admin – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sun, 08 Aug 2021 12:06:43 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.17 Bí ẩn màu sắc trong văn hóa truyền thống (P.1): Ngũ đức và ngũ sắc liên quan tới hưng vong của triều đại. https://thuonghylenien.org/luu-tru/4432 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4432#respond Sun, 08 Aug 2021 12:06:37 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4432 Bí ẩn màu sắc trong văn hóa truyền thống (P.1): Ngũ đức và ngũ sắc liên quan tới hưng vong của triều đại.

Thế giới của chúng ta là một thế giới đa sắc. Các quốc gia, dân tộc khác nhau đều có những màu sắc truyền thống và nét đặc sắc của riêng mình. Những gam màu này không chỉ mang đến cho người nhìn cảm thụ thị giác bề mặt, mà nó còn truyền tải nội hàm lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới…

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh xã hội hiện đại hóa ngày nay, truyền thống chân chính so với “truyền thống” trong nhận thức phổ biến của đại chúng có vẻ tương đồng, nhưng cũng có những bất đồng, thậm chí có nhiều khác biệt rất lớn. Vì màu sắc truyền thống ở các nơi rất phong phú và đa dạng, chủng loại bàng tạp nên khó có thể diễn tả hết trong một bài viết, bởi thế tác giả bài viết này chỉ nhắm vào một vài ví dụ về các loại màu sắc mà bạn đọc quen thuộc hơn, từ đó cùng các bạn khám phá những bí ẩn của thế giới màu sắc.

Mối liên hệ giữa ngũ đức và ngũ sắc

Trong lý niệm của người Trung Quốc hiện đại, khi nói về màu sắc truyền thống, nhiều người, không hẹn mà gặp, có thể nghĩ ngay đến màu đỏ. Không ít người nghĩ rằng màu đỏ là màu của lễ hội: khi kết hôn, người ta sẽ trang trí đại lượng sắc đỏ trong phòng ốc, cô dâu chú rể mặc áo cưới màu đỏ; trong dịp năm mới, người ta sẽ viết những câu đối Tết trên giấy đỏ; tất cả các loại lễ hội, lễ kỷ niệm đều quen sử dụng màu đỏ làm chủ đạo… đó là chưa nói đến những tuyên truyền của ‘chế độ đỏ’ về cái gọi là “Trung Quốc Đỏ” vì những lý do chính trị. Trong suy nghĩ của nhiều người, màu đỏ dường như mang một nội hàm cực kỳ chính diện, người ta thực sự nghĩ rằng màu đỏ tươi chói lọi chính là biểu tượng truyền thống của đại cát đại lợi!…

Một đám cưới truyền thống của Trung Quốc sử dụng màu đỏ làm chủ đạo (Ảnh: Shutterstock).

Tuy nhiên, nếu bạn nghiên cứu văn hóa Trung Quốc cổ đại, bạn có thể phát hiện ra rằng, trong số ba tôn giáo truyền thống của Trung Quốc, bất luận là Nho giáo trung chính bình hòa, Đạo giáo thanh tịnh vô vi, hay là Phật giáo tứ đại giai không, đều không dung hợp với thứ kích thích thị giác cực độ của màu đỏ tươi ‘hiện đại’ này. Thời Trung Quốc cổ đại, tông màu sắc các triều đại khác nhau hoặc là trang nghiêm, hoặc là bình hòa, hoặc là giản dị, hoặc là tao nhã… nhưng đều không quá chói lói và kích thích mắt. Tính cách hướng nội của người Trung Quốc so với sự phô trương đến hoa mắt của màu đỏ tươi là hoàn toàn tương phản, nó khác biệt một trời một vực.

Vậy, màu sắc truyền thống của Trung Quốc là màu gì?

Ở đây chúng ta trước tiên cần tìm hiểu một học thuyết rất nổi tiếng do Trâu Diễn – bậc thầy về âm dương thời Chiến Quốc – đề xuất trên cơ sở thuyết Ngũ Hành, gọi là “Ngũ đức chung sử thuyết”. Tuy nhiên, bất chấp tầm ảnh hưởng to lớn của nó trong lịch sử, ngày nay nhiều người có thể vẫn chưa từng nghe về học thuyết này, bởi vì đại lượng văn hóa truyền thống ở Trung Quốc, trong vài thập kỷ qua, đã bị ĐCSTQ coi là “tàn dư phong kiến” và “cặn bã”, dẫn đến không ít những điều căn bản đã bị bỏ rơi.

“Ngũ đức” trong “Ngũ đức chung sử thuyết” dùng để chỉ 5 loại đức tính đại diện cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tương ứng là Kim đức, Mộc đức, Thủy đức, Hỏa đức, Thổ đức. Mà “chung sử” (kết và khởi) chính là biểu thị ý nghĩa “ngũ đức” vận chuyển tuần hoàn lặp đi lặp lại. Điều nổi tiếng nhất của học thuyết này là nó đã giải thích được sự luân hồi của các triều đại từ giác độ của Ngũ Hành tương sinh, tương khắc và có ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế.

Ngũ Hành (Nguồn: Wikipedia)

Theo như học thuyết này của Trâu Diễn, lý do tại sao một triều đại có thể thống trị thiên hạ, là vì họ đạt đến một đức trong số năm ngũ đức mà Thiên thượng ban cho. Nhà thống trị nhờ đức này mà thụ mệnh Trời ban, nhờ đó mới có thể thành tựu Thiên tử. Nhưng khi đức của họ dần dần suy yếu, vương triều này sẽ ngày càng khó tiếp tục duy trì được sự thống trị của mình, lúc này vương triều có một đức trong trình tự ngũ đức kế tiếp sẽ xuất hiện, thay thế cựu triều mà đức hạnh đã suy yếu.

Để dẫn chứng một ví dụ cụ thể, Trâu Diễn tin rằng: “Ngũ đức bất khả chiến bại, nhà Ngu là Thổ, nhà Hạ là Mộc, nhà Ân là Kim, nhà Chu là Hỏa” (Theo: “Chiêu minh văn tuyển” – Lý Thiện chú dẫn), từ đó chiểu theo ngũ hành sinh khắc mà giảng: Mộc khắc Thổ, Kim khắc Mộc, Hỏa khắc Kim, do đó mà triều đại mới sẽ thay thế triều đại trước đó. Cho tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất tất cả các nước chư hầu, chính là lấy Thủy đức mà làm vua của thiên hạ. Theo lý luận của Trâu Diễn, nhà Chu là Hỏa đức, vì vậy đến triều Tần, chính là Thủy khắc Hỏa vậy.

Tuần hoàn theo sự phát triển của lịch sử, sau đó lại xuất hiện thuyết ngũ hành tương sinh để thừa thụ triều đại trước, tiếp sau này liền có các thuyết biến thể khác nhau được thiết lập dựa trên cơ sở lý luận tương sinh tương khắc… Vì không liên quan đến trọng tâm của bài viết này nên chúng ta không nói thêm.

“Ngũ đức chung sử thuyết” đã được lịch sử thừa nhận rộng rãi. Từ thời Tần, Hán đến thời Tống, Liêu và Tấn, quan viên của các triều đại đều thảo luận chính thức nhằm xác định vận đức của họ và bộc bạch cho thiên hạ. Sở dĩ như vậy là vì, dù cho thế lực nào đó có thể dùng vũ lực cường đại để lật đổ triều đại trước, nhưng nếu họ không chứng minh được mình có đủ tính đức cần có để chính thống thụ mệnh Trời ban làm vua thiên hạ, thì khó mà khiến dân tin phục, và không thể trường tồn; vì vậy, đó cũng là căn cứ lý luận cơ bản để một triều đại giải thích sự thống trị hợp pháp của họ. Các quan viên triều Nguyên, Minh, Thanh tuy không chính thức tuyên cáo họ thuộc đức tính nào, nhưng các vị hoàng đế từ triều Minh đều tự xưng là “Phụng Thiên Thừa Vận Hoàng Đế”, cũng chính là xuất phát từ tư tưởng này.

Các triều đại khác nhau đối ứng với các đức tính khác nhau trong ngũ đức, và ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong văn hóa truyền thống đối ứng với năm màu: trắng, xanh, đen, đỏ và vàng. Do đó, các triều đại khác nhau cũng tôn sùng màu sắc khác nhau. Như đã đề cập trước đó, nhà Tần diệt nhà Chu, tin rằng đó là thuận ứng thiên đạo, dùng Thủy khắc Hỏa, mà Thủy đối ứng với màu đen; Tần triều tôn sùng màu đen, nên hoàng đế nhà Tần dùng sắc đen trong trang phục triều đình. “Sử ký: Tần Thủy Hoàng bổn ký” cũng xác nhận điểm này: “Thủy hoàng suy chung sử ngũ đức chi truyền, dĩ vi Chu đắc Hỏa đức, Tần đại Chu đức, chúng sở bất thắng. Phương lệnh Thủy đức chi thủy, cải niên thủy, triều hạ giai kỷ thập nguyệt sóc, Y phục mao tinh tiết kỳ giai thượng hắc” (Ý tứ là: Hoàng đế khởi thủy dùng chung sử ngũ đức mà truyền, vì nhà Chu là Hỏa đức, nên Tần triều [Thủy đức] bất khả chiến bại Chu đức. Từ nay khởi đầu Thủy đức, khởi đầu niên đại mới, triều đại bắt đầu từ mùng một tháng mười. Y phục, cờ xí đều màu đen).

Tần Thuỷ Hoàng sử dụng sắc đen trong trang phục triều đình. (Nguồn: Wikipedia)

Cũng giống như vậy, Đường Huyền Tông Lý Long Cơ đã viết trong “Phong thái sơn ngọc điệp văn”: “Thiên khải Lý thị, vận hưng Thổ đức”, từ đó có thể thấy rằng nhà Đường là Thổ đức; vì vậy, nhà Đường sùng thượng sắc vàng. Tuy nhiên, sùng thượng sắc vàng không có nghĩa là tất cả mọi người đều có thể mặc y phục màu vàng. Ngược lại, màu vàng trở thành màu sắc chỉ được chuyên dụng trong hoàng thất, dân gian không được phép mặc nó.

