ nhu động đường ruột và bài tiết khỏe mạnh.

Vì enzyme bromelain trong dứa có thể thủy giải protein, nên dứa thường được dùng với các món thịt. (Shutterstock)

5. Chấn thương vận động

Vì bromelain có tác dụng chống viêm, đặc biệt là trên cơ, khớp và mô mềm, nên nó có thể được sử dụng để điều trị chấn thương và sưng tấy khi vận động. Một nghiên cứu lâm sàng cho thấy, việc cung cấp bromelain cho các võ sĩ quyền anh đã “loại bỏ hoàn toàn mọi vết bầm tím trên mặt và các khối máu tụ ở hốc mắt, môi, tai, ngực và cánh tay trong vòng bốn ngày”.

Ngoài ra, magie trong dứa có thể làm giảm chứng chuột rút và mệt mỏi.

6. Điều trị viêm khớp

Một đánh giá của các tài liệu khoa học cho thấy, bromelain có thể là phương pháp điều trị thay thế an toàn hơn cho bệnh viêm xương khớp “do đặc tính chống viêm và giảm đau của nó”. Một nghiên cứu cho thấy những người bị viêm khớp vùng lưng dưới được lợi ích từ việc bổ sung bromelain tương đương thuốc giảm đau thông thường.

7. Bảo vệ da

Bước quan trọng đầu tiên trong việc chăm sóc vết bỏng hoặc vết thương là đảm bảo vết thương được điều trị trước khi các biến chứng toàn thân như viêm và nhiễm trùng phát triển. Gel Bromelain thường được sử dụng để loại bỏ càng nhiều vùng da bị tổn thương càng tốt, cho phép các tế bào tái phát triển với ít sẹo nhất.

Một số nghiên cứu chỉ ra, bromelain có thể làm giảm viêm, sưng, bầm tím và đau sau phẫu thuật. Bromelain còn có tác dụng kiểm soát cơn đau sau phẫu thuật nha chu.

Bromelain được đưa vào nhiều loại mỹ phẩm bôi ngoài da vì đặc tính tẩy tế bào chết và năng lực loại bỏ các mô bị tổn thương.

8. Cải thiện sức khỏe tình dục

Mặc dù nghiên cứu khoa học cụ thể còn thưa thớt, nhưng nhiều chuyên gia sức khỏe tình dục tin rằng chất dinh dưỡng và nhiều đặc tính đã biết của dứa có thể cải thiện sức khỏe tình dục. Nhiều lợi ích của bromelain được cho là giúp tăng cường chức năng tình dục, tăng cường thể lực và tinh lực, đồng thời cải thiện năng lực sinh dục.

9. Bổ sung dinh dưỡng

Dứa rất giàu thành phần dinh dưỡng như chất xơ, ít calo, không chứa chất béo và nhiều loại khoáng chất, vitamin, chi tiết bạn có thể xem tại đây.

Bốn điểm cần lưu ý

Dứa tuy có tác dụng mạnh nhưng không phải ai cũng có thể tùy tiện ăn được. Bạn nên cẩn thận trong những trường hợp sau:

• Ăn dứa có thể gây phản ứng dị ứng, bao gồm ngứa, sưng tấy, ngứa ran ở miệng và cổ họng.

• Tính axit trong nước ép dứa có thể gây ợ nóng hoặc trào ngược axit ở một số người.

• Ăn quá nhiều dứa có thể làm tăng lượng đường trong máu.

• Bromelain có thể tương tác với một số loại thuốc, bao gồm thuốc kháng sinh, thuốc chống đông máu và thuốc chống co giật.

Theo Pineapple–Aids in Digestion, Arthritis Pain, and Healing Sports Injuries

Hương Thảo biên dịch

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6150/feed 0
Cà tím chế biến với loại gia vị này sẽ có hiệu quả trị liệu tốt nhất https://thuonghylenien.org/luu-tru/6147 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6147#respond Mon, 09 Sep 2024 06:13:26 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6147 Cà tím chế biến với loại gia vị này sẽ có hiệu quả trị liệu tốt nhất
Theo quan điểm của y học hiện đại thì cà tím chỉ là một loại rau, là một loại nguyên liệu nấu ăn mà không phải là thuốc, nhưng với lý của Trung y thì cà tím lại được xem như là một loại dược liệu, một món ăn có thể trị bệnh. 

Vào thời cổ đại, lý này được gọi là “Dược thực đồng nguyên” – thuốc và thực phẩm cùng nguồn gốc, Nhật Bản gọi là “Y thực đồng nguyên” (trị bệnh và thức ăn có cùng nguồn gốc), hai quan điểm này về cơ bản không khác nhau nhiều.

Tại sao theo y học cổ truyền thì nguyên liệu chế biến món ăn lại có thể trở thành dược liệu? Trên thực tế, trong cách nhìn nhận của Trung y, bất cứ thứ gì cũng có thể được coi là dược liệu. Nguyên nhân là bởi dược lý của cà tím ở các không gian khác nhau sẽ khởi tác dụng khác nhau.

Theo nghiên cứu của người hiện đại thì cà tím chỉ được nghiên cứu về mặt giá trị dinh dưỡng và được mô tả như thế này: Mỗi 100 gram cà tím chứa 25 calo, 5,3 gram carbohydrate, 2,7 gram chất xơ; 221 mg kali khoáng, 16 mg canxi, 29 mg phốt pho, magie 15 mg, v.v.; ngoài ra còn có Vitamin B và Vitamin C, Vitamin P…

Những dưỡng chất này hoàn toàn có trong thành phần của quả cà tím. Tuy nhiên không ai dám khẳng định rằng toàn bộ giá trị dinh dưỡng của loại quả này chỉ có những dưỡng chất đó.

Vì sao cà tím lại lợi hại đến vậy, có thể tự mình sinh ra những thành phần dưỡng chất này? Chẳng phải đó là đặc tính của mỗi sinh mệnh sao? Bạn thử nghĩ xem, nếu đem gộp tất cả những dưỡng chất dinh dưỡng kể trên lại thì liệu chúng có thể trở thành cà tím không? Sau khi ăn, chúng liệu có thật sự phát huy tác dụng hiệu quả như cà tím?

Như vậy thì cà tím và các thành phần này có gì khác biệt?

Trong Trung y, người ta quan tâm nhiều đến tác dụng dược lý của cà tím. Ví như trong ‘Bản thảo cương mục’ có viết: “Cà tím có thể sinh máu tán ứ, giảm đau, tiêu sưng, mở rộng đường ruột”. Trong ‘Điền nam thảo mộc’ cũng ghi chép: “Cà tím có tác dụng tán máu, giải độc, giảm đau vú, tiêu sưng, làm rộng ruột…” Nhưng vì sao cà tím lại có công hiệu này?

Trọng điểm nằm ở dược lý ‘Tính vị quy kinh’. Dược lý này bắt nguồn từ việc Trung y trị bệnh bắt đầu từ nguồn gốc ‘kinh lạc’ trên thân thể người mà điều chỉnh năng lượng khí cơ.

Tính trong ‘Tính vị quy kinh’ là chỉ tính hàn của cà tím, thuộc về năng lượng tính âm trong âm dương. ‘Âm dương’ là hai nguồn năng lượng cơ bản vận hành không ngừng trong tiến trình biến hóa của vũ trụ, sinh mệnh và vạn vật.

Còn ‘Vị’ là chỉ 5 vị mặn, đắng, chua, cay, ngọt do Ngũ hành sinh ra. Phân chia ngũ vị có thể phân chia 5 thuộc tính của ngũ hành.

Bởi vì “âm dương” có thể biến hóa thành năm loại năng lượng trong thế giới tự nhiên là thuỷ, hoả, mộc, kim, thổ, và do chúng vận hành không ngừng nên gọi là ngũ hành. Mỗi sinh mệnh đều mang trong mình cơ chế Ngũ hành – thể hiện trên cơ thể con người, chính là hệ thống ngũ tạng làm trụ cột toàn bộ ‘kinh lạc’.

Bởi vì mắt người không nhìn thấy được bộ kinh lạc trên thân thể nên nó giống như một cơ quan vô hình. Do đó, dược tính của cà tím trong y học cổ truyền đề cập đến “vật chất năng lượng” từ không gian khác chứ không phải là “chất dinh dưỡng của vật chất” mà y học hiện đại đề cập tới. Bởi vậy, giá trị dược liệu của cà tím không phải nằm ở bản thân chất dinh dưỡng của loại trái cây này. Do đó cà tím và thành phần dinh dưỡng có trong cà tím đều không có cùng khái niệm.

Cũng bởi vậy, các thầy thuốc Trung y vừa nhìn vào tính hàn và vị ngọt của cà tím thì liền biết nó có tác dụng như thế nào trong điều kinh mạch và sự vận hành của các mạch lạc trong thân thể con người. Tất nhiên là họ cũng biết cà tím là món ăn chữa bệnh và có công hiệu dưỡng sinh.

Cà tím có vị ngọt, thuộc thổ trong ngũ hành, vì vậy khi nó đi vào lá lách, dạ dày và đại tràng, sẽ tự nhiên tác động điều chỉnh chức năng của các bộ phận này.

Phụ nữ cần cẩn thận với tính hàn của cà tím

Tuy nhiên, cà tím có tính hàn. Những người bị bệnh lá lách và dạ dày, năng lượng dương không đủ, thể chất âm nên nghe theo lời khuyên của bác sĩ và thận trọng khi ăn cà tím.

Ăn cà tím vào mùa hè có thể giúp thanh nhiệt, giải nhiệt, đặc biệt thích hợp với những người bị táo bón, trĩ chảy máu, nóng trong cũng như những người dễ bị nổi rôm, lở loét.

Chân Lập Học, một bác sĩ Trung y thuộc Hiệp hội Đông y Nhật Bản cho biết, Trung y truyền thống không chỉ nói cho chúng ta biết giá trị chữa bệnh của thực phẩm, cũng nói cho chúng ta biết làm sao để tránh những thứ có hại cho cơ thể. Ví dụ như: “Thể chất của nữ thuộc về âm tính, bản thân có thiên hướng hàn tính, cho nên bình thường không thích hợp với ăn thực vật có tính hàn”.

Bà nhắc nhở: “Những người lá lách yếu, dễ bị tiêu chảy, phân lỏng không nên ăn quá nhiều, người mới thực hiện phẫu thuật xong cũng không nên ăn cà tím, nếu không thì thuốc gây tê không thể phân giải, sẽ làm chậm thời gian thức tỉnh và ảnh hưởng đến tốc độ hồi phục của bệnh nhân.”

Lý Thời Trân, thầy thuốc nổi tiếng thời nhà Minh đã viết trong ‘Thảo mộc cương nhật’ như sau: “Tính hàn của cà tím rất tốt, nhưng ăn quá nhiều sẽ dẫn đến đau bụng là làm giảm công dụng”. ‘Điền nam thảo mộc’ có viết: “Cà tím có vị ngọt, tính hàn, ăn nhiều sẽ gây nổi mụn nhọt, loét dạ dày, kiết lỵ; phụ nữ ăn nhiều còn khiến cho tử cung tổn thương”.

Cà tím phối với gừng làm ấm cơ thể, xua tan cảm lạnh

Người có thể chất hàn thì nên ăn cà tím nấu với chút gừng. Gừng cũng giống như cà tím, đều nhập tỳ vị. Gừng có tính ấm, có tác dụng làm ấm tỳ vị và xua tan cảm lạnh, vừa đúng dùng để cân bằng tính hàn của cà tím.

Đây là lý do tại sao người Nhật thích dùng gừng khi ăn cà tím; người Trung Quốc thích thêm gừng, tỏi, hạt tiêu và các loại gia vị khác khi ăn cà tím vì hầu hết các loại gia vị đều có “tính ấm”, ngoài việc tăng cảm giác thèm ăn, mục đích cơ bản của các loại gia vị này là để loại bỏ tính hàn và trung hòa năng lượng trong cơ thể và đạt được sự cân bằng âm dương.

Ở Nhật khi chế biến cà tím thì thường nêm nếm thêm chút gừng cũng giống như ở Việt Nam, khi nấu cà thường cho thêm hai thứ gia vị là lá lốt và tía tô vậy. Ở mỗi vùng miền khác nhau, người ta thường chế biến thức ăn từ cà tím theo cách khác nhau, một phương khí hậu sẽ nuôi dưỡng một phương người, thuận theo lý của tự nhiên mà hình thành nên nét đặc sắc riêng trong ẩm thực ở mỗi vùng miền.

Nhưng chung quy lại thì nguyên tắc chế biến là như nhau. Khi ăn phải hiểu được sự hòa hợp của âm dương thì mới có thể ăn uống lành mạnh, cầu lợi tránh hại.

(Ảnh minh hoạ: Pixabay)

Theo Epoch Times
San San biên dịch

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6147/feed 0
Phát hiện cơ quan ẩn hình trong cơ thể người? https://thuonghylenien.org/luu-tru/6145 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6145#respond Mon, 09 Sep 2024 06:10:33 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6145 Phát hiện cơ quan ẩn hình trong cơ thể người?
Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra một hệ mạch ẩn hình trong cơ thể người chưa từng được biết đến, nhưng phải chăng cổ nhân Trung Quốc từ thời thượng cổ đã biết đến nó? Bí quyết thành công của các bác sĩ thiên tài thời xưa như Biển Thước và Lý Thời Trân là gì? (Ảnh: Epoch Times Tổng hợp)
Vào năm 2018, các nhà khoa học Mỹ đã công bố một bài báo trên kỳ san “Science Reports” (Báo cáo khoa học) thuộc tạp chí “Nature” (Thiên nhiên), rằng họ đã phát hiện ra một hệ mạch “chưa từng biết” gọi là “vật chất trung gian”.

Các nhà khoa học cho biết, thông qua kỹ thuật kiểm trắc tối tân nhất, họ phát hiện trong thân thể người có một hệ thống “đường cao tốc lưu động”, chúng tựa hồ như không đâu không có, nằm dưới da, bao quanh động mạch và tĩnh mạch, giữa các tổ chức tinh vi của các mô cơ, xung quanh lục phủ ngũ tạng, đều có sự tồn tại của chúng. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong một thời gian dài, các nhà khoa học trong quá trình giải phẫu đã vô ý thức phá hoại kết cấu tổ chức của “vật chất trung gian” của nhân thể, dẫn đến dịch thể trong đó bị chảy ra. Khi phóng to dưới kính hiển vi quan sát tổ chức của vật chất trung gian này, chúng chỉ giống như một tầng tổ chức kết cấu đơn giản. Vì vậy, con người không ý thức được sự tồn tại của chúng.

Ngay sau khi tin tức được đưa ra, giới học thuật Âu Mỹ đã dậy sóng, một số phương tiện truyền thông chính thống, bao gồm Tạp chí Time, Tạp chí Địa lý Quốc gia, The Independent, v.v. đều báo cáo. Tuy nhiên, một số nước châu Á, đặc biệt là các nhà nghiên cứu Trung Quốc, sau khi xem xét kỹ lại nghiên cứu này đã phát hiện ra điều này rất giống với hệ thống “kinh lạc” được đề cập trong Trung y.

