admin – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sun, 13 Sep 2026 06:56:57 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.20 Xóm Rẫy Hà Tiên với bài thơ độc vận của nhà thơ Nguyễn Bính https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947#respond Sun, 13 Sep 2026 06:56:57 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6947 Xóm Rẫy Hà Tiên với bài thơ độc vận của nhà thơ Nguyễn Bính.

Gia đình ông Đông Hồ (người thứ hai từ trái qua) chụp với nhà thơ Nguyễn Bính (bìa trái) và nữ sĩ Mộng Tuyết (bìa phải). Hai cô gái ngồi ở giữa là hai người con gái của Đông Hồ: Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm

Trần Văn Mãnh

Trong bài viết « Đêm du ca Liêu Trai » đăng trong tạp chí Bách Khoa vào năm 1971, nữ sĩ Mộng Tuyết có nhắc đến con đường về xóm Rẫy xa xưa ở Hà Tiên của bà, con đường đất gồ ghề với hai bên bờ đầy cỏ dại và ngập nước với ánh sáng đom đóm lập lòe, con đường đi đầy kỷ niệm vì bà đã cùng người bạn đồng hành từng so bước :

Ao tràn mưa ngọt bờ hoang dại
Bèo nở xinh xinh cánh nở tròn
……..
Đường về xóm ấy nhiều đom đóm
Lấp lánh ngân hà ngập bước sao
Ngở lạc tiền thân vào xứ mộng
Hồn tiên nghe tiếng gọi nao nao…
Trinh Trắng (Đông Hồ 1961)

Con đường ấy ắt hẳn là con đường Mạc Cửu, Hà Tiên và xóm Rẫy xa xưa đó ắt cũng chính là xóm nhà nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Mạc Tử Hoàng, phía sau chùa Tam Bảo ra tới ao sen giữa và trên.

Ngày xưa đây là xóm nhà có vườn tược và cây ăn trái rất nhiều, vì thế có tên là xóm Rẫy, ở đây có căn nhà của gia đình nữ sĩ Mộng Tuyết với các thành phần được mang nhiều cái tên rất thơ mộng, đượm màu văn chương như: Khu vườn chung quanh nhà được Đông Hồ đặt tên là Bách Phương Viên, sau đó là Úc Viên, mái hiên trên căn gác của Mộng Tuyết được gọi là Tân Nguyệt Hiên (tức Mái Trăng Non)…, quanh năm bốn mùa mái nhà và góc vườn vào những đêm có trăng được ngập ánh trăng chiếu sáng, ngôi vườn thì luôn thoang thoảng mùi hương kỳ lạ như mùi hương của những cây vị thuốc bạch đàn hương, thanh hải hương, ngọc quế hương…

Cũng chính ở xóm Rẫy nầy vì gần cạnh ao sen miếu Lịnh nên thường xuyên Mộng Tuyết lúc đó chỉ là một cô bé theo các chị ra ao sen lấy nước và gặp chàng thư sinh thanh nhã đang thong thả ngắm hoa sen, lòng cảm thấy có chút mộng mơ, rồi đến lúc tuổi đi học nhiều năm sau mới biết ra người đó chính là thầy giáo Lâm Tấn Phác và hai người có một định mệnh gắn bó cả đời…

Cũng tại xóm Rẫy đó, nhà thơ Nguyễn Bính (1) sau nhiều tháng đi ngao du hải hồ ở Huế, Sài Gòn, cũng lần mò đến tận Hà Tiên và để hồn mình hòa vào cái xóm thơ mộng của bà chị Mộng Tuyết rồi con tim cũng có chút rung động trước cô cháu gái của Mộng Tuyết…

Lúc đó vào khoảng năm 1944, người vợ thứ hai của Đông Hồ là Thái Nhàn Liên (Thái Thị Thân) cũng là người chị thứ năm của Mộng Tuyết (Thái Thị Sửu), đang bị bệnh, có lúc được đưa lên Sài Gòn để chửa trị, rồi lại phải đưa về nhà ông Đông Hồ ở Hà Tiên, bà Mộng Tuyết phải lo cho chị và các cháu nhỏ (2). Ngoài chợ Hà Tiên (3) Mộng Tuyết có một tiệm may đặt tên là Yiễm Yiễm thương điếm và cũng là tiệm sách tên Yiễm Yiễm thư trang (4), đúng lúc nầy nhà thơ Nguyễn Bính xách va ly xuất hiện tại tiệm may để tìm gặp Mộng Tuyết, thực ra thì từ trước, khi Đông Hồ, Mộng Tuyết thường giao lưu văn hóa với các nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc, Đông Hồ có viết thư mời Nguyễn Bính đi Hà Tiên một chuyến để bạn thơ văn được gặp nhau.

Sau buổi gặp mặt, Nguyễn Bính rất mừng và được đưa về nhà Đông Hồ để trú ngụ, vì thời gian ở cũng kéo dài nên Đông Hồ nhường căn gác mang tên Nam Phong tiểu các cho Nguyễn Bính (hay Gác Nam Phong, nơi Đông Hồ viết văn, làm thơ và tàng trữ các số báo Nam Phong). Vì Nguyễn Bính nhỏ tuổi hơn Mộng Tuyết nên ông xem nữ sĩ như một người chị tinh thần, đối lại, Mộng Tuyết cũng chăm sóc Nguyễn Bính rất chu đáo như là một chú em trong nhà, nữ sĩ đã may cho ông một bộ quần áo bà ba bằng lụa Hà Đông, còn Đông Hồ thì dành cho ông những ngọn nến hồng lạp quý giá để đêm đêm ông chong đèn làm thơ trên gác.

Thường ngày, sau khi ăn sáng ở nhà Đông Hồ, Nguyễn Bính ra tiệm may Yiễm Yiễm thương điếm của Mộng Tuyết để trông tiệm giúp và nhất là lãnh công đi bỏ thư cho nữ sĩ ở bưu điện, vì đi bỏ thư rất nhiều lần đến nổi Nguyễn Bính thuộc lòng các địa chỉ người nhận thư và có lần cũng muốn ghen tức vì thấy thư gởi cho một tên người rất nhiều lần…

Những buổi sáng như thế, nữ sĩ đi chợ và thường mua trà và bánh ngọt cho ông thưởng thức, Nguyễn Bính rất thích chiếc bánh qui của Hà Tiên, chiếc bánh làm bằng nếp dẻo màu trắng, hình nửa trái cầu trên đỉnh có một vòng đỏ như có đóng triện son, bên trong có nhân dừa ngào đường hoặc đậu xanh ăn rất ngon.

Theo hồi ký trong bài « Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên » đăng trên tạp chí Văn số 60, năm 1966, Mộng Tuyết kể lại là Nguyễn Bính thường đưa Mộng Tuyết về nhà ở xóm Rẫy sau khi đóng cửa tiệm ở chợ, vì ông còn chưa biết đi xe đạp nên nữ sĩ phải dắt xe đi bộ cùng ông, điều nầy làm cho Nguyễn Bính thấy hơi xấu hổ nên ông cố gắng lén tập chạy xe đạp để rồi có những buổi chiều ông đã đưa được MộngTuyết về nhà trên chiếc xe đạp… Nữ sĩ còn kể rằng bà và Đông Hồ thường bàn chuyện về bộ Tam Quốc Chí cho Nguyễn Bính nghe, nghe mà không thể góp ý được vì ông chưa từng biết chuyện nầy, đó lại là một điều làm ông cũng thấy xấu hổ vì Mộng Tuyết và Đông Hồ rất ngạc nhiên vì sao ông lại chưa đọc Tam Quốc Chí…

Đến khi Nguyễn Bính quyết tâm đọc bộ Tam Quốc suốt nhiều đêm thì ông lại thấy rất thích bộ truyện Tàu nầy và đã đưa vào truyện dài bằng thơ do ông viết trong thời gian nầy nhiều điển tích từ Tam Quốc Chí.

Nguyễn Bính thường rủ Đông Hồ vào Rẫy chơi sau khi ăn tối xong. Có đêm Đông Hồ không đi thì Nguyễn Bính cũng đi một mình…Rồi vì nhà ở Rẫy thì đầu hôm thường đóng cửa, bên trong sinh hoạt trong nhà, cô cháu của Mộng Tuyết, tên Ngọc (5), đọc Tam Quốc cho thân mẫu của nữ sĩ nghe, Nguyễn Bính đến trể nhìn cửa đã cài then, không dám kêu cửa, chỉ ngồi ở mái hiên gần tới khuya và nghe trộm tiếng cô gái Ngọc đọc sách, cách một cánh cửa, ông nói có một điều thú vị riêng….

Trong bài viết « Bóng giai nhân và Nguyễn Bính » đăng trên tạp chí Văn số 189, năm 1971, Mộng Tuyết có kể lại khi ở gác Nam Phong nhà Đông Hồ, ông tình cờ tìm gặp lại tấm thiệp do Mộng Tuyết còn giữ kỹ lại từ năm 1942 khi bà được mời xem vở kịch « Bóng Giai Nhân » được tổ chức ở Nhà Hát Tây Hà Nội, ông rất ngạc nhiên và cũng rất thích thú, vì một điều là vở kịch thơ đầy màu sắc Xuân Thu Chiến Quốc nầy do một người bạn thời ở Huế là Xuân Khai (hiệu Yến Lan) viết với sự hợp tác của ông, một điều nữa là ông thấy Mộng Tuyết cũng đã xem và biết vở kịch thơ nầy…Kỷ niệm chợt hiện về và nhà thơ lại cao hứng đẽo gỗ làm gươm thiêng để độc diễn lại vở kịch cho Đông Hồ và Mộng Tuyết xem. Một công trình tay chân của Nguyễn Bính nữa là ông đã dùng một đoạn tre già và dây đồng để chế ra cái điếu có chân để hút thuốc lào, vì thời đó ở Hà Tiên không tìm ra đâu được cái điếu thuốc lào. Hai công trình thủ công nầy khiến ông rất hảnh diện.

Ở Hà Tiên thời xưa, vào dịp Tiết Đoan Ngọ (ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), có tục nấu nước lá Thạch Xương Bồ để tắm gội, xông hơi, lá có tinh dầu, tác dụng tẩy uế. Thấy Mộng Tuyết nấu nước lá Thạch Xương Bồ, Nguyễn Bính thích cái tên đó nên sẳn lúc đang viết một trường thiên truyện thơ dài dạng lục bát, nên lấy ba chữ Thạch Xương Bồ đặt tên cho tác phẩm mà ông nói là sẽ dài hơn cả truyện Kiều.

Thời gian dần dà trôi đi, nhà thơ chân quê Nguyễn Bính ở Hà Tiên đã được nhiều tháng, cuộc sống có vẻ ngăn nắp, yêu đời, lành mạnh, mẫu mực, đằm thắm với hai nhà thơ đất Hà và đặc biệt là ông luôn mộng mơ và nghĩ nhiều đến cô cháu của Mộng Tuyết. (6)

Cuối cùng không biết có phải máu giang hồ, lãng du nổi lên hay có một quyết định nào đó đúng đắn hơn, mặc dù trường thiên truyện dài bằng thơ lục bát mới viết chưa được bằng nửa truyện Kiều mà Nguyễn Bính nhất định rời Hà Tiên mặc dù đôi thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết hết sức níu giữ lại…

Nguyễn Bính không hoàn thành truyện thơ lục bát Thạch Xương Bồ trong lúc ở Hà Tiên, tuy nhiên sau khi ra đi về Rạch Giá, rồi mãi một thời gian sau không có tin tức, sau nầy mới biết là ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến. Không biết ông đã bắt đầu viết từ lúc nào nhưng sau đó ông đã có một tác phẩm đặc biệt mà ông xem như là Trường ca người xóm Rẫy, viết để tặng người chị Mộng Tuyết và em… Ngọc, người mà khi ông vừa có bộ áo bà ba may bằng lụa, đã thêu trên vạt áo cho ông bốn chữ Hán « Khả Thủy Sơn Nhơn », Mộng Tuyết không đoán ra nghĩa gì nhưng ông Đông Hồ giải thích đó là do cách chiết tự hai chữ Hà Tiên, Khả Thủy là Hà và Sơn Nhơn là Tiên.

Một thời gian sau, Mộng Tuyết nhận được một bài thơ vận « Rẫy », bài thơ Hà Tiên, người xóm Rẫy…(sẽ sao chép lại phần cuối bài).

Có thể là xóm Rẫy của Hà Tiên qua trường ca Người xóm Rẫy của nhà thơ lãng du Nguyễn Bính viết làm cho cái xóm yên bình xinh đẹp nầy thêm nhiều người biết và trở thành nổi tiếng chăng? Ngày nay chúng ta chỉ còn biết xóm Rẫy qua thơ văn và hồi ký của người nữ sĩ quê xóm Rẫy. Bây giờ dấu vết xưa hình như biến mất cả, nhà cửa quá xưa vì thời gian, chiến cuộc đã sụp đổ, hư hao, vườn tược, nương rẫy mất dần nhường chỗ cho nhà gạch, nhà ngói, nhà lầu, nhà đúc mọc lên, không còn hoa xinh, cỏ lạ với mùi hương thoang thoảng như mùi các cây vị thuốc,… Trước miếu Lịnh và ao sen cũng đã thay đổi bộ mặt, mé ao sáng sủa, ngăn nắp hơn, bệ gạch xi măng thẳng tấp không còn cây cỏ hoang dại quanh bờ ao như ngày xưa, cảnh vật có vẻ hiện đại hơn tuy xinh đẹp nhưng mất dần đi tính thơ mộng…, ngay cả con đường dẫn về xóm Rẫy ngày xưa ngập nước dưới ánh sáng đom đóm lập lòe đã thay đi lớp đất ghồ ghề bằng một mặt đường tráng nhựa trơn láng…

Dưới đây là bài thơ theo một vần là vần « Rẫy », bài thơ rất dài, có nhiều chương (I, II, …), được trích ra ở đây một vài phần để chúng ta thưởng thức :

Bài thơ vần Rẫy
Gởi người chị « Dưới Mái Trăng Non »

Phần mở đầu :
Một mình làm khách gác Nam Phong
Giở Tam Quốc Chí đọc mê mải
Mơ xanh uống rượu luận anh hùng
Tóc bạc, ném nghiên tỏ khí khái
Mê gái, cửa thành giết bố nuôi
Thương người, đường hẻm thả giặc chạy…
……….
Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy
Đường mòn, bóng nhạt soi tà tà
Biển khơi, gió mặn thổi hây hẩy
Giậu thưa, rau muống loe màu xanh
Bờ vắng, chim cu ồn tiếng gáy
Thân cau thương nhớ ai gầy mòn
Tay chuối đợi chờ ai ve vẩy…
Hoa tươi gặp gió tha hồ rung
Trái chín gần tay tự do hái
Đời người đã thong thả thế ru?
Đời người đã sung sướng đến vậy:
Vườn cây, gió thổi lộng muôn cành
Nhà cỏ, trăng soi vàng nửa mái.
Thềm trăng, trải chiếu ngồi song song
Bàn chuyện Tam Quốc cười sảng khoái.
Khương Duy mật to như trứng gà
Mã Siêu mặt đẹp như con gái
Mê gái cửa thành giết bố nuôi
Vì nước qua thuyền giành chúa dại
Xót anh, may áo tang ba ngày
Nhớ nghĩa, đường cùng thả giặc chạy
Vận trời thế đất đang chông chênh
Thiên hạ chia ba, ai thắng bại?
Ai ngờ ông trời làm trò đùa
Cả ba chân vạc theo nhau gẫy.
…..
Dần dà nói đến chuyện nhân duyên
Chị có cô cháu tuổi mười bảy
Tóc dài chấm gót má hồng tươi
Mi vòng cánh cung mắt đen láy
Chị ơi! trôi nổi là thân tôi
Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải
Than ôi! không có giá liên thành
Để đổi cho tròn viên ngọc ấy!
Xứ người lần lữa gót phiêu linh
Quê cũ cha anh hết trông cậy.
Tấm thân bảy thước chửa ngang tàng
Khói lửa bốn trời đã bốc dậy.
Con thuyền dầu lạc hướng phương nào
Vẫn nhớ ai người nơi tuyệt tái!
Chừng nào mới lại vào Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy?
Chắc chẳng bao giờ nữa, chị ơi:
“Hoa lưu động khẩu ưng trường tại…” (7)

Chú thích :

(1): Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, có lúc vì thời cuộc ông đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết, người Nam Định. Ông được xem là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng và cũng là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc. Một vài tác phẩm nổi tiếng đặc trưng của ông như: Lỡ bước sang ngang, Cô hái mơ, Cô lái đò…

(2) : Thời gian nầy Đông Hồ có hai người con gái còn nhỏ tuổi : Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm.

(3) : Ngôi chợ Hà Tiên trong thời điểm nầy có thể không phải là ngôi chợ ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh như ở thời điểm những năm 50, 60, 70. Ngôi chợ trong bài viết nầy có thể tọa lạc ngay phía trước khách sạn Đại Tân (hay sau đó tên Đông Hồ), sát ngay bến đò qua xóm Tô Châu. Đến những năm cuối thập niên 40 người ta mới bắt đầu cất ngôi chợ mới ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh, bây giờ ngôi chợ mới nầy cũng đã bị phá hủy và nơi đây trở thành một công viên rộng lớn.
(4) : Đó là một cách viết của ông Đông Hồ : Viết là Yiễm Yiễm nhưng vẫn đọc là Diễm Diễm.

(5) : Nhân vật « Ngọc » ở đây chính là cô cháu gái tên Hồng Tú Ngọc, cháu nữ sĩ Mộng Tuyết. Bà Hồng Tú Ngọc không có gia đình, mất khoảng hơn 70 tuổi, thân mẫu của bà là người chị thứ hai của Mộng Tuyết.

(6) : Theo nhà văn Sơn Nam trong bài “Vài kỷ niệm về nhà thơ Nguyễn Bính » đăng trên tạp chí Văn số 60, năm 1966, Nguyễn Bính thừa lúc ở Hà Tiên để xa lánh nàng tiên nâu, ả Phù Dung (bỏ tật hút thuốc phiện), trong thời gian đó ông không hút điếu nào cả.

(7) : Câu thơ “Hoa lưu động khẩu ưng trường tại” trích trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động” của Tào Đường, một thi nhân đời Vãn Đường, năm sinh và năm mất không rõ. Ông tên chữ là Nghiêu Tân, hiệu Tố Quá đạo sĩ, người Quế Châu, ông có hơn 140 bài thơ được lưu lại. Câu thơ chữ Hán trên có nghĩa là Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi.

Tài liệu tham khảo :

*/ Tạp chí Bách Khoa số 344, 1971.

*/ Tạp chí Văn các số 60 (1966), 145 (1970) và 189 (1971).

*/ Tiểu luận « Nguyễn Bính và Tỉnh giấc chiêm bao », tác giả Nguyễn Ước, Văn Chương Việt, 2/2010.

*/ « Theo dấu văn thơ – Kỳ 10: Về nơi núi Mộng gương Hồ », tác giả Thanh Dũng, báo Thanh Niên, 8/2013.

*/ « Nguyễn Bính hành phương Nam – Bài 3: Từ gác Nam Phong đến thơ Người xóm Rẫy », tác giả Hà Đình Nguyên, báo Thanh Niên, 3/2010.

*/ « Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội với tùy bút Dưới Mái Trăng Non », tác giả Hồ Trường An, Văn Tuyển, 5/2014.


Paris, ngày 11 tháng 6 năm 2026, Trần Văn Mãnh.

Vị trí Xóm Rẫy ở Hà Tiên (Khung màu xanh lá cây)

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ khoảng năm 1944 tại Hà Tiên. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên.

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ khoảng năm 1944 tại Hà Tiên. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên.

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947/feed 0
Nhật ký Đặng thuỳ Trâm https://thuonghylenien.org/luu-tru/6944 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6944#respond Sun, 13 Sep 2026 06:52:37 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6944 Nhat ky Dang Thuy Tram

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6944/feed 0
Lược sử Y Học (Bài 10) https://thuonghylenien.org/luu-tru/6939 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6939#respond Sun, 13 Sep 2026 06:10:54 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6939 Lược sử Y Học (Bài 10)

Chụp Ảnh Cơ Thể

 

Hầu hết các ngành y đã tồn tại từ thời Hippocrates của Hy Lạp cổ đại, Trương Trọng Cảnh ở Trung Quốc, và Charaka của Ấn Độ. Những bậc tiền bối này hẳn sẽ kinh ngạc trước phép màu hiện đại của hình ảnh y học, cho phép nhìn thấy bên trong cơ thể mà không cần mổ xẻ. X-quang là chuyên khoa y tế sử dụng hình ảnh để chẩn đoán bệnh, theo dõi tiến triển và thực hiện các liệu pháp. Đây là một lĩnh vực kết hợp sinh học, hóa sinh và y học với vật lý và công nghệ. Những người tiên phong trong lĩnh vực này đã giành được không ít giải Nobel và các giải thưởng danh giá khác, và nó nổi tiếng với hàng loạt các từ viết tắt gây chóng mặt – CT, MRI, PET, SPECT, US, v.v.

 

Công nghệ hình ảnh chỉ mới tồn tại hơn một thế kỷ. Đầu tiên là tia X, câu chuyện về nó đã được ghi chép lại đầy đủ. Vào ngày 8 tháng 11 năm 1895, nhà vật lý người Đức Wilhelm Röntgen đang thử nghiệm một thiết bị điện thời thượng vào thời của ông – ống chân không cao áp hay ống Crookes. Ống này sử dụng điện để tạo ra “tia âm cực”, sau này được phát hiện là các chùm hạt gọi là electron. Röntgen nhận thấy rằng, mặc dù ống của ông được che chắn bằng bìa cứng, nó vẫn làm phát sáng một màn hình gần đó – một màn hình được phủ một hóa chất gọi là bari plantinocyanide để chuẩn bị cho một thí nghiệm khác về tia âm cực. Các nhà nghiên cứu khác đã nhận thấy hiện tượng này với các ống cao áp, nhưng không theo đuổi nó. Röntgen quyết định điều tra đầy đủ. Trong nhiều tuần, ông miệt mài nghiên cứu “những tia bí ẩn” phát ra từ ống, và phát hiện ra rằng chúng xuyên qua các vật liệu ít đặc hơn như giấy và bìa cứng, nhưng không xuyên qua các vật liệu đặc và nặng như kim loại. Ngoài ra, khi ông giữ các vật thể trên đường đi của chúng để xem chúng có tạo ra bóng hay không, ông thấy rằng xương bàn tay của mình được chiếu lên màn hình – một hiện tượng có tiềm năng y học to lớn.

WILHELM RÖNTGEN

Được biết đến là cha đẻ của ngành chẩn đoán hình ảnh, nhà vật lý Đức Wilhelm Röntgen là người tiên phong trong việc sử dụng tia X Röntgen để chụp ảnh y tế.