Màu vàng trở thành màu sắc chỉ được chuyên dụng trong hoàng thất nhà Đường (Tranh chân dung Đường Thái Tông – Nguồn: Wikipedia).

Trong triều đại sùng thượng Hỏa đức, màu sắc phục sức có sắc đỏ, nhưng do đặc điểm kỹ thuật nhuộm cổ Trung Hoa và việc bài trừ các màu sắc chói mắt, nên màu đỏ thời xưa hoàn toàn khác với màu đỏ chói lọi, tức mắt ngày nay. Nói một cách chính xác, các màu có sắc đỏ như giáng, xích, chu, đan, hồng, phi, thiến v.v… trong cổ ngữ đều là những màu khác nhau, màu đỏ truyền thống thâm và dịu hơn, điều này tương đối dễ chấp nhận đối với mọi người. Lấy cung điện của triều đình nhà Minh và nhà Thanh làm ví dụ, màu đỏ chu sa trên tường cung điện thực sự là màu pha giữa đỏ, cam và xám hơn, không phải màu đỏ chói giống thời hiện đại. Đồng thời, nếu triều đình sùng thượng màu đỏ của Hỏa đức, thì có nghĩa là không phải ai cũng có thể tùy tiện sử dụng. Thử tưởng tượng, người dân bình thường sao có thể mặc quần áo cùng màu với hoàng đế? Vì vậy so với các triều đại khác, màu sắc này sẽ càng bị hạn chế nhiều hơn.

Ví dụ, mặc dù quan viên nhà Minh không chính thức công bố thuộc tính đức vận chính thức của họ trước thiên hạ, nhưng nhiều tài liệu chính thức cũng đề cập rằng: nhà Minh là lấy Hỏa đức mà lập triều. Lưu Trần, quan đại thần đầu triều Minh, trong “Quốc sơ sự tích”, đã phát biểu minh xác như sau: “Thái Tổ dĩ Hỏa đức vương, sắc sùng xích”. Minh triều sùng thượng xích (màu đỏ) trong Hỏa đức, do đó dân thường không được lạm dụng. Màu đỏ được chia thành nhiều dòng đỏ khác nhau tùy theo sự khác biệt về sắc, và có quy định chi tiết về các dịp và thứ hạng được sử dụng. Dân gian bị cấm sử dụng màu đỏ đậm, bình dân phổ thông muốn dùng màu đỏ chỉ có thể dùng màu nhạt hơn như hồng đào, chỉ trong một số nghi lễ lớn mới được nới lỏng các hạn chế về màu sắc theo tình huống.
[Còn tiếp…]

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4432/feed 0
Tinh hoa dưỡng sinh của Hải Thượng Lãn Ông: Dưỡng tâm là đệ nhất. https://thuonghylenien.org/luu-tru/4430 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4430#respond Fri, 06 Aug 2021 02:41:31 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4430 Tinh hoa dưỡng sinh của Hải Thượng Lãn Ông: Dưỡng tâm là đệ nhất.

Những tác phẩm ông để lại chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất thời trung đại Việt Nam. Phép dưỡng sinh của Hải Thượng Lãn Ông có vẻ đơn giản nhưng lại toàn diện và sâu sắc, đáng tiếc là không được nhiều người đương thời biết đến.

Ông nói:

Đời xưa các bậc thánh tri
Chữa khi chưa bệnh có gì khó khăn
Đau rồi tiếc của thương thân
Khác gì khi loạn thấy cần đúc gươm

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Từ một góc độ nào đó, dưỡng sinh có tác dụng phòng bệnh. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, đó là đạo lý muôn đời nay.

Phép dưỡng sinh của Hải Thượng Lãn Ông kỳ thực đơn giản mà lại không đơn giản. Đơn giản ở chỗ có thể chỉ gói gọn trong vài câu thơ. Nhưng để tâm lĩnh thần hội và thực hành theo lại là điều không hề đơn giản:

Dưỡng sinh theo phép Chân Nhân

Nhiếp sinh phép có từ xưa
Âm dương thời tiết bốn mùa thuận theo
Tu thân dưỡng tính đôi chiều
Điều hòa thuật số bấy nhiêu phép mà

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Đoạn thơ súc tích đã nói lên bí mật của phép dưỡng sinh, đó là tuân theo phép tắc của Đạo gia, của các bậc Chân Nhân: Tu thân dưỡng tính, thuận theo tự nhiên – Âm dương thời tiết bốn mùa và điều hòa theo thuật số – vốn là cương kỷ của phép dưỡng sinh.

Khoa học phát hiện ra kết cấu não bộ của người giống như kết cấu của các tinh hệ. Đạo gia xưa cũng giảng con người là tiểu vũ trụ, do đó cũng phải tuân theo đặc tính tự nhiên của vũ trụ thì mới có thể ‘vận hành’ bình ổn.

Dưỡng tâm đặt lên hàng đầu

Hải Thượng Lãn Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố tinh thần trong phép dưỡng sinh, điều vốn đã chìm vào quên lãng từ bao lâu nay:

Muốn cho chân khí điều hòa
Sửa mình trong sạch hư vô trong lòng
Tinh thần giữ vững ở trong
Bệnh nào xâm được chẳng phòng cũng an

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Sách Linh Khu cũng khẳng định: “Một mình tà khí không thể làm hại người ta được, phải là người hư yếu thì tà khí mới ập vào được. Tư tưởng ổn định, yên tĩnh thì tinh khí sẽ cố thủ được ở trong, cho nên hư tà không thể làm hại được”.

Khi tâm sạch thanh tịnh, không còn ham muốn đòi hỏi, chẳng tranh chẳng đấu, sống ung dung tự tại thì tự nhiên tà (bệnh tật) sẽ không dám xâm hại, đây cũng chính là trọng điểm dưỡng sinh của Đạo gia. Người làm được như vậy xưa gọi là Chân Nhân:

Noi xưa ăn ở thật thà
Chẳng vì danh lợi bôn ba nhọc lòng

Chí nhân, lòng chẳng muốn tham
Có gì lo sợ tà xâm hại minh
Mọi điều vừa phải thì thôi
Muốn gì cũng được chẳng đòi hỏi hơn
Ăn thường mà vẫn thấy ngon
Mặc gì cũng đẹp vui quen với đời
Chẳng hề tranh cạnh đua đòi
Mọi người chất phác chẳng nài dưới trên
Mắt trông chẳng muốn chẳng thèm
Dâm tà đâu dễ quấy phiền lòng ta

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Nếu làm được như vậy thì:

Bất kỳ kẻ khéo người ngu
Ai mà biết giữ chẳng lo sợ gì
Trăm năm động tác chẳng suy
Dưỡng sinh trọn đạo chẳng nguy chút nào

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Trong vô số những bài thuốc, những kinh nghiệm đúc kết, những lý luận để lại cho đời của Hải Thượng Lãn Ông, có lẽ phép dưỡng sinh là thứ có giá trị hơn cả. Trong đó phép dưỡng tâm được đặt lên hàng thứ nhất, là nét tinh túy nhất trong đạo dưỡng sinh của Đông Y nói riêng và của Đạo gia nói chung.

Chẳng vậy mà:

Lo sầu vì bệnh giàu sang
Vui nghèo khoẻ mạnh hiên ngang trong lòng
Thảnh thơi ở chốn núi rừng
Cuộc đời thanh bạch mà thường sống lâu
Hơn người quyền quý công hầu
Nhàn cư tửu sắc phần nhiều chết non
Mặc dù đạo dẫn, tiên đan
Đâu bằng hai chữ Thanh tâm là cùng

(Vệ sinh yếu quyết ca – Hải Thượng Lãn Ông)

Người xưa vì để tu dưỡng tâm tính, thanh tâm quả dục mà rời xa vòng danh lợi, sống ẩn cư nơi rừng núi bầu bạn với thiên nhiên. Xã hội ngày nay phóng túc dục vọng, ngày càng phức tạp, con người trong xã hội muốn dưỡng tâm, đạt được thanh tâm quả thực khó khăn muôn trùng.

Người ngày nay đủ các loại bệnh, có những bệnh không hề thấy trong xã hội xưa. Tại sao? Nếu theo các danh y xưa, thì ngoài các yếu tố ngoại cảnh như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm và nước… thì vấn đề ở tự thân là số 1, trong tâm quá nhiều ham muốn, tâm bất an mà sinh bệnh trên thân. Có uống thuốc bổ thế nào, y học hiện đại ra sao cũng không giải được vấn đề này. Yoga, thiền định, khí công chỉ là phương pháp hỗ trợ, thiết yếu nhất chỉ có tịnh tâm cho chính thì mới vượt được khí tà, mới qua được bạo bệnh.

Đại Hải (tổng hợp)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4430/feed 0
Hạnh phúc là điều có thật – Tác giả Nguyễn Minh Tiến https://thuonghylenien.org/luu-tru/4428 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4428#respond Mon, 02 Aug 2021 07:36:26 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4428

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4428/feed 0
Sức khỏe và tiền bạc cái nào quan trọng hơn? https://thuonghylenien.org/luu-tru/4425 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4425#respond Mon, 02 Aug 2021 07:29:42 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4425 Sức khỏe và tiền bạc cái nào quan trọng hơn?

Trong một buổi phỏng vấn, khi được hỏi điều gì gây ngạc nhiên nhất cho nhân loại, Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời:

“Con người, chúng ta hy sinh sức khỏe để kiếm tiền. Sau đó lại dùng tiền để phục hồi sức khỏe. Và rồi, chúng ta lo lắng cho tương lai và chán ghét hiện tại, chúng ta sống như thể sẽ không bao giờ chết và sau đó lại chết như chưa từng sống thực sự”.