Kinh lạc thần kỳ

Chiểu theo y học Trung Quốc, kinh lạc là thuật ngữ chung để chỉ các kinh mạch và lạc mạch, là những đường vận hành khí huyết, liên lạc tạng phủ, câu thông nội ngoại, quán xuyên từ trên xuống dưới cơ thể con người. Kinh và lạc tổ thành hệ thống kinh lạc tương giao và đan chéo ngang dọc, phân bố toàn thân thể. Mà sự vận hành của khí huyết đối với sức khỏe của nhân thể là cực kỳ trọng yếu.

Có thể hình dung, kinh lạc cũng giống như một đường cao tốc giao thông của nhân thể, mà năng lượng khí huyết chính là liên tục không ngừng, cũng như xe cộ lưu thông trên cao tốc. Nếu xe vận hành thông suốt, thì tự nhiên mọi thứ đều có trật tự, đối ứng với nhân thể cũng cảm giác tâm tình thư thái, thân thể khỏe mạnh. Nhưng nếu ở đâu đó xuất hiện vấn đề, ví như trường kỳ bị nghẽn xe, phát sinh sự cố giao thông nghiêm trọng, thì chính là ảnh hưởng đến cả đại cục. Đối ứng với nó, khí huyết thân thể không thông, đầu đau não sốt, thân thể vô lực, trạng thái suy nhược nào cũng ập tới.

Khi mọi người nhìn vào sơ đồ kinh lạc, sẽ phát hiện thượng diện còn có rất nhiều điểm then chốt gọi là “huyệt vị”. Huyệt vị được coi là biểu hiện của thể tạng phủ trong lộ tuyến tuần hoàn của kinh lạc, là vị trí đặc định nơi khí huyết hội tụ, xuất nhập, giống như những điểm trạm trọng yếu trên cao tốc giao thông.

Tổ tiên đầy trí huệ của chúng ta đã phát hiện, chỉ cần kích thích một huyệt vị đặc định, có thể sản sinh ra hiệu quả đặc biệt, có thể làm chậm thậm chí trị khỏi một số khu vực bị đau nhức, khó chịu. Ví như, huyệt hợp cốc trên thủ dương minh kinh trên đại tràng có thể trị liệu các chứng đau ngũ quan trên mặt. Nếu có đau đầu, đau răng, nhức mắt, thì châm cứu có thể có hiệu quả ngay; nếu không có kim, bạn có thể tự mình dùng tay ấn một ấn sẽ có hiệu quả hoãn giải cơn đau. Một ví dụ khác, trên túc dương minh vị kinh có huyệt vị túc tam lý, đúng như tên gọi của nó, chỉ cần ấn vào huyệt vị này, một ngày có thể đi ba dặm đường. Cũng chính là nói, huyệt vị túc tam lý này có thể giảm đau đầu gối và đùi, đồng thời đây cũng là huyệt vị trọng yếu có công năng điều lý tràng vị (ruột và dạ dày), bất kỳ những vấn đề gì liên quan đến tràng vị, đau dạ dày, trướng khí, đều có thể thử huyệt vị này.

Mỗi huyệt vị có công hiệu khác nhau, phối hợp nhiều huyệt vị lại có thể sản sinh công hiệu mới, học vấn trong lĩnh vực kinh lạc huyệt vị là tương đối bác đại tinh thâm. Các bạn có hứng thú có thể mua bản “Hoàng Đế Nội Kinh” để nghiên cứu, đây là tác phẩm ghi chép về kinh lạc và huyệt vị sớm nhất được biết đến, có lịch sử cách đây hơn hai nghìn năm, trong đó ghi chép lại thảo luận về y học giữa Hoàng Đế và các đại thần, trong đó truy hồi tới cả Hiên Viên hoàng đế, người sống cách đây 5000 năm trước. Kể từ đó, các thần y của Trung Quốc cổ đại, như Biển Thước, Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân v.v. cũng nghiên cứu nó, không ngừng hoàn thiện duy nhất hệ thống Trung y cổ lão này.

Ví dụ như, thanh ngải cứu mà mọi người đều biết, chỉ cần tại huyệt vị điểm một thanh ngải cứu, lợi dụng nhiệt độ kích thích huyệt vị. Sách “Hoàng Đế Nội Kinh” viết: “Châm cứu bất vi, cứu chi sở nghi”, chính là nói, nếu phương pháp kim kích (châm kim) không tới được nơi đó, có thể dùng hơi nóng ngải cứu để bổ túc. Người ta nói rằng, Biển Thước chính là đệ nhất chuyên gia trong phương diện này, ông trong cuốn “Biển Thước nội kinh” đã thảo luận về lợi thế của châm ngải cứu, cung cấp nhiều tham khảo hữu dụng cho hậu nhân.

Nói đến đây, tôi muốn hỏi mọi người chút, các bạn đã bao giờ nghĩ tại sao cổ nhân lại chỉ dùng mỗi loại cây cỏ ngải để làm ngải cứu chưa? Các loại thực vật khác, như mạch tuệ (lúa mì), lô vĩ (lau sậy) cây bồ công anh dùng không được sao? Nghiên cứu hiện đại đã phát hiện, nhân thể chính là một nguồn bức xạ hồng ngoại, và phổ năng lượng bức xạ do ngải cứu sản sinh ra khi đốt ngải cũng là hồng ngoại tuyến, và nó chủ yếu là cận hồng ngoại. Khi đưa hơi nóng ngải cứu vào gần huyệt, bức xạ cận hồng ngoại của nó có năng lực xuyên thấu cao, có thể thông qua hệ thống kinh lạc đưa năng lượng đến chỗ tổn thương mà khởi tác dụng. Dùng các loại thực vật khác đều không được.

Cứ như vậy, những tri thức cao thâm này làm sao tổ tiên của chúng ta biết được từ hàng ngàn năm trước?

Cổ nhân phát hiện ra kinh lạc huyệt vị có phải là may rủi?

Có một thuyết pháp, tôi gọi đó là “một chuỗi may rủi”. Điều đó nghĩa là gì? Lấy một ví dụ, một ngày nọ, một vị cổ nhân chặt gỗ và tình cờ làm bị thương huyệt hợp cốc trên bàn tay của mình, để giảm đau và cầm máu, ông liền nhanh chóng giữ chặt nơi đó, sau đó, đột nhiên phát hiện ra: Hả? Đầu tôi không còn đau nữa, vì vậy mà huyệt hợp cốc được phát hiện ra. Sau đó, cũng thông qua phương thức tương tự, dần dần hữu ý vô ý mà khám phá tất cả các kinh lạc huyệt vị trên cơ thể con người.

Tất nhiên, chúng ta không thể loại trừ rằng có một số huyệt đạo sẽ được phát hiện theo cách tương tự. Ví dụ, Tôn Tư Mạc, một đại y học gia thời Đường, đã ghi lại “Á Thị huyệt” của đất Ngô Thục trong tác phẩm “Thiên kim yếu phương” Tập 29 của ông. Nó là gì? Chính là, một vị bác sĩ ở Ngô Thục tiến hành ấn vào các bộ vị khác nhau của cơ thể bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân hét lên, “Á! là chỗ này, là chỗ này rồi!” Bác sĩ đó ấn vào bộ vị bị đau hoặc cảm thấy dị thường của bệnh nhân, rồi ấn hoặc châm kim, trị liệu ngải cứu, quả nhiên khiến bệnh tình chuyển biến tốt, do đó gọi là “Á Thị huyệt”.

Nói qua rồi nói lại, nếu toàn bộ lý luận huyệt vị kinh lạc khổng lồ, phức tạp, hoàn chỉnh, chi tiết và nội hàm thâm hậu đều được phát hiện thông qua phương thức mò mẫm trên, thì đó gọi là một “chuỗi may rủi”. Giả sử, trong ví dụ về khám phá huyệt hợp cốc nói trên, người phát hiện phải có đủ năng lực liên tưởng để tức khắc liên hệ giữa việc ấn bàn tay và cơn đau đầu, còn phải có đủ sự cẩn thận tỉ mỉ, sau đó lại cần kiểm chứng nhiều lần trên bản thân hoặc người thân, bạn bè của mình, còn phải có đủ ngộ tính, để biết đây là phát hiện trọng đại, cần ghi chép lại và truyền thừa cho con cháu… Xác suất phát hiện huyệt vị theo cách này thực sự quá nhỏ, nếu vậy có lẽ đến giờ người ta vẫn phải mò mẫm và không cách nào hình thành một lý luận hệ thống.

Phát hiện kinh lạc huyệt vị là “Thuyết nội quan”?

Còn có một thuyết pháp khác, gọi là “Thuyết nội quan”, chính là thuyết mà cổ nhân gọi là “phản chiếu nội cảnh”, Lý Thời Trân trong tác phẩm “Kỳ kinh bát mạch khảo” của ông nhấn mạnh: “Nội cảnh toại đạo, duy phản quan giả năng sát chiếu chi”, ý tứ là nói, cảnh tượng nội trong tạng phủ và hệ thống kinh lạc, chỉ có thông qua một số phương thức tu dưỡng thân tâm, như đả tọa tĩnh tu, mới có thể xuất hiện công năng đặc dị, nhận thức thể nghiệm được thế nào là “phản quan” hoặc “nội thị” (nhìn vào trong).

Trong cuốn “Thánh tế tổng lục” của biên giả Thái Y Viện triều Tống cũng viết: “Bế mục nội thị, ngũ tạng lịch lịch phân minh, tri kỳ sở xứ, nhiên hậu ngũ tạng khả an… thị biểu như lí, diệc năng khu ngũ tạng chi thần, vi nhân trị bệnh!” Ý tứ là bác sĩ có tài nghệ cao thâm có thể nhắm mắt thấu thị nhân thể, ngũ tạng đều có thể nhìn thấy rõ, không những thế, còn có thể vận dụng công năng, điều khiển năng lượng uẩn hàm trong ngũ tạng, trị khỏi tật bệnh.

Nghe có vẻ thật thần kỳ đúng không? Kỳ thực trong thư tịch lịch sử cổ đại, đã sớm có ghi chép về một số đại sư Trung y như Biển Thước, Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh, Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân v.v. đều có trang bị thần lực, chỉ là rất nhiều người không nghĩ tới phương diện này.

Ví dụ, mọi người có thể đã học một bài tản văn do Hàn Phi Tử viết, “Biển Thước gặp Thái Hoàn Công”, kể rằng một lần khi Biển Thước gặp Thái Hoàn Công, liền nói với Hoàn Thái Công rằng ông ấy mắc một căn bệnh ở dưới da, làm Thái Hoàn Công rất mất hứng, cho rằng bác sĩ chỉ thích trị bệnh cho những người không có bệnh để hiển thị bản sự của họ. Kết quả khi Biển Thước gặp lại ông ấy lần thứ hai, liền nói bệnh của Thái Hoàn Công đã vào đến dạ dày rồi, cần nhanh chóng điều trị bệnh. Thái Hoàn Công cũng vẫn không nghe. Lần thứ ba khi Biển Thước gặp lại ông, liền quay đầu bỏ đi. Thái Hoàn Công sai người đến hỏi, Biển Thước nói, bệnh đã nhập vào tủy rồi. Kết quả Thái Hoàn Công nhanh chóng thật sự mắc bệnh mà chết. Biển Thước làm sao mà nhìn qua qua liền biết được bệnh?

Còn có câu chuyện Hoa Đà và Tào Tháo. “Tam quốc diễn nghĩa” kể rằng, Tào Tháo mắc chứng đau đầu, tìm kiếm các danh y nhưng cũng đành bất lực, sau này thần y Hoa Đà đã đề xuất với Tào Tháo cho giải phẫu đầu và lấy khối “phong diên” ra. Tào Tháo tưởng rằng Hoa Đà muốn chặt đầu mình, vì vậy hạ lệnh giam Hoa Đà lại. Hoa Đà sau đó chết trong ngục. Cuối cùng Tào Tháo vì chứng đau đầu mà chết. Sử sách tuy không ghi “phong diên” là gì, nhưng kết hợp với các triệu chứng của Tào Tháo, chúng ta có thể đoán được có lẽ Tào Tháo bị u não. Vậy Hoa Đà đã phát hiện ra điều đó như thế nào?

Trung y luôn có phương pháp chẩn trị “vọng văn vấn thiết” (nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch), tuy nhiên, từ cổ chí kim, có thể đạt đến trình độ của các đại y học gia như Biển Thước, Hoa Đà vô cùng ít. Bởi vì các đại y học gia thời cổ đại kia, họ đều rất chú trọng tu thân dưỡng tính, trong tâm thương xót thiên hạ, một lòng tế thế, do đó dù không giống như phương thức tu luyện của hòa thượng hay đạo sĩ, họ không tu đạo mà ở trong đạo, tự nhiên đắc được rất nhiều công năng và thần thông siêu thường.

Nói đến đây, mọi người có thể cảm thấy quá huyền hoặc, nhưng những công năng như “thấu thị”, “thiên lý nhãn” v.v. đều đã kinh qua khảo nghiệm khoa học, được thế giới chứng nhận là công năng đặc dị. Các bạn muốn liễu giải nội dung phương diện này, có thể xem qua các video “Cô gái Nhật Bản có thiên lý nhãn” 日本千里眼之女 và “Thần thám ba mắt ở châu Âu” 歐洲『三眼』神探 mà chúng tôi đã giới thiệu trước đó, các bạn có thể tìm các link liên quan trong phần giới thiệu nội dung.

Khoa học chứng minh sự tồn tại của kinh lạc

Lý luận kinh lạc huyệt đạo của Trung y chưa được Tây y chấp nhận, nguyên nhân là do Tây y áp dụng phương pháp thực nghiệm giải phẫu, khi giải phẫu cơ thể người họ không tìm thấy kinh lạc, liền coi nó như không tồn tại. Trên thực tế, lý thuyết của khoa học thực chứng “thấy mới tin” thực sự có quá nhiều hạn chế. Chúng tôi cũng đã đề cập với bạn trong các chương trình trước rằng trong trường quang phổ dài vô tận, “ánh sáng khả kiến” mà mắt người có thể nhìn thấy chỉ là một rất dải hẹp, những gì nằm ngoài phạm vi quang phổ “ánh sáng khả kiến”, thì mắt người đều không nhìn thấy được. Tia hồng ngoại, tia cực tím và tia X đều không thể nhìn thấy đối với mắt người, nhưng chúng đều đã được phát hiện và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Những gì không được khoa học xác nhận không có nghĩa là nó không tồn tại, rất có thể là do khoa học không đủ tiên tiến và các công cụ không đủ tiên tiến để có thể nhận biết và đo lường.

Tần số dao động của năng lượng khí huyết không nằm trong dải “quang phổ khả kiến” và không thể nhìn thấy bằng mắt thịt. Nhưng hiện nay một số nhà nghiên cứu khoa học đã phát hiện ra sự tồn tại của “kinh lạc huyệt vị” bằng thiết bị tiên tiến. Ví dụ, như chúng tôi đã giới thiệu trong chương trình “Bí mật sự phát quang của nhân thể”, nhà vật lý cơ học lượng tử người Nga Konstantin Korotkov đã sử dụng kỹ thuật khí thể phóng điện hiển tượng, gọi tắt là GDV (Gas Discharge Visualization), để đo quang huy của cơ thể người, phát hiện rằng nhân thể có tồn tại những điểm sáng, tương hợp với các huyệt vị trong Trung y.