BÀN TAY CỦA BÀ RÖNTGEN

Vào năm 1895-1896, Röntgen đã chụp một số bức ảnh X-quang bàn tay của vợ mình, bức ảnh này có đầy đủ hai chiếc nhẫn và một cặp compa.

 

Ngày 22 tháng 12, Röntgen đặt một tấm phim lên màn hình và chụp ảnh bàn tay của vợ mình, để lộ xương – khiến bà thốt lên: “Tôi đã chứng kiến ​​cái chết của chính mình!” Röntgen đặt tên cho các tia này là “tia X”, vì bản chất của chúng vẫn chưa được biết rõ, và công bố kết quả nghiên cứu của mình vào cuối tháng đó. Năm 1901, ông được trao giải Nobel Vật lý đầu tiên “để ghi nhận những đóng góp phi thường của ông trong việc khám phá ra các tia đáng chú ý sau này được đặt theo tên ông” – mặc dù cái tên “tia Röntgen” đã sớm được thay thế bằng “tia X”. Ngay sau khám phá của Röntgen, các bác sĩ đã tận dụng tối đa công nghệ mới này. Ngày 11 tháng 1 năm 1896, tại Birmingham, Anh, bác sĩ phẫu thuật John Hall-Edward đã chụp X-quang một cây kim cắm vào tay bệnh nhân, và ngày 3 tháng 2, tại Connecticut, Giáo sư Y khoa Gilman Frost đã chụp X-quang cổ tay của Eddie McCarthy, 14 tuổi, người đã bị gãy xương hai tuần trước đó. Ngày 14 tháng 2, trở lại Birmingham, Hall-Edward đã chụp X-quang cho một bệnh nhân trước khi phẫu thuật để giúp định hướng ca phẫu thuật.

 

Đến đầu thế kỷ 20, việc sử dụng tia X đã trở nên phổ biến, và người ta nhận thấy rằng mô cơ thể càng đặc thì càng làm giảm (làm yếu) tia, nghĩa là xương và sụn hiện rõ nhất, trong khi các mô mềm hơn khó nhìn thấy. Phải mất vài năm sau, tác hại của loại bức xạ này mới trở nên rõ ràng, và thậm chí còn lâu hơn nữa, liệu pháp xạ trị mới biến điều này thành lợi thế. Năm 1908, Hall-Edward phải cắt bỏ cánh tay trái do tổn thương bởi bức xạ. Tuy nhiên, liều lượng bức xạ đã giảm và thiết bị dần được cải tiến, cung cấp hình ảnh có thể được ghi lại trên phim ảnh hoặc xem “trực tiếp”, chuyển động trên màn hình huỳnh quang. Hình ảnh trên các màn hình “soi huỳnh quang” này là cực kỳ nhợt nhạt và tối tăm, điều này có nghĩa là mức độ ánh sáng trong phòng khám phải được giữ ở mức tối thiểu. Vào những năm 1950, các bộ khuếch đại hình ảnh điện tử và các loại máy ảnh mới đã làm cho hình ảnh trên màn hình huỳnh quang đủ sáng để có thể xem dưới ánh sáng bình thường và được ghi lại để nghiên cứu sau này.

BẢO VỆ BỨC XẠ

Một kỹ thuật viên chụp X-quang của quân đội Pháp đang mặc đồ bảo hộ trước khi sử dụng thiết bị chụp X-quang. Bức ảnh được chụp vào năm 1918, gần cuối Thế chiến thứ nhất.

Các kỹ thuật chụp X-quang khác cũng đã được phát triển. Ngay từ năm 1906, các chất cản quang hay còn gọi là “thuốc nhuộm”, đã được sử dụng. Những chất này chặn tia X, do đó chúng hiển thị rõ ràng trên hình ảnh chụp X-quang. Chúng có thể được đưa vào cơ thể dưới dạng chất lỏng, để hiển thị chi tiết các cấu trúc rỗng như dạ dày và ruột. Đến những năm 1920, các hợp chất gốc bari đã được uống hoặc đưa vào qua đường thụt tháo để hiển thị đường viền ruột. Kỹ thuật tương tự cũng được áp dụng cho mạch máu, sử dụng thuốc nhuộm gốc iốt. Nhà phát triển kỹ thuật này, bác sĩ thần kinh người Bồ Đào Nha António Egas Moniz, đã tiên phong trong chụp động mạch não để hình dung các mạch máu của não, và nhờ đó ông đã nhận được Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y khoa năm 1949.

 

Năm 1913, nhà vật lý người Mỹ William David Coolidge đã phát minh ra ống tia X “cathode nóng” hay ống tia X nhiệt điện tử để thay thế loại Crookes “lạnh” cũ. Tia X của nó cho hình ảnh rõ nét hơn, sắc nét hơn so với ống Crookes, đặc biệt là ở những vùng sâu bên trong cơ thể. Cùng năm đó, bác sĩ phẫu thuật kiêm bác sĩ bệnh học người Đức Albert Salomon đã kiểm tra tỉ mỉ 3.000 mẫu vật vú cắt bỏ, chụp X-quang để so sánh và chỉ ra mối tương quan giữa các đốm trên hình ảnh với sự phát triển của ung thư vú. Công trình của ông đã đặt nền móng cho chụp nhũ ảnh, một nhánh y học chuyên phát hiện các dấu hiệu sớm của ung thư vú.

 

Hai người nhận giải Nobel khác về hình ảnh y tế là Godfrey Hounsfield và Allan Cormack, cùng nhận được vinh dự này vào năm 1979 “vì sự phát triển của chụp cắt lớp vi tính – thường được gọi là quét CAT hoặc CT, là hình ảnh được tạo thành từ một loạt các đơn vị ánh sáng nhỏ, từng dòng một. Hounsfield lớn lên trong một trang trại ở Nottinghamshire, Anh, và từ khi còn nhỏ, ông đã phát minh, mày mò và cải tiến đồ chơi và máy móc, thậm chí còn nhảy từ đống cỏ khô xuống để thử nghiệm một chiếc tàu lượn tự chế. Ông tiếp tục theo đuổi sở thích về máy bay trong Thế chiến II, chuyển sang lĩnh vực radio và radar, và làm việc tại Tây London cho EMI (Electrical and Musical Industries khi đó là một công ty nghiên cứu công nghiệp cũng như một hãng thu âm). Tìm kiếm các dự án trong tương lai, ông lưu ý: “Chính trong khi khám phá các khía cạnh khác nhau của nhận dạng mẫu và tiềm năng của chúng, vào năm 1967, ý tưởng nảy ra trong tôi mà sau này sẽ trở thành máy quét EMI và kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính.”

 

Quét đòi hỏi máy tính phải xử lý dữ liệu thô thành hình ảnh, vì vậy nó không trở thành một phần của quy trình y tế chính thống cho đến những năm 1970. Chùm tia X yếu của máy quét CT đi qua cơ thể bệnh nhân đến một bộ phận dò ở phía bên kia, khi toàn bộ thiết bị xoay quanh bệnh nhân. Sau đó, thiết bị di chuyển đến phần tiếp theo của cơ thể bệnh nhân và lặp lại quá trình, cứ thế. Máy tính phân tích kết quả và tạo ra một loạt hình ảnh cắt ngang của cơ thể. Kỹ thuật này được gọi là “chụp cắt lớp (tomography)”, bắt nguồn từ thuật ngữ “vẽ lát cắt” trong tiếng Hy Lạp. Các mặt cắt ngang sau đó được biên dịch để tạo ra hình ảnh 3D đầy đủ của cơ thể, không chỉ cho thấy xương và sụn mà còn cả toàn bộ các mô mềm. Không giống như hình ảnh X-quang truyền thống, mỗi điểm quét được mã hóa kỹ thuật số, cho phép phóng to và thao tác chưa từng có trước đây, và truyền tải điện tử rộng rãi.

 

Các thử nghiệm CT đầu tiên của Hounsfield vào cuối những năm 1960 tập trung vào não, bộ phận không thể nhìn thấy bằng tia X thông thường vì nó được che chắn trong hộp sọ. Ban đầu, Hounsfield quét các cơ quan động vật bằng tia gamma, một quá trình mất nhiều ngày để thực hiện trên một máy tính cơ sở hạ tầng lớn. Việc chuyển sang tia X và các máy quét tốt hơn đã giảm đáng kể thời gian thực hiện một lần quét. Nhóm của Hounsfield đã công bố các bản chụp CT sơ bộ vào năm 1968, thực hiện các lần chụp CT đầu lâm sàng vào năm 1971, ra mắt máy quét EMI đầu tiên vào năm 1972 và chuyển sang quét toàn thân vào năm 1974. Hounsfield đã tình nguyện làm vật thí nghiệm cho các lần quét não và toàn thân, tuyên bố rằng ông có thể nhìn thấy bữa trưa của mình ở quán rượu với bia và khoai tây chiên. Tại một hội nghị ở Bermuda năm 1975, ông đã trình diễn các bản chụp CT toàn thân của chính mình – sau đó, kỹ thuật được chấp nhận bởi cơ sở. Người đồng nhận Giải Nobel với Hounsfield

là nhà vật lý Nam Phi Allan Cormack, người đã công bố cơ sở lý thuyết của phương pháp chụp CT vào đầu những năm 1960. Tuy nhiên, hai người chưa từng gặp nhau trước lễ trao giải Nobel ở Stockholm.

 

Tia X là một dạng bức xạ điện từ, có phổ bước sóng rộng. Các bước sóng này trải dài từ sóng vô tuyến tương đối dài đến sóng vi ba ngắn hơn, ánh sáng hồng ngoại, ánh sáng khả kiến, ánh sáng cực tím, tia X và tia gamma. Những tia ngắn nhất này được sử dụng trong kỹ thuật chụp ảnh hạt nhân, một kiểu quét y tế “từ trong ra ngoài” (“hạt nhân” bắt nguồn từ “hạt nhân” – phần trung tâm của hạt nhỏ nhất trong vật chất thông thường, nguyên tử). Không giống như hầu hết các công nghệ chụp ảnh, vốn chiếu bức xạ vào và xuyên qua cơ thể, chụp ảnh hạt nhân hoạt động bằng cách đưa các chất phát ra tia gamma hoặc bức xạ tương tự vào bên trong cơ thể và sử dụng các đầu dò bên ngoài để theo dõi chuyển động của chúng. Các chất này được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hạt nhân phóng xạ, đồng vị phóng xạ, đồng vị phóng xạ, chất đánh dấu phóng xạ, thẻ phóng xạ và nhãn phóng xạ.

 

Các chất phóng xạ có hạt nhân không ổn định, phát ra sóng điện từ (và đôi khi là các hạt) khi chúng chuyển sang dạng bền hơn. Chúng được tích hợp vào các chất được đưa vào cơ thể qua đường tiêu hóa, tiêm hoặc hít, và được theo dõi tại các vị trí cụ thể. Thiết bị phát hiện đầu tiên của chúng là camera gamma (hay “scintillation”), còn được gọi là camera Anger, theo tên nhà vật lý người Mỹ Hal Anger, người đã phát triển chúng vào năm 1957. Một trong những chất phóng xạ được sử dụng phổ biến nhất là technetium-99m. Được phát hiện vào năm 1938, nó đã trở nên phổ biến vào những năm 1960, sau khi một máy phát điện để tạo ra nó được phát minh bởi Powell Richards, Walter Tucker và một nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, New York. Technetium-99m giảm một nửa sau mỗi sáu giờ, do đó mức độ phơi nhiễm của bệnh nhân thấp, mặc dù bức xạ của nó có thể dễ dàng phát hiện bằng thiết bị chẩn đoán. Nó được sử dụng để chụp ảnh nhiều loại mô cơ thể, bao gồm xương, tim, tuyến giáp và phổi. Technetium-99m thường được sử dụng như một phần của quá trình quét SPECT (chụp cắt lớp phát xạ photon đơn), giống như chụp CT, tạo ra hình ảnh 3 chiều theo từng lát cắt khi các máy dò quay xung quanh cơ thể.

 

Một kỹ thuật chụp ảnh điện từ khác là MRI (chụp cộng hưởng từ). MRI cũng tạo ra một loạt lát cắt cho phép nhìn thấy các mô mềm cũng như xương và sụn cứng hơn. Kỹ thuật này hoạt động bằng cách sử dụng từ tính sắp thẳng hàng các hạt nhân nguyên tử hydro trong cơ thể bệnh nhân – các hạt nhân nhân vốn thường quay và lắc lư theo mọi hướng, sau đó giải phóng chúng để phát ra các xung vô tuyến, được các cảm biến xung quanh cơ thể bệnh nhân phát hiện. Vì nguyên tử hydro chiếm hai phần ba cơ thể, là thành phần của nước (H2O), carbohydrate và chất béo, nên MRI có thể chụp ảnh hầu hết các bộ phận của cơ thể, bao gồm não, cơ, mô liên kết, dây thần kinh, mạch máu và khối u.

 

MRI lần đầu tiên được nghiên cứu vào năm 1946 bởi nhà vật lý người Mỹ gốc Thụy Sĩ Felix Bloch tại Đại học Stanford và nhà vật lý người Mỹ Edward Purcell tại Đại học Harvard. Ban đầu, họ nghĩ đến việc sử dụng MRI để chụp ảnh bên trong cơ thể, nhưng mối quan tâm chính của họ là nghiên cứu thành phần cấu trúc của các chất hóa học. Trong những năm 1960 và 1970, nhà hóa học người Mỹ Paul Lauterbur đã áp dụng kỹ thuật này vào chụp ảnh y tế và sử dụng máy MRI tại Đại học Stony Brook, New York, để làm các thử nghiệm. Cùng lúc đó, nhà vật lý người Anh Peter Mansfield cũng đang nghiên cứu về MRI, thiết lập cách tạo ra hình ảnh từ các xung vô tuyến phát ra từ hạt nhân hydro. Đến cuối những năm 1970, ông đã thực hiện các bản quét toàn bộ cơ thể người. Lauterbur và Mansfield đã cùng chia sẻ Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2003 “cho những khám phá của họ liên quan đến chụp cộng hưởng từ”. Mansfield tiếp tục phát triển MRI xa hơn nữa với một kỹ thuật gọi là chụp ảnh phản xạ phẳng, cho phép chụp ảnh nhanh hơn nữa.

QUÉT MRI

Bệnh nhân nằm bên trong máy quét MRI. Máy thực chất là một nam châm lớn, mạnh mẽ tác động lên các hạt nhân nguyên tử khác nhau trong cơ thể để tạo ra hình ảnh có thể được sử dụng để đánh giá tình trạng của bệnh nhân.

 

Gần đây hơn, các máy quét kết hợp hai hoặc nhiều công nghệ đã được phát minh. Ví dụ, máy quét PET/CT cho thấy cả cấu trúc mô – thông qua CT (chụp cắt lớp vi tính) và chức năng mô – thông qua PET (chụp cắt lớp phát xạ positron). PET có một lịch sử lâu dài, bao gồm những tiến bộ được thực hiện vào đầu những năm 1970 tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, bởi James Roberston và Sy Rankowitz, và tại Montreal, Canada, bởi Chris Thompson, Ernst Myer và Lucas Yamato. Michael Phelps và các đồng nghiệp của mình tại Đại học Washington đã chế tạo những chiếc máy chụp cắt lớp đầu tiên vào năm 1973-1974. Một trong số đó, PET III đã tạo ra những lần quét đầu tiên có chất lượng như ngày nay, và vào năm 1978, máy quét PET thương mại đầu tiên, ECAT II (Máy chụp cắt lớp trục phát xạ II) đã có mặt trên thị trường.

 

Các phát hiện vĩ đại do tình cờ hiếm gặp hơn nhiều so với mức công chúng vẫn tưởng.”

EDWARD PURCELL

 

Tương tự như quét hạt nhân phóng xạ, quét PET đòi hỏi phải đưa một chất đánh dấu phóng xạ không ổn định vào cơ thể, một ví dụ phổ biến là glucose. Chất này bắn ra các hạt gọi là positron, tức là các electron đối lập với electron “quay quanh” hạt nhân nguyên tử, và khi mỗi positron va chạm với một electron đối lập, hai hạt này sẽ hủy lẫn nhau trong một chùm tia gamma được các cảm biến phát hiện. Các tế bào và mô hoạt động mạnh nhất đốt cháy glucose nhanh nhất, vì vậy chúng xuất hiện dưới dạng các điểm nóng trên hình ảnh thu được. Quét PET cho thấy hoạt động của các cơ quan và mô, và được ứng dụng rộng rãi trong tim mạch, điều trị ung thư, và thậm chí trong việc đánh giá một số bệnh lý tâm thần như tâm thần phân liệt hoặc lạm dụng chất gây nghiện. Mặc dù chụp PET nhất thiết phải sử dụng bức xạ, nhưng mức độ bức xạ được sử dụng thấp, tương đối an toàn và không gây đau đớn hoặc khó chịu cho bệnh nhân, mặc dù một số bệnh nhân có thể cảm thấy sợ không gian hẹp khi nằm trong phạm vi hẹp của máy quét. Chụp PET cũng thường được sử dụng kết hợp với các hình thức chụp ảnh khác, chẳng hạn như CT và MRI, giúp làm sáng tỏ cấu trúc mô. PET đặc biệt hữu ích trong việc xác định các tế bào đang phân chia mạnh mẽ trong khối u, và một biến thể của chụp MRI, được gọi là fMRI (f là viết tắt của chức năng), cho thấy hoạt động của não.

 

Máy quét PET/CT là phát minh y khoa của năm 2000 do Tạp chí TIME bình chọn. Sự phát triển của công nghệ quét đã mang lại lợi ích to lớn cho bệnh nhân trên toàn thế giới, cả về mặt chẩn đoán lẫn các thủ thuật không xâm lấn, tương đối an toàn và thoải mái. Các bác sĩ X quang ngày nay có nhiều lựa chọn máy chụp, mỗi loại đều có những ưu điểm riêng. Ví dụ, siêu âm (US); sử dụng sóng âm thay vì sóng điện từ để tạo ra hình ảnh, đây là một hình thức chụp cực kỳ an toàn và thường được sử dụng để kiểm tra trẻ sơ sinh trong bụng mẹ. Hình ảnh kỹ thuật số của các máy quét hiện đại có thể được phóng đại rất nhiều và phân phối điện tử trên toàn cầu để có được nhiều ý kiến ​​thứ hai. Mỗi ngày, hàng triệu lần quét xác định hoặc loại trừ các vấn đề, giúp lập kế hoạch phẫu thuật, theo dõi điều trị và nói chung là cứu sống mạng người – nhìn từ bên ngoài cơ thể mà không cần đến dao mổ.

 

Hình ảnh bên trong cơ thể

Việc phát hiện ra tia X vào cuối thế kỷ 19 đã giúp chúng ta lần đầu tiên nhìn thấy hình ảnh bên trong cơ thể, làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về cấu trúc, cách thức hoạt động và cách cơ thể bị ảnh hưởng bởi bệnh tật. Kể từ đó, các phương pháp chụp X-quang ngày càng tinh vi đã được phát triển – một số cho các cơ quan hoặc mô cụ thể, số khác cho toàn bộ cơ thể. Tất cả chúng đều là những công cụ hỗ trợ vô giá cho chẩn đoán, phẫu thuật và điều trị.

      

Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm (IVF)

 

Những em bé được thụ thai ngoài cơ thể, sau đó trứng đã thụ tinh được đưa trở lại tử cung người mẹ để phát triển và lớn lên bình thường. Bé đầu tiên như vậy, chào đời năm 1959, hầu như không gây chấn động thế giới – chắc chắn vì đó là một chú thỏ. Tuy nhiên, em bé đầu tiên trên thế giới được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm – Louise Brown, chào đời tại Oldham, Anh, vào ngày 25 tháng 7 năm 1978 – đã gây chấn động toàn cầu. Sự kiện này đã mang lại hy vọng cho hàng triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trên khắp thế giới đang gặp khó khăn trong việc thụ thai. Nó cũng khơi mào một cuộc tranh luận đạo đức lớn. Các bác sĩ bị cáo buộc “đóng vai Chúa” khi tạo ra sự sống ở nơi mà Chúa chưa cho phép. Câu trả lời của họ là họ không thực sự tạo ra sự sống đó; y học chỉ đơn giản là hỗ trợ một quá trình sinh học tự nhiên, do đó có thuật ngữ “hỗ trợ sinh sản”.

 

Trẻ sơ sinh là kết quả cuối cùng của một loạt các quá trình phức tạp, tinh tế mất khoảng chín tháng để hoàn thành. Các quá trình này bắt đầu trong cơ thể phụ nữ với sự giải phóng (rụng trứng) của một tế bào trứng chín (trứng trưởng thành) từ nang của nó trong một trong hai buồng tạo trứng. Sau đó, trứng di chuyển dọc theo ống dẫn trứng về phía tử cung. Trong khi đó, trong cơ thể nam giới, hàng triệu tế bào tinh trùng trưởng thành hàng ngày trong tinh hoàn. Trong quá trình quan hệ tình dục, khoảng 250-500 triệu tinh trùng trong chất lỏng dinh dưỡng của chúng (tinh dịch) được giải phóng vào âm đạo của phụ nữ và một số đi qua cổ tử cung vào tử cung và tiếp tục vào hai ống dẫn trứng. Nếu có một quả trứng chín trong một trong các ống, tinh trùng có thể thụ tinh cho trứng. Trứng đã thụ tinh (hợp tử) sau đó tiếp tục di chuyển dọc theo ống dẫn trứng vào tử cung, phân chia thành hai tế bào, bốn tế bào, tám tế bào, v.v., cho đến vài ngày sau, một khối tế bào hình cầu giống quả mâm xôi – phôi thai giai đoạn đầu, hay phôi dâu. Các tế bào của phôi dâu tiếp tục nhân lên cho đến khi tạo thành một cụm tế bào rỗng gọi là phôi nang, sau đó phôi nang này sẽ bám vào niêm mạc tử cung và tiếp tục phát triển. Toàn bộ chuỗi quá trình này được tính toán thời gian cẩn thận, và mỗi giai đoạn đều phụ thuộc vào việc giai đoạn trước đó đã hoàn thành mỹ mãn hay chưa, vì vậy, bất kỳ vấn đề nào trên chuỗi đều có thể ngăn cản quá trình thụ thai.

 

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), giúp trứng và tinh trùng gặp nhau “in vitro” (trong ống nghiệm), trái ngược với in vivo (trong cơ thể sống), trong “mô sống” của người mẹ. Năm 1978, em bé IVF đầu tiên được quảng cáo là “em bé ống nghiệm” đầu tiên, mặc dù thực tế quá trình thụ tinh có thể diễn ra trong nhiều loại vật chứa khác nhau, chẳng hạn như cốc thủy tinh, bình cầu, hoặc đĩa Petri (như trường hợp của Louise Brown). Sau khi thụ tinh, sự phát triển được theo dõi dưới kính hiển vi, và ba đến năm ngày sau, phôi thai đầu tiên, vẫn còn nhỏ khoảng một inch, được đưa vào tử cung – một quá trình được gọi là chuyển phôi.