Sức khỏe và tiền bạc

Điều này chúng ta đã quá quen thuộc, nhưng lại không thể không nhắc tới. Sức khỏe là ưu tiên số 1, những thứ khác là chỉ là thứ yếu. Đạo lý này ai cũng hiểu nhưng lại chẳng mấy ai có thể làm được.

Nửa đời trước chúng ta không tiếc sức khỏe để đổi lấy tiền bạc, nửa đời sau lại dùng tiền bạc để đổi lại sức khỏe. Vì theo đuổi thứ gọi là thành công mà sẵn sàng lao vào những cuộc nhậu thâu đêm suốt sáng, hay làm việc đêm hôm trường kỳ chẳng quản tới giờ giấc.

Điều ấy đã khiến không ít người chưa già mà sức đã tàn, lực đã kiệt, bệnh tật đầy thân.

Tới khi già ốm, bệnh nọ tật kia lại không tiếc tiền mua những đồ bổ, của ngon vật lạ, “thần dược” này nọ để giữ gìn sức khỏe. Đây cũng là chuyện thường tình của nhiều người.

Nhưng cuối cùng sẽ có một ngày chúng ta phát hiện ra rằng sức khỏe được duy trì nhờ thuốc bổ không thể khỏe mạnh, tráng kiện như tạo hóa ban cho. Sinh mệnh được kéo dài dựa vào máy móc và thuốc thang không hề dẻo dai và giúp chúng ta thảnh thơi hưởng thụ những giây phút hạnh phúc trong cuộc đời.

Đương nhiên chúng ta cần nỗ lực làm tốt trách nhiệm của mình trong công việc, trong gia đình, ngoài xã hội. Nhưng đồng thời chúng ta cũng cần phải khắc ghi một điểm là: “Biết điểm dừng”.

Chúng ta có thể cố hết sức nhưng đừng vắt kiệt sinh mệnh trân quý của mình để đánh đổi lấy những thứ hư vinh như mây bay trong những năm tháng cuộc đời. Con người không có sức khỏe, tiền tài danh lợi cũng chẳng ý nghĩa gì. Sức khỏe là cách mạng của tiền tài, không cần biết có tiền hay không có tiền, đều phải dùng vào việc chăm lo cho sức khỏe bản thân trước. Có sức khỏe rồi thì mới ăn ngon ngủ yên, mới biết quý trọng cuộc sống.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4425/feed 0
20 khám phá giúp bạn thức tỉnh vượt qua đại dịch. https://thuonghylenien.org/luu-tru/4423 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4423#respond Mon, 02 Aug 2021 07:24:04 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4423 20 khám phá giúp bạn thức tỉnh vượt qua đại dịch.

Cuộc sống của mọi người trên toàn thế giới đang bị đảo lộn hoàn toàn do đại dịch Covid-19 bùng phát toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Mời quý vị thao khảo 20 khám phá giúp bạn thức tỉnh vượt qua đại dịch biến thể Covid-19 từ GS John Vu – Nguyên Phong sẽ giúp quý vị hiểu được quy luật nhân quả và góp phần cùng cả xã hội vượt qua đại dịch Covid-19.

20 khám phá giúp bạn thức tỉnh vượt qua đại dịch

GS John Vu – Nguyên Phong.

  1. Tất cả những gì hướng ra bên ngoài đều không mang lại kết quả lâu dài, bởi vì hiểu biết thật sự phải đến từ bên trong.
  2. Hướng đến tâm linh là hướng đến sự hiểu biết mang tính minh triết, là phạm trù của yêu thương và sáng tạo vượt ra khỏi điều kiện giới hạn vật lý của thời gian và không gian. Người ta chỉ có thể thức tỉnh và phát triển được tâm linh khi tâm thức hướng ngoại được xoay chiều quay vào bên trong. Đây là giải pháp quan trọng và rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
  3. Bất cứ ai một khi đã gây nhân ắt sẽ có quả nhưng khi nào nhân trổ quả thì còn tùy thuộc vào lực chiêu cảm, hành vi tiếp theo và công đức của mỗi người. Chính vì vậy, số phận con người không bao giờ cố định mà luôn luôn thay đổi tùy theo tâm thức và sự thức tỉnh của người đó. Khi con người có thêm hiểu biết, có nhận thức mới và quyết tâm thay đổi từ tâm thức, thay đổi suy nghĩ, lời nói và hành động, thì khi đó con người mới có thể cải biến được số mệnh.
  4. Từ chối làm một việc ác cũng chính là thực hiện một việc thiện lành. Khi con người nhận thức được cái gì là xấu thì cũng là lúc họ biết thế nào là đẹp. Khi tri thức nhân loại ngừng hướng đến những dục vọng ích kỷ, thấp hèn thì sẽ hướng đến những điều thiêng liêng, cao quý. Khi đó tri thức nhân loại sẽ xoay chiều, chuyển hướng vào bên trong, hòa hợp với tâm linh, đem lại sự toàn diện cho tâm thức.
  5. Khi tâm thức thay đổi, mọi sự sẽ thay đổi. Nếu chúng ta có thể cùng nhau chuyển hóa những tư tưởng thù hận, tham lam, ích kỷ bằng những tư tưởng cao thượng, tốt lành, chuyển hóa các hành động ác, giết chóc bằng tình yêu thương rộng lớn thì tất cả mọi việc đều có thể thay đổi. Một khi mỗi cá nhân có thể sửa đổi nghiệp quả của mình bằng cách làm việc thiện lành thì một tổ chức hay một quốc gia cũng có thể làm như vậy để chuyển nghiệp và có sự thay đổi tốt đẹp hơn.
  6. Thế giới này có lẽ sẽ không trở về như xưa được nữa. Những lá phổi của hành tinh này đang bị hủy hoại, dịch bệnh chết người kỳ lạ đang lan rộng, biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn và nguy cơ chiến tranh lại chực chờ với những mâu thuẫn ngầm nhiều năm sắp bùng phát…
  7. Chúng ta đang chứng kiến một thời điểm lạ thường của thế giới, khi quy luật vũ trụ và tự nhiên đang xoay vần ở phạm vi rộng lớn, bao hàm mọi thứ trong vòng tròn nhân quả. Nếu chúng ta không biết ngọn nguồn của những tai ương mà thế giới đang đối mặt thì không thể làm gì để thay đổi nó. Ngạn ngữ cổ có câu: “Tất cả tai họa đều bắt nguồn từ chính suy nghĩ và hành động của chúng ta”.
  8. Sự truy cứu đến cùng của luật Nhân – Quả đối với những hành động bất lương của con người là tất yếu sẽ xảy ra. Có những người từng uy quyền, giàu sang nhưng giờ đã trắng tay, thậm chí có người còn rơi vào vòng lao lý. Ngẫm lại thì họ đều từng sử dụng thủ đoạn hại người, chiếm đoạt, lừa gạt nhằm mưu lợi cho mình. Luật Nhân – Quả của Vũ Trụ luôn vận hành chính xác và nghiêm minh.
  9. Không phải cứ mặc sức làm điều độc ác, hại người, lợi mình, rồi sau đó vì sợ trừng phạt của luật Nhân – Quả nên vội vàng bỏ tiền bỏ của ra làm những việc công đức nặng tính hình thức là có thể xóa đi nghiệp ác hay báo ứng được. Nếu không có sự xuất phát từ suy nghĩ, hành động thiện tâm thì không một ai trên đời có thể thay đổi được nghiệp quả.
  10. Giúp người, bố thì, làm việc thiện không nên là hành vi nhất thời để mong cứu vãn nghiệp họa nào đó cho bản thân. Đó phải là sự giác ngộ, thức tỉnh sâu sắc trong tâm hồn để chuyển hóa thành hành vi thiện nguyện từ tâm. Chúng ta làm điều tốt vì điều đó tốt đẹp chứ không phải vì danh hay mong muốn nhận lại được điều gì đó tốt cho bản thân. Từ đó, nghiệp và số mệnh mới có thể chuyển biến.
  11. Nếu con người sống hòa thuận với thiên nhiên, không còn giết chóc, bỏ thói tham lam, tiêu trừ sự ích kỷ, thói kiêu căng thì có thể tạo ra các năng lượng chuyển hóa lan tỏa mạnh mẽ. Các dịch bệnh tai ương hiện nay chính là những dấu hiệu cảnh cáo nhân loại rằng đã đến lúc phải thay đổi. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần nhận thức được đây là cộng nghiệp chung của nhân loại và chúng ta đều là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Hãy bắt đầu bằng cách thay đổi chính mình.
  12. Con người giống như một cỗ máy vận hành năng lượng bằng tư tưởng, lời nói và hành động. Khi suy nghĩ, nói ra điều gì, hay làm gì ta đều phát ra một luồng năng lượng vào không gian, nó va chạm với các năng lượng khác, làm mất đi sự cân bằng vốn có. Do đó Vũ Trụ tự động phản ứng ngược lại để tái lập lại sự cân bằng. Nói một cách khác, tư tưởng, lời nói, hay hành động của ta cũng đều là những năng lượng – đó là Nhân gây mất cân bằng nên sẽ gặp phản lực ngược lại – đó chính là Quả.
  13. Nhân quả trong Vũ Trụ vô cùng phức tạp. May cũng như rủi, tốt cũng như xấu, đều nối kết với nhau, được cái này thì mất cái khác. Do đó, càng ham muốn nhiều thì người ta càng đau khổ nhiều.
  14. Nghiệp quả của bất kỳ một ai dù nặng đến đâu vẫn có thể được giảm bớt nhờ sự hiểu biết, thức tỉnh và phát triển tình thương. Khi chúng ta bắt đầu hành thiện thì sẽ tạo ra những động lực mới, thay đổi nghiệp lực cũ, cải thiện số phận của chính mình.
  15. Tất cả sự gặp gỡ trong đời của chúng ta đều do nhân duyên, được thu xếp từ trước qua luật Nhân – Quả. Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đều chứa những bài học mà con người cần phải học, vì người ta gặp nhau là để học hỏi lẫn nhau. Có khi là bài học về hạnh phúc, có khi là bài học về sự đau khổ. Có khi gặp nhau để trả nợ, có khi gặp nhau để nối lại duyên xưa. Qua những bài học này, con người sẽ học những bài học cần thiết cho mình, biết đâu là điều cần làm để thay đổi, để chuyển hóa, để phát triển lên mức độ hiểu biết cao hơn.
  16. Dù là một người bình thường hay một nhân vật lừng danh, chúng ta từ khi sinh ra cho đến hiện tại đều mang theo mình đủ mầm thiện, ác đan xen. Và chính bản thân chúng ta sẽ là người quyết định hạt mầm nào được đâm chồi nảy lộc, đơm hoa, kết trái. Chính suy nghĩ và hành động của chúng ta – chứ không phải của bất kỳ ai khác – tạo nên số phận của chúng ta.
  17. Trong cuộc đời mỗi con người, đôi khỉ chỉ cần chúng ta dám đặt câu hỏi và dám đi tìm tận cùng câu trả lời, thì chúng ta sẽ bước vào một hành trình khám phá có thể làm thay đổi hoàn toàn nhận thức và ý nghĩa cuộc sống. Vì cuộc sống chính là hành trình trải nghiệm, học hỏi không ngừng, bất tận. Mỗi một giờ khắc trôi qua, thế giới lại sản sinh ra hàng triệu điều mới mẻ. Những ai ngừng học hỏi, khám phá sẽ đi đến sự thiếu hiểu biết, bảo thủ, định kiến, lỗi thời.