Năm 2021, Viện Nghiên cứu Khoa kỹ Sinh mệnh của Tập đoàn Tân Úc và Trường Y Harvard, Hoa Kỳ đã lần đầu tiên quan sát rõ ràng các đường huỳnh quang liên tục di chuyển dọc theo các huyệt đạo trong kinh mạch của cơ thể con người. Các nhà nghiên cứu cho biết, công trình này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để khẳng định sự tồn tại của các đường kinh lạc trong Trung y.

Từ lâu, Tây y luôn coi cơ thể con người như thể một cỗ máy cơ khí, linh kiện nào hoạt động không hiệu quả thì chỉ sửa chữa tu bổ, thay thế linh kiện mới nếu không thể hoạt động. Nhưng Trung y theo quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, coi con người là một chỉnh thể, và là một bộ phận của sự vận hành tự nhiên của toàn vũ trụ. Nếu trong tương lai, lý luận của Trung y được chứng thực và công nhận, thì toàn bộ nền y học sẽ đối mặt với một cuộc biến cách cực đại.

Một số nhà nghiên cứu tin rằng một khi các nguyên lý của y học Trung Quốc có thể được khám phá và chứng minh, tính ưu việt của “phương pháp trị liệu chỉnh thể toàn tín tức” của y học Trung Quốc có thể được xã hội nhân loại nhận thức thấu đáo toàn diện, và nền y học trên toàn thế giới sẽ bước vào một kỷ nguyên mới. Khi đó, người ta có thể phát hiện ra rằng, văn hóa do tổ tiên Hoa Hạ lưu lại thật là trí huệ, chẳng những không phải là “mê tín phong kiến”, mà còn vượt xa “khoa học thực nghiệm” đến từ phương Tây.

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6145/feed 0
Bắt chéo chân nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp https://thuonghylenien.org/luu-tru/6142 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6142#respond Tue, 06 Aug 2024 08:32:02 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6142

Bắt chéo chân nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp

Đừng gác chân nữa, hãy cẩn thận với bệnh cao huyết áp và 5 nguy cơ mắc bệnh khác.

Bạn có thích bắt chéo chân không?. Bạn có thường bắt chéo chân một cách vô thức không? Bắt chéo chân là động tác rất thư giãn nhưng lâu ngày sẽ tăng gánh nặng cho cơ thể, không chỉ làm tăng huyết áp mà còn gây ra các nguy cơ như giãn tĩnh mạch, thoái hóa, thoát vị.

bệnh cao huyết áp

Mục Lục

1. Nguy cơ tăng huyết áp

Nếu bạn đo huyết áp trong khi bắt chéo chân, nó sẽ khiến bạn phải giật mình. Một nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí y tế Blood Pressure Monitoring. Các nhà nghiên cứu đã tuyển chọn 50 tình nguyện viên khỏe mạnh có huyết áp bình thường và 53 bệnh nhân cao huyết áp để kiểm tra huyết áp của họ với tư thế bắt chéo chân và đặt chân trên mặt đất.

Nghiên cứu cho thấy khi những người tình nguyện khỏe mạnh bắt chéo chân, huyết áp tâm thu của họ tăng 2,5mmHg và một số ít trong số họ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn; bệnh nhân cao huyết áp bị ảnh hưởng nhiều hơn, với huyết áp tâm thu tăng 8,1mmHg và huyết áp tâm trương tăng 4,5mmHg, tăng nguy cơ tim mạch của bệnh nhân.

Bác sĩ Trương , giám đốc Phòng khám Cơ Lâm, giải thích rằng có một động mạch quan trọng nối xương chậu với đùi được gọi là động mạch đùi, đây là động mạch lớn nhất ở đùi. Bắt chéo chân có thể cản trở sự thông thương của động mạch đùi, buộc tim phải bơm nhiều máu hơn và tăng huyết áp để chống lại sự tắc nghẽn.

Ông mô tả trái tim như một cái vòi và động mạch như một ống nước, khi mở vòi, ống nước cần phải có một áp lực nhất định để đưa nước ra ngoài. Khi mọi người đang phun nước, nếu ống nước bị gấp lại thì áp lực nước trong ống nước bị gấp sẽ càng cao, do đó nước có thể phun ra ngoài.

Bắt chéo chân giống như bẻ một ống nước, động mạch đùi giống như một ống nước bị vỡ, huyết áp phải tăng để giữ cho máu lưu thông.

Khi gấp ống nước lại, dòng nước loãng hơn, nhưng do áp lực nước lớn nên nước sẽ phun ra xa; Bác sĩ Trương cho biết, huyết áp cao cũng sẽ làm tổn thương các cơ quan quan trọng như não, tim và gan cuối cùng nhận máu.

2. Nguy cơ mắc 5 bệnh khác

Ngoài việc tăng huyết áp, thói quen bắt chéo chân còn có thể dẫn đến các bệnh khác:

a. Suy giãn tĩnh mch chân

Các van trong tĩnh mạch ngăn máu chảy ngược và cho phép máu chảy theo một hướng khi máu đi lên các tĩnh mạch ở bàn chân và trở về tim. Thường bắt chéo chân sẽ khiến tĩnh mạch luôn trong tình trạng áp lực cao, ảnh hưởng đến chức năng của van, thậm chí vô tác dụng khiến một lượng máu chảy về phía trước và một phần chảy ngược lại. Giãn tĩnh mạch là tình trạng van bị hỏng hoặc tĩnh mạch bị chèn ép, cản trở dòng chảy của máu. Ở giai đoạn đầu của bệnh suy giãn tĩnh mạch, người bệnh có thể bị ngứa ngáy vùng da cẳng chân, sưng tấy và nặng hơn là ở chân.

b. Phù dưới cơ th

Bắt chéo chân sẽ ảnh hưởng đến quá trình tuần hoàn của phần dưới cơ thể, gây phù chân.

c. Thoát vị

Có thể gặp ở cột sống cổ hoặc thắt lưng. Khi bắt chéo chân, nếu cột sống vẫn giữ được tư thế tốt thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, khi bắt chéo chân nhiều người sẽ ngả về phía sau, lúc này nếu muốn hướng về phía trước thì cằm sẽ bị thụt vào trong khiến cột sống cổ bị cong về phía trước. Cũng giống như nhiều người cúi thấp đầu, trượt điện thoại, về lâu dài sẽ gây ra bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Khi bắt chéo chân, thói quen ngửa ra sau cũng có thể khiến thắt lưng bị treo trên không, lâu ngày dễ gây thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

 d. Đ nghiêng khung chu

Bắt chéo chân trong thời gian dài sẽ khiến xương chậu bị nghiêng sang một bên, khiến xương chậu bị nghiêng.

 f. Viêm khp thoái hóa

Tư thế ngồi đúng phải là đùi bàn chân song song với mặt đất, bắp chân vuông góc với đùi, đầu gối sát vào nhau, đây là lúc đầu gối chịu áp lực ít nhất. Khi bắt chéo chân, dây chằng và sụn khớp gối sẽ chịu áp lực lớn hơn, về lâu dài có thể bị thoái hóa khớp.

3. Ti sao bn thích bt chéo chân ?

Bắt chéo chân có tác động đến cơ thể và tinh thần, mặc dù tác động tiêu cực đến cơ thể là tác động tích cực đến tinh thần. Bởi vì bắt chéo chân có thể khiến người ta cảm thấy thư thái. Bác sĩ Trương chỉ ra rằng một thí nghiệm tâm lý đã phát hiện ra rằng nếu bạn dễ lo lắng khi nói, bạn có thể cảm thấy tự tin bằng cách bắt chéo chân, ngả lưng và đặt tay lên sau đầu.

Ngoài yếu tố thư giãn, lý do hình thành thói quen bắt chéo chân còn liên quan đến yếu tố thể chất:

Nhóm cơ chủ yếu: Khi nhóm cơ chủ yếu không dùng lực đầy đủ và cơ thể không thể giữ thăng bằng, bắt chéo chân có thể khóa xương chậu và ổn định tư thế ngồi.

Vo ct sng: Những bệnh nhân bị cong vẹo cột sống bẩm sinh đã có vấn đề về thăng bằng, họ quen với việc ngồi khoanh chân.

Phản xa cơ: Sau khi quen với việc bắt chéo chân của, vùng cơ thể bắt chéo chân sẽ hình thành trí nhớ, và bạn sẽ cảm thấy có điều gì đó không ổn khi không bắt chéo chân.

Bắt chéo chân có những ưu và nhược điểm, bạn có thể thư giãn bằng cách bắt chéo chân, nhưng sẽ mất khoảng 15 phút để trở lại vị trí chính xác với tư thế đặt chân bằng phẳng.

Ngoài ra, những bệnh nhân cao huyết áp, suy giãn tĩnh mạch chân, thoái hóa khớp, lệch xương chậu hoặc thoát vị đĩa đệm cũng không nên bắt chéo chân lần nữa để tránh các triệu chứng nặng hơn. Đối với những người dễ bị đông máu bẩm sinh, việc bắt chéo chân có thể làm tăng thêm nguy cơ mắc bệnh.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6142/feed 0
Tăng cường trí nhớ với Đông y https://thuonghylenien.org/luu-tru/6140 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6140#respond Tue, 06 Aug 2024 08:30:00 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6140

Tăng cường trí nhớ với Đông y

Tăng cường trí nhớ với Đông y – Trên thế giới này có một người như vậy, trí nhớ của họ siêu mạnh. chẳng hạn như Kim Peek, người có thể ghi nhớ từng chữ một trong hơn 12.000 cuốn sách mà ông đã đọc trong đời. Anh ấy nói rằng anh ấy đang đọc, nhưng thực ra anh ấy đang lật, tốc độ của anh ấy rất nhanh. Sau đó, bộ phim “Rain Man” dựa trên trải nghiệm của anh đã giành được giải Oscar cho Phim hay nhất.

Cải thiện trí nhớ bằng đông y

Cải thiện trí nhớ bằng đông y

Các chức năng của anh ấy là bẩm sinh, vì vậy trí nhớ có liên quan rất nhiều đến tài năng bẩm sinh, và tất nhiên nó không thể tách rời với chế độ dinh dưỡng và luyện tập có được. Ví dụ, ở nhiều bộ lạc cổ đại, lịch sử của họ không được ghi lại bằng văn bản mà được truyền miệng. Tìm một thanh niên trong bộ tộc và yêu cầu anh ta kể lại toàn bộ lịch sử của bộ tộc, hàng trăm nghìn từ, có thể dưới dạng thơ, có thể dưới dạng rap, rồi truyền lại cho thế hệ sau. Điều này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mục Lục

Đông y nhìn nhận về trí nhớ

Đông y cho rằng trí nhớ liên quan đến não và tủy. Thận là nền tảng của tự nhiên và có liên quan nhiều đến tính di truyền. Sau khi sinh, bản chất của thận sẽ chuyển hóa các chất dinh dưỡng thành tinh chất để cung cấp cho thận, vì vậy nó cũng cần được bổ sung dinh dưỡng và bổ sung.

Tóm lại, trí nhớ bao gồm hai khía cạnh, một là bẩm sinh và hai là có được. Khi lớn tuổi, chức năng cơ thể bắt đầu suy giảm, thận tinh không đủ, tủy không được bồi bổ, tức là suy giảm trí nhớ, vô cảm. Một số người mất nhiều hơn và tủy trống rỗng, dẫn đến bệnh Alzheimer.

Vì vậy, dưỡng thận, bổ thận tráng tinh là phương pháp cải thiện trí nhớ của y học cổ truyền Trung Quốc.
Người xưa rất coi trọng việc chăm sóc sức khỏe. Trong khi nếm thử một trăm loại thảo mộc, Thần Nông đã tìm thấy một loại thảo mộc có thể cải thiện trí nhớ, ghi lại và truyền lại cho thế giới.

Vị đầu tiên: Viễn chí

“Thần Nông bản thảo kinh” ghi Viễn Chí : “ích trí tuệ, tinh thông tai mắt, tăng trí nhớ, tăng trí và lực, lâu mệt, trẻ mãi không già”.

“Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân cho biết: “Công việc của nó tập trung vào việc củng cố ý chí, nâng cao bản chất và điều trị chứng hay quên.”

Theo ghi chép cổ xưa, y học hiện đại đã tiến hành nghiên cứu về Viễn chí, và qua so sánh các mô hình động vật mất trí nhớ tuổi già trước và sau khi dùng thuốc, người ta thấy rằng Viễn chí có tác dụng tăng cường trí nhớ và cải thiện khả năng học tập.

Viễn chí rất thuận tiện trong việc uống và có thể uống trực tiếp hoặc nấu thành súp hoặc cháo.

Viễn chí thang

Nguyên liệu: 10 gam Viễn chí. Cách làm: Sắc trong nước 30 phút, chắt lấy nước cốt, ngày uống 2 lần sáng tối.

Cháo viễn chí liên tử

Nguyên liệu: 30 gam
Hạt sen: 15 gam
Gạo nếp: 50 gam

Cách làm: Viễn chí bỏ lõi, xay chung với hạt sen thành bột. Đun sôi cháo, đợi chín, cho bột hạt sen viễn chí vào, đun một hai lần là được.

Cách dùng: Ăn tùy ý.

Công hiệu: Bổ trung, ích trí, cải thiện tai mắt. Đối với chứng hay quên, hồi hộp, tắc mạch mất ngủ.

Vị thứ hai: Linh chi

Nấm linh chi rất quý nên không được sử dụng rộng rãi như nấm linh chi, nấm linh chi đỏ có tác dụng tốt nhất trong tất cả các loại nấm linh chi. Cuốn “Thần Nông bản thảo kinh” ghi nấm Linh Chi: “Lợi tim, dưỡng trung, tăng trí tuệ, ăn không quên. Ăn lâu thì nhạt, không già, kéo dài tuổi thọ.” Do đó có tên là “Tiên thảo”.
Nghiên cứu y học hiện đại cho thấy, Linh Chi có tác dụng chống lão hóa và rất hữu ích cho việc kích hoạt các tế bào não.

Nước uống nấm linh chi

Nguyên liệu: 10 gram nấm linh chi Cách làm: Thái nhỏ và uống thay trà.

Nước uống linh chi bạc hà

Nguyên liệu: linh chi 2 gam , bạc hà 5 gam, cốc nha 5 gam , đường25 gam
Cách làm:cắt lát nấm linh chi, cắt bạc hà thành từng miếng nhỏ, và sao cốc nha cho đến khi có mùi thơm. Cho nấm linh chi và cốc nha đã rang vào nồi, thêm 250 ml nước, thêm đường, nấu đến khi đặc lại thì cho bạc hà vào, nấu trong 10 phút.

Hiệu quả: bổ não ích trí. Nó thích hợp cho người nóng bứt rứt, thiếu khí và hay cáu gắt.

Bài tập tay: Thương đả điểu

Cuối cùng, một bài tập tay “Thương đả điểu” (bắn chim bằng súng) được giới thiệu để ngăn ngừa bệnh Alzheimer và tăng trí nhớ.

Tay phải được so sánh với “súng”, và tay trái được so sánh với ký tự “V”, đại diện cho một con chim và “súng” được sử dụng để đối mặt với “chim”; sau đó tay trái được thay thế bằng “súng”, và tay phải được thay thế bằng “chim”, và cứ thế tăng dần tốc độ. Số lượng “chim” cũng có thể được tăng lên, với ba ngón tay mở rộng cho ba con chim và bốn ngón tay cho bốn con chim.