 

Trong gần một nửa số trường hợp vô sinh, việc không thụ thai tự nhiên là do thiếu hụt tinh trùng nam. Nó cũng có thể là kết quả của việc chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ bị rối loạn, có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế sự rụng trứng. Điều này có thể là do thiếu hụt hoặc mất cân bằng giữa các hormone điều hòa chu kỳ, đặc biệt là estrogenprogesterone và hormone kích thích nang trứng. Tình trạng rụng trứng không đều hoặc không rụng trứng do các vấn đề về hormone có thể được điều trị bằng các loại thuốc hỗ trợ sinh sản. Một trong những loại thuốc đầu tiên trong số này là clomifene (được đăng ký nhãn hiệu là Clomid và Omifin), xuất hiện vào những năm 1960. Thuốc hoạt động bằng cách khiến não bộ nghĩ rằng cơ thể không sản xuất đủ estrogen, khuyến khích cơ thể tăng nồng độ hormone, thường dẫn đến rụng trứng. Một nhóm thuốc tăng cường sinh sản khác là menotropin, được giới thiệu vào những năm 1970. Chúng được chiết xuất từ ​​nước tiểu của phụ nữ sau mãn kinh và chứa các hormone kích thích nang trứng và hormone hoàng thể tự nhiên, cả hai đều kích thích sự phát triển của trứng trong nang trứng. Một trong những menotropin, Pergonal, được phát triển bởi nhà sinh lý học Robert Edwards và bác sĩ sản phụ khoa Patrick Steptoe, bộ đôi đã thực hiện ca sinh nở bằng phương pháp IVF đầu tiên, đó là Louise Brown.

 

Patrick Steptoe lớn lên gần Oxford, được đào tạo y khoa tại London, và đảm nhiệm một vị trí tại Bệnh viện Đa khoa Oldham ở Lancashire, tây bắc nước Anh, nơi ông đứng đầu một khoa sinh sản. Robert Edwards trải qua tuổi trẻ ở Yorkshire và Manchester, sau đó học tập và nghiên cứu sâu hơn tại nhiều địa điểm khác nhau trên khắp Vương quốc Anh, bao gồm Bangor, Edinburgh, London và Glasgow, và tại Viện Công nghệ California, trước khi định cư tại Đại học Cambridge vào năm 1963 để nghiên cứu về sinh học phát triển. Trong suốt thời gian dài hợp tác với Steptoe, Edwards đã cung cấp kiến ​​thức phòng thí nghiệm và sinh lý học, cố gắng tạo ra các điều kiện cho phép trứng và tinh trùng kết hợp bên ngoài cơ thể, trong khi Steptoe phát triển các phương pháp thu thập trứng từ phụ nữ. Hai người gặp nhau vào năm 1968 và bắt đầu làm việc với bệnh nhân vào năm 1970. Edwards đã thành công trong việc thụ tinh trứng trong phòng thí nghiệm, một quá trình liên quan đến việc tạo ra một môi trường lỏng hoặc môi trường nuôi cấy mà trứng và tinh trùng có thể hòa trộn vào nhau. Môi trường này phải mô phỏng nhiệt độ và hỗn hợp của các chất dinh dưỡng, khoáng chất cơ thể và các chất khác có trong ống dẫn trứng, và phải kích hoạt các tế bào tinh trùng – thách thức lớn thứ hai đối với IVF. Quá trình này bao gồm việc làm suy yếu “mũ” ở đầu trước của tinh trùng, để tinh trùng có thể hòa màng và kết hợp với trứng — một quá trình vốn diễn ra tự nhiên trong cơ thể khi tinh trùng tiếp xúc với các dịch trong âm đạo và tử cung.

ĐĨA PETRI TRẺ SƠ SINH

Phôi thai người trong đĩa Petri tại một phòng thí nghiệm IVF ở Hoa Kỳ. Việc thụ tinh “em bé ống nghiệm” cũng có thể diễn ra tốt đẹp trong đĩa Petri, cốc thủy tinh hoặc bình.

 

Steptoe đã tích lũy kinh nghiệm với ống nội soi – một thiết bị dài, mỏng được đưa vào qua một vết rạch nhỏ trên thành bụng – và phát triển kỹ năng chuyên môn trong việc lấy tế bào trứng chín ra khỏi nang trứng. Ông cũng sử dụng siêu âm  để hiển thị hình ảnh quét buồng trứng, giúp việc lấy trứng dễ dàng hơn. Năm 1969, ông bắt đầu cung cấp Pergonal và các loại thuốc hỗ trợ sinh sản khác cho phụ nữ tình nguyện. Điều này dẫn đến hiện tượng siêu rụng trứng – tạo ra nhiều trứng trưởng thành. Edwards đã thử nghiệm nhiều phương pháp và môi trường thụ tinh khác nhau, sử dụng tinh trùng do chồng của mỗi phụ nữ hiến tặng. Khi thụ tinh thành công, các khối tế bào đầu tiên được kiểm tra kỹ lưỡng để tìm bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.

 

Vào khoảng thời gian này, ngày càng có nhiều tranh cãi về đạo đức của nghiên cứu IVF ở Anh, không chỉ trong cộng đồng mà còn trong cộng đồng y tế, các tổ chức tôn giáo, quốc hội Anh và giới cầm quyền nói chung. Edwards và Steptoe đã bị từ chối tài trợ và gặp khó khăn trong việc thu hút tài trợ. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã chuyển đến Bệnh viện Dr. Kershaw’s Cottage nhỏ ở Oldham, nơi họ thành lập các phòng khám và phòng thí nghiệm và chuyển sang giai đoạn tiếp theo – chuyển phôi sớm vào tử cung. Tuy nhiên, những thất bại đủ loại vẫn tiếp tục làm hỏng chương trình, và Steptoe và Edwards lập luận rằng các phương pháp điều trị vô sinh được áp dụng cho các bà mẹ tương lai để kích thích rụng trứng siêu kiểm soát đã can thiệp vào tử cung, khiến tử cung không thể tiếp nhận phôi sớm vài ngày sau đó. Họ đã thử tiêm một loại hormone khác để giúp niêm mạc tử cung duy trì trạng thái sẵn sàng, nhưng điều này mang lại kết quả trái chiều và ngày càng gây thất vọng cho tất cả những người liên quan.

 

Chúng tôi đã nhận được rất nhiều lời chỉ trích nhưng chúng tôi đã chiến đấu hết mình vì bệnh nhân của mình”

ROBERT EDWARDS

 

Vào năm 1977, sau hơn 70 lần mang thai không thành công, Edwards và Steptoe đã quay lại chính sách can thiệp tối thiểu bằng cách thu thập một quả trứng duy nhất đã chín môt cách tự nhiên trong kỳ rụng trứng, và thụ tinh trong ống nghiệm, theo dõi sự phát triển ban đầu của phôi và chuyển phôi trở lại người mẹ mà tử cung đã sẵn sàng tự nhiên.  Để đảm bảo thành công, các bà mẹ phải cung cấp mẫu nước tiểu vài giờ một lần để xét nghiệm hormone luteinizing, nồng độ hormone này tăng lên khoảng 36 giờ trước khi rụng trứng. Nhóm nghiên cứu cũng quyết định chuyển phôi ở giai đoạn sớm hơn khi nó chỉ có kích thước tám tế bào. Vào tháng 11 năm 1977, Lesley Brown, bệnh nhân thứ hai trong thử nghiệm mới, đã đến Kershaw. Chu kỳ kinh nguyệt và rụng trứng của cô bình thường, nhưng ống dẫn trứng của cô bị tắc. Steptoe đã sử dụng ống nội soi để lấy một quả trứng chín, sau đó được thụ tinh với tinh trùng của chồng cô, John. Phôi thai tám tế bào sau đó được chuyển trở lại tử cung – và chín tháng sau, bé Louise chào đời.

ĐỨA TRẺ ĐẦU TIÊN ĐƯỢC THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

Robert Edwards bế Louise Brown, em bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm. Bên cạnh ông là nữ hộ sinh và Patrick Steptoe.

 

Năm 1980, Steptoe và Edwards thành lập Phòng khám Bourn Hall, gần Cambridge, phòng khám đầu tiên trên thế giới chuyên về thụ tinh trong ống nghiệm. Năm 2010, Edwards được trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y khoa “cho sự phát triển của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm” (Steptoe không được vinh danh – ông đã mất năm 1988).

 

Sự ra đời của Louise Brown không lâu sau đó đã dẫn đến các ca sinh IVF thành công trên toàn thế giới: tại Úc vào năm 1980, tại Hoa Kỳ vào năm 1981 và tại Thụy Điển và Pháp vào năm 1982. Các nhóm nghiên cứu tại các quốc gia này đã bắt đầu thử nghiệm nhiều cách khác nhau để cải thiện quy trình. IVF vẫn sẽ là một thủ thuật tốn thời gian nếu nó vẫn phụ thuộc vào một trứng duy nhất rụng trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt của người mẹ. Tuy nhiên, trong những năm 1980, các loại thuốc và chế độ điều trị vô sinh tốt hơn đã cho phép giải phóng nhiều trứng hơn với khả năng dự đoán cao hơn, cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công của IVF. Đến những năm 2010, tỷ lệ này đã đạt một ca sinh thành công trên ba đợt điều trị cho phụ nữ dưới 35 tuổi. Các phương pháp đông lạnh phôi sớm để rã đông sau và chuyển cho mẹ cũng đã được thiết lập, điều này có nghĩa là một phụ nữ có thể thụ thai sau khi trải qua quá trình điều trị có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản của cô ấy. GIFT (chuyển giao tử vào vòi trứng) cũng đã được phát triển – một quy trình trong đó trứng và tinh trùng được kết hợp vào ống dẫn trứng, để quá trình thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể, như thể quá trình thụ thai đã diễn ra tự nhiên.

 

Đến năm 1990, việc sàng lọc cũng đã được triển khai. Được biết đến với tên gọi chính xác là chẩn đoán di truyền phôi trước chuyển giao (P(I)GD, hoặc PGS), sàng lọc là một quy trình trong đó một hoặc nhiều tế bào của phôi mới thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) được phân lập trước khi phôi được chuyển vào tử cung. Những tế bào này được phân tích để tìm ra các trục trặc về di truyền hoặc nhiễm sắc thể, chẳng hạn như hội chứng Down, và nếu chúng bị lỗi, phôi sẽ không được chuyển giao.

NGÂN HÀNG TINH TRÙNG

Một kỹ thuật viên lấy tế bào tinh trùng đông lạnh ra khỏi bình chứa nitơ lỏng. Sau khi mẫu được rã đông, những tế bào khỏe mạnh nhất được chọn lọc bằng hệ thống hình ảnh máy tính và mỗi tế bào được tiêm vào trứng để tạo thành phôi.

 

.Một cải tiến khác là tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI). Thay vì để trứng và tinh trùng hòa quyện tự do, một tinh trùng duy nhất được chọn dưới kính hiển vi và được hút vào một ống thủy tinh cực mỏng, sau đó được đẩy qua các lớp ngoài của tế bào trứng để đưa tinh trùng vào. ICSI hữu ích cho các ông có số lượng tinh trùng rất thấp hoặc có nhiều tinh trùng bị dị dạng hoặc bất thường.

 

KHOẢNH KHẮC THỤ THAI

Trong một quy trình gọi là tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), bác sĩ sẽ hướng một cây kim (bên trái) chứa tinh trùng đến một tế bào trứng. Sự kết hợp thành công của hai tế bào này đánh dấu sự khởi đầu của một sự sống con người.

 

Trong khi đó, các cuộc tranh luận về đạo đức vẫn tiếp tục. Năm 1984, Chính phủ Victoria, Úc, đã ban hành luật đầu tiên để điều chỉnh IVF và nghiên cứu phôi người liên quan, sau khi xem xét các thông lệ mới. Nhờ những tiến bộ trong hỗ trợ sinh sản và nghiên cứu tế bào gốc, hầu hết các quốc gia đã ban hành luật để điều chỉnh các hoạt động liên quan. Tại Vương quốc Anh, Cơ quan Thụ tinh và Phôi học Người (HFEA) được thành lập năm 1991 để thực hiện việc này.

 

Trong 35 năm kể từ khi Louise Brown trở thành tâm điểm chú ý, khoảng 5 triệu em bé trên khắp thế giới đã được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo. Ai mà biết được con số này sẽ còn tăng lên bao nhiêu trong 30 năm nữa? Về mặt lý thuyết, một em bé có thể có bốn “người mẹ” (và một “người cha”): một cặp đôi đồng giới nữ có thể nhận nuôi một em bé từ một trứng được hiến tặng, sau đó (với sự hỗ trợ của tinh trùng) sẽ kết hợp thành phôi thai, rồi cấy vào người mẹ mang thai hộ.

 

Y Khoa Bổ Sung và Thay Thế

 

Trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, chẳng hạn như âm nhạc, ẩm thực và thời trang, “luồng chính” của người này lại là “luồng thay thế” hoặc “luồng bổ sung” của người khác, và điều tương tự cũng đúng với sức khỏe và y học. Các liệu pháp thay thế và bổ sung bao gồm hầu hết mọi hệ thống hoặc triết lý nhằm cải thiện sức khỏe và hạnh phúc nhưng không phải là một bộ phận của y học phương Tây thông thường. Các liệu pháp “thay thế” chính xác là một lựa chọn khác biệt, độc lập với luồng chính, trong khi “bổ sung” ngụ ý một sự bổ sung hoặc hỗ trợ hoạt động song song với thực hành y tế đã được thiết lập. Một thuật ngữ liên quan là y học “toàn diện”, hướng đến bệnh nhân như một tổng thể, xem xét các yếu tố sinh học, tâm lý và tinh thần, thay vì chỉ quan tâm đến “bộ máy” của cơ thể.

 

Khi các quốc gia phương Tây phục hồi sau thời kỳ thắt lưng buộc bụng của Thế chiến II, một kỷ nguyên mới của tự do và thịnh vượng đã hé mở. Đến những năm 1960, các nền văn hóa đối lập đã nở rộ trong nghệ thuật, tôn giáo và y học. Tivi và du lịch hàng không giá rẻ mới ra đời đã giúp mọi người tiếp cận với các phương pháp y học từ khắp nơi trên thế giới. Cùng với thái độ bất mãn với triết lý “dây chuyền sản xuất” của y học chính thống, với máy móc công nghệ cao, phẫu thuật xâm lấn, thuốc tổng hợp và đội ngũ bác sĩ luôn bận rộn, mối quan tâm đến các hình thức trị liệu khác, đặc biệt là các phương pháp của văn hóa phương Đông, đã bắt đầu gia tăng. Trong suốt cuối thế kỷ 20, những quan điểm này tiếp tục lan rộng trong xã hội phương Tây, và Đại hội Y học Thay thế Thế giới đầu tiên đã được tổ chức tại Rome, Ý, vào năm 1973. Đại hội thứ ba, được tổ chức tại Sri Lanka, vào năm 1982, đã công bố mục tiêu cung cấp “Y học Toàn diện cho tất cả mọi người vào năm 2000”. Năm 1992, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) thành lập Trung tâm Y học Bổ sung và Thay thế Quốc gia (NICCAM), một trong những mục tiêu dài hạn của trung tâm là “cho phép đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng tốt hơn về việc sử dụng y học bổ sung và thay thế cũng như việc tích hợp chúng vào chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe”. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi vào đầu thế kỷ 21, các cuộc khảo sát ở Châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy một nửa hoặc hơn số người lớn tham khảo ý kiến ​​bác sĩ đa khoa thông thường cũng đã thử một số hình thức y học bổ sung hoặc thay thế (CAM).

 

Theo quan điểm phương Tây truyền thống, có tới 150 liệu pháp được liệt kê là bổ sung, thay thế hoặc toàn diện. Một số, chẳng hạn như châm cứu, y học Ayurvedic, thảo dược, kampo, xoa bóp và yoga, đã có truyền thống lâu đời, nhưng nhiều liệu pháp, chẳng hạn như những liệu pháp được thảo luận dưới đây, là những phát minh hiện đại sau này. Ví dụ, liệu pháp laser không thể thực hiện được cho đến khi nhà vật lý người Mỹ Theodore Maiman phát minh ra laser vào năm 1960. Kể từ năm 1968, laser đã được sử dụng theo cách thông thường như “dao mổ nhẹ” có thể được nhắm với độ chính xác đáng kinh ngạc để cắt xuyên qua các mô và bịt kín mạch máu để giảm chảy máu. Điều trị bằng laser để định hình lại giác mạc bắt đầu vào cuối những năm 1980, và phẫu thuật cắt mảng xơ vữa bằng laser, giúp thông các động mạch bị tắc nghẽn bởi các mảng bám mỡ, đã được phát triển cùng thời điểm. Laser cũng được sử dụng để triệt lông, giảm mỡ và các thủ thuật thẩm mỹ nhỏ như nâng mí mắt. Tuy nhiên, gây tranh cãi hơn là liệu pháp laser cường độ thấp (LLLT), một liệu pháp bổ sung trong đó các tia laser được thiết kế đặc biệt được sử dụng để tạo ra ánh sáng xuyên thấu sâu, được cho là có khả năng kích thích các mô và tế bào không khỏe mạnh tăng cường trao đổi chất và tái tạo năng lượng. Liệu pháp này được cho là giúp chữa lành sau phẫu thuật hoặc chấn thương, giảm đau bằng cách giải phóng endorphin (chất giảm đau tự nhiên của cơ thể), cải thiện khả năng vận động và chức năng, thậm chí kích thích các vị trí huyệt đạo cụ thể để giảm các triệu chứng cai nghiện do nicotine và rượu.

TRỊ LIỆU LASER

Một bệnh nhân đang được điều trị bằng laser cường độ thấp để điều trị viêm khớp dạng thấp. Phương pháp điều trị này, được cho là giúp giảm đau, cũng được sử dụng để điều trị viêm xương khớp, đau lưng và các bệnh khớp mãn tính.

 

Liệu pháp vi lượng đồng căn (Homeopathy), một phương pháp do bác sĩ người Đức Samuel Hahnemann phát triển vào thế kỷ XIX, còn gây nhiều tranh cãi hơn. Nguyên lý chỉ đạo của vi lượng đồng căn, có nghĩa “cùng một nỗi đau” theo tiếng Hy Lạp, là “lấy cái giống để chữa cái giống” (like heals like), còn được gọi là “quy luật tương đồng” (law of similars).” Có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại, La Mã và Châu Á, học thuyết này cho rằng một chất gây ra một số tác dụng hoặc triệu chứng nhất định trong cơ thể khỏe mạnh, với liều lượng ít hơn, có thể chữa khỏi một căn bệnh có cùng triệu chứng. Ví dụ, một chất gây nôn mạnh, dùng với liều lượng nhỏ, có thể được sử dụng để điều trị một căn bệnh có triệu chứng chính là nôn mửa. Trong cuốn Organon der rationellen Heilkunde (Nguyên lý của 8Nghệ thuật Chữa bệnh), Hahnemann lập luận rằng bệnh tật là do cơ thể bị xâm chiếm bởi “miasm” – những thực thể bệnh bị thu hút bởi các trạng thái tâm trí tiêu cực và cho rằng nhiều bệnh trở nên trầm trọng hơn do y học thông thường. Theo quan điểm của ông, điều này là do các bác sĩ có xu hướng điều trị các triệu chứng của bệnh bằng những yếu tố đối lập, thay vì điều trị nguyên nhân tiềm ẩn (hay miasm) bằng một thứ gì đó tương tự. Để chống lại điều này, Hahnemann đã tạo ra một loại dược liệu gồm các chất có thể được sử dụng để chống lại các loại độc tố. Ông đã thử nghiệm hàng trăm chiết xuất thực vật và động vật, khoáng chất và các chất khác trên những người khỏe mạnh, và đi đến kết luận rằng, trái ngược với trực giác, một chất càng được pha loãng thì tác dụng của nó càng mạnh. Ông gọi quá trình này là “sự tiềm năng hóa”, và nhận thấy rằng nó được thúc đẩy bằng cách lắc, đập và rung dung dịch ở mỗi giai đoạn pha loãng. Kết quả cuối cùng thường là một hỗn hợp rất yếu, chỉ còn lại một vài phân tử của chất điều trị ban đầu. Sau nhiều lần thử nghiệm, Hahnemann đã sản xuất ra các loại thuốc chữa trị cho đủ loại bệnh lý rất đặc hiệu. Ví dụ, nếu cơn đau đầu trở nên tồi tệ hơn khi nằm xuống, thì Gelsemium được kê đơn – nếu cơn đau giảm bớt, thì Bryonia được khuyến nghị.

HỘP THUỐC CỦA NHÀ TRỊ LIỆU VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN

Rương thuốc của Pháp này, chứa hơn một trăm loại thuốc vi lượng đồng căn, có niên đại từ cuối thế kỷ 19.

 

SỐ LƯỢNG XẤP XỈ CÁC LOẠI THUỐC ĐỒNG CĂN

4,000

 

Một liệu pháp có ảnh hưởng khác, được gọi là Kỹ thuật Alexander, được phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Phương pháp này được tiên phong bởi nam diễn viên người Úc Frederick Matthias Alexander, người gặp phải các vấn đề về hô hấp ảnh hưởng đến công việc sân khấu của mình, đã trải qua một thời gian tự phân tích chuyên sâu. Trong quá trình này, ông đã phát hiện ra các kiểu căng thẳng và áp lực ở mặt, cổ, lưng và các nơi khác ảnh hưởng đến khả năng di chuyển tự do và nói tốt của mình. Ông đã mở rộng khái niệm này vào tâm trí của mình và phát triển các kiểu suy nghĩ, tư thế và chuyển động được thiết kế để mang lại sự cân bằng cho mọi khía cạnh của tâm trí và cơ thể ông. Khi những người khác tham khảo ý kiến ​​của Alexander, ông đã nghĩ ra các cách sử dụng tay của mình để giúp họ thư giãn cơ, khớp và xương, đồng thời dạy họ về nhận thức và sự phối hợp của cơ thể, và cách cải thiện hơi thở, lời nói và sức khỏe tổng quát – tất cả những điều này ông đã mô tả trong cuốn sách The Use of the Self năm 1932 của mình.