(Theo Soha)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4423/feed 0
Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học https://thuonghylenien.org/luu-tru/4421 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4421#respond Mon, 02 Aug 2021 07:19:25 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4421 Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học.

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học trong mùa dịch bệnh Covid-19 .

TS.BS. Lê Thanh Hải.

 

Hơn 1 năm qua, nhân loại đang hứng chịu đại dịch COVID-19 khủng khiếp. Nước Việt Nam, đặc biệt là Tp. Hồ Chí Minh cũng đang chìm trong đại dịch với số ca nhiễm tăng cao chưa từng có; cuộc sống của người dân trên toàn cầu bị đảo lộn chưa từng thấy; khủng hoảng kinh tế xã hội, sức khỏe là hiện hữu và chưa lường hết hậu quả thảm khốc về sau. Cuộc sống của từng người chịu sự thay đổi một cách sâu sắc: sống chậm lại thay vì sống vội vàng như trước; nhu cầu và thụ hưởng cá nhân trở nên đơn giản hơn, dễ chấp nhận hơn, vị tha hơn…

Trong khủng hoảng mùa dịch, ai cũng chăm lo sức khỏe và hệ miễn dịch của mình hơn. Trước đây chúng ta thường xem nhẹ những khuyến cáo về sức khỏe; mà lao vào cố gắng sỡ hữu nhà cửa và ô tô bằng mọi giá; cứ theo đuổi và thể hiện đẳng cấp qua các mối quan hệ với “người sang”; các buổi vui chơi, tiệc tùng linh đình, hoang phí, thừa mứa thực phẩm và bia rượu, các thú hoang dã quý hiếm trên bàn tiệc…; xem thường và tàn phá môi trường thiên nhiên, bê – tông hóa… gây ra hiệu ứng nhà kính; cứ cố gắng tậu thật nhiều sản phẩm công nghệ như là “chiến tích” cho bằng bạn bằng bè, cứ nằm ì ra trên một chiếc giường và điều khiển cả thế gian này qua các thiết bị thông minh…

Những ngày cách ly xã hội, nhiều thời gian ở nhà, đôi khi chúng ta cũng nghĩ về quá khứ; suy nghĩ và tự vấn mình về các mối quan hệ; về hành vi và công việc hàng ngày; về cái gọi là “tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục”… Có gì đó làm chúng ta giật mình suy nghĩ về vai trò con người trong đại dịch COVID-19, về sự coi thường sức khỏe của mỗi một chúng ta như là “gieo Nhân” và tự chuốc lấy “hái Quả” trong thế giới ồn ào xô bồ này. Phải chăng dịch giã cũng là do chúng ta góp phần gây nên? Phải chăng đây là hiện hữu của “Luật Nhân Quả” mà con người phải gánh lấy một phần trách nhiệm?

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học

Luật Nhân Quả cho chúng ta nhiều bài học để nhanh chóng điều chỉnh tích cực sức khỏe, hành vi lối sống…

Vào mùa Phật Đản, nghĩ đến “Luật Nhân Quả” trong Phật giáo. Luật Nhân Quả cho chúng ta những bài học để nhanh chóng “điều chỉnh tích cực” sức khỏe, hành vi lối sống trước khi quá muộn. Bài viết không có tham vọng đi sâu vào giải thích tính chính xác, triết lý của “Luật Nhân Quả” siêu nhiên, mà chỉ tập trung giải thích nó dưới lăng kính y học ở nhiều góc độ khác nhau trong cuộc sống, qua một số bằng chứng nghiên cứu khá thuyết phục.

Luật Nhân Quả hay Luật Nghiệp Báo xuất phát từ Phật giáo. Nghiệp là Nhân và Báo là Quả. Nghiệp và Quả Báo tạo thành Luật Nhân Quả. Nếu tạo Nhân hay Nghiệp tốt thì sẽ trổ Quả tốt, còn ngược lại nếu gieo Nhân xấu thì sớm hay muộn gì cũng nhận Quả xấu. Luật Nhân Quả như một vòng tròn lặp lại không bao giờ chấm dứt, vì chúng ta cứ tạo Nhân rồi trả Quả. Trong việc trả Quả lại tiếp tục tạo Nhân mới và Nhân Quả cứ như thế mà thành vòng luân hồi.

Trong cuộc sống, nếu hành động và lời nói ác (Nhân ác), cuối cùng sẽ phải hứng lấy Quả khổ đau tai ương. Ngược lại, nếu hành động và lời nói thiện nghĩa (Nhân thiện), sẽ mang đến Quả an lành hạnh phúc. Triết lý này có vai trò tích cực trong quá trình giáo dục, hình thành nhân cách của mỗi người. Hãy tự kiềm chế lời nói và hành động của mình tránh làm phương hại đến người khác, giúp người người hướng thiện, tạo nên một xã hội hướng thiện và giàu lòng nhân ái.

1. Khi giữ một mối thù trong lòng tức là đang gieo Nhân xấu, bạn sẽ gánh lấy Quả xấu “bệnh cho tim và suy yếu hệ miễn dịch”.

Giận dữ, thù hận, ganh tỵ là một cảm xúc khó có thể loại bỏ ngay, đặc biệt nếu bạn tìm thấy tính hợp lý để bao biện cho sự phẫn nộ của mình. Tuy nhiên, sự giận dữ, thù hận làm tăng nồng độ cortisol trong máu, tác động tiêu cực đến tim, sự trao đổi chất và hệ thống miễn dịch. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ cortisol cao có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn. Không giữ oán hận và hờn trách trong lòng khiến bạn có tâm trạng tốt hơn và dung nạp nhiều năng lượng tích cực hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tử vong của những người mang tâm ác cao hơn người bình thường từ 1,5 – 2 lần. Khi bạn giữ thiện niệm và suy nghĩ tích cực, cơ thể sẽ tiết ra endorphin giúp tế bào được khỏe mạnh, tức tạo “Nghiệp lành” sẽ hưởng “Phước lành”. Endorphin là một chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ có tác dụng tạo cảm xúc tích cực, cải thiện tâm trạng và giảm đau…, hoạt động của các tế bào miễn dịch tốt hơn, vì vậy bạn sẽ ít ốm đau, bệnh tật.

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học

Sự giận dữ, thù hận làm tăng nồng độ cortisol trong máu, tác động tiêu cực đến tim, sự trao đổi chất và hệ thống miễn dịch.

2. Khi còn trẻ, gieo Nhân ác (hại người bằng lời nói và hành động, phạm tội, giết người, cướp của…), về sau sẽ nhận gánh Quả xấu (sức khỏe xuống dốc, bệnh tật, tâm thần…). Đúng là bằng chứng khoa học cho Luật Nhân Quả.

Đại học Gaddafi, Anh Quốc và Đại học Texas, Hoa Kỳ đã cùng thực hiện một nghiên cứu và chứng minh được rằng “Luật Nhân Quả” là hoàn toàn có căn cứ khoa học. Thống kê cho thấy, những tội phạm tuổi thiếu niên thường có cơ thể khỏe mạnh hơn những thiếu niên biết tuân thủ pháp luật ở cùng độ tuổi. Nhưng khi thiếu niên có tiền sử phạm tội bước vào tuổi trung niên thì sức khỏe lại xuống dốc nhanh chóng, nguy cơ nằm viện và bị bệnh tật cao hơn nhiều lần so với người bình thường cùng trang lứa. Đó là do thiếu niên có tiền sử phạm tội thường có thói quen sinh hoạt không lành mạnh (hút thuốc lá, nghiện bia rượu và ma túy…) và trạng thái tâm lý tiêu cực (hung dữ, gây bạo hành…), gây nguy cơ cao bệnh tật và rối loạn tâm thần về sau.

Một nghiên cứu khác tại Đại học Brigham Young, Hoa Kỳ trên 4.983 thanh thiếu niên cho thấy, những thanh thiếu niên tham gia vào các hoạt động đức tin, thiện nguyện ít có khả năng tham gia vào việc lạm dụng chất gây nghiện hoặc ít có bạn bè liên quan nghiện ngập, tức là gieo “Nghiệp lành” sẽ hưởng “Phước lành”.

3. Khi chọn lối sống khép kín, cô lập với cộng đồng, sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, đột quỵ, mất trí nhớ và tử vong. Đó cũng là minh chứng khoa học cho Luật Nhân Quả.

Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã kiểm tra 23 nghiên cứu liên quan đến 181.000 người lớn. Trong nhóm này, 4.628 trường hợp có biến cố liên quan tim mạch như cơn đau tim, cơn đau thắt ngực, hoặc thậm chí tử vong, và khoảng 3.000 trường hợp đột quỵ. Các dữ liệu cho thấy sự cô đơn, sống khép kín với xã hội, hoặc cả hai làm tăng 29% nguy cơ bị cơn đau tim và 32% nguy cơ đột quỵ. Theo Tiến sĩ Nicole Valtorta của Đại học York, Vương quốc Anh: “Sự cô đơn có liên quan với hệ thống miễn dịch yếu hơn và huyết áp cao”. Những người cô đơn hay có khuynh hướng tìm đến thuốc lá và bia rượu – một cách giải tỏa ức chế và căng thẳng, nhất là ở nam giới.

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học

Lối sống khép kín, cô lập với cộng đồng, sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, đột quỵ, mất trí nhớ và tử vong. Đó cũng là minh chứng khoa học cho Luật Nhân Quả.

Nghiên cứu tiến hành tại Hoa Kỳ trên 12.000 người (từ 50 tuổi trở lên cùng với vợ hoặc chồng), kéo dài trong khoảng 10 năm. Những người tham gia báo cáo sự cô đơn và cũng đã được đánh giá khả năng nhận thức mỗi 2 năm một lần cho đến 10 năm. Kết luận, những người trải qua sự cô đơn có nguy cơ mất trí nhớ cao hơn 40%. Người sống chan hòa, vui vẻ và có nhiều mối quan hệ xã hội tích cực sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ, tức là gieo “Nghiệp lành” sẽ hưởng “Phước lành”.

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học

Sống chan hòa, vui vẻ và có nhiều mối quan hệ xã hội tích cực sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ, tức là gieo “Nghiệp lành” sẽ hưởng “Phước lành”.

4. Khi chọn một lối sống không lành mạnh, như ít vận động, hút thuốc lá, uống nhiều bia rượu…, sẽ gánh chịu hậu quả tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh và tử vong. Đó cũng là minh chứng khoa học cho Luật Nhân Quả.

Một nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí The Lancet, kiểm tra thói quen hoạt động của hơn 416.000 đàn ông và phụ nữ ở Đài Loan, nhận thấy chỉ cần 15 phút tập luyện cường độ vừa phải mỗi ngày đã giúp tăng 3 năm tuổi thọ, và 4 năm với những người tập luyện cường độ vừa phải 30 phút mỗi ngày. Theo Bộ Y tế Hoa Kỳ (NIH), hút thuốc lá vẫn là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất có thể phòng tránh được. Cơ thể sẽ hồi phục đáng ngạc nhiên, huyết áp và lưu thông máu được cải thiện ngay sau khi cai thuốc, và nguy cơ bị ung thư giảm sau mỗi năm. Đúng là gieo “Nghiệp lành” sẽ hưởng “Phước lành”.

Mặt khác, các thành viên gia đình cũng không phải tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động. Tức là bạn không tạo ra “cộng Nghiệp” hay “Nghiệp chung” khiến cả gia đình cùng gánh chịu.

Nghĩ về luật nhân quả dưới lăng kính y học

Lối sống không lành mạnh, ít vận động, hút thuốc lá, uống rượu sẽ gánh chịu hậu quả tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh và tử vong. Đó cũng là minh chứng khoa học cho Luật Nhân Quả.

Tóm lại, hiểu biết “Luật Nhân Quả” đứng về góc độ y học là rất cần thiết, giúp chúng ta tự nhận biết được Quả xấu mà mình  sẽ phải gánhchịu, nếu tạo ra Nghiệp xấu hay Nhân xấu do thiếu kiểm soát trong suy nghĩ, hành động và lối sống không lành mạnh với sức khỏe. Hơn nữa, Quả xấu chính chúng ta gánh chịu còn làm liên đới cho gia đình, con cháu trong khái niệm “cộng Nghiệp” hay “Nghiệp chung”. Tốt nhất, nên gieo “Nghiệp lành” cho thể chất và tinh thần, bạn sẽ hưởng “Phước lành” mạnh khỏe và an nhiên. Cuối cùng, đích đến của mỗi chúng ta là hạnh phúc và an lành.

TS.BS. Lê Thanh Hải (SKVĐS)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4421/feed 0
CHỨNG ĐẠO CA – VĨNH GIA HUYỀN GIÁC đại sư https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416#respond Tue, 13 Jul 2021 02:01:49 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4416 CHỨNG ĐẠO CA

– VĨNH GIA HUYỀN GIÁC đại sư.

 

Anh thấy chăng?
Hết học, vô vi, nhàn đạo nhân
Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân
Thực tánh vô minh tức Phật tánh
Thân Không ảo hóa tức Pháp thân.

Pháp thân giác rồi không một vật
Tự tánh bổn nguyên thiên chân Phật
Năm ấm mây trôi rỗng đến đi
Ba độc bọt nước giả tan khởi

Chứng thực tướng không nhân pháp
Sát na diệt sạch a tỳ nghiệp
Nếu đem lời vọng dối chúng sanh
Tự mời (tội) rút lưỡi trần sa kiếp

Đốn giác rõ Như Lai thiền
Sáu độ muôn hạnh thể toàn viên
Trong mộng nhập nhòa có sáu nẻo
Tỉnh giấc rỗng rang không đại thiên

Không tội phước, không thêm bớt
Trong tánh tịch diệt chớ tìm hỏi
Xưa nay gương bụi chửa từng lau
Ngay đây rõ ràng cần phân định

Ai vô niệm, ai vô sanh?
Nếu thật vô sanh, không chẳng sanh
Gọi người gỗ hỏi cơ quan ấy
Cầu Phật ra công sớm muộn thành?

Buông bốn đại, chớ nắm bắt
Trong tánh tịch diệt tùy ăn uống
Các hành vô thường tất cả Không
Đó là Như Lai đại viên giác

Nói quyết định, hiểu chân thừa
Có người chẳng chịu cứ nghiên tầm
Thẳng suốt căn nguyên là Phật ấn
Trích lá tìm cành ta chẳng ưa

Ngọc ma ni, người chẳng biết
Trong tạng Như Lai thâu trọn hết
Sáu phần thần dụng không chẳng không
Một điểm viên quang sắc chẳng sắc

Tịnh năm mắt, được năm lực
Chỉ chứng mới hay không thể lượng
Trong gương xem ảnh thấy khó chi
Trong nước bắt trăng không thể đắc

Thường độc hành, thường độc bộ
Người đạt đồng đi Niết bàn lộ
Điệu xưa thần nhẹ phong thái cao
Dáng gầy xương cứng người chẳng thấy

Bần Thích tử, miệng xưng nghèo
Thực ra thân nghèo đạo chẳng nghèo
Nghèo thì thân thường áo chắp vá
Đạo ắt tâm tàng vô giá châu

Báu vô giá, dùng vô tận
Lợi vật ứng cơ mãi chẳng cùng
Ba thân bốn trí thể tròn nguyên
Tám giải, sáu thông tâm địa ấn

Bậc thượng một quyết tất cả xong
Bậc hạ nghe nhiều, nhiều nghi ngại
Chỉ tự trong lòng cởi áo bẩn
Tinh tấn hướng ngoại khoe nào ích

Tùy ai bác, mặc ai chê
Châm lửa đốt trời tự nhọc sức
Ta nghe như uống cam lồ vậy
Tiêu tan liền nhập (cái) chẳng nghĩ bàn

Quán lời ác là công đức
Với ta đó mới thiện tri thức
Chẳng do phỉ báng khởi oán, thân
Sao hiện vô sanh từ nhẫn lực

Tông cũng thông, nói cũng thông,
Định huệ sáng tròn chẳng trệ không
Chẳng phải riêng ta nay đạt đấy
Hằng sa chư Phật thể đều đồng

Sư tử hống, vô úy nói
Trăm thú nghe qua xé óc não
Voi chạy lung tung mất hết uy
Thiên long im nghe sanh hoan hỷ

Chơi sông biển, dạo núi rừng
Tìm thầy hỏi đạo hành tham thiền
Từ khi rõ nẽo Tào Khê ấy
Mới hay sanh tử chẳng tương can

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền
Nói im động tĩnh thể an nhiên
Dầu gặp gươm đao thường rỗng rỗng
Dù cho thuốc độc vẫn nhàn nhàn

Thầy ta từ gặp Nhiên Đăng Phật
Nhiều kiếp từng làm tiên nhẫn nhục
Sanh mấy hồi, tử mấy hồi
Sanh tử triền miên không định dứt

Từ khi đốn ngộ rõ vô sanh
Nơi vinh nhục có gì vui, sợ
Vào rừng sâu, ở Lan nhã
Núi sâu rừng lặng gốc tùng già
Thong dong ngồi tĩnh chùa hoang dã
Tĩnh mịch an cư thực khoái thay.

Giác tức trọn, chẳng thi công
Tất cả hữu vi pháp chẳng đồng
Bố thí trụ tướng sanh thiên phước
Giống như bắn tên lên hư không
Thế lực hết, tên lại rơi
Đời sau lại có bất như ý
Sao bằng thật tướng môn vô vi
Một siêu thẳng vào Như Lai địa

Chỉ được gốc, lo chi cành
Như tịnh lưu ly ngậm trăng thanh
Đã rõ được đây ngọc như ý
Tự lợi, lợi người không hề ngưng
Sông trăng chiếu, gió trong tùng
Đêm trường thanh vắng có làm gì?