Di chuyển tay như vậy rất hữu ích cho việc tăng cường trí nhớ của bạn.

Tác giả: Dưỡng sinh Huệ Liễu

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6140/feed 0
10 cách duy trì trí nhớ bằng Đông y https://thuonghylenien.org/luu-tru/6138 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6138#respond Tue, 06 Aug 2024 08:28:26 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6138

10 cách duy trì trí nhớ bằng Đông y

10 cách duy trì trí nhớ bằng Đông y

Bạn không đơn độc khi phải lo lắng về việc mất trí nhớ của mình. Bạn có thường quên mình đang làm gì khi bước vào phòng không?. Bạn có bao giờ quên tên người bạn thân của mình không?. Bạn có hay quên những từ thường dùng không?. Những điều này có phải là bạn đang có dấu hiệu của bệnh Alzheimer ? Có lẽ là chưa.

cách duy trì trí nhớ bằng Đông y
Suy giảm trí nhớ có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó phổ biến nhất là tuổi tác. Và sự thay đổi nội tiết tố, chế độ ăn uống, căng thẳng và cố gắng làm quá nhiều việc cùng một lúc có thể ảnh hưởng đến trí nhớ của bạn.
Từ góc độ y học cổ truyền , nhiều hệ thống cơ quan có liên quan đến trí nhớ. Đầu tiên là trái tim. Theo học thuyết trong Trung y, trái tim là ngôi nhà của ý thức, tinh thần, cảm giác, suy nghĩ của bạn, vì vậy, … vâng, mất trí nhớ của bạn có thể là một trong những dấu hiệu nhận biết của trái tim bất hòa.

Trong Đông y , tỳ là một cơ quan liên quan chặt chẽ đến tiêu hóa. Chức năng tiêu hóa tốt giúp dương khí thông lên, do đó đầu óc minh mẫn. Khi tiêu hóa kém, suy nghĩ mờ và các vấn đề về trí nhớ có thể xảy ra, cũng như các triệu chứng tiêu hóa bất lợi như ợ chua, đau dạ dày, lượng đường trong máu thấp, đầy hơi, đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc táo bón.

Hệ thống thận cũng liên quan đến trí nhớ. Đông y tin rằng một trong những chức năng quan trọng của hệ thống thận là xác định hướng sức khỏe của một người theo tuổi tác. Chức năng thận suy yếu theo tuổi tác, ảnh hưởng đến thính giác, sức mạnh của xương và trạng thái tinh thần / trí nhớ. Thận cũng kiểm soát sự tăng trưởng, ham muốn tình dục và chức năng sinh sản theo tuổi tác. Thời kỳ mãn kinh ảnh hưởng đến hệ thống thận của phụ nữ, đó là lý do tại sao phụ nữ dường như ảnh hưởng nhiều hơn đến trí nhớ trong thời gian này.

Vậy câu hỏi được đặt ra: Liệu bệnh y học cổ truyền và châm cứu có thể điều trị chứng mất trí nhớ được không? Câu trả lời không đơn giản là “có” hay “không”, cần phải hiểu được gốc rễ của vấn đề. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, Đông y có thể mang lại một số trợ giúp. Một số bệnh nhân mà tôi gặp tại phòng khám có vấn đề về trí nhớ liên quan trực tiếp đến căng thẳng mà họ đang gặp phải; những người khác, các vấn đề về trí nhớ bắt nguồn từ thời kỳ mãn kinh. Đối với những người bắt đầu trải qua các triệu chứng của bệnh Alzheimer, có thể đã quá muộn để đảo ngược các triệu chứng mất trí nhớ của họ.

Theo y học cổ truyền, bạn có thể làm những điều sau để duy trì trí nhớ của mình.

1. Đơn giản hóa cuộc sống. Nếu bạn cảm thấy quá tải, não của bạn đã đầy. Sau đó, đến một thời điểm nào đó, bạn có thể không nhớ được bất kỳ chi tiết nào nữa và bắt đầu quên.

2. Loại bỏ áp lực. Căng thẳng có thể khiến bạn bận tâm đến mức quên hết mọi thứ ngoại trừ những chi tiết đang khiến bạn căng thẳng. Làm bất cứ cách nào bạn có thể để giảm căng thẳng, cho dù đó là một lớp học yoga, thiền, thực hiện một sở thích hoặc tìm thời gian để tĩnh tâm.

3. Ăn những thực phẩm tốt cho cơ thể của bạn. Nghe thì có vẻ đơn giản nhưng không dễ thực hiện khi bạn đang gấp rút từ cuộc họp này sang cuộc họp khác và đưa con đi từ hoạt động này sang hoạt động khác. Đôi khi, lựa chọn duy nhất dường như là ăn một số thức ăn nhanh – thứ không quá tốt cho cơ thể của bạn.
Bạn nên dành thời gian để lên kế hoạch cho bữa ăn của mình và mang theo đồ ăn nếu cần thiết. Thực phẩm tốt ở đây có nghĩa là ăn ngũ cốc nguyên hạt chưa qua chế biến, nhiều rau, một ít protein và rất ít thịt đỏ (nếu có). Đừng ăn đường, nó có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu của bạn và có thể trực tiếp dẫn đến suy nghĩ mờ mịt.

4. Dành thời gian để thức ăn tiêu hóa. Hãy dành thời gian để ngồi và ăn. Ngồi thẳng lưng và nhai chậm rãi. Hãy nhớ rằng, thức ăn nấu chín có xu hướng dễ tiêu hóa hơn, và thức ăn và đồ uống lạnh có thể ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của bạn.

5. Bảo vệ thận. Làm thế nào để bảo vệ? Đầu tiên, hãy chạy chậm lại. Từ góc độ y học cổ truyền, làm việc quá sức có thể là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh tật và kiệt sức. Ngoài ra, nhiều bữa tiệc, trong khi vui vẻ, có thể làm suy yếu hệ thống thận của bạn và khiến bạn về già với sức khỏe kém.
Ngoài y học cổ truyền Trung Quốc, các bác sĩ và nhà khoa học Tây y cũng đang tìm cách để bảo vệ trí nhớ khi chúng ta già đi. Họ đã nghiên cứu trí nhớ và các yếu tố khác nhau có thể giúp làm chậm quá trình mất trí nhớ.

6. Hãy vận động. Dữ liệu từ một nghiên cứu có từ những năm 1930 cho thấy tập thể dục vừa phải (thậm chí chỉ hai lần một tuần!) Có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer.

7. Nếu bạn hút thuốc, hãy bỏ thuốc ngay lập tức. Mặc dù không thể loại bỏ hoàn toàn những tổn thương thoái hóa não mà hút thuốc gây ra, nhưng bạn càng bỏ thuốc sớm thì càng tốt.

8. Uống trà xanh. Một nghiên cứu năm 2006 cho thấy chỉ cần uống một hoặc hai tách trà xanh giàu chất chống oxy hóa mỗi ngày có thể giảm 50% nguy cơ mắc các vấn đề về nhận thức.

9. Lên danh sách mọi thứ. Mất hiệu lực trí nhớ có thể là một sản phẩm phụ của việc cố gắng làm quá nhiều việc cùng một lúc. Tại một thời điểm nào đó, bộ não của bạn không thể nắm giữ nhiều chi tiết hơn. Lập danh sách những việc bạn muốn làm hoặc ghi nhớ để giúp não thoát khỏi tình trạng lộn xộn.

10. Chơi trò chơi trí óc. Câu đố ô chữ, sudoku, đố vui và thậm chí học một kỹ năng hoặc ngôn ngữ mới có thể rèn luyện trí não và làm chậm quá trình mất trí nhớ.
Tin tốt là những thay đổi nhỏ có thể dẫn đến những cải tiến lớn miễn là bạn kiên trì với nó. Một vài tách trà xanh, giảm căng thẳng bằng châm cứu, tập thể dục vài ngày trong tuần và thay đổi chế độ ăn uống vừa phải là đủ để giảm nguy cơ mắc các vấn đề về trí nhớ theo tuổi tác.

Tác giả: Lynn Jaffee (chuyên gia châm cứu)

Nguồn ETT

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6138/feed 0
11 Tác dụng của lá dâu tằm theo Đông Tây y https://thuonghylenien.org/luu-tru/6136 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6136#respond Tue, 06 Aug 2024 08:25:52 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6136

11 Tác dụng của lá dâu tằm theo Đông Tây y

Trong nhiều thế kỷ, lá dâu (tang diệp) đã được sử dụng trong y học cổ truyền như một phương pháp điều trị tự nhiên cho nhiều tình trạng khác nhau. Bài viết này xin chia sẻ một số tác dụng của lá dâu theo Đông Tây y và tác dụng phụ tiềm ẩn của nó.

Các tác dụng của lá dâu tằm

Mục Lục

Tác dụng của lá dâu theo Tây y

Lá dâu có thể giúp giảm lượng đường trong máu, cholesterol và mức độ viêm. Những đặc tính này có thể khiến chúng trở nên hữu ích trong việc chống lại bệnh tim và tiểu đường.

1. Có thể làm giảm lượng đường trong máu và insulin

Lá dâu tằm cung cấp một số hợp chất có thể giúp chống lại bệnh tiểu đường.

Chúng bao gồm 1-deoxynojirimycin (DNJ), chất này ngăn cản sự hấp thụ carbs trong ruột của bạn.

Đặc biệt, những chiếc lá này có thể làm giảm lượng đường trong máu và insulin, một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu.

Trong một nghiên cứu, 37 người trưởng thành đã ăn maltodextrin, một loại bột tinh bột giúp tăng nhanh lượng đường trong máu. Sau đó họ được cho uống chiết xuất lá dâu chứa 5% DNJ.

Những người dùng 250 hoặc 500 mg chiết xuất có mức tăng lượng đường trong máu và insulin thấp hơn đáng kể so với nhóm dùng giả dược.

Ngoài ra, trong một nghiên cứu kéo dài 3 tháng, những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 dùng 1.000 mg chiết xuất lá dâu tằm 3 lần mỗi ngày trong bữa ăn đã giảm đáng kể lượng đường trong máu sau bữa ăn, so với nhóm dùng giả dược.

2. Có thể tăng cường sức khỏe tim mạch

Một số nghiên cứu cho thấy chiết xuất lá dâu có tác dụng có thể cải thiện sức khỏe tim mạch bằng cách giảm mức cholesterol và huyết áp, giảm viêm và ngăn ngừa xơ vữa động mạch – sự tích tụ mảng bám trong động mạch có thể dẫn đến bệnh tim.

Một nghiên cứu đã cho 23 người bị cholesterol cao bổ sung 280 mg lá dâu tằm 3 lần mỗi ngày. Sau 12 tuần, cholesterol LDL (có hại) của họ giảm 5,6% trong khi cholesterol HDL (có lợi) tăng 19,7% .

Một nghiên cứu khác kéo dài 12 tuần đã ghi nhận rằng trung bình 10 người có chất béo trung tính cao sử dụng chất bổ sung lá dâu tằm hàng ngày có chứa 36 mg DNJ đã giảm mức chất đánh dấu này xuống trung bình 50 mg/dL.

Ngoài ra, các nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng tác dụng của lá dâu có thể ngăn ngừa xơ vữa động mạch, giảm tổn thương tế bào và mức huyết áp cao, tất cả đều là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim.

3. Có thể giảm viêm

Lá dâu chứa nhiều hợp chất chống viêm, bao gồm cả chất chống oxy hóa flavonoid.

Một số nghiên cứu cho thấy lá dâu có thể chống lại chứng viêm và stress oxy hóa, cả hai đều có liên quan đến bệnh mãn tính

Các nghiên cứu trên chuột về chế độ ăn nhiều chất béo chứng minh rằng chất bổ sung từ loại lá này làm giảm các dấu hiệu viêm như protein phản ứng C, cũng như các dấu hiệu căng thẳng oxy hóa như superoxide dismutase.

Một nghiên cứu trong ống nghiệm trên tế bào bạch cầu ở người cũng tiết lộ rằng chiết xuất từ ​​lá dâu tằm và trà của nó không chỉ làm giảm các protein gây viêm mà còn giảm đáng kể tổn thương DNA do stress oxy hóa gây ra.

Mặc dù những kết quả này rất đáng khích lệ nhưng vẫn cần có những nghiên cứu trên con người.

4. Tác dụng của lá dâu chữa mất ngủ

Từ xa xưa trong dân gian đã dùng lá dâu để chữa mất ngủ.

Theo nghiên cứu của khoa học hiện đại, lá dâu có chứa các dưỡng chất như: caroten, vitamin C, colin (choline), tanin, adenin, pentosan, trigonellin, đường, canxi malat và canxi cacbonat… Đây đều là những hoạt chất có tác dụng hỗ trợ trong việc điều trị chứng mất ngủ kinh niên. Đặc biệt, các axit amin tự do trong lá dâu giúp xóa bỏ được những căng thẳng, mệt mỏi, giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc hơn.

Các tác dụng sức khỏe tiềm năng khác của lá dâu

Mặc dù nghiên cứu còn hạn chế nhưng lá dâu có thể mang lại một số tác dụng sức khỏe khác. Bao gồm các:

5. Tác dụng của lá dâu chống ung thư. Một số nghiên cứu về ống nghiệm liên kết loại lá này với hoạt động chống ung thư chống lại tế bào ung thư cổ tử cung và ung thư gan ở người.

6. Sức khỏe gan. Các nghiên cứu trên ống nghiệm và động vật đã xác định rằng chiết xuất lá dâu tằm có thể bảo vệ tế bào gan khỏi bị tổn thương và giảm viêm gan.

7. Giảm cân. Các nghiên cứu về loài gặm nhấm lưu ý rằng những chiếc lá này có thể làm tăng quá trình đốt cháy chất béo và thúc đẩy giảm cân.

Màu da nhất quán. Một số nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy rằng chiết xuất lá dâu tằm có thể ngăn ngừa chứng tăng sắc tố – hoặc các mảng da sẫm màu – và làm sáng tông màu da một cách tự nhiên.

Xem thêm:

Tác dụng của lá dâu theo Tây y

Tác dụng của lá dâu theo đông y

《 Bản thảo cương mục 》Lý Thời Trân nói:  Lá dâu là vị thuốc thuộc thủ túc dương minh kinh, có tác dụng chữa ho do sốt, mệt mỏi, sáng mắt, chỉ tiêu khát.

8. Điều trị cảm mạo phong nhiệt, bài Tang cúc ẩm chữa chứng phong nhiệt có chứng đau đầu, ho khan, phát sốt.

9. Điều trị ho do phế nhiệt: thuốc có vị đắng lạnh để thanh phế nhiệt, lương nhuận phế táo nên thường dùng để điều trị táo nhiệt thương phế có chứng ho khan ít đờm.

10. Điều trị can dương thượng cang, có chứng đau đầu huyền vững. Thuốc còn có tác dụng sơ tán phong nhiệt, thanh tiết can hỏa, lương huyết, minh mục.

Thường dùng phối hợp với cúc hoa, hạ khô thảo, sa tiền tử. Có thể dùng điều trị phong nhiệt kinh can, can hỏa thượng xung gây ra mắt đỏ, đau dát, chảy nước mắt…

Còn có tác dụng điều trị can thận bất túc gây hoa mắt chóng mặt.