 

Cùng thời điểm đó, Daniel David Palmer ở ​​Davenport, Iowa, đang phát triển ngành nắn xương cột sống. Palmer là một người có tính cách phức tạp, từng đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, bao gồm cả cố vấn tâm linh và thầy lang từ tính, nhưng ông không được đào tạo y khoa chính thức. Năm 1895, ông đã nắn xương cổ cho một bệnh nhân địa phương bị khiếm thính lâu năm, và người đàn ông này đã phục hồi thính lực. Là một phương pháp điều trị thủ công, nắn xương cột sống bao gồm việc đẩy, kéo, nâng và nói chung là nắn các đốt sống và khớp cột sống để khôi phục vị trí và chức năng tự nhiên của chúng, từ đó hỗ trợ hệ thần kinh và cơ cũng như nhiều vấn đề sức khỏe liên quan. Ông phỏng đoán rằng các khớp cột sống bị lệch sẽ ảnh hưởng đến dây thần kinh và dòng chảy năng lượng chung khắp cơ thể, từ đó gây ra một loạt các vấn đề sức khỏe. Nắn xương cột sống hiện đại đã cải tiến các kỹ thuật của Palmer, nhưng trọng tâm chính của nó vẫn là nắn xương cột sống và hệ thống cơ xương, đặc biệt là để giảm đau lưng dưới và cổ. Về mặt vật lý trị liệu, nắn xương tương tự như phương pháp nắn xương, được bác sĩ người Mỹ Andrew Taylor Still sáng lập sớm hơn một chút. Mục tiêu của phương pháp nắn xương cũng là kích hoạt cơ chế tự phục hồi bẩm sinh của cơ thể để khắc phục các vấn đề sức khỏe, bằng cách tác động lên cơ và khớp.

 

Một phương pháp khác để cân bằng năng lượng cơ thể đã xuất hiện với kỹ thuật phản xạ học, sử dụng “phản xạ”, hay các vùng phản ứng trên bàn chân và bàn tay, được cho là tương ứng với các vùng và cơ quan trong cơ thể. Giống như nhiều liệu pháp bổ sung và thay thế khác, kỹ thuật này có nguồn gốc cổ xưa và chỉ mới được phương Tây hóa gần đây, trong trường hợp này là bởi bác sĩ phẫu thuật tai mũi họng người Mỹ William Fitzgerald, người mà công trình của ông vào những năm 1910 đã được nhà vật lý trị liệu người Mỹ Eunice Ingham phát triển vào những năm 1930. Cùng thời điểm đó, tại Đức, bác sĩ tâm thần Johannes Schultz đã phát triển phương pháp tự sinh (có nghĩa là “do bản thân tạo ra”), một loạt sáu bài tập tinh thần được thiết kế để giải phóng cá nhân khỏi căng thẳng và lo lắng, để họ có thể tập trung vào bản thể bên trong, hay tinh thần của mình. Schultz đã mượn các yếu tố từ truyền thống phương Đông, chẳng hạn như Thiền và một số hình thức yoga, để giúp vượt qua bản năng chiến đấu hoặc bỏ chạy được khuyến khích bởi cuộc sống hiện đại và nuôi dưỡng trạng thái “thư giãn và phục hồi”, trong đó cơ thể có thể đối phó tốt hơn với chứng lo âu, thay đổi tâm trạng, mất ngủ, huyết áp cao, căng cơ và các vấn đề sức khỏe liên quan đến căng thẳng.

 

Hai liệu pháp khác được phát triển vào những năm 1930 là các bài thuốc hoa Bach – được đặt theo tên của nhà vi khuẩn học người Anh Edward Bach – và liệu pháp hương thơm. Các bài thuốc hoa Bach nhằm mục đích làm giảm những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực được cho là nguyên nhân gây ra rất nhiều rối loạn về thể chất. Bach đã nghĩ ra một hệ thống trong đó 12 loại trạng thái tinh thần và cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, không chắc chắn, thiếu hứng thú, cô đơn và trầm cảm có thể được khắc phục bằng tác dụng của các chiết xuất dạng nước từ một số loại hoa hoặc nụ. Ông gọi những chiết xuất này là 12 loại thuốc chữa lành, và sau đó bổ sung chúng bằng 26 loại thuốc trợ giúp. Ví dụ, hoa hồng đá (Rock Rose) được khuyến nghị cho trạng thái kinh hoàng và Chi Long (Agrimony) cho nỗi lo lắng tiềm ẩn. Sau này, các học viên đã đưa ra các bài thuốc kết hợp từ hoa, bao gồm cả dầu Rescue Remedy nổi tiếng, chứa Impatiens, Star of Bethlehem, Cherry Plum, Rock Rose và Clematis, một công thức được khuyến nghị cho các trường hợp khẩn cấp và các tình huống đáng sợ.

 

Thuật ngữ “liệu pháp hương thơm” được đặt ra vào năm 1937 bởi nhà hóa học mỹ phẩm người Pháp, Giáo sư René-Maurice Gattefossé, mặc dù tác dụng của mùi hương và hương liệu đối với tâm trí và cảm xúc đã được đánh giá cao trong hàng thiên niên kỷ. Gattefossé đã phát triển việc sử dụng tinh dầu chiết xuất từ ​​hoa, lá, vỏ cây, nhựa cây, nhựa thông, rễ cây và các bộ phận khác của cây, có thể dùng để hít, mát-xa da hoặc pha vào nước tắm. Ví dụ, dầu tỏi xoa lên bụng được khuyên dùng cho các vấn đề về tiêu hóa, hoa cúc hoặc hương thảo cho đau khớp, và quế cho đau răng

DẦU OẢI HƯƠNG

Hình ảnh kính hiển vi điện tử này cho thấy những giọt tinh dầu oải hương trên bề mặt lá oải hương. Các bác sĩ y học thay thế sử dụng tinh dầu oải hương như một chất khử trùng, giảm đau và xoa ngực cho bệnh hen suyễn.

 

Bên cạnh những nguy cơ chẩn đoán sai (điều này đúng với tất cả các loại thuốc), câu hỏi đặt ra là liệu những phương pháp điều trị này có thực sự hiệu quả hay không? Bằng chứng giai thoại cho thấy hàng triệu người đã được chữa trị, và mỗi liệu pháp được mô tả ở trên hiện đều có các chuyên gia thực hành và các tổ chức chính thức trên khắp thế giới. Điều thường thiếu, theo quan điểm thông thường, là bằng chứng đáng tin cậy được bình duyệt từ các thử nghiệm có đối chứng, và một giả thuyết khoa học cơ bản. Hiệu ứng giả dược cho thấy niềm tin vào một phương pháp chữa trị có thể mang lại kết quả, làm dấy lên khả năng rằng những bệnh nhân vi lượng đồng căn, chẳng hạn, đang tự chữa lành mình chứ không phải nhờ thuốc. Tuy nhiên, câu hỏi “tại sao” sẽ luôn đứng sau câu hỏi “liệu có hay không” — và câu hỏi ấy có lẽ chỉ mang ý nghĩa học thuật đối với bất kỳ ai được hưởng lợi từ những kỹ năng vốn từ trước đến nay vẫn còn đầy bí ẩn này mà thôi.

 

THĂM LẠI HIỆU THUỐC

Một hiệu thuốc Pháp thế kỷ 15 đã biến thực vật thành thuốc. Các bác sĩ y học thay thế vào thế kỷ 20 đã tìm cách khôi phục các phương thuốc tự nhiên của tổ tiên, khi y học hiện đại ngày càng phụ thuộc vào hóa chất.

 

Đại Dịch Tiềm Tàng

 

Bệnh dịch hại, bệnh đậu mùa, bệnh tả  – các bệnh truyền nhiễm đã đe dọa nhân loại qua nhiều thế kỷ. Ở mức độ nghiêm trọng nhất, chúng là đại dịch: bùng phát ở quy mô lục địa, thậm chí toàn cầu. Đại dịch đầu tiên và tồi tệ nhất của thế kỷ 20 là đợt bùng phát ba đợt cúm từ năm 1918 đến năm 1919, được gọi là cúm Tây Ban Nha; số ca tử vong ước tính từ 30 triệu đến hơn 100 triệu người, gần bằng một phần 20 dân số thế giới vào thời điểm đó.

 

Hệ thống miễn dịch của cơ thể cố gắng tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập và bảo vệ cơ thể khỏi các cuộc tấn công trong tương lai. Tuy nhiên, các vi sinh vật gây nhiễm trùng có thói quen xấu là đột biến (thay đổi) gen và cấu trúc của chúng. Các chủng khác nhau cũng có thể tương tác trong cơ thể, chia sẻ các gen hiện có của chúng. Điều này có nghĩa là hệ thống miễn dịch có thể không nhận ra một chủng mới là kẻ xâm nhập trước đó, cho phép nhiễm trùng xâm nhập. Các loại vi rút cảm lạnh thông thường và cúm là bậc thầy của nghệ thuật này, liên tục đột biến để thích nghi và do đó trốn tránh sự bảo vệ của hệ thống miễn dịch. Ở quy mô rộng hơn, các vi khuẩn lây nhiễm cho một nhóm hoặc loài, chẳng hạn như chim hoặc khỉ, có thể thay đổi để chúng có thể truyền sang một nhóm hoặc loài khác như con người.

 

Khoảng năm 1981, các cơ sở y tế Hoa Kỳ đã công nhận rằng một số bệnh và tình trạng hiếm gặp, chẳng hạn như u Kaposi, một loại ung thư da và viêm phổi Pneumocystis carinii (PCP, giờ gọi là P. jirovecii), đã bất ngờ xuất hiện cùng nhau ở một số bệnh nhân, những người đầu tiên mắc phải căn bệnh vào năm 1982 được gọi là Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải (AIDS). Vào thời điểm đó, nguyên nhân vẫn chưa được biết. Sau đó, vào tháng 5 năm 1983, một bài báo trên tạp chí Science đã đưa tin về việc phát hiện ra một loại vi-rút mới. Nó được các nhà vi rút học người Pháp Luc Montagnier và Françoise Barré-Sinoussi xác định tại Viện Pasteur ở Paris và được gọi là Lymphadenopathy-Associated Virus (LAV). Bệnh lý Lymphadenopathy có nghĩa là bất kỳ bệnh nào ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết (các tuyến sưng quen thuộc trong rất nhiều bệnh nhiễm trùng), vốn là một bộ phận của hệ thống miễn dịch và vi-rút đã được phân lập từ nguồn này. Vào tháng 4 năm 1984, một thông báo liên quan đến từ một nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ do Robert Gallo đứng đầu tại Viện Ung thư Quốc gia, Bethesda, Maryland. Được gọi là Virus Lymphotropic T ở Người loại III (HTLV III), vi rút của Gallo dường như có liên quan đến loại I và loại II, vốn đã được phát hiện và liên quan đến u lympho tế bào T, một loại ung thư bạch cầu. Người ta nghi ngờ, và sớm xác nhận, rằng LAV và HTLV III là một. Năm 1986, chúng được đổi tên thành Vi rút Gây Suy giảm Miễn dịch ở Người (HIV), nguyên nhân gây ra bệnh AIDS.

 

PHÁT HIỆN HIV

Các nhà khoa học người Pháp Luc Montagnier (trái) và Françoise Barré-Sinoussi (phải) đã nhận giải Nobel năm 2008 cho phát hiện về loại vi rút sau này được gọi là HIV vào năm 1983.

Jean-Claude Chermann (ở giữa) là người đứng đầu phòng thí nghiệm nghiên cứu retrovirus.

 

Được coi là một đại dịch thời hiện đại có thể lây lan nhanh như cháy rừng, AIDS đã trở thành tin tức toàn cầu. Nguồn gốc của nó vẫn còn là một bí ẩn và chưa có cách chữa trị. Nó dường như có liên quan đến một số lối sống và hành vi, đặc biệt là ở nhóm  đồng tính luyến ái và tiêm chích ma túy. Những lời đồn đại và quan niệm sai lầm lan tràn. Chính phủ đã phát động các chiến dịch quốc gia để chấn chỉnh những sai lầm về HIV/AIDS, truyền đạt sự thật khách quan và khuyến khích các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này.

 

HIV là một loại retrovirus. Hầu hết các loại vi rút đều chứa vật liệu di truyền, DNA, bên trong một lớp vỏ bảo vệ. Vi rút xâm nhập vào tế bào chủ và lừa tế bào này tạo ra thêm vi rút. Một retrovirus bổ sung một bước retro (ngược) vào quá trình này: nó mã hóa thông tin di truyền của mình ở một dạng khác và sử dụng một enzyme đặc biệt để chuyển đổi nó thành DNA, sau đó hoạt động theo cách tương tự một vi rút thông thường. Robert Gallo đã phát hiện bằng chứng đầu tiên về retrovirus ở người vào đầu những năm 1970. HIV nhắm vào chính các bộ phận và quá trình của cơ thể được thiết kế để đẩy lùi những kẻ xâm lược – hệ thống miễn dịch. Cụ thể, nó lây nhiễm và phá hủy một loại tế bào bạch cầu quan trọng có khả năng chống lại vi trùng và tạo kháng thể của cơ thể. Khi HIV làm giảm số lượng các tế bào này, hệ thống miễn dịch bị tước đi các lực lượng quan trọng. Hệ thống phòng thủ của cơ thể suy yếu, khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng cơ hội và tạo ra các biến đổi ung thư.

HIV DƯỚI KÍNH HIỂN VI

RNA (vốn mã hóa gen) xuất hiện dưới dạng hình thuôn dài, sẫm màu trong hình cắt ngang này của HIV. Lớp vỏ ngoài của nó (phần viền tối màu) chứa một protein gắn vào tế bào hỗ trợ-T (một loại tế bào bạch cầu).

 

Retrovirus lây nhiễm cho nhiều loài động vật, bao gồm chim, gia súc, chuột, mèo, khỉ và vượn. Đây chính là manh mối về nguồn gốc của HIV. Các nhà nghiên cứu bắt đầu kiểm tra các mẫu máu và mô được lưu trữ từ những người có triệu chứng và chẩn đoán phù hợp với hồ sơ HIV/AIDS. Từ năm 1985, họ đã xác định được một nhóm vi rút tương tự được gọi là SIV (Vi rút Simian Immunodeficiency gây suy giảm miễn dịch ở khỉ). Chúng xuất hiện ở khỉ và vượn châu Phi, một nhóm bao gồm con người và họ hàng gần nhất còn sống của chúng ta, tinh tinh và khỉ đột. Đến giữa những năm 2000, các phân tích chuyên sâu đã kết luận rằng HIV đã lây truyền từ tinh tinh sang người, có thể ở Tây Phi do hoạt động giết mổ thịt rừng. Sự lây truyền này có thể đã xảy ra vào nửa đầu thế kỷ 20, vì các mẫu mô được bảo quản sớm nhất có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV có niên đại từ năm 1959 và 1960. Từ Tây Phi, vi rút di chuyển trong vật chủ là người đến Haiti và từ đó đến Bắc Mỹ, nơi hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến giúp việc xác định có thể thực hiện được. HIV/AIDS đã được phát hiện ở mọi quốc gia. Đến năm 2010, hơn 30 triệu người đã tử vong vì căn bệnh này.

 

ƯỚC TÍNH SỐ NGƯỜI SỐNG VỚI HIV/AIDS

30 TRIỆU

 

Trong thập kỷ trước khi AIDS xuất hiện, hai bệnh nhiễm trùng đáng kể khác đã được phát hiện. Trường hợp đầu tiên mắc bệnh Legionnaire được ghi nhận là vào năm 1976 tại Hoa Kỳ. Đây là một trong nhóm bệnh viêm phổi – bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng chủ yếu đến phổi, đặc biệt là hàng triệu phế nang (túi khí cực nhỏ), nơi oxy thiết yếu đi từ không khí vào máu và carbon dioxide đi ra khỏi máu vào phổi. Viêm phổi có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do nhiều loại vi rút và vi khuẩn. Nhưng khi một đợt bùng phát bệnh giống viêm phổi xảy ra tại một khách sạn ở Philadelphia, nó không thể được truy tìm đến bất kỳ nghi phạm thông thường nào. Các đại biểu dự hội nghị tại khách sạn là thành viên của Hội Cựu Chiến binh Hoa Kỳ (American Legion), do đó nguyên nhân gây bệnh được đặt tên vi khuẩn Legionella pneumophila. Không giống như HIV, đây không phải là một loại vi khuẩn mới tiến hóa, mà là một cư dân phổ biến, đã tồn tại lâu đời trong môi trường nước và ẩm ướt. Hệ thống điều hòa không khí và tháp giải nhiệt của khách sạn tình cờ cung cấp nhiệt độ và độ ẩm lý tưởng cho vi khuẩn sinh sôi và phát tán dưới dạng những giọt nước nhỏ như sương mù, rất dễ hít phải. Hầu hết các đại biểu tham dự hội nghị đều ở độ tuổi trung niên trở lên, một nhóm hiện được biết là dễ bị nhiễm trùng. Các triệu chứng của họ xuất hiện vài ngày sau đó, và bác sĩ Ernie Campbell tại Philadelphia nhận xét rằng một số bệnh nhân đã tham dự hội nghị. Đợt bùng phát đầu tiên này đã gây ra 220 ca bệnh và 34 ca tử vong, vì vậy các hệ thống đã được đưa ra để xác định các đợt bùng phát trong tương lai nhanh hơn nhiều. Các quy định mới cũng được đưa ra nhằm giảm thiểu rủi ro đối với các thiết bị như máy điều hòa không khí, máy sưởi, máy tạo độ ẩm, phòng xông hơi khô, máy phun sương và bồn tắm nước nóng.

 

Bệnh Legionnaire có khả năng nghiêm trọng nhưng hiếm gặp, và vẫn tiếp tục hoành hành với tốc độ vài đợt bùng phát được báo cáo mỗi năm. Kể từ khi được phát hiện, bệnh đã gây ra một số ca tử vong nhỏ ở nhiều khu vực khác nhau, bao gồm Na Uy, Úc, Tây Ban Nha và Bắc Mỹ. Có lẽ còn nhiều trường hợp khác không được phát hiện, đặc biệt là ở những khu vực có hệ thống chăm sóc sức khỏe kém phát triển. Các yếu tố hạn chế quan trọng là bệnh Legionnaire thường xảy ra ở một số loại môi trường trong nhà “không tự nhiên” và không lây lan trực tiếp từ người sang người.

 

Bệnh nhiễm trùng thứ hai mới được phát hiện, cũng vào khoảng năm 1976, là bệnh do vi rút Ebola. Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Sudan và khu vực sông Ebola thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo ở Trung Phi. Cực kỳ nghiêm trọng, giống như nhiều bệnh khác, bệnh bắt đầu với các triệu chứng giống cúm, nhưng sau đó tiến triển đến hệ tiêu hóa, gây buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy; đến hệ thần kinh với các triệu chứng đau đầu dữ dội, lú lẫn, kích động, co giật và đôi khi hôn mê; và đến hệ hô hấp với các triệu chứng khó thở. Xuất huyết ở da và các cơ quan khác là triệu chứng đặc trưng. Triệu chứng này có thể gây tử vong ở khoảng hai phần ba số trường hợp.

 

Bệnh do vi rút Ebola lây lan chủ yếu qua tiếp xúc với máu và các dịch cơ thể khác, trực tiếp hoặc qua các vật dụng bị nhiễm bệnh. Tại các trung tâm y tế và bệnh viện, bệnh có thể lây lan nhanh chóng giữa các nhân viên từ bệnh nhân nhiễm Ebola chưa được chẩn đoán. Đây là lý do tại sao việc cách ly, kiểm soát nhiễm trùng và rào chắn điều dưỡng – kính bảo hộ, khẩu trang, găng tay, áo choàng và khử trùng thiết bị kỹ lưỡng – là tối quan trọng.

 

Giống như HIV và các loại vi rút khác, bệnh do vi rút Ebola có thể bắt nguồn từ động vật, vốn là ổ chứa vi rút, do đó, ngay cả khi tất cả các trường hợp nhiễm bệnh ở người được loại trừ ngay lập tức, con người vẫn có thể bị nhiễm bệnh trong tương lai do tiếp xúc gần với động vật. Một số loài dơi ăn quả là nguồn chính và liên tục của vi rút. Khỉ đột, tinh tinh, khỉ, linh dương rừng và nhím cũng được công nhận là nguồn lây nhiễm. Vì những loài này chỉ được tìm thấy ở một số ít nơi ngoài Tây và Trung Phi, và việc lây truyền từ người sang người có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp phòng ngừa tích cực, nên bệnh do vi rút Ebola khó có thể trở thành một đại dịch tiềm tàng.

 

Vào giữa những năm 1990, một chủng cúm gia cầm mới đã được phát hiện ở Trung Quốc. Đây là một phân nhóm của vi rút cúm A được định danh là H5N1. Vào thời điểm đó, và giống như các chủng vi rút tiền nhiệm, chủng vi rút này chỉ lây nhiễm cho các loài chim, chủ yếu là gà và các loài chim nước như ngỗng và vịt. Việc tiêu hủy đàn gia cầm đã giúp hạn chế những đợt bùng phát ban đầu này. Đầu những năm 2000, nhiều đợt bùng phát ở chim và sau đó là ở người đã lan rộng khắp Trung Quốc và Đông Nam Á, và đôi khi ở những nơi khác. Đến năm 2012, đã có hơn 580 trường hợp cúm gia cầm ở người trên 15 quốc gia và gần 350 ca tử vong.

 

Cúm gia cầm lây truyền từ gia cầm bị nhiễm bệnh sang người thông qua tiếp xúc gần với lông, da, nội tạng, dịch tiết và phân (khô và phân tán thành bụi). Thực phẩm và trứng được chế biến và nấu chín đúng cách không lây lan bệnh. Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, mối lo ngại là cấu trúc gen của vi rút có thể thay đổi, khiến nó dễ dàng lây truyền từ người sang người hơn, gây ra đại dịch. Năm 2013, một chủng khác, H7N9, được báo cáo là dễ lây lan hơn từ gia cầm sang người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy sự lây truyền từ người sang người.

 

Một bệnh truyền nhiễm gần đây khác là Hội chứng Hô hấp Cấp tính Nặng (SARS). Do một loại vi rút corona gây ra (nhìn dưới kính hiển vi, nó trông giống như một vầng hào quang hoặc vương miện – corona trong tiếng Latin), nó được đặt tên như vậy vì tác động của nó lên cơ thể, thoạt nhìn giống như bệnh cúm. Dịch SARS bùng phát ở miền nam Trung Quốc từ năm 2002 đến năm 2003 vừa được hỗ trợ vừa bị cản trở bởi công nghệ của thế kỷ 21, với internet và truyền thông điện tử đóng vai trò quan trọng. Căn bệnh này lây lan ngay lập tức qua đường hàng không quốc tế và các phương tiện truyền thông toàn cầu đã nhanh chóng cảnh báo thế giới, ví nó như cúm Tây Ban Nha. Nguyên nhân của nó đã nhanh chóng được xác định nhờ nỗ lực hợp tác của nhiều quốc gia, sử dụng các phương pháp y tế tiên tiến nhất, các biện pháp phòng ngừa và ngăn ngừa đã sớm được triển khai. Kết quả là, dịch SARS đã được kiểm soát ở mức dưới 9.000 ca nhiễm và 800 ca tử vong, và không chuyển từ dịch bệnh sang đại dịch.