Ngọc Phật tánh giới tâm địa ấn
Cầu vồng mây gió y trên thân
Bát thâu rồng, gậy giải cọp
Hai vòng khoen vàng khua lảnh lót
Phải đâu hư sự giữ làm vì
Gậy báu Như Lai còn dấu vết

Chẳng cầu chân, chẳng dứt vọng
Rõ ràng hai pháp Không, vô tướng
Vô tướng, vô không vô chẳng không
Tức là Như Lai chân thực tướng

Tâm gương sáng, soi không ngại
Rỗng không sáng tột hằng sa cõi
Muôn tượng đa dạng ảnh hiện trong
Một điểm viên quang không nội ngoại

Đạt không trơ, bác nhân quả
Thô tháo, rối bời mời tai họa
Bỏ có, bám không vẫn bệnh thôi
Khác nào tránh nước lao vào lửa

Bỏ vọng tâm, giữ chân lý
Tâm hay nắm bỏ thành xảo ngụy
Người học không hay, dùng tu hành
Chân thành nhận giặc làm con đẻ

Hao pháp tài, hoại công đức
Tất cả đều do tâm, ý, thức
Thế nên thiền dạy buông bỏ tâm
Đốn nhập vô sanh tri kiến lực

Đại trượng phu, cầm gươm huệ
Mũi Bát nhã, hề, sáng kim cương
Không chỉ hay bạt ngoại đạo tâm
Sớm khiến thiên ma lùi khiếp vía.
Nổi sấm pháp, đánh trống pháp
Bủa rộng mây từ, rưới cam lồ
Long tượng gặp vô biên nhuần thấm
Ba thừa năm tánh đều tỉnh ngộ

Cỏ quý Tuyết sơn không hỗn tạp
Thuần cho đề hồ ta thường dùng
Một tánh viên thông tất cả tánh
Một pháp gồm khắp tất cả pháp

Một trăng khắp hiện (trong) tất cả nước
Tất cả trăng (trong) nước nhiếp (vào) một trăng
Pháp thân chư Phật vào tánh ta
Tánh ta đồng cùng Như Lai hiệp

Một địa đầy đủ tất cả địa
Chẳng sắc, chẳng tâm, chẳng hạnh nghiệp
Búng tay viên thành tám vạn môn
Sát na diệt hết ba kỳ kiếp
Thảy cả văn tự, chẳng văn tự
Với tánh giác ta nào giao thiệp?

Chẳng thể chê, chẳng thể khen
Thể như hư không vô bờ bến
Chẳng lìa đương xứ thường trong vắt
Tìm, tức biết anh chưa thể thấy.
Nắm chẳng được, bỏ chẳng được
Trong chẳng thể đắc, được cái gì?
Im là nói, nói là im
Đại thí mở toang không vướng mắc

Có người hỏi ta giải tông nào
Thưa rằng Ma Ha Bát Nhã lực
Hoặc phải, chẳng phải người đâu biết
Làm thuận, làm nghịch trời sao lường

Ta sớm từng trải nhiều kiếp tu
Chẳng phải đem lời dối gạt nhau
Dựng pháp tràng, lập tông chỉ
Rõ ràng Phật dạy, ứng Tào Khê

Thứ nhất Ca Diếp giữ đèn truyền
Hăm tám đời tổ ở Tây thiên
Pháp sang đông, vào đất này
Bồ đề Đạt ma là sơ tổ
Sáu đời truyền y thiên hạ nghe
Người sau đắc đạo nhiều vô kể.

Chân chẳng lập, vọng vốn không
Hữu vô đều dứt, chẳng không không
Hai chục cửa không nguyên chẳng bám
Một tánh Như Lai thể tự đồng

Tâm là căn, pháp là trần
Cả hai ngấn bụi bám gương trong
Ngấn bụi hết rồi quang mới hiện
Tâm, pháp mất tiêu, tánh tức chân

Ôi mạt pháp, ác thời thế
Chúng sanh phước mỏng khó điều chế
Hiền thánh xa rồi tà kiến sâu
Ma mạnh pháp yếu nhiều oán hại
Nghe nói Như Lai đốn giáo môn
Hận chẳng nghiền tan như ngói bể

Làm tại tâm, họa tại thân
Trách móc người ta ấy chẳng nên
Muốn khỏi chiêu mời vô gián nghiệp
Chớ báng Như Lai chánh pháp luân

Rừng chiên đàn không cây tạp
Sâu kín rậm màu sư tử ở
Cảnh vắng giữa rừng một mình chơi
Thú chạy chim bay trốn xa tắp

Sư tử con, chúng theo sau
Lên ba bèn có thể rống to
Nếu chó rừng có theo vương pháp
Yêu quái trăm năm mở miệng suông.

Viên đốn giáo không thường tình
Có nghi chẳng quyết phải phân minh
Chẳng phải sơn tăng thích nhân ngã
Tu hành sợ lạc hố đoạn thường

Phi chẳng phi, thị chẳng thị
Sai một mảy tơ mất ngàn dặm
Thị tức Long Nữ đốn thành Phật
Phi là Thiện Tinh sanh đọa lạc

Ta tuổi nhỏ đã gom học vấn
Cũng từng viết sớ, tìm kinh luận
Phân biệt danh tướng chẳng biết ngưng
Vào biển đếm cát tự khổ hận
Đáng bị Như Lai phải la trách
Đếm châu báu người có ích chi
Trước nay nắn nót uổng công hành
Nhiều năm làm mãi phong trần khách.

Chủng tánh tà, lầm hiểu biết
Chẳng đạt Như Lai viên đốn pháp
Nhị thừa tinh tấn thiếu đạo tâm
Ngoại đạo thông minh không trí huệ
Như ngu si, như trẻ nít
Trên nắm tay không sanh hiểu thật
Chấp (ngón) tay là nguyệt uổng thi công
Căn cảnh dụi mắt vọng thấy quái.

Chẳng thấy một pháp tức Như Lai
Mới được gọi là Quán Tự Tại
Rõ tức nghiệp chướng bổn lai không
Chưa rõ nợ xưa phải hoàn trả

Đói gặp tiệc vua không thể ăn
Bệnh ngờ y vương sao được khỏi
Dục giới hành thiền lực tri kiến
Sen sanh trong lửa rốt chẳng hoại
Dõng Thí phạm tội ngộ vô sanh
Sớm thành Phật đạo ở cõi này

Sư tử rống, thuyết vô úy
Thương thay người dày nặng căn khí
Chỉ cho phạm tội, chướng Bồ đề
Chẳng thấy Như Lai khai bí quyết

Có hai tỳ kheo phạm dâm sát
Lửa đóm Ba Li thêm tội buộc
Duy Ma đại sĩ đốn trừ nghi
Như mặt trời hừng tiêu sương tuyết

Chẳng nghĩ bàn, giải thoát lực
Diệu dụng hằng sa không cùng cực
Bốn sự cúng dường cảm công lao
Muôn lượng vàng ròng cũng tiêu được
Tan thân xương nát chưa đáp đền
Một câu thấu suốt siêu trăm ức.

Pháp này vua, là tối thắng
Hằng sa Như Lai đồng cùng chứng
Nay đây ta giải như ý châu
Người nào tin nhận đều tương ứng

Thấy rành rành, không một vật
Cũng không người, cũng không Phật
Thế giới ba ngàn bọt đại dương
Tất cả thánh hiền như điện phất

Giả sử vòng lửa quay trên tóc
Định huệ sáng tròn luôn chẳng mất
Nhật thành lạnh, nguyệt thành lò
Chúng ma không thể hoại chân thuyết
Xe voi vững tiến đường cao ngất
Làm sao bọ ngựa ngăn bước đi

Voi lớn không đi trên đường thỏ
Đại ngộ tự do, không tiểu tiết
Chớ dòm ống trúc, báng trời xanh
Chưa rõ ta vì anh xác quyết.

📙Ban dịch thuật Thiện Tri Thức.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416/feed 0
CHƯỚNG NGẠI TẠI ĐÂU ? – THIỀN SƯ TAIZAN MAEZUMI https://thuonghylenien.org/luu-tru/4414 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4414#respond Tue, 13 Jul 2021 01:54:10 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4414 CHƯỚNG NGẠI TẠI ĐÂU ? – THIỀN SƯ TAIZAN MAEZUMI.

Đời sống chúng ta vẫn luôn quá bận rộn cho nên chúng ta rất dễ bị mất phương hướng. Tọa thiền là cơ hội rất tốt để chúng ta đối diện chính mình, theo dõi chính mình.

Xét về một phương diện nào đó, cho rằng cái gì phải tìm kiếm Bản lai diện mục chính mình, phải thể chứng sinh mệnh vốn có chính mình, thì quả là chuyện đùa. Sinh mệnh chúng ta, cuộc đời này của chúng ta thực ra đã thể chứng từ lâu, đã thể nghiệm từ lâu, cho nên còn có thể tìm kiếm cái gì nữa?

Đức Phật dạy : Nói là phải “ tìm kiếm” thì đúng là mê muội. Điều không may là tất cả chúng ta đều như thế.

Trong Bích Nham Lục, có một Công án rất thú vị nói về câu chuyện đối đáp giữa Hòa Thượng Cảnh Thanh với một vị Tăng.

Vị Tăng hỏi: “Con từ bên trong kêu, Hòa Thượng có thể từ bên ngoài mổ giúp không?”

Trứng gà đến thời kỳ nở thì gà con sẽ từ trong trứng mổ vỏ, gà mẹ hễ biết cũng có thể mổ tiếp từ bên ngoài. Chỉ cần khi mổ, gà mẹ mổ từ từ cho vỏ trứng vỡ ra là gà con đã được ấp xong. Vỏ trứng vỡ ra quá sớm hay quá muộn, gà con đều có thể chết. Vì thế, vị Tăng này đã nói: Xin Hòa Thượng mổ giúp con từ bên ngoài.

Thiền Sư Cảnh Thanh liền hỏi: “Ông sống có được không?”

Vị Tăng trả lời: “ Con không sống nổi, e rằng người khác sẽ cười cho.”

Cảnh Thanh nói: “Ông cũng là hạng tầm thường.”

Điều quan trọng của Công án này là ở chỗ nào?

“Con đã chuẩn bị tốt rồi, xin hãy để cho con được thoát ra”. Nhưng cái vỏ nằm ở chỗ nào? Chướng ngại là tại đâu? Cái gì đã trói buộc bạn?