11. Lương huyết chỉ huyết dùng để điều trị các chứng huyết nhiệt vong hành gây nôn máu, chảy máu cam, phối hợp với các thuốc cầm máu khác.

Lá dâu có tác dụng phụ không ?

Mặc dù lá dâu phần lớn đã được chứng minh là an toàn trong cả nghiên cứu trên người và động vật, nhưng nó có thể dẫn đến tác dụng phụ ở một số người .

Ví dụ, một số người đã báo cáo về các tác dụng phụ, chẳng hạn như tiêu chảy, buồn nôn, chóng mặt, đầy hơi và táo bón khi dùng thực phẩm bổ sung.

Ngoài ra, những người đang dùng thuốc trị tiểu đường nên tham khảo ý kiến ​​chuyên gia y tế trước khi thử dùng lá dâu do tác dụng của nó đối với lượng đường trong máu.

Hơn nữa, cần có những nghiên cứu sâu hơn trên con người để xác định tính an toàn của loại lá này khi sử dụng trong thời gian dài. Trẻ em và phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú nên tránh dùng thuốc này do chưa có đủ nghiên cứu về độ an toàn.

Bạn nên tham khảo ý kiến của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước khi sử dụng bất kỳ loại thảo dược bổ sung nào, đặc biệt nếu bạn đang dùng thuốc hoặc có tình trạng sức khỏe.

công dụng của lá dâu

Điểm mấu chốt

Lá dâu từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền và có nhiều tác dụng sức khỏe ấn tượng.

Lá cây độc đáo này có thể chống viêm và cải thiện các yếu tố nguy cơ khác nhau đối với bệnh tim và tiểu đường. Tất cả đều giống nhau, cần có thêm nghiên cứu về con người. Bạn có thể dùng nó như một chất bổ sung hoặc ăn lá non nấu chín. Như vậy tác dụng của lá dâu tốt với sức khỏe là điều không cần bàn cãi.

Tuy nhiên, do những tác dụng phụ tiềm ẩn của nó, bạn có thể muốn tham khảo ý kiến của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước khi thêm lá dâu vào thói quen của mình.

Nguồn:

https://www.healthline.com/nutrition/mulberry-leaf

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6130672/

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6136/feed 0
29 công dụng của dầu dừa, những ai không nên dùng ? https://thuonghylenien.org/luu-tru/6134 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6134#respond Tue, 06 Aug 2024 08:23:18 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6134

29 công dụng của dầu dừa, những ai không nên dùng ?

Nhiều người có thể đã nghe nói đến nước cốt dừa và uống nước dừa nhưng chưa bao giờ nghe đến dầu dừa. Dầu dừa là gì? Công dụng của dầu dừa là gì? Dầu dừa có tác dụng phụ gì không? Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu.

Dầu dừa là một trong những loại dầu tự nhiên có nhiều chức năng nhất trên thế giới, điều đặc biệt là nó có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus, chống oxy hóa và giảm cân.

Mặc dù dầu dừa bị chỉ trích vì chứa lượng lớn axit béo bão hòa, chất lượng của dầu không được xác định bởi mức độ bão hòa mà bởi loại axit béo có trong đó.

Ví dụ, dầu dừa rất giàu axit lauric, có tác dụng kháng khuẩn đặc biệt, đã được phát triển thành sản phẩm thương mại: monolaurin (Lauricidin), có khả năng chống lại một số vi khuẩn, điều này rất hiếm gặp ở các loại dầu khác.

Mục Lục

1. Dầu dừa có đặc tính gì?

Dầu dừa được chiết xuất từ ​​nội nhũ (phần cùi) của quả dừa. Do hàm lượng dầu cao (khoảng 33%), dừa là nguồn cung cấp dầu thực vật chính ở vùng nhiệt đới

Do chiều dài phân tử ngắn nên đường hấp thụ khác với đường hấp thu của các axit béo liên kết dài (chất béo có trong hầu hết các loại thịt và thực vật), có thể phân hủy nhanh chóng trong cơ thể con người, làm tăng tác dụng sinh nhiệt và không dễ dàng phân hủy. chuyển hóa thành chất béo trung tính.

Dầu dừa

2. 29 công dụng của dầu dừa

1. Bảo vệ làn da của bạn khỏi tia UV

Khi thoa lên da, dầu dừa có thể bảo vệ da khỏi tia cực tím (UV) của mặt trời, làm tăng nguy cơ ung thư da, gây ra nếp nhăn và đốm nâu.

Trên thực tế, một nghiên cứu cho thấy dầu dừa ngăn chặn khoảng 20% ​​tia UV của mặt trời ( 1 ).

Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nó không cung cấp khả năng bảo vệ tương tự như kem chống nắng thông thường, giúp chặn khoảng 90% tia UV.

Một nghiên cứu khác ước tính rằng dầu dừa có hệ số chống nắng (SPF) là 7, vẫn thấp hơn mức khuyến nghị tối thiểu ở một số quốc gia ( 2 ).

2. Tăng cường trao đổi chất của bạn

Dầu dừa chứa chất béo trung tính chuỗi trung bình ( MCTs ). Đây là những axit béo được hấp thụ nhanh chóng và có thể làm tăng số lượng calo bạn đốt cháy (  ).

Các nghiên cứu có kiểm soát đã chỉ ra rằng MCT có thể  tăng đáng kể tốc độ trao đổi chất của bạn  – ít nhất là tạm thời (  ,   ).

Một nghiên cứu cho thấy rằng 15–30 gam MCT làm tăng số lượng calo bị đốt cháy trung bình là 120 trong khoảng thời gian 24 giờ ( 6 ).

3. Nấu ăn an toàn ở nhiệt độ cao

Dầu dừa có  hàm lượng chất béo bão hòa rất cao  . Trên thực tế, khoảng 87% chất béo của nó là chất béo bão hòa ( 7 ).

Tính năng này làm cho nó trở thành một trong những chất béo tốt nhất để nấu ở nhiệt độ cao, bao gồm cả chiên .

Chất béo bão hòa giữ được cấu trúc của chúng khi đun nóng ở nhiệt độ cao, không giống như các axit béo không bão hòa đa có trong dầu thực vật.

Các loại dầu như ngô và dầu cây rum được chuyển thành hợp chất độc hại khi đun nóng. Những thứ này có thể có tác hại cho sức khỏe ( 8 ).

Vì vậy, dầu dừa là lựa chọn thay thế an toàn hơn khi nấu ăn ở nhiệt độ cao.

4. Cải thiện sức khỏe răng miệng của bạn

Dầu dừa có thể là vũ khí mạnh mẽ chống lại vi khuẩn, bao gồm  Streptococcus mutans , vi khuẩn trong miệng gây ra mảng bám răng, sâu răng và bệnh nướu răng.

Trong một nghiên cứu, súc miệng bằng dầu dừa trong 10 phút sẽ làm giảm những vi khuẩn này hiệu quả tương đương với việc súc miệng bằng nước súc miệng sát trùng ( 9 ) .

Trong một nghiên cứu khác, súc miệng hàng ngày bằng dầu dừa làm giảm đáng kể tình trạng viêm và mảng bám ở thanh thiếu niên bị viêm nướu (viêm nướu) ( 10 ) .

5. Giảm kích ứng da và bệnh chàm

Nghiên cứu cho thấy rằng dầu dừa ít nhất cũng cải thiện tình trạng viêm da và các rối loạn về da khác cũng như dầu khoáng và các loại kem dưỡng ẩm thông thường khác 11 , 1213 )

Trong một nghiên cứu ở trẻ em mắc bệnh chàm, 47% số trẻ được điều trị bằng dầu dừa nhận thấy những cải thiện đáng kể ( 13 ) .

6. Cải thiện chức năng não

MCT trong dầu dừa bị gan phân hủy và biến thành xeton, có thể hoạt động như một nguồn năng lượng thay thế  cho não của bạn  ( 14 ).

Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng MCT có những lợi ích ấn tượng đối với các chứng rối loạn não, bao gồm cả bệnh động kinh và bệnh Alzheimer ( 15 ,  16,  17 ).

Một số nhà nghiên cứu khuyên bạn nên sử dụng dầu dừa làm nguồn MCT để tăng sản xuất  xeton  ( 14 ).

7. Làm sốt Mayonnaise tốt cho sức khỏe

Mayonnaise thương mại thường chứa dầu đậu nành và  thêm đường .

Tuy nhiên, thật dễ dàng để tự làm mayo bằng dầu dừa hoặc  dầu ô liu .

Công thức thứ hai trong  danh sách này  sử dụng dầu dừa làm một trong những chất béo để làm sốt mayonnaise tự làm lành mạnh.

8. Dưỡng ẩm cho làn da của bạn

Dầu dừa là một loại kem dưỡng ẩm tuyệt vời cho chân, cánh tay và khuỷu tay của bạn.

Bạn cũng có thể sử dụng nó trên mặt – mặc dù điều này không được khuyến khích cho những người có làn da rất nhờn.

Nó cũng có thể giúp sửa chữa gót chân nứt nẻ. Đơn giản chỉ cần thoa một lớp sơn mỏng lên gót chân khi đi ngủ, đi tất và tiếp tục thực hiện hàng đêm cho đến khi gót chân mịn màng.

9. Có thể giúp chống nhiễm trùng

Dầu dừa nguyên chất có đặc tính kháng khuẩn có thể giúp điều trị nhiễm trùng.

Một nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy nó ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn đường ruột  Clostridium difficile , thường được gọi là C. diff, gây tiêu chảy nghiêm trọng ( 18 ).

Nó cũng có tác dụng chống lại nấm men – một tác dụng thường được cho là do axit lauric, axit béo chính trong dầu dừa ( 19 ).

Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng dầu dừa có hiệu quả trong điều trị nhiễm trùng khi ăn hoặc bôi lên da.

10. Tăng lượng cholesterol HDL “tốt” của bạn

Dầu dừa đã được chứng minh là làm tăng mức cholesterol ở một số người.

Tuy nhiên, tác dụng mạnh nhất và nhất quán nhất của nó là tăng cholesterol HDL “tốt” ( 20 ,  2122  ) .

Một nghiên cứu ở những phụ nữ  béo bụng  cho thấy HDL tăng lên ở nhóm tiêu thụ dầu dừa, trong khi nó giảm ở những người tiêu thụ dầu đậu nành ( 22 ) .

11. Làm sô cô la đen không đường

Sô cô la đen tự làm   là một cách ngon miệng để tận dụng những lợi ích sức khỏe của dầu dừa.

Chỉ cần nhớ bảo quản trong tủ lạnh hoặc tủ đông vì dầu dừa tan chảy ở nhiệt độ 76°F (24°C).

Thật dễ dàng để tìm thấy một công thức trực tuyến và bắt đầu. Để giữ cho mọi thứ lành mạnh, hãy tìm những ý tưởng không đường.

12. Có thể giảm mỡ bụng

Dầu dừa có thể  giúp giảm mỡ bụng  – còn được gọi là mỡ nội tạng – có liên quan đến việc tăng nguy cơ sức khỏe, chẳng hạn như bệnh tim và tiểu đường tuyp 221 ,  22  ,  23  ) .

Trong một nghiên cứu, những người đàn ông béo phì đã giảm được 1 inch (2,54 cm) mỡ vòng eo bằng cách thêm 2 thìa canh (1 ounce hoặc 30 ml) dầu dừa vào chế độ ăn uống của họ ( 21 ) .

Một nghiên cứu khác xem xét những phụ nữ có chế độ ăn hạn chế calo. Những người dùng 2 muỗng canh (30 ml) dầu dừa mỗi ngày  đã giảm kích thước vòng eo, trong khi nhóm dùng dầu đậu nành  nhận thấy sự tăng nhẹ ( 22 ).

13. Bảo vệ tóc khỏi hư tổn

Dầu dừa có thể giúp tóc bạn khỏe mạnh.

Một nghiên cứu đã so sánh tác dụng của dầu dừa, dầu khoáng và dầu hướng dương đối với tóc.

Chỉ dầu dừa mới làm giảm đáng kể tình trạng mất protein khỏi tóc khi thoa trước hoặc sau khi gội đầu. Kết quả này xảy ra với tóc hư tổn cũng như tóc khỏe mạnh.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng cấu trúc độc đáo của axit lauric – axit béo chính trong dầu dừa – có thể thâm nhập vào thân tóc theo cách mà hầu hết các chất béo khác không thể ( 24 ) .

14. Giảm cơn đói và lượng thức ăn ăn vào

Chất béo trung tính chuỗi trung bình (MCT) trong dầu dừa có thể giúp  giảm cảm giác đói , dẫn đến giảm  lượng calo nạp vào một cách tự nhiên  ( 3 ,  25 ,  26 ).

Trong một nghiên cứu nhỏ, những người đàn ông theo chế độ ăn nhiều MCT tiêu thụ ít calo hơn và giảm cân nhiều hơn những người đàn ông ăn chế độ ăn có hàm lượng MCT thấp hoặc trung bình ( 26 ) .

15. Cải thiện việc chữa lành vết thương

Một nghiên cứu cho thấy những con chuột được điều trị vết thương bằng dầu dừa đã giảm các dấu hiệu viêm nhiễm và tăng sản xuất collagen, một thành phần chính của da. Kết quả là vết thương của họ lành nhanh hơn nhiều ( 27 ) .

Để tăng tốc độ chữa lành các vết cắt hoặc vết xước nhỏ, hãy bôi một ít dầu dừa trực tiếp lên vết thương và băng lại bằng băng.

16. Tăng cường sức khỏe xương

Nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng chất chống oxy hóa trong dầu dừa nguyên chất có thể bảo vệ  sức khỏe của xương bằng cách trung hòa các gốc tự do  có thể làm hỏng tế bào xương ( 28 ,  29 ).

Một nghiên cứu kéo dài sáu tuần trên chuột cho thấy nhóm nhận 8% lượng calo từ dầu dừa có khối lượng xương nhiều hơn đáng kể và cấu trúc xương được cải thiện ( 29 ) .

17. Tạo thuốc chống côn trùng không độc hại

Một số loại tinh dầu  có thể là cách tự nhiên để đuổi côn trùng và tránh bị cắn, đốt.

Tuy nhiên, thay vì bôi trực tiếp các loại dầu này lên da, chúng cần được kết hợp với dầu vận chuyển.

Trong một nghiên cứu, việc kết hợp tinh dầu Thái Lan với dầu dừa giúp bảo vệ hơn 98% khỏi vết cắn của một số loại muỗi ( 30 ).

Công dụng của dầu dừa

18. Chống lại Candida

Candida albicans  là loại nấm gây nhiễm trùng nấm men, thường xảy ra ở những vùng ấm và ẩm ướt trên cơ thể, chẳng hạn như miệng hoặc âm đạo.

Các nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy rằng dầu dừa có thể  giúp chống nhiễm trùng nấm candida  ( 31 ,  32 ).

Các nhà nghiên cứu nhận thấy dầu dừa có hiệu quả tương đương với fluconazole, loại thuốc chống nấm thường được kê đơn điều trị nhiễm trùng nấm candida ( 32 ) .

19. Loại bỏ vết bẩn

Dầu dừa có thể được sử dụng để loại bỏ các vết bẩn, bao gồm cả vết bẩn trên thảm và đồ nội thất.