CẢNH SÁT BẢO VỆ KHỎI SARS

Trong nỗ lực ngăn chặn sự bùng phát của dịch SARS năm 2003, một cảnh sát quân sự đeo mặt nạ bảo vệ đứng gác bên ngoài một bệnh viện 102  ở Đài Loan, bệnh viện đầu tiên chỉ dành riêng cho bệnh nhân SARS.

 

Tất cả những bệnh nhiễm trùng này vẫn tiếp tục gây lo ngại, cũng như sự tái xuất hiện của những kẻ thù cũ như các chủng lao kháng thuốc mới. Một vấn đề đáng lo ngại khác là nhóm đậu mùa. Bệnh đậu mùa đã biến mất, được tuyên bố tuyệt chủng vào năm 1980. Kể từ đó, việc tiêm chủng vắc-xin phòng bệnh đậu mùa đã chấm dứt. Tuy nhiên, có thể chương trình tiêm chủng này từng giúp tạo ra khả năng bảo vệ chống lại các chủng virus thuộc chi Orthopoxvirus có họ hàng gần, chẳng hạn như virus gây bệnh đậu chuột (mousepox), đậu khỉ (monkeypox) và đậu bò (cowpox), vốn được chuột cống và các loài gặm nhấm khác mang theo. Chỉ cần một biến đổi nhỏ ở một trong những chủng virus này cũng có thể khiến nó lây truyền từ động vật sang người, rồi từ người này sang người khác—đáp ứng đầy đủ những điều kiện lý tưởng để bùng phát thành một đại dịch.

Ghi chú: Sách này được viết ra khi chưa có đại dịch Covid-19 bùng phát đầu tiên vào cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán (Trung Quốc), trước khi lan ra khắp thế giới, đã cướp đi sinh mạng hơn 7 triệu người trên toàn thế giới theo báo cáo chính thức của WHO. Nhưng nếu xét các trường hợp không báo cáo trực tiếp, số ca tử vong có thể đến hơn 10 triệu người.

 

Cuộc Chiến Chống HIV và AIDS

 

HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người) là một trong những loại vi rút tiến hóa nhanh nhất mà y học từng biết đến – nó sinh sản nhanh như chớp, tạo ra hàng triệu bản sao chỉ trong một ngày. Với các triệu chứng giống cúm, nó làm suy yếu hệ thống miễn dịch của nạn nhân, khiến họ dễ bị nhiễm trùng đe dọa tính mạng. Là một căn bệnh mới xuất hiện gần đây, HIV có lẽ bắt nguồn từ châu Phi vào đầu thế kỷ 20, nhưng vẫn gây ra hơn 30 triệu ca tử vong và vẫn đang lây lan nhanh chóng. Hiện tại vẫn chưa có phương pháp chữa trị, nhưng thuốc kháng vi-rút có thể làm chậm tiến triển của bệnh.

  • 1959 Trường hợp mắc bệnh AIDS được ghi nhận sớm nhất xảy ra ở Congo thuộc Bỉ (Cộng hòa Dân chủ Congo).
  • 1969 Virus HIV có thể đã được mang đến Hoa Kỳ (có thể từ một người bệnh đến từ Haiti).
  • 1981 Những trường hợp đầu tiên mắc hội chứng suy giảm miễn dịch được phát hiện ở New York và California.
  • 1982 Căn bệnh này được gọi là AIDS.
  • Năm 1983, các nhà khoa học tại Viện Pasteur ở Paris đã phân lập được một loại retrovirus, LAV, có khả năng là nguyên nhân gây ra bệnh AIDS.
  • 1984 Một nhóm nghiên cứu do nhà khoa học người Mỹ Robert Gallo đứng đầu đã xác định được một loại retrovirus và gọi nó là HTLV-III.
  • 1985 Các thí nghiệm sử dụng thuốc kháng vi-rút zidovudine (AZT) làm giảm sự nhân lên của HIV, làm chậm quá trình phát triển của bệnh.
  • 1986 Nghiên cứu tại Pháp và Hoa Kỳ xác định được loại vi-rút gây ra bệnh AIDS; xác nhận rằng các retrovirus LAV và HTLV-III thực chất là giống nhau và loại vi-rút này được đổi tên thành HIV.
  • 1987 Thuốc kháng vi-rút AZT được sử dụng rộng rãi như là phương pháp điều trị HIV đầu tiên.
  • 1990 Đạo luật Chăm sóc Ryan White năm 1990 cung cấp kinh phí tại Hoa Kỳ để chăm sóc bệnh nhân HIV.
  • 1992 Một loại thuốc mới, Hivid, được sử dụng kết hợp với AZT.
  • 1996 Thuốc mới mạnh có tên là thuốc ức chế protease được sử dụng để chống lại HIV kết hợp với các loại thuốc khác.
  • 1997 AZT ngày càng được kê đơn nhiều hơn cho các bà mẹ mang thai nhiễm HIV và làm giảm nguy cơ lây truyền cho trẻ.
  • 1998 Bắt đầu thử nghiệm vắc-xin phòng HIV/AIDS trên người.
  • Thập niên 1990 Các chiến dịch phòng chống HIV trên toàn thế giới vào những năm 1990 khuyến khích quan hệ tình dục an toàn và sử dụng ma túy có trách nhiệm. Tấm áp phích dưới này, với hình ảnh một người chết được đánh dấu “AIDS”, cầm lưỡi hái và ống tiêm có ghi chữ “heroin”, là một phần của chiến dịch tại Việt Nam.

 

  • 2000 Để ứng phó với sự thiếu hiểu biết lan rộng, 5.000 nhà khoa học đã ký vào bản tuyên bố rằng AIDS và HIV có liên quan với nhau.
  • Năm 2001, các công ty dược phẩm Hoa Kỳ miễn trừ quyền sáng chế, cho phép các nhà sản xuất châu Âu sản xuất thuốc tương đương sinh học giá rẻ hơn để sử dụng tại những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Phi.
  • Năm 2004, Hoa Kỳ phê duyệt loại thuốc điều trị HIV tương đương, mở đường cho loại thuốc rẻ hơn.
  • Năm 2009, các nhà khoa học Mỹ hoàn thành dự án giải mã toàn bộ bộ gen HIV.
  • Năm 2013, các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ đang nghiên cứu một loại vắc-xin giúp hệ thống miễn dịch nhận biết và tấn công

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6939/feed 0
Đặng Thùy Trâm – ngọn lửa từ Đức Phổ thắp sáng trái tim thời đại. https://thuonghylenien.org/luu-tru/6937 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6937#respond Sun, 13 Sep 2026 04:37:55 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6937 Đặng Thùy Trâm – ngọn lửa từ Đức Phổ thắp sáng trái tim thời đại.

 

Đặng Thùy Trâm (26 tháng 11 năm 1942 – 22 tháng 6 năm 1970) là một bác sĩ, liệt sĩ cho Việt Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Nhật ký thời chiến của bà, kể lại hai năm cuối đời, đã thu hút sự chú ý của quốc tế sau khi được xuất bản vào năm 2005.

Tiểu sử

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh tại Huế[1] nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình giàu tri thức. Bố chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội.[1] Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn ba em gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người thân đều gọi Thùy Trâm là “Thùy” để phân biệt.

Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội. Bằng các ca khúc Bài ca hy vọng (của Văn Ký), Cây thùy dương (ca khúc Nga)Sullico…, chị đã đoạt hàng chục huy chương trong các cuộc đua tài văn nghệ quần chúng thủ đô. Bên cạnh việc say mê học tập, luôn giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn, Thùy Trâm còn tích cực tham gia câu lạc bộ thơ văn cùng khóa của trường Chu Văn An, gồm có các thành viên sau này trở thành các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhàn… Chị và các anh bạn cùng lớp Lê Văn Kiếm, Hoàng Ngọc Kim, Dương Đức Niệm kết thành nhóm phấn đấu vào Đảng. Nối nghiệp gia đình, Thùy Trâm thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội chuyên khoa Mắt và được nhà trường cho tốt nghiệp sớm một năm để đi chiến trường.

Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ưu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể, hoặc nhận lời ở lại trường làm cán bộ giảng dạy hoặc nhận công tác tại một bệnh viện hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín, có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhưng vì có người yêu vào chiến trường trước mấy năm nên sau khi tốt nghiệp chị xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.

Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.[2]

Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai táng tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn (NTLS TP. Hà Nội), Từ LiêmHà Nội [3](nay là phường Tây Tựu, Hà Nội)

Chị đồng thời là tác giả hai tập nhật ký được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, 2 ngày trước khi hy sinh. Hai tập nhật ký này được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ suốt 35 năm cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4 năm 2005. Nhật ký của cô sau đó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập thành quyển sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm và trở thành một hiện tượng văn học với hơn 400.000 bản được bán. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được báo chí nước ngoài bình luận như một “Nhật ký Anne Frank của Việt Nam”.[4]

Cuộc gặp gỡ

Trong loạt bài phóng sự “Huyền thoại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển“, Nhà báo Nguyễn Thành Luân (Báo Đại Đoàn Kết) thuật lại cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử, trong đó có Thuyền phó con tàu đầu tiên ra miền Bắc – Nguyễn Văn Đức, kể lại về cuộc gặp của các thủy thủ trên con tàu “Không số” vận chuyển vũ khí đầu tiên ra Bắc với liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trên tuyến đường mòn nổi tiếng này vào năm 1968 mà đến nay ông vẫn còn nhiều ấn tượng tốt đối với Đặng Thùy Trâm.[5]

Cuộc sống tình cảm

Trong nhật ký, Đặng Thùy Trâm viết về người mình yêu bằng chữ viết tắt “M” (Mộc). Tên thật của người chiến sĩ này là Khương Thế Hưng. Anh sinh ngày 18 tháng 9 năm 1934 tại thị xã Hội An, Quảng Nam, là con thứ ba của Nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng, sau Khương Thế Xương và Khương Băng Tâm. M. là chữ đầu của chữ Mộc. Nguyên Mộc tức Đỗ Mộc, là bút danh của Khương Thế Hưng ở chiến trường.

Năm 1966, Đặng Thùy Trâm vào chiến trường. Khương Thế Hưng gặp chị khi trong mình đã có hàng chục vết thương. Trong một lá thư, viết ngày 15 tháng 2 năm 1968, gửi cho bạn là Dương Đức Niệm, Thùy viết về M: “Anh bây giờ sống thật đơn giản, anh không mơ gì hơn là diệt được thật nhiều giặc Mỹ, anh không cần gì cho bản thân, kể cả tình yêu và sự nghiệp. Đối với Thùy, anh thương với tình thương rất đỗi chân thành, anh tôn trọng và cảm phục trước tình yêu thủy chung của Thùy, nhưng chỉ có thế thôi. Con tim anh không còn những rung cảm sâu xa, những vần thơ thắm đượm tình yêu, những lời ca bay bổng ước mơ nữa rồi”.

Anh rất cảm phục trước tình yêu chung thủy của Thùy nhưng trái tim anh đau đớn khi thấy miền Nam đau thương, khi đồng đội của anh từng ngày, từng giờ đã và đang ngã xuống để giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong một lá thư gửi cho em gái, anh Hưng viết:

Anh đã hành quân qua hàng ngàn thôn xóm cháy rụi, những cánh đồng khô héo vì chất độc… Anh đã từng lặng người trước 70 bà con Hành Đức bị thuốc độc Mỹ làm chết trong hầm, thân thể bầm tím… Anh đã nhìn tận mắt chị phụ nữ Gành Cả bị giặc Pắc Chung Hi (Hàn Quốc) hiếp, ruột chị dao găm giặc rọc từ dưới lên trên, cổ chị bị giặc vác cối đá chần lên, lưỡi chị phải thè ra ngoài!
Tay anh đã từng cầm chuỗi cườm của em bé, mảng da đầu dính tóc của người con gái, mảnh xương sọ của bà mẹ – những người trong số 394 người bị giặc Pắc Chung Hi tàn sát trong một giờ vào một sớm mưa lạnh ngày Đông 1966 ở Bình Hòa… Anh đã từng chứng kiến những vụ vây ráp bắt thanh niên ta đi làm bia đỡ đạn cho chúng, chúng đã giành giật trong tay những bà mẹ những người chị, những đứa con thân yêu, những người em hiền hậu… một cách vô cùng man rợ!
Nhưng đối với đồng bào Quảng Ngãi ta, mỗi tội ác của giặc Mỹ và tay sai gây ra chỉ có tác dụng như đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù, chỉ có tác dụng làm cho quân và dân Quảng Ngãi ta thêm quyết tâm, thêm sức mạnh chiến đấu vì độc lập tự do, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc.

Năm 1970, khi Thùy Trâm hi sinh, anh Hưng cũng bị thương nặng phải chuyển ra Bắc. Dòng nhật ký được viết sau ngày anh Hưng biết tin Đặng Thùy Trâm hi sinh:[6]

“Em dịu dàng là vậy, chưa biết nói nặng ai câu nào. Em dũng cảm là vậy. Giặc đốt hầm bí mật vẫn bình tĩnh cứu chữa thương binh. Cuỡi hon đa phóng qua trước rào lính địch để cấp cứu ca thương binh nặng. B-52 trên đầu. Quân đánh bộ bên cạnh vẫn bình tĩnh băng bó thương binh, dìu đi khỏi vòng vây.
Bà con thương yêu đùm bọc em. Các mẹ gọi em là Con gái. Các em gọi em là Chị. Cánh lính trẻ gọi em là Sao Vệ nữ. Các nhà thơ gọi em là người của làng thơ họ. Các nhà văn cãi lại bảo em là người của họ gửi nhờ Sê Khốp dạy nuôi. Vậy mà em ngã xuống. Và em cũng không nhận ra anh! Em chết đi biến thành ngọn gió lượn trên đầu anh. Trên đời anh. Thành tiếng gọi đằng trước để anh đi tới… Anh đã nghĩ, đó là tình yêu của người lính!…”.

Ông Khương Thế Hưng mất ngày 13 tháng 11 năm 1999, sau nhiều năm dài vật lộn với thương tật và bệnh tật do di chứng chiến tranh, thọ 65 tuổi.[7]

Em gái ông là bà Khương Băng Kính đã giữ lại bức thư viết ngày 17–3–1969 của chị Thùy Trâm gửi anh Hưng, được anh kẹp trong cuốn nhật ký. Bức thư được gia đình tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cuối năm 2009 và đang được trưng bày trong triển lãm Những kỷ vật kháng chiến tại Bảo tàng Quân khu 4 (Nghệ An).

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm nhìn từ phía trước

Vinh danh

theo BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ.

……

“Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí.” Dòng chữ ấy không phải là lời thêu dệt từ một huyền thoại hư cấu, mà là tâm nguyện gan ruột của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, được viết bằng trái tim đầy nhiệt huyết và tinh thần dấn thân vào giữa khói bom ác liệt ở Đức Phổ, Quảng Ngãi năm 1968. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ngọn lửa ấy vẫn không tắt. Không phải vì bi kịch hay sự tận hiến của cái chết, mà bởi cuộc đời vỏn vẹn 27 năm của chị là câu chuyện về trách nhiệm sống, về văn hóa của dấn thân, về phẩm chất không thể phai mờ.

Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, tại Huế, lớn lên giữa những năm khó khăn ở Hà Nội, nơi gian khổ giữa chiến tranh và đói rét trở thành nền tảng rèn giũa sức sống và lòng nhân hậu. Con gái của bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và giảng viên Dược khoa Doãn Ngọc Trâm, từ nhỏ chị đã chứng kiến cận cảnh khổ đau của đồng bào vùng sơ tán. Mười tuổi, chị đã thay người lớn cấy lúa, bắt ốc để cải thiện bữa ăn gia đình; đêm về, dưới ánh đèn dầu, đọc Balzac, Nam Cao như mở rộng tâm hồn, kết hợp giữa nghị lực và cảm thông. Bi kịch sống không khiến chị uất ức, mà giúp chị tỉnh táo nhận ra rằng: “Sự sống không chỉ đếm bằng từng ngày, mà bằng những gì mình cho đi và giữ lại cho người khác.”

Năm 1958, đỗ vào Trường Chu Văn An, Hà Nội, ngôi trường danh tiếng và nền tảng của nhiều tri thức Việt, chị vừa say mê văn chương, vừa nổi bật trong hoạt động văn nghệ với giọng hát Alto truyền cảm. Tuy nhiên, chị quyết định theo học Y, một lựa chọn rất dũng cảm với lý tưởng: “Phục vụ Tổ quốc bằng y đức hơn là dùng ngòi bút để tô đẹp đời.”

Khi đất nước bước vào giai đoạn khó khăn nhất, năm 1967, tốt nghiệp sớm, chị tình nguyện tham gia miền Nam, địa bàn ác liệt nhất và nhận nhiệm vụ tại Bệnh xá huyện Đức Phổ (T18). Ở đó, những điều kiện y tế thiếu thốn đến mức sơ khởi: phòng mổ là hầm chữ A, bàn mổ là tấm ván gỗ, dao mổ phải mài từ bu-ri xe, thuốc khan hiếm đến mức chị dùng lá kia lim thay thế. Song Đặng Thùy Trâm không than trách: nhật ký chị vẫn đầy ắp tình thương, niềm tin và lời hứa với chính mình: “Mình không được bỏ sót một bệnh nhân nào, dù là chiến sĩ hay người dân.”

Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, bệnh xá trở thành nơi cứu sinh cho hàng chục thương binh mỗi ngày. Khi máy bay B‑52 ném bom dày đặc, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội dời viện qua 15 điểm bằng cách đào hầm, xây dựng lán dã chiến; họ thức trắng đêm để tiếp tục cứu người, không một lần nghĩ đến bản thân mệt mỏi. Nổi bật nhất là câu chuyện 14 thủy thủ tàu không số 643: bị thương nặng, phải nhập viện, họ được chị nhường phần cơm gạo trắng, món ăn hiếm hoi giữa chiến dịch dài ngày; họ gọi chị là: “Thiên thần áo trắng.” Điều này nói lên một tinh thần sống không chỉ bằng cống hiến, mà bằng cả lòng trắc ẩn và sự chia sẻ từ trái tim trong túi thuốc.

Ảnh: Tư liệu về Bác sĩ Đặng Thùy Trâm

Ngày 22/7/1970, khi đang trên đường tới lán thăm dân, Đặng Thùy Trâm và y tá Kim Liên bất ngờ bị phục kích. Trong giây phút sinh tử, chị không chút do dự dùng thân mình che cho đồng đội, chịu đạn thay. Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị đã thể hiện khí chất của một người chiến sĩ mẫu mực, chiến đấu và hy sinh vì người khác. Chị ngã xuống lặng lẽ, nhưng đã cứu sống người còn lại. Hai cuốn nhật ký mà chị để lại tưởng chừng đã bị đốt khi rơi vào tay lính Mỹ. Thế nhưng, trung úy Frederic Whitehurst, xúc động trước dòng chữ đỏ trên bìa “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa,” đã giữ lại suốt hơn 35 năm, trước khi trao lại cho gia đình chị năm 2005. Ngay sau khi được công bố, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã tạo nên hiện tượng xuất bản với hơn 400.000 bản in, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ. Báo chí quốc tế gọi chị là “Anne Frank của Việt Nam,” như một cách thừa nhận sức lan tỏa từ trái tim quả cảm của chị. Ngọn lửa ấy, từ hầm chữ A Đức Phổ năm xưa, vẫn cháy trong trái tim nhiều thế hệ hôm nay.

Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ chạm tới hàng triệu trái tim trên khắp thế giới, mà còn trở thành biểu tượng sống động của khát vọng cống hiến, tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm. Đối với cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, câu chuyện ấy không dừng lại ở giá trị lịch sử, mà là lời mời gọi hành động; đó là: hành động bằng bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tác phong sư phạm và tinh thần cống hiến.

Trước hết, sống và học theo tấm gương Đặng Thùy Trâm là giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng. Nếu như Đặng Thùy Trâm đã kiên trung với lý tưởng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thì hôm nay, trong môi trường Quân Đội, cán bộ, giảng viên phải luôn vững vàng trước những thách thức tư tưởng, kiên định lập trường, sẵn sàng đấu tranh với cái sai, định hướng giá trị đúng đắn cho thế hệ học viên. Đó là cách thể hiện lòng trung thành với Đảng, với Quân đội và với sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới.

Tiếp đó, không ngừng tự học, đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới. Nếu ngày xưa, Đặng Thùy Trâm mài dao từ bu-ri, truyền dịch bằng ống tre, thì hôm nay, cán bộ, giảng viên phải chủ động tiếp cận công nghệ, phát triển bài giảng ứng dụng thực tế, xây dựng học liệu số, tổ chức mô phỏng, tọa đàm, chuyên đề… để nâng cao chất lượng giảng dạy. Đó là cách nối dài tinh thần vượt khó và sáng tạo mà Đặng Thùy Trâm từng thể hiện trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Quan trọng hơn, cần giữ gìn phẩm chất mẫu mực, nhân văn trong tác phong sư phạm. Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ giàu lòng nhân ái, là người chị, người đồng chí trầm tĩnh mà quyết đoán. Trong môi trường quân đội, người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là tấm gương về nhân cách: trung thực, khiêm nhường, tận tâm, truyền cảm hứng và trách nhiệm lâu dài với sự trưởng thành của học viên.

Hơn nữa, tinh thần cống hiến không vụ lợi, bền bỉ và âm thầm vì sự nghiệp lâu dài. Đặng Thùy Trâm không mang quân hàm lớn, không có chức vụ cao, nhưng lại để lại một di sản lớn bằng chính cuộc đời giản dị, đầy tận hiến. Cán bộ, giảng viên hôm nay có thể không đứng nơi trận tuyến, nhưng vẫn đang lặng thầm chiến đấu mỗi ngày: biên soạn tài liệu, đổi mới phương pháp, sát cánh cùng học viên trong học tập và rèn luyện.