Ở Nhật Bản, có câu nói: “Không dây tự buộc”. Bạn cho rằng mình hoàn toàn không tự do cho nên bạn tu hành cầu giải thoát. Nhưng mà nhìn khắp xung quanh cái gì trói buộc bạn? Hoàn toàn không có. Chỉ vì bạn không thấy được, nên bạn vẫn cảm giác có cái gì đó trói buộc bạn.

Đức Phật dạy: Như vậy gọi là mê muội, suy nghĩ chủ quan của bạn là không đúng.

Chúng ta có một phương pháp tu hành gọi là “nhiếp tâm”. Nhiếp tâm là một hoạt động tu Thiền vững chắc. Ý nghĩa của “nhiếp tâm” là tương hợp hay thống nhất với tâm, cũng có thể nói đó là việc đem tâm trở về với vị trí ban đầu vốn có của nó.

Đương nhiên, tâm vốn đã thống nhất hoặc là đang tồn tại chỗ vốn có của nó, nhưng chúng ta vẫn cần phải tu như thế.

Làm thế nào mới có thể đặt tâm vào đúng vị trí của nó? Vị trí chính xác là chỗ nào?

Vị trí chính xác là chỗ này, ngay đây.

Không gian chính xác “trong đây” này biến khắp bốn phương tám hướng xung quanh, biến khắp toàn thể vũ trụ. “Trong đây” này trông giống như chỗ chật hẹp nhưng đâu đâu cũng có, biến khắp vũ trụ; không giới hạn chủng tộc, văn hóa, quốc gia nào cả.

Về phương diện thời gian thì “trong đây” chính là ngay lúc này. Thời gian từ quá khứ đến hiện tại, rồi đến tương lai đều trở thành khoảnh khắc ngay đây! Ngược lại cũng vậy. Khoảnh khắc ngay đây bao hàm cả quá khứ vô thủy, tương lai vô tận, không sót một thời nào.

Ví như “Nhân quả” là một trong giáo pháp quan trọng nhất của Phật giáo. Mỗi sự vật vừa là nhân vừa là quả, cho nên tất cả sự vật đều tương quan đây – kia. Nhân duyên trong tiếng Nhật gọi là “innen”. “In” (nhân) là nguyên nhân trực tiếp, “nen” (duyên) là nguyên nhân gián tiếp. Tất cả hành vi, hoạt động không có cái nào không bao hàm nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp này.

Chúng ta nói “Nhân quả không hai” hay “ Nhân quả là một”. Ví như nói khi tu Thiền, sư phụ rung chuông, đệ tử liền đi vào phòng độc tham và tiến hành độc tham. Thông thường, chúng ta đều cho rằng rung chuông là nhân, đệ tử đi vào phòng độc tham là quả. Nhưng trong Thiền tông thì cho rằng toàn bộ thế giới đều quan hệ lẫn nhau, tất cả sự vật đều phát sinh ngay đây, chỗ này. Vì vậy, lý do đệ tử đi vào phòng độc tham không chỉ là vì nghe được tiếng chuông, mà đó cũng là hoạt động của tất cả sự vật – không chỉ là kết quả của hành vi của quá khứ, mà cũng bao quát cả hành vi hiện tại và tương lai; thời gian thực ra chỉ là khái niệm mà thôi.

Thông thường, chúng ta làm bất cứ việc gì đều ảnh hưởng đến vạn sự vạn vật. Do vì qui luật này cho nên không một ai tự một mình mà làm được cả. Quí vị có thể nỗ lực suy nghĩ một chút về tất cả những nguyên nhân gián tiếp và trực tiếp ảnh hưởng đến chúng ta.

Do đó, hành động đệ tử liền vào phòng độc tham bao quát cả hành động rung chuông. Hành động rung chuông cũng bao quát cả hành động để tử tiến vào phòng độc tham. Đây là ý nghĩ của câu “nhân quả là một”. Mỗi hành động ngay đây đều hội đủ nhân quả, vì mỗi một hành động vừa là quả của hành động trước vừa là nhân của hành động sau.

Ở phương diện nào đó thì ngay đây và lúc này, thời gian và không gian đều là khái niệm trừu tượng. Thế thì cái gì làm cho thời gian và không gian trở thành sự thật như thế?

Là bạn, là cá nhân bạn đưa ra ý nghĩa thời gian và không gian này.

Chúng ta, là cá nhân bạn đưa ra ý nghĩa thời gian và không gian này.

Chúng ta đều biết nếu không có thời gian và không gian thì con người không sống được. Nhưng thực sự, ngược lại cũng vậy. Nếu không có con người thì sẽ không có cái gọi là thời gian, không gian, cũng không có lịch sử, thế giới. Nói cách khác, chính đời sống chúng ta là quá trình sáng tạo thế giới, quá trình sáng tạo vạn vật.

Chính vì qui luật này mà tôi thường hay khuyên quí vị nên quán chiếu vị trí của mình đang có mặt, nhiệm vụ bên trong chính mình quán chiếu chính mình. Làm như vậy tức là mở rộng việc tu hành vào trong đời sống thường ngày, tích hợp tất cả vào trong đời sống.

Chưa có sự tích hợp này thì cứ xem việc tích hợp này như sự tu hành. Không có bất cứ cái gì trói buộc bạn cả. Nếu bạn cảm thấy có cái gì trói buộc bạn thì đó là cái gì? Quán chiếu cái đó như thế nào?

Xin quí vị phải tin tưởng chính mình, tin rằng mình là “mình” thực sự. Ngoài cách này ra, bạn không còn cách nào khác.

Làm như thế, bạn sẽ phát sinh niềm tin và sự tôn kính sâu sắc đối với chính mình. Sinh mệnh mỗi cá nhân đều đã bao trùm vạn sự vạn vật, thì bạn cần phải tiến thêm một bước nữa, nỗ lực quán chiếu chính mình.

Quán chiếu chính mình là quán chiếu vạn sự vạn vật, quí vị rõ chứ?

Trích “Chỉ Quản Đả Tọa” – Cùng Tu Thiền Với Đức Phật.
Diệu Hạnh dịch, Công ty Sách Thời Đại & NXB Hồng Đức.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4414/feed 0
THIỀN SƯ BÁC SƠN KHAI THỊ VỀ GIẢI NGỘ VÀ CHỨNG NGỘ https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412#respond Tue, 13 Jul 2021 01:51:41 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4412 THIỀN SƯ BÁC SƠN KHAI THỊ VỀ GIẢI NGỘ VÀ CHỨNG NGỘ.

Một chữ ngộ, môn hạ Tổ Sư gọi là thuốc độc, hãy còn chẳng lưu lại, huống là ngộ ư? Nay chẳng tránh phạm húy, mà nói đến chữ ngộ, khiến trí ngu có chỗ so chọn, tông giáo có chỗ phân chia, hành giả chẳng sa vào con đường hiểm trở, thật là sự giúp ích trên đường tu hành.

 

Luận về thiền có hai thứ ngộ môn: Một là từ trong văn tự ngữ ngôn được giải ngộ. Hai là từ trên phân minh tham cứu được triệt ngộ. Người giải ngộ sức yếu. Người triệt ngộ sức mạnh. Người giải ngộ như nghe người nói vật. Người triệt ngộ như chính con mắt mình thấy vật. Nghe, thấy tuy một, mà nghi và chẳng nghi, thật cách xa như trời với đất. Người từ trong văn tự giải chưa được triệt ngộ có hai thứ chướng: Một là văn tự chứng, hai là lý chướng. Văn tự chướng như người ăn mật, càng ăn càng thấy ngọt; tìm cầu chân lý sâu mầu ở trong mười hai phần giáo, không dính dáng gì với việc thoát ly sanh tử, cho nên gọi là chướng. Lý chướng nghĩa là thật tế đối với lý địa in tuồng rõ ràng, như toàn thân là châu báu song chẳng được thật dụng, đối với việc sanh tử cũng không dính dáng, cho nên gọi là chướng.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ, có hai thứ mạn: Một là ngã mạn, hai là tăng thượng mạn. Ngã mạn nghĩa là cho rằng ta đã ngộ, chúng sanh ở trong mê, như chỗ ta thấy, người khác chẳng biết, do đây khởi mạn. Tăng thượng mạn nghĩa là cho rằng ta đã vào địa vị Thánh, trên không không có Phật để cầu, dưới không có chúng sanh để độ, một chữ Phật ta chẳng thích nghe, do đây khởi mạn.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ áo hai thứ tâm khiếp nhược: Một là ta thấy lý đã tột, mà hạnh chẳng theo kịp, ở trong địa vị Hiền Thánh chưa được chỗ thực tiễn, do đây khởi tâm khiếp nhược. Hai là chỗ thấy của ta cùng Phật đồng mà thật chẳng được quả dụng Phật, nên ta không có diệu dụng thần thông quang minh, do đây khởi tâm khiếp nhược.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ, có hai thứ tưởng an ổn: Một là cho rằng thật tế lý địa chẳng thọ nhứt trần, núi sông đất đai chẳng ngại nhãn quang; lại nói: “Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư”, trong thể đại viên tìm sư sanh tử qua lại trọn chẳng thể được, do đây khởi tưởng an ổn. Hai là thấy lý tuy rõ mà chẳng thể thân chứng. Trong các giáo thừa phần đông quy hướng Tịnh Độ, cho rằng chỉ có niệm Phật vãng sanh là ổn đáng hơn hết, do đây khởi tưởng an ổn.

(Từ trên đến đây đều là thiền bệnh).