Kết hợp một phần dầu dừa với một phần  baking soda  và trộn thành hỗn hợp sệt. Thoa lên vết bẩn, đợi năm phút rồi lau sạch.

20. Giảm viêm

Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng ăn dầu dừa có tác dụng chống viêm mạnh mẽ ( 33 , 3435 )

Các nghiên cứu trên người cho thấy rằng ăn dầu dừa có thể làm giảm các dấu hiệu căng thẳng oxy hóa và viêm nhiễm, đặc biệt khi so sánh với các loại dầu không bão hòa cao. Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu hơn ( 36 ) .

21. Khử mùi tự nhiên

Mặc dù bản thân mồ hôi không có mùi nhưng vi khuẩn sống trên da bạn có thể tạo ra mùi không mong muốn.

Đặc tính kháng khuẩn mạnh mẽ của dầu dừa khiến nó trở thành chất khử mùi tự nhiên tuyệt vời mà không chứa hóa chất.

Bạn có thể tìm thấy nhiều công thức khử mùi dễ dàng được làm bằng dầu dừa và các nguyên liệu tự nhiên khác trên mạng.

22. Nguồn năng lượng nhanh

Dầu dừa chứa axit béo chất béo trung tính chuỗi trung bình, được tiêu hóa khác với chất béo trung tính chuỗi dài có trong hầu hết các loại thực phẩm.

Những chất béo này đi trực tiếp từ ruột đến gan, nơi chúng có thể được sử dụng như một nguồn năng lượng nhanh chóng mà không làm tăng  lượng đường trong máu  ( 3 ).

23. Chữa lành lớp biểu bì bị rách

Dầu dừa có thể được sử dụng để cải thiện lớp biểu bì của bạn, bao gồm cả vết xước ở móng tay.

Đơn giản chỉ cần thoa một lượng nhỏ dầu dừa lên lớp biểu bì của bạn và massage trong giây lát. Làm điều này vài lần một tuần để có kết quả tốt nhất.

24. Giảm triệu chứng viêm khớp

Viêm khớp được đặc trưng bởi đau và bất động của khớp do viêm.

Nghiên cứu trên động vật cho thấy chất chống oxy hóa gọi là polyphenol có trong dầu dừa có thể làm giảm một số triệu chứng viêm khớp.

Một nghiên cứu trên chuột bị viêm khớp cho thấy điều trị bằng polyphenol từ dầu dừa làm giảm sưng tấy và một số dấu hiệu viêm ( 37 ) .

Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy hàm lượng polyphenol tìm thấy trong dầu dừa thấp hơn có tác dụng tương tự.

25. Làm cho đồ nội thất bằng gỗ của bạn sáng bóng

Dầu dừa có thể giúp giữ cho đồ nội thất của bạn trông sáng bóng và bóng bẩy.

Ngoài việc làm nổi bật vẻ đẹp của gỗ tự nhiên, nó còn có tác dụng như một chất chống bụi. Thêm vào đó, nó có mùi thơm tinh tế, dễ chịu – không giống như nhiều loại chất đánh bóng đồ nội thất thương mại có mùi thơm nồng.

26. Tẩy trang mắt

Dầu dừa là một loại tẩy trang mắt nhẹ nhàng và hiệu quả. Dùng bông tẩy trang và lau nhẹ nhàng cho đến khi hết dấu vết trang điểm.

27. Cải thiện sức khỏe gan

Nghiên cứu trên động vật đã phát hiện ra rằng chất béo bão hòa trong dầu dừa có thể giúp bảo vệ gan của bạn khỏi bị tổn thương do tiếp xúc với rượu hoặc chất độc ( 38 , 39  ) .

Trong một nghiên cứu, những con chuột được điều trị bằng dầu dừa sau khi tiếp xúc với một hợp chất độc hại đã giảm các dấu hiệu viêm gan và tăng hoạt động của các men gan có lợi ( 39 ) .

28. Làm dịu đôi môi nứt nẻ

Dầu dừa là loại son dưỡng môi tự nhiên lý tưởng.

Nó lướt nhẹ nhàng, giúp môi bạn ẩm trong nhiều giờ và thậm chí còn bảo vệ đôi môi khỏi ánh nắng mặt trời.

29. Làm nước sốt salad tại nhà

Nước sốt salad thương mại thường chứa nhiều đường và chất bảo quản.

Dầu dừa là một sự bổ sung thơm ngon cho món salad trộn tự chế, tốt cho sức khỏe.

Điểm mấu chốt

Dầu dừa mang lại  một số lợi ích cho sức khỏe  – nhưng cũng có nhiều công dụng thông minh và thiết thực khác.

Hãy đảm bảo luôn có sẵn nhiều dầu dừa trong tay. Bạn không bao giờ biết khi nào bạn có thể cần nó.

Công dụng của dầu dừa bạn chưa biết

3. Dầu dừa có tác dụng phụ gì không?

Dầu dừa đã được FDA (Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) chứng nhận là thực phẩm tự nhiên và an toàn nhất, đồng thời cũng đã vượt qua chứng nhận GRAS nghiêm ngặt nhất (Generally Certified as Safe)

Để vượt qua chứng nhận này, bạn phải trải qua nhiều cuộc kiểm tra khác nhau và có lịch sử sử dụng an toàn lâu dài. Các thành phần có chứng nhận GRAS được coi là được đảm bảo trên toàn quốc tại Hoa Kỳ và sẽ không có tác dụng phụ. Không cần cảnh báo hoặc bất kỳ hạn chế nào về việc sử dụng.

4. Nên dùng dầu dừa ở dạng nào? Có sự khác biệt giữa tinh chế và ép lạnh?

Nói chung, càng ít quy trình chế biến dầu thì càng ít tác hại, cách tự nhiên nhất là ép dầu từ hạt ở nhiệt độ thấp mà không cần thêm bất kỳ hóa chất nào, hay còn gọi là phương pháp ép lạnh).

Ép lạnh đòi hỏi ít quy trình xử lý nhất nên có thể giữ lại chất chống oxy hóa tự nhiên, làm chậm quá trình oxy hóa và hình thành gốc tự do, đồng thời giảm tỷ lệ hư hỏng.

Dầu dừa chất lượng cao nhất được làm từ dừa tươi ép lạnh, không qua xử lý nhiệt độ cao hay hóa chất nên giữ được mùi thơm dừa đặc trưng (dầu dừa tinh luyện không màu, không mùi và chủ yếu được dùng để bảo quản hoặc nấu ăn).

Tham khảo tại: healthline

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6134/feed 0
Khái quát về Công giáo và Công giáo ở Việt Nam https://thuonghylenien.org/luu-tru/6132 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6132#respond Sun, 04 Aug 2024 07:27:49 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6132 Khái quát về Công giáo và Công giáo ở Việt Nam

Ngày đăng: 07/06/2021

Người Công giáo ở Trung tâm hành hương Đức Mẹ La Vang, Quảng Trị
Công giáo ra đời vào thế kỷ thứ I SCN tại vùng Palestin. Chúa Giêsu, người sáng lập ra Công giáo là người thuộc dân tộc Do Thái. Theo truyền thuyết, cha nuôi của Chúa Giêsu tên là Giuse, mẹ là bà Ma-ri-a, mang thai Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm. Chúa Giêssu sinh năm thứ nhất SCN, năm 30 tuổi Chúa Giêsu bắt đầu truyền đạo. Trong quá trình truyền giáo, Chúa Giêsu luôn bị những người Do Thái đả kích, phê phán và ghen ghét; bị nhà cầm quyền đương thời ngăn cấm và kết tội mưu phản La Mã, tử hình bằng cách đóng đinh trên giá chữ thập. Chúa Giêsu mất khi 33 tuổi.

Công giáo tin Chúa Giêsu xuống trần gian làm người, rao giảng Tin Mừng, chữa lành mọi bệnh tật, trừ quỉ và cuối cùng chết trên thập giá để hoàn tất công cuộc cứu chuộc tội lỗi của loài người.

I. Khái quát về Công giáo

1. Đấng thờ phụng

Công Giáo tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi gồm Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tuy là Ba ngôi vị riêng biệt, nhưng cùng một Thiên Chúa duy nhất đồng bản thể và uy quyền trong Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi (Tam vị nhất thể).

2. Giáo lý Công giáo 

Giáo lý Công giáo thể hiện tập trung trong Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước). Hệ thống giáo lý này được hình thành, bổ sung trong nhiều thế kỷ.

Cựu ước là bộ dã sử và cũng là kinh thánh của đạo Do Thái, gồm 46 quyển, chia thành 3 loại: Sách lịch sử; Sách văn thơ; Sách tiên tri. Nội dung của Kinh Cựu ước là nói về sự tạo dựng vũ trụ và con người của Chúa trời; Về sự tích dân Do Thái, luật pháp, phong tục tập quán và truyền thống văn hoá của Do Thái; Về các Vua và dân Do Thái từ khi lập quốc đến tan rã.

Kinh Tân ước gồm 27 quyển, nội dung kể về cuộc đời, sự nghiệp, những lời răn dạy, chỉ bảo về đạo lý của Chúa Giêsu và các Thánh Tông đồ đối với con người. Kinh Tân ước chia làm 4 loại: Sách Tin mừng (hay còn gọi là Phúc âm); Sách Công vụ; Sách Thánh Thư và Sách Khải huyền được ghi lại bởi các tác giả là Lu-ca, Mác-cô, Ma-thê-ô và Gioan.

Hiện nay Kinh Thánh được dịch ra khoảng 750 ngôn ngữ khác nhau và là cuốn sách được xuất bản với số lượng nhiều nhất trên thế giới (khoảng gần một tỷ bản). Ngoài ra, Công giáo còn một số văn bản khác như các án văn của Giáo hoàng, nghị quyết của các Công đồng, về nguyên tắc có giá trị như giáo lý. Trong sinh hoạt, từ kinh Cựu ước và Tân ước, Công giáo biên soạn thành hai loại kinh: Kinh nguyện và Kinh bổn để mọi tín đồ cầu nguyện.

Trong giáo lý của đạo Công giáo có 5 tín điều cơ bản sau: Thiên chúa và sự sáng tạo thế giới của Thiên Chúa; Con người và sự sa ngã của con người; Chúa Giê-su và công cuộc cứu chuộc; Chúa Giê-su trở lại và sự phán xét cuối cùng; Thiên đường và địa ngục, thiên thần và ma quỷ.

3. Luật lệ, lễ nghi 

Ngay từ đầu, Giáo hội Công giáo đã xây dựng được một hệ thống các luật lệ, lễ nghi khá chi tiết, cụ thể và được thống nhất thực hiện trên phạm vị toàn thế giới. Trước đây, luật lệ, lễ nghi và thiết chế của Giáo hội được ghi trong Bộ Giáo luật Ca-non(xuất bản năm 1917) gồm 2.000 điều. Ngày 25/1/1983, Giáo hội Công giáo ban hành bộ giáo luật mới thay thế cho bộ Giáo luật Ca-non gọi là bộ Giáo luật năm 1983 bao gồm 1.752 điều, chia gồm 7 quyển.

4. Một số nội dung chủ yếu về luật lệ, lễ nghi 

– Mười điều răn của Thiên Chúa (được Thiên Chúa ban cho Maisen tổ phụ của dân Do Thái và được khắc vào bia đá để làm luật pháp cai trị dân Do Thái): 1. Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự; 2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc tầm thường; 3. Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; 4. Thảo kính cha mẹ; 5. Không được giết người; 6. Không được tà dâm; 7. Không được gian tham lấy của người khác; 8. Không được làm chứng dối, che giấu sự gian dối; 9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác; 10. Không được ham muốn của cải trái lẽ.

– Năm điều răn của Giáo hội: 1. Xem lễ ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc; 2. Kiêng việc xác ngày chủ nhật; 3. Xưng tội mỗi năm một lần; 4. Chịu lễ mùa phục sinh; 5. Giữ chay những ngày quy định.

– Bảy phép Bí tích: Một nghi lễ của Công giáo, theo đó ơn Chúa sẽ được đem đến cho các tín đồ.Trong các nghi lễ, phép bí tích là quan trọng nhất, thể hiện mối quan hệ giao tiếp giữa con người với Chúa. Có 7 bí tích: 1. Bí tích rửa tội; 2. Bí tích thêm sức: để củng cố đức tin kính Chúa; 3. Bí tích thánh thể hay còn gọi là phép Mình Thánh Chúa, có bánh (làm bằng bột mì) và rượu (làm bằng rượu nho) tượng trưng cho mình và máu Chúa Giê-su. Tín đồ sau khi xưng tội và được giải tội thì được chịu phép Mình Thánh; 4. Bí tích giải tội: dành cho người sám hối tội lỗi; 5. Bí tích truyền chức thánh: chỉ dành cho giám mục và linh mục đã được tuyển chọn để họ có quyền tế lễ chăn dắt dân chúa; 6. Bí tích hôn phối: là bí tích kết hợp hai tín hữu 1 nam, 1 nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa; 7. Bí tích xức dầu bệnh nhân: là bí tích nâng đỡ bệnh nhân về phần hồn và phần xác, giúp tín đồ chịu đựng đau khổ, dọn mình trước cái chết.

5. Những ngày lễ của đạo Công giáo

Lịch Công giáo tính theo dương lịch và trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác nhau:

– Lễ trọng (lễ buộc) có 6 ngày trong năm cụ thể là:

1. Lễ Nô-el (giáng sinh) ngày 25/12.

2. Lễ phục sinh (Chúa sống lại) vào một ngày của tháng 4 (từ 21/3 – 25/4).

3. Lễ Chúa Giê-su lên trời, sau lễ phục sinh 40 ngày.

4. Lễ Chúa Thánh thần thiện xuống, sau lễ Chúa Giê-su lên trời 10 ngày.

5. Lễ Đức bà Ma-ri-a hồn và xác lên trời, ngày 15/8.

6. Lễ các Thánh, ngày 1/11.

– Lễ Thông thường. Đây là những ngày lễ mà Giáo hội không buộc, nhưng tín đồ vẫn tích cực tham gia để được hưởng nhiều ơn phúc. Ngoài ra trong số các lễ thông thường còn có các lễ theo tháng hoặc theo mùa với nhiều chủ đích khác nhau.

6. Cơ cấu tổ chức 

Về cơ cấu tổ chức chungGiáo hội Công giáo được tổ chức theo 3 cấp hành chính chính thức, gồm: Giáo triều Rô-ma, Giáo phận, Giáo xứ. Có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thống nhất, lâu dài và ổn định.

– Giáo triều Rô-ma:là cơ quan điều hành trung ương của Tòa thánhVa-ti-căn và Giáo hội Công giáo, gồm: Phủ Quốc Vụ Khanh, đặc trách những công việc thường vụ của Giáo Hội và phụ trách liên lạc các quốc gia; 09 Bộ của tòa thánh, chịu trách nhiệm về những lãnh vực nhất định của đời sống Giáo Hội; 12 Hội Đồng Tòa Thánh, là những bộ phận chuyên nghiên cứu và tìm kiếm trong những lãnh vực quan trọng, 3 Văn Phòng, giúp điều hành công việc của Tòa Thánh và quản lý tài chính, 3 Tòa Án, để giải quyết các công việc liên quan đến Xá giải, Ấn tín Tông tòa và Hôn phối.