Hơn 50 năm kể từ ngày Đặng Thùy Trâm ra đi, không chỉ trong mỗi dòng nhật ký, ngọn lửa từ Đức Phổ vẫn được thắp lên bằng những hành động hàng ngày, bằng từng người thầy, người chiến sĩ, người cán bộ đã và đang tiếp bước. Và chúng ta, với vai trò cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, cũng là người giữ gìn và phát huy ngọn lửa ấy: ngọn lửa từng bùng lên trong hầm chữ A Đức Phổ không chỉ kể một câu chuyện đã qua; đó là, ngọn đèn thắp sáng từng giờ giảng, từng trang giáo án của chúng ta hôm nay. Giữ vững lý tưởng, làm giỏi chuyên môn, nuôi dưỡng tâm hồn và tận tụy với thế hệ học viên, chính là cách cán bộ, giảng viên Khoa Tin học - Ngoại ngữ tiếp mạch lửa ấy, viết tiếp: “Nhật ký thế kỷ XXI” bằng trí tuệ, trách nhiệm và nhân cách.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Thùy Trâm. (2005). Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Đặng Vương Hưng, biên soạn). Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

2. Đặng Vương Hưng. (2020). Ngọn lửa không bao giờ tắt – 50 năm nhìn lại Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Hà Nội: NXB Văn học.

3. Trần Đình Bá. (2010). Đặng Thùy Trâm – từ hiện tượng xuất bản đến giá trị văn hóa nhân văn Việt Nam. Tạp chí Văn hóa Quân sự, số 3.

4. Nguyễn Thị Thanh Thủy. (2015). Bản lĩnh người thầy trong thời đại mới nhìn từ tấm gương Đặng Thùy Trâm. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 215.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6937/feed 0
Sự tích 10 cô gái Ngã 3 đồng Lộc https://thuonghylenien.org/luu-tru/6932 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6932#respond Sun, 13 Sep 2026 04:16:15 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6932 Sự tích 10 cô gái Ngã 3 đồng Lộc.

 

Tháng Bẩy tri ân" nhân Ngày Thương binh- Liệt sỹ: CHUYỆN Ở NGÃ BA ĐỒNG LỘC & 10 CÔ GÁI TNXP.

Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Ngã ba Đồng Lộc có tổng diện tích 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lǎn xuống đường làm cản trở giao thông.

Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc được coi như cổ họng, vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào nam. Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược nên trong chiến tranh phá hoại kẻ địch âm mưu ném bom huỷ diệt nhằm chặn đứt sự chi viện sức người, sức của, vũ khí, súng đạn, lương thực… của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968 không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại.

10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc10 nữ thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 Hà Tĩnh. Các chị đã anh dũng hy sinh vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 1968 trong một trận bom ác liệt khi đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom, mở đường chiến lược Bắc – Nam. Sự hy sinh của 10 cô gái ở độ tuổi mười tám, đôi mươi đã trở thành một biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của phụ nữ Việt Nam.

Danh sách 10 nữ anh hùng Ngã ba Đồng Lộc
    • Võ Thị Tần (Sinh năm 1944 — 24 tuổi, quê Can Lộc) – Tiểu đội trưởng
    • Hồ Thị Cúc (Sinh năm 1944 — 24 tuổi, quê Hương Sơn) – Tiểu đội phó
    • Nguyễn Thị Nhỏ (Sinh năm 1944 — 24 tuổi, quê Đức Thọ)
    • Dương Thị Xuân (Sinh năm 1947 — 21 tuổi, quê Đức Thọ)
    • Võ Thị Hợi (Sinh năm 1947 — 20 tuổi, quê Can Lộc)
    • Nguyễn Thị Xuân (Sinh năm 1948 — 20 tuổi, quê Can Lộc)
    • Hà Thị Xanh (Sinh năm 1949 — 19 tuổi, quê Đức Thọ)
    • Trần Thị Hường (Sinh năm 1949 — 19 tuổi, quê TX. Hà Tĩnh)
    • Trần Thị Rạng (Sinh năm 1950 — 18 tuổi, quê Đức Thọ)
    • Võ Thị Hà (Sinh năm 1951 — 17 tuổi, quê Đức Thọ) – Chiến sĩ trẻ nhất tiểu đội

st

Ngày 24/7/1968, 10 nữ thanh niên xung phong hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). Ngã ba Đồng Lộc nằm trên Đường Hồ Chí Minh, là giao điểm của Quốc lộ 15A và Tỉnh lộ 2. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là mạch máu giao thông để hậu phương chi viện sức người, sức của cho miền Nam.
Những năm 1964-1972, Ngã ba Đồng Lộc bị đánh phá liên tục và năm 1968 là ác liệt nhất. Từ tháng 4 đến tháng 10-1968, vùng đất này phải hứng chịu gần 50.000 quả bom các loại, bình quân mỗi mét vuông đất gánh trên 3 quả bom. Mặt đất bị biến dạng, đất đá bị cày đi xới lại.
🌟 Trưa 24/7/1968, 10 nữ thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55, ra đường làm nhiệm vụ. Đến 16 giờ, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc, một quả nổ gần căn hầm chữ A, nơi 10 chị tránh bom. Hầm sập, tất cả 10 chị hy sinh. Người trẻ nhất mới 17 tuổi, ba chị lớn nhất cùng 24 tuổi. Hiện phần mộ của 10 cô gái thanh niên xung phong nằm trong quần thể Khu di tích quốc gia đặc biệt ngã ba Đồng Lộc.
🇻🇳 58 năm đã đi qua, nhưng hình ảnh các nữ thanh niên xung phong anh dũng vẫn mãi mãi trong tâm trí người Việt Nam như trang sử sáng chói của dân tộc về tinh thần bất khuất kiên cường, thà hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của cha ông.

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6932/feed 0
25 BÀI HỌC CHUYỂN HÓA ĐỜI SỐNG HỌC TỪ ĐỨC PHẬT https://thuonghylenien.org/luu-tru/6927 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6927#respond Sat, 12 Sep 2026 07:33:18 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6927 25 BÀI HỌC CHUYỂN HÓA ĐỜI SỐNG HỌC TỪ ĐỨC PHẬT

25 Quotes from Buddha That Will Change Your Life
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tậpTuệ Uyển

1- THƯƠNG YÊU CHỬA LÀNH MỌI THỨ

“Thù oán không thể chấm dứt bằng thù oán, nhưng chỉ bằng yêu thương; đây là quy luật muôn đời.”

 

01. LOVE HEALS ALL THINGS..

“Hatred does not cease by hatred, but only by love; this is the eternal rule.”

 

2- KHÔNG PHẢI NHỮNG GÌ BẠN NÓI MÀ NHỮNG GÌ BẠN LÀM MỚI ĐỊNH NGHĨA ĐƯỢC BẠN

“Một người không được gọi là thông tuệ bởi vì người ấy nói và rồi lại nói, nhưng nếu người ấy an bìnhyêu thương, và không sợ hãi thế thì người ấy đúng thật được gọi là người thông tuệ.”

“Một con chó không được xem là một con chó tốt bởi vì nó sủa giỏi. Một người không được xem là một người tốt bởi vì người ấy nói hay.”

 

02. IT’S NOT WHAT YOU SAY BUT WHAT YOU DO THAT DEFINES YOU..

“A man is not called wise because he talks and talks again; but if he is peaceful, loving and fearless then he is in truth called wise.”

“A dog is not considered a good dog because he is a good barker. A man is not considered a good man because he is a good talker.

 

3- BÍ MẬT CỦA SỨC KHỎE TỐT LÀ SỐNG TRỌN VẸN TRONG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

“Đừng sống với quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai, hãy tập trung tâm thức trong giây phút hiện tại.”

“Bí mật của hạnh phúc cả tâm thức và thân thể là không đau buồn về quá khứ, cũng không lo lắng về tương lai, mà là sống trong giây phút hiện tại một cách thông tuệ và tha thiết.”

 

03. THE SECRET OF GOOD HEALTH IS TO LIVE FULLY IN THE NOW..

“Do not dwell in the past, do not dream of the future, concentrate the mind on the present moment.”

“The secret of health for both mind and body is not to mourn for the past, nor to worry about the future, but to live the present moment wisely and earnestly.”

 

4- NGƯỜI TÌM SỰ TỈNH THỨC TỪ BÊN TRONG

“Phương cách không phải ở trên bầu trời. Phương cách ở trong trái tim”

 

04. WHO LOOKS INSIDE AWAKENS..

“The way is not in the sky. The way is in the heart.”

 

5- TỪ NGỮ CÓ SỨC MẠNH CỦA CẢ TỔN THƯƠNG CÀ CHỬA LÀNH

“Từ ngữ có sức mạnh cả tàn phá và chửa lành. Khi từ ngữ là cả lẽ thật và ân cần, nó có thể thay đổi thế giới của chúng ta.”

 

05. WORDS HAVE THE POWER TO BOTH HURT AND HEAL..

“Words have the power to both destroy and heal. When words are both true and kind, they can change our world.”

 

6- HÃY BUỒNG XẢ NÓ VÀ NÓ SẼ LÀ CỦA BẠN MÃI MÃI

“Bạn chỉ mất những gì bạn bám víu nó.”

 

06. LET IT GO AND IT WILL BE YOURS FOREVER..

“You only lose what you cling to.”

 

7- KHÔNG AI CÓ THỂ ĐI CON ĐƯỜNG CỦA BẠN CHO BẠN

“Không ai cứu chúng ta ngoại trừ chúng ta. Không ai có thể và không người nào có thể. Chính chúng ta phải hiện thực con đường ấy.”

 

07. NO ONE CAN WALK YOUR PATH FOR YOU..

“No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.”

 

8- HẠNH PHÚC KHÔNG BAO GIỜ GIẢM BỚT BẰNG VIỆC CHIA SẺ

“Hàng nghìn ngọn nến có thể được thắp lên từ một ngọn nến, và tuổi thọ của ngọn nến không hề bị ngắn lại. Hạnh phúc không bao giờ suy giảm bằng việc chia sẻ.”

 

08. HAPPINESS NEVER DECREASES BY BEING SHARED..

“Thousands of candles can be lit from a single candle, and the life of the candle will not be shortened. Happiness never decreases by being shared.”

 

9- HÃY ÂN CẦN ĐỐI VỚI TẤT CẢ

“Quyết tâm mềm mõng với người trẻ, thương yêu với người già, thông cảm với người cố gắng và bao dung với người yếu đuối và sai sót. Đôi khi trong đời sống của bạn, bạn đã từng là tất cả những người như vậy.”

“Hãy từ bi với tất cả chúng sanh, giàu cũng như nghèo; mỗi thứ đều có nỗi khổ của họ. Một số thì quá nhiều, số khác thì quá ít.”

“Hãy chia sẻ ba thứ này cho tất cả: Một trái tim rộng rãi, một lời nói ân cần, và một đời sống phụng sự cùng từ bi là những thứ sẽ làm mới loài người.”

 

09. BE KIND TO ALL..

“Resolve to be tender with the young, compassionate with the aged, sympathetic with the striving and tolerant with the weak and wrong. Sometime in your life, you will have been all of these.”

“Have compassion for all beings, rich and poor alike; each has their suffering. Some suffer too much, others too little.”

“Teach this triple truth to all: A generous heart, kind speech, and a life of service and compassion are the things which renew humanity.”

 

10- ĐỪNG TIN TƯỞNG MỌI THỨ MÀ BẠN ĐƯỢC BẢO LÀ PHẢI TIN TƯỞNG

“Đừng tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn giản bởi vì bạn đã nghe nó. Đừng tin tưởng vào bất cứ điều gì bởi vì nó được nhiều người nói và đồn đãi. Đừng tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn giản bởi vì bạn thấy nó được viết trong kinh sách của tôn giáo bạn. Đừng tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn thuần bởi vì nó là lời nói có thẩm quyền từ những vị thầy hay người trưởng thượng của bạn. Đừng tin tưởng vào những truyền thống bởi vì chúng đã được truyền qua nhiều thế hệ. Nhưng sau khi quán chiếu và phân tích, khi bạn thấy rằng mọi thứ phù hợp với lý trí và có ích cho sự tốt lành và lợi lạc cho mình và người, thế thì hãy chấp nhận nó và sống với nó.”

 

10. DON’T BELIEVE EVERYTHING YOU ARE TOLD TO BELIEVE..

“Do not believe in anything simply because you have heard it. Do not believe in anything simply because it is spoken and rumored by many. Do not believe in anything simply because it is found written in your religious books. Do not believe in anything merely on the authority of your teachers and elders. Do not believe in traditions because they have been handed down for many generations. But after observation and analysis, when you find that anything agrees with reason and is conducive to the good and benefit of one and all, then accept it and live up to it.”

 

11- BẠN SẼ LÀ NHỮNG GÌ BẠN NGHĨ

“Chúng ta là tất cả những gì chúng ta suy nghĩ: nó được thấy trong suy nghĩ của chúng ta và tạo thành suy nghĩ của chúng ta. Nếu một người nói năng và hành động với suy nghĩ xấu ác, khổ đau sẽ theo người ấy như bánh xe theo con vật kéo… Nếu môt người nói năng hay hành động với tư tưởng tốt lànhhạnh phúc sẽ theo người ấy như bong không bao giờ rời người áy.”

 

11. AS YOU THINK SO SHALL YOU BE..

“All that we are is the result of what we have thought: it is founded on our thoughts and made up of our thoughts. If a man speak or act with an evil thought, suffering follows him as the wheel follows the hoof of the beast that draws the wagon…. If a man speak or act with a good thought, happiness follows him like a shadow that never leaves him.”

 

12- BUÔNG XẢ SỢ HÃI

“Toàn bộ bí mật của sự hiện hữu là không có sợ hãi. Đừng bao giờ sợ hãi những gì sẽ trở thành bạn, không lệ thuộcvào một ai. Chỉ ngay thời khắc bạn từ chối mọi sự giúp đở là bạn tự do.”

12. LET GO OF FEAR..

“The whole secret of existence is to have no fear. Never fear what will become of you, depend on no one. Only the moment you reject all help are you freed.”

 

13- LẺ THẬT LUÔN CÓ CÁCH ĐỂ HIỂN LỘ.

“Ba thứ không thể bị che dấu lâu dài: “Mặt trời, mặt trăng, và lẻ thật.”

13. THE TRUTH HAS A WAY OF ALWAYS LEAKING OUT..

“Three things cannot be long hidden: the sun, the moon, and the truth.”

 

14- ĐIỀU KHIỂN TÂM THỨC BẠN HAY NÓ SẼ ĐIỀU KHIỂN BẠN.

“Để có một sức khỏe tốt, để mang đến một niềm hạnh phúc thật sự cho gia đình, để mang đến hòa bình cho tất cả, chúng ta phải thuần hóa và điều khiển tâm thức của chúng ta. Nếu chúng ta có thể điều khiển tâm thức chúng ta thì chúng ta có thể tìm ra cách để Giác Ngộ, và tất cả mọi tuệ trí cùng công đức tự nhiên sẽ đến với chúng ta.”

“Chính tâm thức chúng ta, chứ không phải kẻ thù ta hay kẻ ghét ta đã quyến rũ ta đến những nẽo đường xấu ác.”

14. CONTROL YOUR MIND OR IT WILL CONTROL YOU..

“To enjoy good health, to bring true happiness to one’s family, to bring peace to all, one must first discipline and control one’s own mind. If a man can control his mind he can find the way to Enlightenment, and all wisdom and virtue will naturally come to him.”

“It is a man’s own mind, not his enemy or foe, that lures him to evil ways.”

 

15- NGHI NGỜ CHIA RẺ, TIN TƯỞNG HÒA HIỆP

“Không diều gì nguy hại hơn thói quen nghi ngờNghi ngờ chia rẻ con người. Nó là thuốc độc hoại tình bạn và làm đổ vở những mối quan hệ dễ thương. Nó là cây gai chọc tức và làm tổn thương; nó cây gươm giết chóc.”

15. DOUBT SEPARATES. TRUST UNITES..

“There is nothing more dreadful than the habit of doubt. Doubt separates people. It is a poison that disintegrates friendships and breaks up pleasant relations. It is a thorn that irritates and hurts; it is a sword that kills.”

 

16- KHÔNG AI XỨNG ĐÁNG VỚI TÌNH YÊU CỦA BẠN HƠN CHÍNH BẠN

“Bạn có thể tìm kiếm khắp vũ trụ một người xứng đáng hơn với sự yêu thương và tình cảm của bạn hơn chính bạn, và người đó không thể tìm đâu ra. Bạn, chính bạn, nhiều hơn bất cứ ai trong toàn thể vũ trụ, xứng đáng với sự yêu thương và tình cảm của bạn.”

16. NOBODY IS MORE DESERVING OF YOUR LOVE THAN YOU YOURSELF ARE..

“You can search throughout the entire universe for someone who is more deserving of your love and affection than you are yourself, and that person is not to be found anywhere. You, yourself, as much as anybody in the entire universe, deserve your love and affection.”

 

17. HIỂU NGƯỜI LÀ TRÍ TUỆ, HIỂU MÌNH LÀ GIÁC NGộ.

“Chiến thắng chính mình còn tốt hơn thắng một nghìn trận chiến. Khi đó, chiến thắng ấy là của bạn. Không ai có thể lấy đi được — không phải thiên thần hay ác quỷ, không phải thiên đường hay địa ngục.”

 

17. KNOWING OTHERS IS WISDOM, KNOWING YOURSELF IS ENLIGHTENMENT..

“It is better to conquer yourself than to win a thousand battles. Then the victory is yours. It cannot be taken from you, not by angels or by demons, heaven or hell.”

 

18. TÂM LINH KHÔNG PHẢI LÀ XA Xỉ, MÀ LÀ ĐIỀU THIẾT YẾU.

“Cũng như ngọn nến không thể cháy nếu không có lửa, con người không thể sống mà thiếu đời sống tinh thần.”

 

18. SPIRITUALITY ISN’T A LUXURY, IT’S A NECESSITY..

“Just as a candle cannot burn without fire, men cannot live without a spiritual life.”

 

19. HÃY THAY THẾ SỤ GHEN Tị BẰNG SỰ NGƯỠNG MỘ.

“Đừng ghen tị với những phẩm chất tốt đẹp của người khác; thay vào đó, hãy ngưỡng mộ và tự mình học theo chúng.”

 

19. REPLACE JEALOUSY WITH ADMIRATION..

“Do not be jealous of others’ good qualities, but out of admiration adopt them yourself.”

 

20. HÃY TÌM KIẾM SỰ BÌNH AN TRONG CHÍNH BẠN.

“Bình an đến từ bên trong. Đừng tìm kiếm nó ở bên ngoài.”

 

20. LOOK FOR PEACE WITHIN YOURSELF..

“Peace comes from within. Do not seek it without.”

 

21. HÃY BUÔNG BỎ SỰ CHẤP TRƯỚC.

“Để sống một đời sống trong sạch và vị tha, giữa sự dư dả, ta không nên xem bất cứ điều gì là của riêng mình.”

 

21. LET GO OF ATTACHMENT..

“To live a pure unselfish life, one must count nothing as one’s own in the midst of abundance.”

 

22. HÃY CHỌN BẠN MỘT CÁCH KHÔN NGOAN.

“Một người bạn giả dối và xấu xa còn đáng sợ hơn cả thú dữthú dữ có thể làm tổn thương thân thể bạn, nhưng một người bạn xấu sẽ làm tổn thương tâm trí bạn.”

 

22. CHOOSE YOUR FRIENDS WISELY..

“An insincere and evil friend is more to be feared than a wild beast; a wild beast may wound your body, but an evil friend will wound your mind.”

 

23. KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC — HẠNH PHÚC CHÍNH LÀ CON ĐƯỜNG.

“Không có lối đi nào dẫn đến hạnh phúchạnh phúc chính là con đường.”

 

23. THERE IS NO WAY TO HAPPINESS. HAPPINESS IS THE WAY..

“There is no path to happiness: happiness is the path.”

 

24. HÃY BUÔNG BỎ NHỮNG NHÃN MÁC.

“Trên bầu trời, không có sự phân biệt giữa đông và tây; chính con người tạo ra những phân biệt trong tâm trí mình rồi tin rằng chúng là thật.”

 

24. GIVE UP LABELS..

“In the sky, there is no distinction of east their own minds and then believe them to be true and west; people create distinctions out of.”

 

25. YÊU THƯƠNG. SỐNG TRỌN VẸNBUÔNG BỎ.

“Cuối cùng, những điều quan trọng nhất là: Bạn đã yêu thương tốt đến mức nào? Bạn đã sống trọn vẹn ra sao? Và bạn đã buông bỏ sâu sắc đến đâu?”

 

25. LOVE. LIVE. LET GO..

“In the end these things matter most: How well did you love? How fully did you live? How deeply did you let go?”

 

http://www.e-buddhism.com/search/label/Buddhism?&max-results=10

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6927/feed 0
20 ĐIỀU YẾU TẮC TÒNG LÂM CỦA THIỀN SƯ BÁCH TRƯỢNG HOÀI HẢI: KIM CHỈ NAM CHO TĂNG NI MỌI THỜI ĐẠI. Thích Chúc Xuân https://thuonghylenien.org/luu-tru/6925 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6925#respond Sat, 12 Sep 2026 07:30:03 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6925 20 ĐIỀU YẾU TẮC TÒNG LÂM
CỦA THIỀN SƯ BÁCH TRƯỢNG HOÀI HẢI:
KIM CHỈ NAM CHO TĂNG NI MỌI THỜI ĐẠI.
Thích Chúc Xuân

Lời dẫn

Trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 720–814)[1] được tôn vinh là một bậc đại tổ, nổi tiếng không chỉ bởi hạnh tu mà còn bởi việc thiết lập chế độ Thanh quy đời sống thiền mônTăng đoàn bằng giới luậtoai nghi, và tinh thần lao động. Câu nói bất hủ của Ngài:一日不作,一日不食」(Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực)“Một ngày không làm, một ngày không ăn.”[2, 3], đã trở thành ngọn đuốc soi sáng cho mọi thế hệ xuất giaThể hiện rõ triết lý Thiền: sống đạo không tách rời lao động, tu tập không lìa sinh hoạt thường nhật. Đây không chỉ là một lời nhắc nhở kỷ luật mà còn là một bản tuyên ngôn của tinh thần nhập thế, phá bỏ mọi quan niệm hưởng thụ an nhàn trong chốn Thiền môn.

Mở đầu

Thiền sư Bách Trượng Hoài Hảiđệ tử đắc pháp của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一, 709-788)[4, 5], là một trong những vị Thiền sư có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Ngài không chỉ là bậc thạch trụ tòng lâm(a) mà còn là người đặt nền móng cho nề nếp sinh hoạt Thiền môn qua tác phẩm Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規)[6]Tinh thần “thanh quy(b)” của Ngài vừa nghiêm mật vừa linh hoạt, đặt trọng tâm ở sự tự lậptự giác, và hòa hợp Tăng đoàn.

Trong di sản của ngài ngoài Bách Trượng Thanh Quy, còn có một bản《叢林要則二十條》(Hai mươi điều yếu tắc của tòng lâm) để lại cho hàng hậu học, được ghi chép trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元)[7]Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規)[8] và bản Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記)[9]. Đây không chỉ là quy tắc mang tính thực tiễn cho đời sống tùng lâm, mà còn là “kim chỉ nam” đưa người xuất gia vượt qua những thử thách nội tâm và ngoại cảnh.