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải cho hai thứ thật thọ dụng: Một là được chư Phật hóa nghi. Hai là được chư Phật quả dụng. Hóa nghi nghĩa là trong cõi tịnh, cõi uế của chư Phật, quyến thuộc của Bồ tát, quyến thuộc Thanh văn, mây hương, mây hoa, mây tràng phan bảo cái và thiên long bát bộ cùng ta đồng đẳng không khác. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn. Hai là được chư Phật quả dụng, nghĩa là ba mươi hai tướng, tám mươi vẽ đẹp cho đến chín mươi bảy thứ và Pháp thân thanh tịnh và thần thông quang minh, thuyết pháp… cùng ta đồng đẳng, không hai, không khác. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải, đầy đủ diệu hạnh của các Bồ tát, nghĩa là chư Bồ tát quá khứ, chư Bồ tát vị lai, chư Bồ tát hiện tại, diệu hạnh các Ngài đã làm trong số kiếp bất khả thuyết thời đồng, xứ đồng, thân đồng, hạnh đồng, trong khoảng một sát na, một vị trần thảy đều đầy đủ. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loại chúng sanh đồng một thể tánh, thân mình nhập vào thân người, thân người nhập vào thân mình, một thân nhập vào một thân, nhiều thân nhập vào một thân, thế giới kia nhập vào thế giới này, thế giới này nhập vào thế giới kia, thế giới nhập vào tự thân, tự thân nhập vào thế giới, nhập vào tự thân chẳng thấy có thế giới, nhập vào thế giới chẳng thấy có tự thân, nhiếp lẫn nhau, dung lẫn nhau, không hoại, không tạp. Lại ở trong phần chúng sanh đồng một bi ngưỡng. Lại ở trong phần chúng sanh khởi đồng thể đại bi, nghĩa là thiện và ác đều không tự tánh, đều là tự tâm hiện lượng, đã không có cảnh ngoài tâm, dùng vô tác để hứng từ vận bi chẳng ngại ở trong cái thể vô tánh mà giải thoát chúng sanh vô tánh. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ không lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loài chúng sanh đồng một huyễn hóa, nghĩa là duyên sanh vô tánh, sanh vốn vô sanh; vô tánh duyên sanh, chúng sanh đâu có thật như huyễn hóa, ta cùng với chúng sanh ở chung. Nếu chẳng như thế chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.
(Đoạn trên là nói sự thọ dụng của người ngộ tâm, chẳng phải người giải có thể biết).

Lại nữa, người từ trong ngữ ngôn giải nên không được triệt ngộ sanh ra vô biên cuồng giải; có người lấy “Hằng ngày việc không khác, chỉ ta tự biết hay” ma sanh cuồng giải. Có người lấy “theo dòng nhận được tánh, không mừng cũng không lo” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “thần thông và diệu dụng, gánh nước và bửa củi” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “đối cảnh tâm luôn khởi, Bồ đề làm sao lớn” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “núi sông và đất đai, toàn lộ thân pháp vương” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “vào cửa liền đánh” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “cơ phong đáp hỏi đầu môi lanh lợi” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “chẳng cần tham cứu, ngay đó lập tức gánh vác” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “vào cửa liền mừng” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “tập học thi phú từ chương, công xảo, kỹ nghiệp” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “buông bỏ lại buông bỏ, mở miệng tức là sai lầm” mà sanh cuồng giải.

Than ôi! Món ăn đề hồ được thế gian trân quý, gặp bọn người này trở thành thuốc độc. Do vì chánh pháp suy đồi, tà ma hưng thạnh quyến thuộc nối nhau đầy cả thế gian; người lưu tâm tới việc sanh tử chẳng thể chẳng trước tiên soi thấu cảnh giới hư vọng này.

Lại có ba câu Cát đằng chẳng thể nói trắng ra cho cư sĩ rõ. Cổ Đức nói:

1- Thế nào là thiền?
– Con khỉ leo cây quơ cái đuôi.

2- Thế nào là thiền?
– Lửa hực đổ thêm dầu.

3- Thế nào là thiền?
-Cục gạch.

Những lời này là cát đằng của Tổ Sư truyền, tuy nhiên phân minh như thế song nói với ông tưởng cũng rất khó.
(Đáp Thái sư Ngô Quán Ngã hỏi về sự khác nhau giữa Tông và Giáo).

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412/feed 0
Thiền là chìa khóa để biết mình – Website Lion’s Roar https://thuonghylenien.org/luu-tru/4410 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4410#respond Tue, 13 Jul 2021 01:48:57 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4410 Thiền là chìa khóa để biết mình

– Website Lion’s Roar

Thực hành thiền đánh thức niềm tin của chúng ta rằng trí tuệ và từ bi mà chúng ta cần đã có sẵn trong chúng ta rồi.

 

Theo Pema Chodron cho biết Thiền giúp chúng ta tự biết mình: những phần thô và những phần tế của chúng ta, tham, sân, si và trí tuệ. Lý do mà con người làm hại người khác, lý do mà hành tinh này bị ô nhiễm và con người và thú vật không sống khỏe mạnh, là vì hiện nay các cá nhân không biết, không tin hay không yêu thương đủ.

 

Kỹ thuật ngồi thiền gọi là thiền chỉ-quán (shamatha-Vipashyana) [thiền tịnh chỉ và minh sát tuệ] giống như chiếc chìa khóa vàng giúp chúng ta hiểu biết chính mình.

 

Trong thiền chỉ-quán, chúng ta ngồi thẳng lưng với hai chân tréo nhau và cặp mắt mở ra, hai tay để trên hai bắp đùi. Rồi chúng ta chỉ nhận biết hơi thở của mình khi nó ra vào. Nó đòi hỏi sự ghi nhận chính xác ngay ở đó với hơi thở. Nói cách khác, nó rất thư giãn và nhẹ nhàng. Nói rằng, “Có mặt ngay đó với hơi thở khi nó ra vào,” cũng giống như nói, “Là hiện tiền trọn vẹn.”

 

Ngay ở đây với những gì đang diễn ra. Lúc ghi nhận hơi thở khi nó ra vào, chúng ta cũng có thể ghi nhận những điều khác đang diễn ra — âm thanh ngoài đường, ánh sáng trên tường. Những điều này lôi cuốn chú ý của chúng ta một chút, nhưng không đê chúng lôi kéo chúng ta đi. Chúng ta có thể tiếp tục ngồi ngay ở đây, ghi nhận hơi thở ra vào.

 

Nhưng ghi nhận hơi thở chỉ là phần kỹ thuật. Những ý tưởng luôn luôn khởi lên trong tâm của chúng ta là phần khác. Chúng ta ngồi ở đây nói về chính mình. Sự hướng dẫn là khi quý vị nhận ra mình đang suy nghĩ thì quý vị gọi nó là “suy nghĩ.” Khi tâm của quý vị đang đi lang bang, thì quý vị nói với mình rằng, “Suy nghĩ.” Cho dù các suy nghĩ của quý vị là bạo động hay sôi nổi hay hoàn toàn không biết và chối bỏ; cho dù suy nghĩ của quý vị là lo lắng hay sợ hãi; cho dù suy nghĩ của quý vị là những ý tưởng tâm linh, suy nghĩ hài lòng về cách quý vị đang làm, những suy nghĩ thoải mái, những suy nghĩ thăng hoa, bất kể chúng là gì – không phán xét hay gay gắt chỉ đơn giản nói nó là “suy nghĩ,” và làm như vậy với sự thành thật và dịu dàng.

 

Chạm vào hơi thở nhe nhàng: chỉ chừng 25% ý thức là để trên hơi thở. Quý vị đừng nắm bắt và sửa chữa nó. Quý vị mở tâm ra, hãy để cho hơi thở lan tỏa trong không gian của căn phòng, hãy để hơi thở của quý vị tự nhiên đi vào không gian. Rồi có thứ gì đó như sự tạm dừng lại, một khoảng cách giữa hơi thở kế tiếp đi ra nữa. Trong khi quý vị đang hít vào, có thể sẽ có cảm giác của sự mở ra và đợi chờ. Nó giống như nhấn vào chuông cửa nhà và đợi cho người nào đó mở cửa. Rồi quý vị lại nhấn chuông nữa và đợi người nào đó mở cửa. Rồi có thể tâm quý vị đi lang thang và quý vị nhận ra là mình đang tạp niệm nữa – lúc này hãy dùng kỹ thuật gọi tên.

 

Rất quan trọng để tin vào kỹ thuật này. Nếu quý vị phát hiện ra rằng việc gọi tên có giọng điệu gay gắt, tiêu cực với nó, nếu vậy thì quý vị đang nói, “Chết tiệt đi!,” rằng quý vị đang tạo khó khăn cho mình, hãy nói lần nữa và lắng nghe. Nó không phải như việc cố gắng dập tắt các suy nghĩ như thể chúng là những con bồ câu đất sét. Thay vì vậy, hãy nhẹ nhàng. Dùng phần kỹ thuật gọi tên như một cơ hội để phát triển sự dịu dàng và từ bi đối với chính mình. Bất cứ điều gì đến đều okay trong lãnh địa của thiền. Điểm chính là, quý vị có thể nhìn thấy nó trung thực và làm quen với nó.

 

Dù lúng túng và khổ sở, nó là cách điều trị rất hiệu quả để ngừng trốn tránh chính mình. Nó là cách trị liệu hiệu quả để biết tất cả cách mà quý vị lẩn tránh, tất cả cách mà quý vị ẩn náu, tất cả cách mà quý vị đóng kín, từ chối, bế môn, chỉ trích người khác, tất cả những cách kỳ lạ này của quý vị. Quý vị có thể biết tất cả những điều đó với cảm thức buồn cười và tử tế.

 

Bằng việc tự biết mình, quý vị đang tiến tới việc hiểu biết hết con người. Tất cả chúng ta đều chống lại những thứ này. Như vậy khi quý vị nhận ra rằng quý vị đang tự nói với mình, thì hãy gọi nó “suy nghĩ” và để ý đến giọng điệu của mình.

 

Hãy yêu thương, nhẹ nhàn và hài hòa. Rồi quý vị đang thay đổi các kiểu cách mắc kẹt mà được chia xẻ bởi toàn thể nhân loại.

 

Từ bi với người khác bắt đầu bằng sự tử tế với chính mình.

 

(Trích từ tác phẩm “Start Where You Are: A Guide to Compassionate Living,” của tác giả Pema Chodron trên trang mạng Lion’s Roar)
Huỳnh Kim Quang

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4410/feed 0