– Giáo phận: Nhiều Giáo xứ hợp lại thành một Giáo phận. Giáo phận là cấp hành chính chính thức của Giáo hội trực thuộc Toà Thánh Vatican về mọi phương diện; việc thành lập, bãi bỏ, thay đổi một Giáo hội địa phương do Giáo hoàng quyết định. Cai quản Giáo phận là một Giám mục, theo Giáo luật Giám mục có tất cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi tôn giáo.

– Giáo xứGiáo xứ là đơn vị cuối cùng có tư cách pháp nhân của Giáo hội. Đứng đầu giáo xứ là một Linh mục chính xứ do Giám mục giáo phận bổ nhiệm và dưới quyền Giám mục giáo phận. Trong điều kiện thiếu Linh mục thì có thể một Linh mục cai quản nhiều giáo xứ; một giáo xứ có thể có nhiều giáo họ, trong trường hợp có nhiều linh mục thì một linh mục có thể coi sóc một hoặc nhiều giáo họ. Ngoài ra, còn có các cấp trung gian mang tính liên hiệp gồm: Giáo tỉnh, Giáo hạt.

7. Phẩm trật của Giáo hội              

Hàng giáo sỹ trong Công giáo được hình thành theo cấp bậc rõ ràng, có ba chức thánh như: Giám mụcLinh mục và Phó tế. Ngoài ra, còn có các tước vị khác như Hồng y, Tổng Giám mục, Đức ông.

– Giáo hoàng: Giáo hoàng có nhiều danh xưng như Giáo chủ, Đức Thánh Cha, người kế vị Thánh Phê-rô, là đại diện Chúa Giê-su nơi trần thế, vị chủ chăn tối cao của toàn thể tín đồ Công giáo. Giáo hoàng có quyền tối thượng, toàn diện và trực tiếp đối với Giáo hội từ Giáo triều Va-ti-căn đến Giáo hội địa phương cơ sở.

– Hồng y và Hồng y đoàn: Hồng ylà phẩm tước, xếp ngay sau Giáo hoàng. Các hồng y trên thế giới hợp thành Hồng y đoàn có nhiệm vụ bầu Giáo hoàng và giúp Giáo hoàng cai quản giáo hội (các Hồng y trên 80 tuổi không được bầu Giáo hoàng).

– Tổng Giám mục: là Giám mục đứng đầu các Tổng giáo phận.

– Giám mục: là những người được trao cho việc coi sóc một giáo phận, có toàn quyền về mặt tôn giáo trong giáo phận đó, gọi là Giám mục Chính toà; trong một giáo phận có thể có Giám mục phó hoặc Giám mục phụ tá giúp việc cho Giám mục chính toà.

– Linh mục:có linh mục triều là người coi sóc mục vụ ở các giáo xứ hoặc làm việc tại Tòa giám mục và linh mục dòng hoạt động trong các dòng tu.

– Phó tế: có phó tế tạm thời và phó tế vĩnh viễn. Phó tế tạm thời là những người hướng tới chức linh mục (tức những người đã học xong chương trình đào tạo tại các đại chủng viện chờ được tấn phong làm linh mục), và phó tế vĩnh viễn là những người không hướng tới chức linh mục. Phó tế vĩnh viễn có thể là những người đã có gia đình, nhưng sau khi thụ phong nếu người vợ qua đời không được lập gia đình nữa.

Hàng giáo phẩm của đạo Công giáo nói chung rất quan trọng, là những người được thay mặt Chúa để điều hành các hoạt động của Giáo hội; là Cha thiêng liêng, Cha tinh thần không thể thiếu trong các sinh hoạt tôn giáo hàng ngày của tín đồ Công giáo.

II. Công giáo ở Việt Nam

1. Quá trình truyền giáo và phát triển

Quá trình truyền bá Công giáo vào Việt Nam bắt đầu từ các thập kỷ đầu của thế kỷ XVI (1533), song thực tế phải đầu đầu thế kỷ XVII, hoạt động truyền bá mới được tổ chức một cách có quy mô và đạt hiệu quả. Có thể phân chia quá trình truyền giáo và phát triển đạo vào Việt Nam qua 4 giai đoạn chủ yếu: giai đoạn hình thành từ đầu thế kỷ XVI đến năm 1884; Giai đoạn từ 1885-1945 (Giai đoạn thực dân Pháp đô hộ đến khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); Giai đoạn thứ ba từ 1945-1975 (Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ); Giai đoạn thứ tư từ năm 1975 đến nay (Giai đoạn sau ngày thống nhất đất nước, cả nước tiến hành công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng chủ nghĩa xã hội).

Công giáo truyền vào Việt Nam, có nhiều đóng góp tích cực cho văn hóa, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, một bộ phận nhỏ tín đồ và chức sắc Công giáo bị các thế lực đế quốc lợi dụng, ảnh hưởng đến quan hệ Nhà nước và Giáo hội.

Sau ngày 30/4/1975 đất nước hai miền Nam – Bắc thu về một mối, Giáo hội hai miền có nhiều điều kiện thuận lợi để tiến hành thống nhất. Năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ nhất, ra Thư Chung lịch sử với đường hướng hoạt động “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam thể hiện tình cảm và trách nhiệm của người Công giáo với đất nước: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào đối với người Công giáo không những là tình cảm tự nhiên phải có mà còn là đòi hỏi của Phúc âm. Thư chung năm 1980 cũng định ra nhiệm vụ xây dựng một nếp sống đạo mới và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc.

Công giáo Việt Nam có hơn 3.000 giáo xứ; tính đến đầu năm 2021 có 46 Giám mục, gần 6000 linh mục; khoảng 200 dòng tu, tu hội, tu đoàn với hơn 31.000 nam nữ tu sĩ, trên 7 triệu tín đồ.

2. Cơ cấu tổ chức

2.1. Hội đồng Giám mục Việt Nam là một tổ chức gồm tất cả các giám mục đang thi hành phận sự mục vụ ở các giáo phận tại Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Giám mục Việt Nam gồm Ban Thường vụ (không quy định số lượng), với các chức danh: Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch, Tổng thư ký, một hoặc nhiều Phó Tổng thư ký (Phó Tổng thư ký có thể là một linh mục). Có 17 Ủy ban do các giám mục phụ trách như: Uỷ ban Giám mục về Giáo Lý, về Phụng tự, về Thánh nhạc và nghệ thuật Thánh, về Giáo sĩ và chủng sinh, về Tu sĩ, về Giáo dân, về Kinh thánh, về Văn hoá, về Phúc âm hoá… Nhiệm kỳ của Hội đồng Giám mục là 3 năm. Từ ngày thành lập đến nay Hội đồng Giám mục Việt Nam đã qua 14 nhiệm kỳ. Hiện nay đang là nhiệm kỳ 14 (2019-2022), với 17 Ủy ban, 46 giám mục, 2 Hồng y.

2.2. Công giáo Việt Nam hiện có 03 Giáo tỉnh với 27 giáo phận: Giáo tỉnh Hà Nội có 11 giáo phận: Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Hoá, Bùi Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Thanh Hoá, Vinh và Hà Tĩnh. Giáo tỉnh Huế có 6 giáo phận: Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, KonTum và Buôn Mê Thuột. Giáo tỉnh Sài Gòn có 10 giáo phận: Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, giáo phận Vĩnh Long, Cần Thơ, Mỹ Tho, Đà Lạt, Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc, Phan Thiết và Bà Rịa.

Bên cạnh tổ chức mang tính chất hành chính điều hành hoạt động của Giáo hội như giáo phận, giáo xứ, Công giáo còn có hệ thống các dòng tu. Ở Việt Nam hiện có rất nhiều dòng tu của Công giáo, theo thống kê năm 2018 của Ủy ban Tu sĩ, Hội đồng Giám mục Việt Nam có 285 dòng tu, trong đó hiện có 76 dòng tu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký hoạt động, chấp thuận thành lập.

2.3. Công giáo Việt Nam hiện có 11 cơ sở đào tạo gồm: Học viện Công giáo Việt Nam; Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội; Đại Chủng viện Đức Mẹ Vô Nhiễm Bùi Chu (Nam Định); Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình (Thái Bình); Đại Chủng viện Vinh Thanh (Nghệ An); Đại Chủng viện Huế (Thừa Thiên Huế); Đại Chủng viện Sao Biển – Nha Trang (Khánh Hòa); Đại Chủng viện thánh Giuse Thành phố Hồ Chí Minh; Đại Chủng viện thánh Giuse Xuân Lộc (Đồng Nai); Cơ sở II Đại Chủng việnThánh Giuse Xuân Lộc tại Đà Lạt (Lâm Đồng); Đại Chủng viện Thánh Quý (Cần Thơ).

Công giáo Việt Nam là tôn giáo rất tích cực tham gia các lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo. Thời gian qua, cùng với các hoạt động tôn giáo,  Giáo hội Công giáo đẩy mạnh các hoạt động như thành lập các trường mẫu giáo, nhà trẻ; tổ chức lớp học tình thương, bổ túc văn hoá cho trẻ em cơ nhỡ, lang thang, trẻ em nghèo thất học, trẻ em khuyết tật; lập quỹ khuyến học hỗ trợ, động viên học sinh, sinh viên nghèo trao học bổng cho học sinh; mở phòng khám nhân đạo, cơ sở nuôi dưỡng trẻ em nghèo, chăm sóc người già neo đơn, khuyết tật, phong cùi, nạn nhân chất độc da cam, HIV-AIDS; làm đường liên thôn, bắc cầu và làm cây nước cho bà con nghèo vùng sâu… đây là đóng góp quan trọng của Công giáo vào trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

 

Đào Thị Đượm

Theo BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6132/feed 0
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo https://thuonghylenien.org/luu-tru/6129 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6129#respond Sun, 04 Aug 2024 07:23:07 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6129 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

Ngày đăng: 17/09/2021

1. Nguồn gốc hình thành và phát triển

1.1. Nguồn gốc hình thành

Làng Hoà Hảo là một địa danh được hình thành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nằm gần biên giới Việt Nam – Campuchia, thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, ngày nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Từ xa xưa, nơi đây cùng với vùng núi Thất Sơn hợp thành “Châu Đốc Tân Cương” được coi là nơi biên viễn xa xôi hiểm trở của miền Tây Nam Bộ.

Người sáng lập PGHH là ông Huỳnh Phú Sổ (1920) sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) là con thứ tư trong gia đình nhưng là con trai trưởng của ông Huỳnh Công Bộ (Hương Cả Bộ) và bà Lê Thị Nhậm. Sau khi tốt nghiệp tiểu học ông phải bỏ học vì mắc nhiều bệnh. Quá trình lên núi chữa bệnh cũng là thời kỳ ông bắt đầu học đạo, học làm thuốc. Khi chưa tròn 18 tuổi, ông tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, hoa mẫu đơn, hoa cúc vạn thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng. Ngày 18/5 năm Kỷ Mão (tức ngày 04/7/1939), ông Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ khai đạo tại tư gia, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo – nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo do mình sáng lập là “Phật giáo Hòa Hảo”. Sau đó, ông được tín đồ PGHH suy tôn là “Thầy tổ”, và được gọi “Đức Tôn Sư”, “Đức Thầy”“Đức Huỳnh Giáo chủ”.

1.2. Quá trình phát triển

– Giai đoạn từ ngày thành lập đạo (1939) đến trước năm 1975

Đối với tín đồ PGHH, ông Huỳnh Phú Sổ trở thành Đức Phật hoá kiếp, là Phật sống vì những việc làm và lời lẽ “siêu phàm”. Chính trong khoảng thời gian ngắn này, ông Huỳnh Phú Sổ đã cho ra đời 6 tác phẩm trong “Sấm giảng giáo lý”.

Bối cảnh xã hội phức tạp của không khí chiến tranh thế giới lần thứ hai đã ảnh hưởng đến cá nhân ông Huỳnh Phú Sổ và ảnh hưởng đến sự phát triển của PGHH. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của PGHH: giáo lý tiếp tục được hoàn chỉnh; nghi lễ tôn giáo được hình thành và ổn định, đặc biệt là việc phát triển số lượng tín đồ. Từ năm 1947, PGHH chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ phát triển có tổ chức hành chính đạo. Năm 1964, Ban Trị sự PGHH nhiệm kỳ I do ông Lương Trọng Tường là Hội trưởng chính thức hoạt động. Sau 25 năm, từ khi ra đời, đây là mốc mở đầu cho thời kỳ PGHH có tổ chức hành chính đạo.

– Giai đoạn từ năm 1975 đến tháng 5/1999 (giai đoạn trước khi PGHH được công nhận tư cách pháp nhân)

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa năm 1975 đại diện Tổ đình là bà Huỳnh Thị Kim Biên và ông Huỳnh Văn Quốc ra thông cáo giải tán Ban Trị sự các cấp của PGHH. Kể từ thời điểm đó, tổ chức hành chính đạo của PGHH không còn, tuy nhiên, PGHH vẫn tồn tại thông qua hoạt động tôn giáo của từng cá nhân trong cộng đồng tín đồ PGHH.

Trong môi trường xã hội của chế độ mới, sự đạo của PGHH vẫn duy trì bình thường. Về đức tin, trong ý thức đông đảo tín đồ vẫn tồn tại biểu trưng của PGHH; Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ được coi là cội nguồn của đức tin; nhu cầu tôn giáo của tín đồ không suy giảm, họ tuân thủ giáo lý nguyên thuỷ và có biểu hiện thế tục hoá trong đời sống đạo.

– Giai đoạn từ tháng 5/1999 đến 2021 (Giai đoạn từ khi được nhà nước công nhận tổ chức đến nay)

Ban Trị sự trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, nhiệm kỳ 2019-2024

Xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của đại đa số tín đồ, mong muốn có một tổ chức giáo hội để hướng dẫn, phổ truyền giáo lý PGHH cho bà con tín đồ tu học và có địa điểm hợp pháp để làm nơi hoạt động và sinh hoạt tôn giáo. Ngày 11/6/1999, Ban Tôn giáo của Chính phủ (nay là Ban Tôn giáo Chính phủ) ban hành Quyết định số 21/QĐ/TGCP về việc công nhận tổ chức và hoạt động của Ban Đại diện PGHH (nay là Ban Trị sự Trung ương giáo hội PGHH). Đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa to lớn vừa thể hiện tính đúng đắn về chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, vừa tạo luồng sinh khí mới đối với đời sống tinh thần, tâm linh của toàn thể tín đồ PGHH. Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ II tháng 6/2004, đã xây dựng Hiến chương, tiếp tục khẳng định đường hướng hành đạo của PGHH trong giai đoạn mới là: “Vì đạo pháp, vì dân tộc”; kiện toàn tổ chức, bao gồm Ban Trị sự 2 cấp hành chính đạo: cấp toàn đạo và cấp cơ sở. Ban Trị sự trung ương PGHH – tổ chức đại diện hợp pháp duy nhất của đồng bào theo PGHH. Trải qua năm kỳ đại hội (hiện nay đang là nhiệm kỳ thứ V), Giáo hội PGHH đã từng bước phát triển, trở thành tổ chức giáo hội 2 cấp hành chính đạo gồm có Ban Trị sự Trung ương PGHH và 400 Ban Trị sự xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở), cùng 14 Ban Đại diện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đến nay, PGHH có khoảng 1,5 triệu tín đồ, sinh sống ở 22 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó, chủ yếu tập trung ở 09 tỉnh
miền Tây Nam bộ là: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Kiên Giang.
Ban Trị sự trung ương Giáo hội PGHH đã từng bước tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các ban chuyên môn. Hằng năm tổ chức 2 ngày lễ trọng của đạo là ngày khai đạo 18/5 âm lịch và ngày Đản sinh Đức Huỳnh Giáo chủ 25/11 âm lịch. Đặc biệt, Giáo hội PGHH đã vận động đông đảo tín đồ tự nguyện tham gia có hiệu quả cao trong hoạt động từ thiện – xã hội như: xây mới và sửa chữa cầu nông thôn; sửa chữa và nâng cấp đường bộ; sửa chữa và xây dựng nhà tình thương; quyên góp gạo, tiền để tổ chức cứu trợ cho các vùng bị lũ lụt; ngoài ra còn cấp thuốc Đông, Nam y miễn phí và tham gia hỗ trợ cho những bệnh nhân nghèo đi khám, điều trị bệnh,… Bốn đạo sự trọng tâm là một phương pháp hành đạo có tính liên hoàn, cái này là nguyên nhân thành công của cái kia và ngược lại, do đó kết quả hoạt động từ thiện xã hội là lượng hóa kết quả các đạo sự, mặt khác Bốn đạo sự trọng tâm cũng là phương pháp giáo dục đạo đức trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.