Trong bối cảnh Phật giáo ngày nay, khi Tăng Ni trẻ đối diện với nhiều thách thức của xã hội hiện đại, việc trở về học hỏi và quán chiếu những “Yếu Tắc” của Thiền sư Bách Trượng là điều vô cùng cần thiết. Đó là những chỉ dạy ngắn gọn, súc tích, nhưng chứa đựng đạo lý sâu xa, vừa là khuôn phép, vừa là giới luật cho người xuất gia.

Bài viết này xin giới thiệu nguyên văn 20 câu Yếu Tắc (chữ Hán – Âm Hán – Nghĩa Việt), sau đó phân tích ý nghĩa ngắn gọn, rút ra những bài học cho Tăng Ni trong thời đại hôm nay.

20 Câu Di Huấn

Nguyên văn

Âm Hán

Nghĩa Việt

一、叢林以無事為興盛 Nhất – Tòng lâm dĩ vô sự vi hưng thịnh
  1. Chốn tùng lâm, lấy vô sự (an ổn) làm hưng thịnh.
二、修行以念佛為穩當 Nhị – Tu hành dĩ niệm Phật vi ổn đán
  1. Tu hành, lấy niệm Phật làm ổn thỏa.
三、精進以持戒為第一 Tam – Tinh tấn dĩ trì giới vi đệ nhất
  1. Tinh tấn, lấy trì giới làm bậc nhất.
四、疾病以減食為良藥 Tứ – Bệnh hoạn dĩ giảm thực vi lương dược
  1. Bệnh tật, lấy việc ăn ít làm thuốc hay.
五、煩惱以忍辱為菩提 Ngũ – Phiền não dĩ nhẫn nhục vi Bồ-đề
  1. Phiền não, lấy nhẫn nhục làm Bồ-đề.
六、是非以不辯為解脫 Lục – Thị phi dĩ bất biện vi giải thoát
  1. Thị phi, lấy không tranh biện làm giải thoát.
七、留眾以老成為真情 Thất – Lưu chúng dĩ lão thành vi chân tình
  1. Giữ chúng, lấy lão luyện thành thục làm chân tình.
八、執事以盡心為有功 Bát – Chấp sự dĩ tận tâm vi hữu công
  1. Làm việc, lấy hết lòng làm nên công đức.
九、語言以減少為直截 Cửu – Ngôn ngữ dĩ giảm thiểu vi chân tiễn
  1. Nói năng, lấy ít lời làm chân thật.
十、長幼以慈和為進德 Thập – Tương ấu dĩ từ bi vi tấn đức
  1. Đối với người trẻ, lấy từ bi làm tăng trưởng đức hạnh
十一、學問以勤習為入門 Thập nhất – Học vấn dĩ cẩn tập vi nhập môn
  1. Học vấn, lấy siêng tập làm cửa ngõ.
十二、因果以明白為無過 Thập nhị – Nhân quả dĩ minh bạch vi vô họa
  1. Nhân quả, lấy rõ ràng thì không tai họa.
十三、老死以無常為警策 Thập tam – Lão tử dĩ vô thường vi cảnh sách
  1. Già chết, lấy vô thường làm lời cảnh tỉnh.
十四、佛事以精嚴為切實 Thập tứ – Phật sự dĩ tinh nghiêm vi thiết thật
  1. Phật sự, lấy tinh nghiêm làm chân thực.
十五、待客以至誠為供養 Thập ngũ – Đãi khách dĩ chí thành vi cúng dường
  1. Tiếp khách, lấy chí thành làm cúng dường.
十六、山門以耆舊為莊嚴 Thập lục – Sơn môn(c) dĩ kỳ cựu vi trang nghiêm
  1. Sơn môn, lấy sự lâu đời làm trang nghiêm.
十七、凡事以預立為不勞 Thập thất – Phàm sự dĩ dự lập vi bất lao
  1. Mọi việc, lấy sự chuẩn bị trước để khỏi nhọc.
十八、處眾以謙恭為有禮 Thập bát – Sự chúng dĩ khiêm cung vi hữu lễ
  1. Đối với đại chúng, lấy khiêm cung làm lễ.
十九、遇險以不亂為定力 Thập cửu – Ngộ hiểm dĩ bất loạn vi định lực
  1. Nguy hiểm, lấy không loạn làm định lực.
二十、濟物以慈悲為根本 Nhị thập – Tế vật dĩ từ bi vi căn bản
  1. Cứu giúp muôn loài, lấy từ bi làm gốc.

Phân tích và ứng dụng

1. Vô sự – nền tảng hưng thịnh

Thiền sư Bách Trượng dạy: “Tòng lâm dĩ vô sự vi hưng thịnh” – một ngôi chùa không rối ren bởi tranh chấpthị phi mới có thể hưng thịnh. Điều này phù hợp với lời Phật dạy trong Kinh Nhất Dạ Hiền Giả: “Hãy để quá khứ lại phía sau, chớ tưởng nhớ đến tương lai, an trú trong hiện tại”[10][11].

Trong bối cảnh hiện đại, nhiều tự viện cũng gặp khó khăn vì mâu thuẫn nội bộ. Bài học ở đây là: giữ sự “vô sự” – an hòa, hòa hợp – chính là sức mạnh.

2. Niệm Phật – sự ổn định của tâm

          “Tu hành dĩ niệm Phật vi ổn đán.” Niệm Phật không chỉ thuộc pháp môn Tịnh độ, mà còn là phương tiện đưa tâm trở về nhất niệm tịnh minh. Sự nhất tâm bất loạn thì không bị kiến tư hoặc nó làm loạn. Tâm mình chẳng bị kiến tư hoặc làm rối loạn, khi ấy tâm mình chẳng còn biến khởi ra ba cảnh vật điên đảo, của Dục giớiSắc giới và Vô sắc giới ở trong thế giới Tabà nữa.

Trong đời sống tăng ni hôm nay, niệm Phật không nhất thiết là tụng kinh nhiều, mà là giữ tâm luôn tỉnh thức – như Ajahn Chah dạy: “Khi ăn, biết mình đang ăn; khi đi, biết mình đang đi. Đó là niệm Phật”[12].

3. Giới luật – gốc của tinh tấn

          “Tinh tấn dĩ trì giới vi đệ nhất.” Không có giới, tinh tấn dễ biến thành cực đoanTăng Chi Bộ Kinh, Chương IV dạy: “Người giữ giớitinh tấn, thì không sợ hãi ở bất kỳ chỗ nào” [13].

Ngày nay, khi cám dỗ vật chất tràn lan, lời di huấn này lại càng giá trị.

4. Giảm thực – thuốc trị bệnh

“Bệnh tật dĩ giảm thực vi thanh dược.” Khoa học hiện đại cũng xác nhận: chế độ calorie restriction giúp cơ thể khỏe mạnh hơn, giảm nhiều bệnh[14].

Trong thiền mônăn chay, ăn điều độ, chính là “thanh dược”.

5. Nhẫn nhục – Bồ đề giữa phiền não

          “Phiền não dĩ nhẫn nhục vi Bồ-đề.” Trong Kinh Pháp Cú có câu: “Thắng ngàn quân ngoài trận không bằng thắng chính mình”[15].

Nhẫn không phải chịu đựng, mà là chuyển hóaThiền sư Trần Nhân Tông viết trong Cư trần lạc đạo phú:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà sẵn báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền[16].

          Lời dạy ấy là minh chứng sống động cho sức mạnh của nhẫn.

6. Không biện luận thị phi – cánh cửa giải thoát

          “Thị phi dĩ bất biện vi giải thoát.”

Hakuin cũng từng viết:

“Ở nơi ồn ào thị phi, tâm ta như núi,

Chẳng động bởi gió đời, ấy mới là Thiền”[17].

          Thời nay, với mạng xã hội đầy tranh cãi, bài học này càng đáng nhớ: im lặng là vàng, mà còn là giải thoát.

7. Lấy chân thành mà đối đãi

Lưu chúng dĩ lão thành vi chân tình.”

Người xưa coi sự hiện diện của bậc trưởng thượng trong tăng đoàn như một “tàng kinh sống”. Họ là những người đã đi qua thử thách, tôi luyện bởi giới luật và kinh nghiệmTăng ni trẻ khi có sự hướng dẫn ấy sẽ bớt vấp ngã.

          “Kính lão đắc thọ” – biết kính trọng người già thì sẽ được trường thọ[18].
Trong nếp sống thiền môngiữ gìn và tôn trọng bậc trưởng lão không chỉ là tôn ti trật tự, mà còn là tôn nghiệm đối với giới luật.

8. Lấy việc chấp tác làm công đức

          “Chấp sự dĩ tận tâm vi hữu công.

          Công phu tu tập không nằm ở việc tụng kinhniệm Phật mà chính là tận tâm trong từng việc thường ngày: quét sân, nấu cơm, tụng kinhtiếp khách. Bách Trượng từng dạy: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm, một ngày không ăn). Đây chính là tinh thần tận tâm, không buông bỏ trách nhiệm, xem chấp tác cũng là tu.

9. Nói năng như Chánh Pháp

          “Ngôn ngữ dĩ giảm thiểu vi chân tiễn.

Lời nói là dao hai lưỡi: có thể xây dựng nhưng cũng có thể phá hoại. Trong Kinh Pháp CúĐức Phật dạy: “Người nói nhiều chưa hẳn là người trí. Người an tĩnh, không sân hận, không sợ hãi, mới thật là người trí”[19].

Giảm bớt lời nói vô íchtăng trưởng chánh niệm nơi khẩu nghiệp, chính là một trong những phương tiện đưa đến giải thoát. Như Thiền sư Vô Môn Huệ Khai dạy: “Lời nói như lưỡi gươm, im lặng là vàng ngọc”

10. Lấy lòng từ bi làm sự tiến đức

Tương ấu dĩ từ bi vi tấn đức.”

Nuôi dưỡng người trẻ bằng từ bi là đầu tư cho tương lai Phật phápTừ bi ở đây không chỉ là bao dung, mà còn là sự chỉ dạy ân cầnThiền sư Ajahn Chah từng nói: “Dạy người trẻ tu tập là như trồng cây, cần kiên nhẫn tưới tẩm từng ngày”[20].
Tăng ni trẻ nhờ tình thương và sự dẫn dắt của bậc thầy mà lớn lên trong đạo, trở thành pháp khí cho tương lai.

11. Học hỏi nên siêng năng

Học vấn dĩ cẩn tập vi nhập môn.”

Đức Phật dạy: “Như ong hút mật, chỉ lấy hương vị mà không tổn hại hoa”. Người học Phật cũng thế, phải học với thái độ khiêm cung, trân trọng, không vội vàng, không cầu danh. Cẩn tập nghĩa là học đi đôi với hành. Không có sự thực tập thì tri thức chỉ là gánh nặng.

12. Hiểu rõ Nhân Quả

Nhân quả dĩ minh bạch vi vô họa.”

Tăng Chi Bộ Kinh nhấn mạnh“Chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp”[21].

Nhận thức sâu xa về nhân quả giúp Tăng Ni sống chánh hạnh, không vì lợi ích cá nhân mà tạo nghiệp xấu. Thấy rõ nhân quả cũng chính là thấy được Phật tánh vốn trong sáng.

13. Lấy vô thường làm lời cảnh tỉnh

Lão tử dĩ vô thường vi cảnh sách.”

Trong Kinh Nhất Dạ Hiền GiảĐức Phật nhắc: “Không chạy theo quá khứ, không ước vọng tương lai, chỉ sống trọn vẹn trong hiện tại”[22].

Quán niệm vô thường khiến hành giả tinh tấn, không phóng dật. Như lời Thiền sư Hakuin:

“Sinh tử vô thường, chớ buông lung,

Một hơi thở ra không chắc trở lại”[23].

14. Phật sự, lấy tinh nghiêm làm chân thực

Phật sự dĩ tinh nghiêm vi thiết thật.”

Tổ Bách Trượng lập quy củ thiền môn chặt chẽ, coi giới luật là nền tảng. Phật sự không chỉ là nghi lễ, mà chính là giữ chánh phápnghiêm tịnh thân tâm. Khi mỗi Tăng Ni đều hành trì tinh nghiêm, đạo tràng sẽ trở thành nơi an ổn cho cả bốn chúng.

15. Tiếp khách, lấy chí thành làm cúng dường

Đãi khách dĩ chí thành vi cúng dường.”

Trong văn hóa Á Đông, khách quý như trời. Với nhà chùa, khách đến chính là nhân duyên gieo pháp. Sự tiếp đãi chân thành chính là một hình thức cúng dường.

Như Kinh dạy: “Người đem lòng thành kính cúng dườngphước đức vô lượng”.

16. Sơn môn, lấy sự lâu đời làm trang nghiêm

Sơn môn dĩ kỳ cựu vi trang nghiêm.”

Chùa cổ là chứng nhân của lịch sử Phật giáoGiữ gìn dáng vẻ cũ không chỉ là trân trọng quá khứ, mà còn là gìn giữ căn tính văn hóa. Một mái chùa cong, một tiếng chuông ngân có thể trở thành hạt giống đạo trong lòng người khách qua đường.

17. Mọi việc, lấy sự chuẩn bị trước để khỏi nhọc

Phàm sự dĩ dự lập vi bất lao.”

Đức Phật từng dạy: “Người trí làm việc gì cũng suy nghĩ trước, người ngu làm rồi mới hối tiếc”. Trong tăng đoàn, sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho mọi Phật sự giúp tránh sai sót và nuôi dưỡng niềm an lạc. Đây cũng là nguyên tắc quản trị hiện đại nhưng đã có trong Thiền môn từ ngàn xưa.

18. Đối với đại chúng, lấy khiêm cung làm lễ

Sự chúng dĩ khiêm cung vi hữu lễ.”

Tinh thần Lục hòa (thân hòa, khẩu hòa, ý hòa…) chính là nền tảng của sự khiêm cung trong Tăng đoàn. Khi mỗi người đều lấy hạ mình làm gốc thì đại chúng mới an ổnTăng Ni ngày nay giữa xã hội nhiều cạnh tranh, càng cần nuôi dưỡng tâm khiêm hạ để Phật pháp trường tồn.

19. Nguy hiểm, lấy không loạn làm định lực

Ngộ hiểm dĩ bất loạn vi định lực.”

Trong cơn hoạn nạn, người có định lực sẽ không bị cuốn theo sợ hãi. Đây là kết quả của tu thiền và chánh niệmThiền sư Ajahn Chah từng khuyên: “Khi tâm đứng vững như ngọn núi, thì gió bão không làm lung lay”[24]Tăng Ni giữa thời đại biến động, nếu giữ được định lực, sẽ là chỗ nương tựa cho quần chúng.

20. Cứu giúp muôn loài, lấy từ bi làm gốc

Tế vật dĩ từ bi vi căn bản.”

Đạo Phật được xây dựng trên nền tảng Từ – Bi – Hỷ – Xả. Từ bi không chỉ là cảm xúc mà là hành động thiết thực để cứu giúp muôn loài. Đức Phật dạy: “Hãy làm lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”. Đây chính là cốt lõi của Phật sự, cũng là kim chỉ nam để Tăng Ni hoằng pháp trong thời nay.

Như Thiền sư Ajahn Chah từng nói: “Đừng tìm Niết-bàn ở đâu xa. Hãy bắt đầu từ tâm từ bi này”[25].

Rút ra bài học

Từ phân tích trên, dưới đây là những bài học thiết thực mà Tăng Ni hiện nay cần ghi nhớ và thực hànhdựa vào 20 câu Yếu Tắc trên:

  1. Tự giác trong tu hành: không để mình bị ảnh hưởng bởi danh vọngtruyền thônglợi lộc; giữ tâm an – niệm Phật – trì giới.
  2. Giảm lời nói, tăng hành động: nói ít nhưng thật lòng, làm việc thiết thực trong chùa, ngoài đời.
  3. Khiêm cung, kính bậc trưởng thượng: trong đoàn thể cũng như trong giáo hội, sự kính trọng người có tuổi, người có công giúp đoàn thể mạnh.
  4. Chuẩn bị trước & tĩnh lặng trong khó khănkế hoạch, tổ chức, đối phó với dịch bệnh, thiên tai, dư luận… không để bị động.
  5. Từ bi ứng xử với mọi chúng sinh: không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo
  6. Ý thức vô thường & nhân quả: giúp đời sống nội tu luôn tỉnh thức, không buông lung, không sa ngã.
  7. Trang nghiêm hình thức đi đôi với tâm thành: chứ không phải hình ảnh bên ngoài mà thiếu nội lực.

Đó chính là bài học giản dị mà vô cùng thiết thực cho mọi thế hệ Tăng Ni.

Kết luận

Hai mươi câu Yếu Tắc của Thiền sư Bách Trượng không chỉ là quy tắc cho tùng lâm thời Đường, mà còn là kim chỉ nam vượt thời gian cho mọi người học Phật. Từ việc ăn uống, nói năng, giữ giới, đến định lực và từ bi, các lời dạy này tạo nên một hệ thống tu học hài hòa, thiết thực và sâu sắc.

Trong thời đại đầy áp lực xã hội và cám dỗ vật chất, khi Tăng Ni và người cư sĩ đối mặt với nhiều thách thức, việc thực hành những yếu tắc này – từ việc giữ tâm an địnhtiết chế ngôn ngữ, đến việc tu dưỡng lòng từ bi và ý thức về nhân quả – chính là nền tảng vững chắc để mỗi người an lạc và tinh tấn trên con đường đạo.

Thích Chúc Xuân

📚 Tài liệu tham khảo

  1. HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA: Thiền sư Hoài Hải – http://thuongchieu.net/index.php/phapthoai/suphu/4723-tshoaihai
  2. Tống cao tăng truyện Q.10; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6 – https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/nhat-nhat-bat-tac-nhat-nhat-bat-thuc-k38306.html
  3. Bá Trượng Ngữ Lục: https://thuvienhoasen.org/a7557/ba-truong-ngu-luc
  4. Thiền Sư Mã Tổ – Đạo Nhấthttps://thuvienhoasen.org/a10392/thien-su-ma-to-dao-nhat
  5. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (pdf) – Quyển 06: Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一): https://quangduc.com/a72134/quyen-06-ma-to-dao-nhat-va-bach-truong-hoai-hai-
  6. Bách Trượng Tòng Lâm Thanh Quyhttps://chuaadida.com/bach-truong-tong-lam-thanh-quy-9603.html
  7. Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元), Quyển 6. Hán văn và Âm Hán Việt. Bản dịch và PDF tại Rộng Mở Tâm Hồnhttps://www.rongmotamhon.net/xem-kinh_ngu-dang-hoi-nguyen-%5B%E4%BA%94%E7%87%88%E6%9C%83%E5%85%83%5D_dkdmtpqt_muc-luc.html?
  8. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy https://chuaadida.com/thu-vien-sach/sac-tu-bach-truong-thanh-quy.html
  9. Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký: https://www.rongmotamhon.net/xem-kinh_bach-truong-thanh-quy-chung-nghia-ky_qmctqldd_viet1.html
  10. Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya), Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta, số 131). Dịch giả: HT. Thích Minh Châu. Thư viện Hoa Sen: Bản PDF- https://thuvienhoasen.org/images/file/rLT7CkvK2ggQAORF/131-kinh-nhat-da-hien-gia-bhaddekaratta-sutta-.pdf
  11. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta, MN 131). Toàn văn trực tuyến, Thư viện Hoa SenXem onlinehttps://thuvienhoasen.org/a7714/kinh-nhat-da-hien-gia
  12. Ajahn Chah. No Ajahn Chah: Reflections. PDF: https://ajahnchah.org/.
  13. Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya), Chương IV: Bốn Pháp (Phẩm 1–3). Dịch giả: HT. Thích Minh Châu. Theravāda Việt Namhttps://theravada.vn/tang-chi-bo-anguttara-nikaya-chuong-iv-bon-phap-pham-1-3/
  14. Thư viện Y học Hoa Kỳ (NIH). “Calorie Restriction and Health Benefits.” https://www.ncbi.nlm.nih.gov/
  15. câu kệ số 103, kinh Pháp Cú, thuộc phẩm Phẩm ngàn (Phẩm 8, Sahassa Vagga).
  16. Trần Nhân TôngCư trần lạc đạo phú. Nguồn: Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-nguyen-van/ Bản PDF: https://phapthihoi.org/kinh/Ebooks/Thien-Tong/Truoc-Tac/Cu-Tran-Lac-Dao-Phu-HT-Nhat-Quang.pdf
  17. Hakuin Ekaku (1999). Wild Ivy: The Spiritual Autobiography of Zen Master Hakuin. Shambhala. Bản PDF tiếng Anh: https://inscribedonthebelievingmind.blog/wp-content/uploads/2018/10/hakuin_wildivy.pdf
  18. “Kính lão đắc thọ”: https://giacngo.vn/kinh-lao-dac-tho-post561.html
  19. Kinh Pháp Cú, kệ 258–259 về lời nói và trí tuệ. Nguồn: Thư viện Hoa Senhttps://thuvienhoasen.org/p23a583/kinh-phap-cu-dhammapada
  20. Ajahn Chah, lời dạy về huấn luyện người trẻ như trồng cây. Nguồn: No Ajahn Chah: Reflectionshttps://ajahnchah.org/.
  21. Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya), Chương IV: Bốn Pháp. Dịch giả HT. Thích Minh Châu. Theravāda Việt Namhttps://theravada.vn/tang-chi-bo-anguttara-nikaya-chuong-iv-bon-phap-pham-1-3/
  22. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta, MN 131). Thư viện Hoa Senhttps://thuvienhoasen.org/a7714/kinh-nhat-da-hien-gia
  23. Hakuin Ekaku, kệ thơ trong Wild Ivy: The Spiritual Autobiography of Zen Master Hakuin. Bản PDF: https://inscribedonthebelievingmind.blog/wp-content/uploads/2018/10/hakuin_wildivy.pdf
  24. Ajahn Chah, ví dụ tâm vững như núi trong bão tố. Nguồn: No Ajahn Chah: Reflectionshttps://www.ajahnchah.org/book/No_Ajahn_Chah1.pdf
  25. Ajahn Chah, lời dạy: “Đừng tìm Niết-bàn ở đâu xa. Hãy bắt đầu từ tâm từ bi này.” Nguồn: Food for the Heart: The Collected Teachings of Ajahn Chah. Bản tiếng Anh (PDF): https://www.ajahnchah.org/book/Food_for_the_Heart.pdf

Chú thích:

  1. “Tòng lâm” (叢林): Chỉ nơi tụ hội của Tăng đoàntự viện hoặc chùa chiền, biểu tượng cho sự hòa hợp và phát triển như rừng cây sum suê, nơi các vị Tăng tu tập và sinh hoạt chung.
  2. “Thanh quy” (清規): Quy tắc thanh tịnh, nề nếp và giới luật sinh hoạt trong thiền môn, nhằm duy trì kỷ luật và sự hài hòa trong Tăng đoàn.
  3. Sơn môn” (山門): Chỉ cổng vào núi hoặc cửa chùa (thường nằm trên núi), biểu tượng cho cửa ngõ dẫn vào Phật pháp và thế giới thiền

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6925/feed 0
ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM LÀ NGHĨA THẾ NÀO? Truyền Bình https://thuonghylenien.org/luu-tru/6923 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6923#respond Sat, 12 Sep 2026 07:25:22 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6923 ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM
LÀ NGHĨA THẾ NÀO?
Truyền Bình

Câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” 應無所住而生其心 trích từ kinh Kim Cang, nhờ nghe câu này mà anh tiều phu Huệ Năng hoát nhiên tỏ ngộ, sau đó có cơ hội làm bài kệ “Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính diệc phi đài, Bổn lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai” 菩提本無樹 明鏡亦非台 本來無一物 何處惹塵埃 trình cho ngũ tổ Hoằng Nhẫn của Thiền tông và được truyền y bát để trở thành tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa. Lục Tổ và các môn đồ làm cho Thiền tông đại hưng thịnh, thiền sử ghi nhận có hơn 5000 người kiến tánh.