 

Kết quả các mặt quy ra tiền như sau:

Nhiệm kỳ I (1999 – 2004) toàn đạo thực hiện được: 22 tỷ đồng;

Nhiệm kỳ II (2004 – 2009): 197 tỷ đồng;

Nhiệm kỳ III (2009 – 2014): 514 tỷ đồng;

Nhiệm kỳ IV (2014 – 2019): 2.000 tỷ đồng.

Từ đầu nhiệm kỳ V (2019-2021) đến nay: trên 1.200 tỷ đồng (trong đó, tiền ủng hộ quỹ Vaccine phòng chống Covid-19 và hoạt động từ thiện xã hội liên quan đến phòng, chống Covid-19 khoảng 500 tỷ đồng).

Đặc biệt, thời gian qua bà con tín đồ đã nêu cao trách nhiệm công dân sống và hoạt động theo luật pháp, kịp thời đấu tranh với những hoạt động gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; góp phần giữ vững ổn định chính trị, xây dựng xã hội mới theo định hướng: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Khái quát giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức

2. 1. Giáo lý

Giống như các tôn giáo khác, PGHH cũng có những lời giáo huấn, cầu nguyện, tiên tri do Đức thầy truyền dạy, chép thành từng cuốn gọi là Sấm giảng viết theo dạng thơ văn truyền ngôn, giản dị dễ nhớ.

Kinh sách của PGHH bao gồm phần Sấm giảng giáo lý và phần Thi văn giáo lý.

Phần Sấm giảng gồm 6 cuốn:

– Cuốn 1: “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm” được viết theo thể lục bát gồm 912 câu.

– Cuốn 2: “Kệ dân của người khùng” được viết dưới dạng thơ thất ngôn, dài 846 câu.

– Cuốn 3: “Sấm giảng” viết năm 1939, theo thể lục bát, dài 612 câu, trong cuốn này ông dạy người ta phải tu nhân đạo.

– Cuốn 4: “Giác mê tâm kệ” viết năm 1939, thơ 7 chữ, dài 846 câu. Ông bắt đầu đề cập tới các khái niệm Phật giáo như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Ngũ uẩn, Lục căn, Lục trần,… khuyên người đời tu theo Phật giáo, nhưng cốt lòng thành, không câu nệ hình thức, nghi lễ.

– Cuốn 5: “Khuyến thiện” viết năm 1941, văn lục bát, 756 câu, kể chuyện Thích Ca ngộ đạo, luận khổ về tịnh độ, diệt ngã trược, trừ thập ác, hành thập thiện.

– Cuốn 6: “Cách tu hiền và sự ăn ở của người bổn đạo”, được viết năm 1945 dưới dạng văn xuôi. Cuốn này bàn về cách tu của PGHH là tu tại gia, tức là học Phật tu nhân. Lý giải tại sao phải trả tứ ân, luận về tam nghiệp, Thập ác, về Bát chính đạo. Cuốn sách cũng quy định cách thờ phượng, hành lễ, những kiêng kỵ mà một tín đồ PGHH phải tin theo. Cuốn sách là kết quả của một thời kỳ đạo đã hình thành, phát triển, có hệ thống tổ chức, giáo luật.

Phần thi văn giáo lý bao gồm những bài thi văn xướng hoạ được tập hợp lại từ năm 1939 đến 1947, gồm 253 bài văn vần và văn xuôi.

Như vậy, PGHH được coi là đạo Phật không thờ cốt Phật, Sấm giảng giáo lý chủ yếu dựa vào hình thức tín ngưỡng thần bí, vào các câu sấm giảng của Trạng Trình. Giáo lý của PGHH được gói gọn trong 4 chữ: Học Phật tu nhân và cốt lõi của học Phật tu nhân là báo đáp tứ ân:

– Ân tổ tiên, cha mẹ.

– Ân đất nước.

– Ân Tam bảo.

– Ân đồng bào nhân loại.

Sức lôi cuốn của PGHH với tín đồ về phương diện giáo lý chính là ở đó, việc nó nêu cao đạo lý làm người, biểu hiện trước hết ở Tứ ân. Giáo lý PGHH chứa đựng các tư tưởng của Nho, Phật, Lão bởi “Tứ ân” là một hình thức tam giáo mà tính trội thuộc về Nho giáo, thứ đến là Đạo giáo vì dùng phù phép trừ tà chữa bệnh, cuối cùng mới đến là Phật giáo (ân Tam bảo). Theo Phật giáo Hoà Hảo, tu nhân tạo nên công, học Phật tạo nên đức, có công có đức mới trở thành bậc hiền nhân.

2.2. Giáo luật

Cũng như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, PGHH chủ trương giống Phật giáo và niệm Nam Mô A Di Đà Phật (tức niệm lục tự Di Đà). Tín đồ thực hiện 8 điều răn của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, coi đó là giới luật của đạo:

1. Không nên uống rượu, cờ bạc, thuốc phiện, chơi bời, đàng điếm, phải giữ trọng luân lý tam cương, ngũ thường.

2. Không nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chân chất, không nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.

3. Không nên ăn xài chưng diện thái quá và lợi dụng tiền tài mà quên nhân nghĩa đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.

4. Không nên kêu Trời, Phật, thần, thánh mà sai hay nguyền rủa vì thần thánh không can phạm đến ta.

5. Không ăn thịt trâu, bò, chó và sát sinh hại vật mà cúng thần, thánh vì thần thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta vì nếu ta làm tội sẽ chịu tội, còn những hạng ăn đồ cúng mà hết bệnh là tà thần: Nếu ta cúng kiếng mãi thì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

6. Không nên đốt giấy, tiền, vàng, bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy trợ cứu cho những người đói rách, tàn tật.

7. Đứng trước mọi việc gì về sự đời, hay đạo đức, phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.

8. Tóm lại, phải yêu thương lẫn nhau như con một cha, dìu dắt nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ được trọn lành, trọn sáng về nơi cõi Tây phương an dưỡng mà học đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sinh.

Như vậy, những lời khuyên răn trong giáo luật đã phê phán mê tín dị đoan, dùng tà thuật bùa chú chữa bệnh và phê phán việc “hối lộ” thần thánh để chuộc tội. Đây là những tư tưởng tiến bộ của PGHH.

Thủ tục nhập đạo:

Người muốn gia nhập đạo phải tự nguyện, đủ 18 tuổi, có hai người tín đồ cũ tiến cử và bảo lãnh. Phải xin phép cha mẹ mình, phải nguyện trước bàn thờ ông bà, tổ tiên như sau: “kể từ ngày … tháng … năm…, con chịu quy y theo đạo”. Trưởng Ban trị sự cơ sở phát cho cuốn sách “Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo” của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ để hướng dẫn cách thờ phượng, cách hành xử của tín đồ. Tín đồ mới sẽ được giới thiệu với Ban trị sự cơ sở. Sau khi nhập đạo, họ được phát thẻ tín đồ và có trách nhiệm đóng nguyệt liễm, được tham gia các sinh hoạt của đạo… Hai tín đồ giới thiệu có trách nhiệm tiếp tục giúp đỡ người mới nhập đạo. Nếu muốn ra khỏi đạo, thì báo trước cho người tiến cử và Ban trị sự cơ sở để xoá tên trong danh sách. Ngày nay, người muốn vào đạo phải đủ 18 tuổi, tự nguyện viết đơn xin nhập đạo, có hai tín đồ giới thiệu. Đến Ban Trị sự cơ sở ghi danh, học giáo lý, giáo luật và phải xin phép cha mẹ mình về tự nguyện quy y theo đạo.

 Những ngày lễ trọng:

Cho đến nay, Hiến chương Giáo hội PGHH xác định có hai ngày lễ trọng, đó là ngày 18/5 âm lịch là ngày khai đạo PGHH, ngày 25/11 âm lịch là ngày sinh Đức Huỳnh Giáo chủ. Với tín đồ PGHH thì điều đó đã trở thành đức tin bền vững. Vì vậy, vào ngày này dù xa xôi tín đồ cũng cố gắng về thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang để viếng Tổ đình Đức Giáo chủ PGHH và An Hoà tự. Ngoài ra còn một số ngày lễ khác như: ngày 7/3 âm lịch giỗ Đức ông (bố ông Huỳnh Phú Sổ), ngày 26/4 âm lịch giỗ Đức bà (mẹ ông Huỳnh Phú Sổ), ngày 12/8 âm lịch vía Phật Thầy Tây An (giáo chủ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương).

2.3. Lễ nghi

– Đạo kỳ của PGHH màu đỏ đậm (màu dà), chất liệu bằng vải, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, được treo trong khuôn viên chùa PGHH, Trụ sở Ban Trị sự và những điểm làm lễ vào hai ngày lễ trọng của đạo.

– Biểu tượng của PGHH là một hình tròn, nền màu dà có dòng chữ viền: PHẬT GIÁO HÒA HẢO màu vàng và bông sen trắng nở 4 cánh ở giữa.

– Về thờ cúng: Như đã trình bày ở các phần trên, tín đồ PGHH là cư sỹ tại gia, họ không thờ thần thánh nếu không rõ xuất xứ, chú trọng nghi thức hành lễ cá nhân trước bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Phật và bàn thông thiên. Tại các bàn thờ mỗi tín đồ đều có các hoạt động: xá, lạy, nguyện (bài đọc) và niệm Phật. Mỗi gia đình có 3 bàn thờ: Bàn thờ Phật đặt nơi cao nhất chỉ treo tấm vải Trần Dà; bàn thờ tổ tiên đặt dưới bàn thờ Phật; bàn thờ thông thiên thờ ngoài trời ở trước của nhà. Sau này tín đồ thờ ảnh ông Huỳnh Phú Sổ đặt dưới tấm Trần Dà. Người đi làm xa nhà đến giờ cúng hướng về phía Tây nguyện rồi xá 4 hướng hoặc nguyện tưởng trong tâm.

– Về tang lễ: Bắt nguồn từ quan niệm cho rằng, người thân và anh em đồng đạo thông qua cầu nguyện có thể giúp cho vong linh người chết được siêu linh nơi cõi thọ, nên nghi lễ đối với người chết vẫn thực hành theo truyền thống địa phương kèm theo sự cầu nguyện. Trong tang lễ, tín đồ PGHH không sử dụng thầy cúng, không đốt vàng mã. Giáo lý còn khuyên mọi người không nên khóc lóc mà ảnh hưởng đến sự siêu thoát, anh linh của người chết.

– Về ăn chay: Ăn chay theo ngày sóc, ngày vọng hoặc ăn chay trường.

– Về lễ phục: Không quy định, song trong những ngày lễ hoặc cúng tại chùa, tín đồ đều mặc áo đen, khăn đóng đen.

– Về lễ vật thờ cúng: PGHH thờ Phật, nhưng không thờ tượng cốt, tranh ảnh mà thờ Phật bằng tấm vải Trần Dà thay cho tấm vải Trần Điều của Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng cùng một quan niệm là “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ giải thích việc đổi thờ Trần Điều thành Trần Dà như sau: “Từ trước, chúng ta thờ Trần Điều là di tích của Phật thầy Tây An để lại. Nhưng gần đây có những kẻ sai phép, sai với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong đạo đổi lại mầu Dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các Sư dùng mầu Dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và mầu ấy là mầu kết hợp của tất cả các mầu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hoà hiệp của nhân loại, không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật”.

Đồ thờ cúng Phật, cúng trời đất ở bàn thờ thông thiên thường có nước lạnh, hoa, hương và được giải thích như sau:

+ Nước lạnh thể hiện sự trong sạch.

+ Hoa thể hiện sự tinh thiết.

+ Hương thơm xua đuổi tà khí.

Lễ vật cúng ông bà, tổ tiên là đồ chay hoặc mặn. Không dùng vàng mã trong cúng giỗ, họ cho rằng đó là điều giả tạo, lãng phí không cần thiết.

PGHH quy định không lạy người lúc sống, trừ ông bà, cha mẹ. Thông thường, khi tín đồ làm lễ cầm hương vái 3 vái rồi quỳ xuống khấn theo bài quy định, sau đó cầm hương đứng thẳng, chắp tay trước ngực, tiếp tục khấn lời khấn theo quy định của PGHH. Kết thúc việc lễ, tín đồ lạy 4 lạy. Khi làm lễ ở bàn thờ thông thiên, lần lượt vái cả 4 hướng.

– Về cúng giỗ: Ông Huỳnh Phú Sổ khuyên tín đồ không làm giỗ linh đình tốn kém, vì thánh thần, người chết không ăn được những thứ đó và không dùng vàng mã khi cúng giỗ.

– Nơi thờ tự: Nơi thờ tự của PGHH được đặt tại gia đình, tại Tổ đình Đức Giáo chủ và tại chùa của PGHH.

2.4. Tổ chức

Sau khi được công nhận tổ chức (1999) đến nay, tại Điều 4 của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo nhiệm kỳ V (2019-2024) quy định hệ thống tổ chức của Giáo hội PGHH gồm 2 cấp hành chính đạo:

“- Cấp toàn đạo gọi là Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH.

– Cấp cơ sở gọi là Ban Trị sự Giáo hội PGHH xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).

– Tại những tỉnh, thành phố có đông tín đồ PGHH lập Ban Đại diện PGHH tỉnh, thành phố.

– Ban Trị sự các cấp có tư cách pháp nhân, có con dấu tròn để sử dụng và được đăng ký tài khoản ở ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước, Ban Đại diện tỉnh, thành phố và các ban chuyên ngành, văn phòng (trực thuộc Ban Trị sự Trung ương) có con dấu sử dụng lưu hành nội bộ theo quy định của pháp luật.

Giúp việc cho Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH và nối liên hệ với cơ sở, tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Ban Đại diện PGHH tỉnh, thành phố do Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH bổ nhiệm”./.

 

Theo BAN TÔN GIÁO CHINH PHỦ

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6129/feed 0