Kinh Kim Cang, tên đầy đủ là Kim cang (cương) bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh (zh. 金剛般若波羅密多經, sa. vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra) là một bộ kinh liễu nghĩa (tức nói ý nghĩa rốt ráo chứ không phải nghĩa phương tiện, do đó không dễ hiểu đối với người bình thường). Có ít nhất 6 bản dịch từ Phạn sang Hán trong đó bốn dịch giả người Ấn (Cưu Ma La ThậpĐạt Ma Cấp ĐaChân Đế -真諦Paramartha- và Bồ Đề Lưu Chi) và hai dịch giả người Hoa, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh. Trong đó phổ biến nhất là bản dịch của Cưu Ma La Thập (鳩摩羅什 Kumārajīva 344-413, dịch vào đời Diêu Hưng nước Hậu Tần trong thời kỳ các dị tộc xâm chiếm Trung Quốc sau nhà Tây Tấn, trước sau dựng lên tất cả 16 nước, thời kỳ mà sử gọi là Ngũ Hồ loạn Hoa (năm dị tộc xâu xé nước Trung Hoa).

Nội dung kinh là cuộc đàm luận giữa Phật và tôn giả Tu Bồ Đề, bày tỏ ý nghĩa thù thắngrốt ráo của Phật pháp . Bộ kinh kết luận bằng bài kệ :

一切有爲法 Nhất thiết hữu vi pháp
如夢幻泡影 Như mộng huyễn bào ảnh
如露亦如電 Như lộ diệc như điện
應作如是觀 Ưng tác như thị quán

Tất cả các pháp hữu vi tức là pháp có sinh có diệt, đều như mộng huyễn, như bọt nước, như hạt sương mong manh hoặc như điện chớp, tức không có gì thật sự vững chắc, nên xem xét nhận thức như thế.

Ý  kinh nói rằng vũ trụ vạn vật chỉ là ảo ảnh, không phải thật, do đó không nên chấp trước cho là thật. Ngày xưa khoa học chưa phát triển nên trong nguyên tác, các bản dịch và luận giải đều chưa có dẫn chứng khoa học, nên ý nghĩa của câu chủ đề trên còn khá mơ hồ. Ngày nay chúng ta có điều kiện hơn, vì khoa học đã phát triển, nên có điều kiện giải thích cụ thể rõ ràng hơn.

Bây giờ chúng ta sẽ phân tích ý nghĩa của câu chủ đề :

應無所住而生其心 Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm

Ưng vô sở trụ : Đây là câu bàng thái cách (subjonctif) với nghĩa cần phải không có chỗ trụ, nếu chúng ta dùng tiếng Pháp là một ngôn ngữ rất tinh tế để diễn đạt thì có thể dịch : Il faut que vous soyez nonlocal. Hoặc tiếng Anh : You must be nonlocal.

Nhi sinh kỳ tâm : thì cái tâm ấy mới xuất hiện: pour que cet esprit apparaisse. Hoặc tiếng Anh : for  the appearing of this mind. Cái tâm ấy tức là tâm giác ngộ.

Thế nào là không có chỗ trụ, tại sao không thể có chỗ trụ ? Đây là chỗ cần dùng khoa học để dẫn chứngPhật pháp nói rằng các pháp đều là ảo hóa. Mà sự ảo hóa cần đến chuyển động không thể ngừng. Ví dụ để có sự xuất hiện của nguyên tử, electron phải chuyển động vòng quanh hạt nhân rất nhanh và không ngừng. Để cho cuộc sống trong phim sống động như thật, máy chiếu phim phải chạy đều đều không thể ngừng. Các vật thể vi mô hay vĩ mô đều phải chuyển động không ngừng. Hành tinh chuyển động chung quanh mặt trời, vệ tinh như mặt trăng chuyển động chung quanh hành tinh, thái dương hệ chuyển động trong ngân hà, các thiên hà chuyển động không ngừng trong vũ trụTâm thức của con người chúng ta cũng luôn luôn vận độngnhất niệm vô minh cứ nối tiếp nhau thành dòng tâm thức vô tận. Tất cả sự chuyển động đó tạo ra thế giới mà Phật pháp đã tóm tắt trong danh xưng Ngũ Uẩn五蘊 hay còn gọi là Ngũ Ấm五陰, đó là Sắc色,Thọ受,Tưởng想, Hành行,Thức識 .Đó là năm yếu tố tạo thành thế giới trong đó Sắc là vật chất, Hành là chuyển động, Thọ là cảm giác, Tưởng là nghĩ ngợi, tưởng tượng, Thức là nhận biếtPhật pháp nói rằng Ngũ Uẩn Giai Không五蕴皆空 Năm yếu tố cấu thành thế giới đều không có thật nên không thể có chỗ trụ.

Nguyên lý vô sở trụ đã được Heisenberg nhận thức thành nguyên lý bất định (principle of uncertainty) trong vật lý học. Vô sở trụ còn được nhận thức thành định lý bất toàn (Theorem of incompleteness) trong toán học do Kurt Godel phát hiện. Vô sở trụ còn hiển hiện trong nhiều lỗ hổng không thể lấp đầy của Sinh vật tiến hóa luận do Charles Darwin đề xướng. Xem loạt bài về

SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

Khoa học lượng tử tương quan (RQM : Relational Quantum Mechanics) ngày nay cũng đi đến kết luận rằng đã đến lúc chúng ta cần xét lại hình ảnh của thế giới bên ngoài! :

Thực tế khách quan không phải là một thực tế tuyệt đối cũng không phải là một thực tế độc lập mà chỉ là một thực tế tương quan.

Điều này có ý nghĩa cụ thể như thế nào ? Có nghĩa rằng vật không có thật, nhưng chúng ta vẫn thấy có vật, vì cái mà chúng ta thấy là sự tương tác giữa các giác quan của chúng ta (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ) với mối quan hệ (tương quan) của các cấu trúc ảo của vật chất. Cấu trúc ảo đó là gì ? Từ những hạt ảo là quark và electron, cấu trúc thành proton, neutron, hạt nhân nguyên tử, nguyên tử, phân tử và cuối cùng là thế giới, sinh vật, con người. Vật thì không thật sự hiện hữu, nhưng những hạt ảo làm thành cấu trúc ảo, và chúng ta thấy và tương tác với mối quan hệ giữa các cấu trúc ảo đó.

Tóm lại vì bản chất của thế giới là ảo hóa, là chuyển động nên không thể trụ, không thể dừng lại, kể cả chết cũng không dừng lại, vì thức sẽ chuyển qua một đời sống khác gọi là tái sinh chuyển kiếp, vì bản chất là không nên không có chỗ trụ. Kinh nói :

若以色見我  Nhược dĩ sắc kiến ngã
以音聲求我  Dĩ âm thanh cầu ngã
是人行邪道  Thị nhân hành tà đạo
不能見如來   Bất năng kiến Như Lai

Nếu lấy vật chất để thấy ta (ta là Như Lai) nghĩa là hình dung ta dưới hình thức vật chất với 32 tướng tốt, phương phi tuấn túsức mạnh vô địch v.v…Hoặc lấy âm thanh để cầu ta, nghĩa là dùng tiếng nói để tán thán, cầu khấn ta, hay dùng âm nhạc để diễn tả những phẩm đức của ta trong những bài thánh ca tuyệt hay. Thì người đó đã đi sai đường, không thể thấy được Như Lai, nghĩa là không thể giác ngộTóm lại không thể trụ ở các pháp trần.

Bản chất của thế giới là vô sở trụ, nghĩa là không có một điểm cố định nào để dừng nghỉ. Tất cả những chỗ an tĩnh dừng nghỉ đều chỉ là ảo tưởng. Khoa học ngày nay đã hiểu được điều này. Ví dụ một thiền sư đang ngồi tham thiền, liệu thân ông ta có chuyển động không ? Bên trong thân, máu đang lưu thông, nhiều tế bào chết đi, nhiều tế bào mới sinh ra, cơ thể đang tiến hành tiêu hóa, bài tiết, tăng trưởng, không lúc nào ngừng nghỉ. Tâm thức cũng không hề im lặng, nó đang quán tưởng, đang phiêu du qua vô số cảnh giới hay đang phát khởi nghi tình. Cả cái thân tứ đại ấy cũng chuyển động hỗn loạn theo chuyển động xoay tròn của địa cầu, theo chuyển động trên quỹ đạo chung quanh mặt trời, theo chuyển động của thái dương hệ trong ngân hà và theo sự chuyển động của ngân hà trong vũ trụ.

Vô sở trụ còn có nghĩa là khắp không gian và khắp thời gian, không hạn chế ở một chỗ nhất định nào trong không gian hoặc một thời điểm nào trong thời gianTính chất này, ngày nay khoa học gọi là nonlocality (bất định xứ). Hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã chứng ngộ tính chất này, vì vậy mới có danh xưng Như Lai, danh xưng này cũng có nghĩa là bất định xứ, đồng thời tuyên thuyết Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Còn khoa học thì mãi đến thế kỷ 20 mới hiểu được qua hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Trên blog này, đã nói rất nhiều về hiện tượng này, nếu cần xem lại thì bấm vào đây :

KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng tính chất bất định xứ chỉ xảy ra trong thế giới lượng tử, còn thế giới đời thường thì các vật thể đều có định xứ. Đó là một nhận thức hạn hẹp, nói hạn hẹp vì họ chỉ mới biết một mà chưa biết hai, họ chưa biết và chưa thấy vật thể cũng có tính chất bất định xứ như lượng tử. Điều này đã được các nhà đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng và Hầu Hi Quý chứng tỏ một cách rõ ràng qua các sự kiện như : Trương Bảo Thắng đã dùng tâm niệm lấy sợi dây nịt đang mang trong lưng quần của một nhà xã hội học ngay lúc ông ta đang đăng đàn diễn thuyết chỉ trích đặc dị công năng. Anh cũng dùng tâm niệm lấy trái táo ra khỏi một thùng sắt mà nắp bị hàn kín. Hầu Hi Quý đã dùng tâm niệm lấy xăng từ Bắc Kinh đổ vào bình xăng của một chiếc xe hơi đang đậu ở suối Sa Cốc, cách đó khoảng 50 km. Những vật đó bản chất vẫn là ảo, là bất định xứ, nên có khả năng di chuyển tự do nếu hành giả có tâm lực đủ mạnh, không một lực nào níu kéo lại được dù đó là chiếc thùng sắt kiên cố.

Tính chất vô sở trụ ngày nay đã được khoa học ứng dụng vô cùng phổ biến với mạng internet và điện thoại di động thông minh (smartphone). Tất cả bài báo, thông tin, âm nhạc, phim ảnh…có thể đến với người sử dụng bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, chỉ cần có sóng thích hợp như wifi, 3G, 4G, sóng vệ tinh v.v…Khoa học còn có tham vọng một ngày kia sẽ chuyển các vật thể đi khắp nơi bằng phương thức gọi là vô tuyến vận tải (télétransport) cũng giống như chuyển thông tin hiện nay. Tất cả đều dựa trên nguyên lý vô sở trụ. Từ bao đời nay, các vong linhthần thứctái sinh chuyển kiếp trong khắp tam giới đều bằng tốc độ của ý niệm, đều dựa trên nguyên lý vô sở trụ.

Thế nào là nhi sinh kỳ tâm ? Chữ sinh ở đây phải hiểu là xuất hiện chứ không phải sinh ra vì nó vốn đã có sẵn. Khi nào có đủ điều kiện thì nó xuất hiện. Tâm là vô sanh pháp nhẫnbất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh như Bát Nhã Tâm Kinh đã nói. Giống như mặt trời bị mây che nên không nhìn thấy, khi nào mây tan thì mặt trời xuất hiện. Kỳ tâm có nghĩa là cái tâm ấy. Cái tâm ấy là tâm giác ngộ, tâm bất nhịBất nhị có nghĩa là không phải hai, không phải nhiều, cũng không phải một, tóm lại bất nhị là không có số lượng. Tại sao không có số lượng ? Vì tất cả vật đều là ảo. Một tấm ảnh ảo thì không có số lượng vì nó có thể biến thành vô lượng vô số tấm ảnh. Một vật thể cũng là ảo nên cũng không có số lượng. Hạt photon là ảo nên trong thí nghiệm của Nicolas Gisin năm 2008 tại Geneva, Thụy Sĩ, nó có thể xuất hiện ở hai vị trí khác nhau, cách nhau 18 km theo thiết lập của thí nghiệm. Còn trong thí nghiệm của Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow năm 2012, hạt photon xuất hiện ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy số lượng vốn là không có thật, tùy ý ta muốn bao nhiêu cũng được. Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh có kể câu chuyện để biểu thị tính vô lượng cũng như tính bất định xứ của không gian và thời gian, như sau:

Bấy giờ, Xá Lợi Phất nghĩ rằng:

– Sắp đến giờ ăn. Các Bồ Tát sẽ thọ thực ở đâu? Duy Ma Cật biết ý, nên nói rằng:

– Phật thuyết bát giải thoát. Nhơn giả đã thọ hành. Há có xen cái tâm muốn ăn mà nghe pháp ư! Nếu muốn ăn, hãy đợi giây lát, tôi sẽ cho ông được bữa ăn chưa từng có. Duy Ma Cật liền nhập chánh địnhDùng sức thần thông thị hiện cho đại chúng thấy một cõi phương trên, cách bốn mươi hai hằng sa quốc độ, có Phật Hương Tích thị hiện ở cõi Chúng Hương. Mùi hương cõi ấy bậc nhất, siêu việt mùi hương trời người của các cõi Phật mười phương. Cõi ấy chẳng có tên gọi nhị thừa. Chỉ có chúng đại Bồ Tát trong sạch, đang nghe Phật thuyết pháp. Sự vật trong đó, tất cả đều dùng hương làm thành. Lầu các, vườn tược cho đến đất kinh hành đều có mùi hương. Mùi hương của cơm lan tràn khắp mười phương thế giớiLúc ấy, Phật cùng các Bồ Tát đang ngồi ăn. Có các thiên tử cùng một danh hiệu gọi là Hương Nghiêm, đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đềcúng dường Phật và các Bồ TátĐại chúng nơi cõi này đều thấy rõ cả.

Duy Ma Cật hỏi các Bồ Tát rằng:

– Các nhơn giả! Vị nào có thể đến thỉnh cơm của Đức Phật ấy? Do e ngại sức oai thần của Văn Thù, nên cả chúng đều im lặng.

Duy Ma Cật nói:

– Này các nhơn giả! Chẳng tự hổ thẹn sao?

Văn Thù nói:

– Như lời Phật dạy, chớ khinh sơ học.

Khi đó, Duy Ma Cật chẳng rời chỗ ngồi. Trước mặt đại chúng hóa ra vị Bồ Tát tướng tốt rực rỡoai đức thù thắng hơn cả chúng trong hội, mà bảo rằng:

– Ông hãy đến cõi Phật Chúng Hương, bạch như lời tôi đây:

“Duy Ma Cật đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và vô cùng cung kính tỏ lời hỏi thăm sự ăn ở hằng ngày, ít bệnh, ít phiền não, khỏe mạnh chăng? Mong được cơm thừa của Phật, đem về cõi Ta Bà bố thí làm Phật sự. Khiến kẻ ưa pháp tiểu thừa được vào đại thừa. Cũng khiến cho tiếng tăm của Như Lai ai cũng được nghe.”

Khi ấy, đại chúng trong hội đều thấy hóa thân Bồ Tát bay lên phương trên, đến cõi Chúng Hương đảnh lễ chân Phật và lập lại lời Duy Ma Cật như trên. Các đại sĩ cõi ấy thấy hóa thân Bồ Táttán thán việc chưa từng có, liền hỏi Phật:

– Thượng nhơn này từ đâu đến? Cõi Ta Bà ở chỗ nào? Thế nào gọi là kẻ ưa pháp tiểu thừa?

Phật Tối Thượng Hương Đài bảo:

– Nơi phương dưới cách bốn mươi hai hằng sa cõi Phật, có thế giới Ta Bà là ngũ trược ác thếHiện có Phật Thích Ca, đang vì những chúng sanh ưa pháp tiểu thừa, diễn giảng Phật pháp. Ở đó, có vị Bồ Tát tên là Duy Ma Cật, trụ nơi giải thoát bất khả tư nghì. Vì đang thuyết pháp cho các Bồ Tát, nên sai hóa thân đến khen ngợi danh hiệu ta, và tán thán quốc độ này, khiến các Bồ Tát ấy tăng thêm công đức.

Các Bồ Tát hỏi:

– Vị đó như thế nào, sao có sức công đức vô úy hóa ra Bồ Tát thần túc như thế?

Phật Tối Thượng Hương Đài bảo:

– Thần lực của Duy Ma Cật rất lớn. Thường sai hóa thân đến khắp cõi mười phương bố thí làm Phật sự để lợi ích chúng sanh.

Tức thì Hương Tích Như Lai dùng bát Chúng Hương đựng đầy cơm hương trao cho hóa thân Bồ Tát.

Khi ấy, chín triệu Bồ Tát kia đều nói:

– Chúng con muốn đến cõi Ta Bà cúng dường Phật Thích Ca và muốn gặp Duy Ma Cật với các Bồ Tát cõi ấy.

Phật Tối Thượng Hương Đài bảo:

– Được thôi! Nhưng phải thu nhiếp mùi hương của các ngươi. Chớ khiến chúng sanh cõi kia khởi lòng mê đắm. Lại nữa, hãy bỏ hình dạng của các ngươi. Chớ khiến những người cầu Bồ Tát thừa cõi kia sanh lòng hổ thẹn. Và các ngươi đối với cõi ấy chớ khởi tâm khinh chê mà tự chướng ngại. Tại sao? Mười phương quốc độ đều như hư không. Chư Phật vì muốn hóa độ những kẻ ưa pháp tiểu thừa, nên chẳng hiện cõi thanh tịnh ấy thôi.

Khi hóa thân Bồ Tát thọ lãnh bát cơm xong, cùng với chín triệu Bồ Tát thừa oai thần Phật và thần lực của Duy Ma Cật, ở nơi cõi ấy bỗng nhiên biến mất, chốc lát đến nhà Duy Ma Cật. Lúc đó, Duy Ma Cật liền hóa ra chín triệu tòa sư tử tốt đẹp như trước, các Bồ Tát đều an tọa.

Hóa thân Bồ Tát đưa bát cơm hương cho Duy Ma Cật. Mùi hương của cơm tỏa khắp thành Tỳ Da Ly và đại thiên thế giới. Các Bà La Môn và cư sĩ trong thành Tỳ Da Ly ngửi được mùi hương, thân tâm khoan khoái, tán thán việc chưa từng có.

Trưởng giả Nguyệt Cái cùng với tám mươi bốn ngàn người đến nhà Duy Ma Cật, thấy trong phòng đông đảo các Bồ Tát và những tòa sư tử cao rộng trang nghiêm, đều rất vui mừngđảnh lễ các Bồ Tát và đại đệ tử rồi đứng qua một bên.

Các địa thầnhư không thần và chư thiên cõi dục giớisắc giới ngửi được mùi hương cũng đều đến nhà Duy Ma Cật.

Bấy giờ, Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất và các vị đại Thanh Văn rằng:

– Các nhơn giả cứ tùy ý dùng cơm cam lồ của Như Lai, vì cơm nầy do đại bi sở huân, nếu có ý hạn lượng mà ăn thì chẳng thể tiêu.

Có hàng Thanh Văn lại nghĩ rằng:

– Cơm này ít thế làm sao đủ cho đại chúng ăn?

Hóa thân Bồ Tát nói rằng:

– Chớ dùng tiểu đức, tiểu trí của Thanh Văn mà đo lường vô lượng phước huệ của Như Lai. Nước bốn biển có thể hết, chứ cơm này thì vô tận. Dẫu cho tất cả mọi người đều ăn từng nắm cơm to bằng núi Tu Di, ăn mãi cho đến một kiếp cũng chẳng thể hết. Tại sao? Vì cơm dư của Người đầy đủ các công đức như vô tận giới, định, huệ, giải thoátgiải thoát tri kiến v.v… thì ăn mãi cũng không thể hết được.

Vì thế, một bát cơm cho tất cả chúng trong hội ăn đều no đủ, mà cơm vẫn còn dư. Các Bồ TátThanh Văn, Trời người ăn cơm này rồi, thân thể an vui giống như các Bồ Tát ở cõi Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm, và từ lỗ chân lông phát ra mùi hương cũng như cây hương của cõi Phật Chúng Hương vậy.

Câu chuyện trên giống như truyện thần thoại bịa đặt, nhưng thí nghiệm của Nicolas Gisin và Maria Chekhova chứng tỏ rằng vật chất (hạt photon) quả thật có những tính chất giống như thế. Điều này khó tin đến nỗi, sinh thời Einstein đã không tin, cố bài bác bằng giả thuyết EPR, nhưng ngày nay các nhà khoa học đều biết rằng giả thuyết EPR là sai, lượng tử quả thật có những tính chất giống như trong kinh nói. Nhiều nhà khoa học sẵn sàng xây dựng lý thuyết trên cơ sở thế giới là ảo, vũ trụ là số, như chúng ta đã thấy David Bohm và Craig Hogan đã làm.

Tóm lại Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm biểu thị các tính chất vô sở trụ không thể tưởng tượng nổi của tâm giác ngộ. Đó là tâm như hư không vô sở hữu, nhưng đó lại là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nó biểu thị rằng không gianthời gian và số lượng đều là ảo hóa, đều là không có thật. Trong tâm giác ngộ đó thì không có chỗ trụ, không được chấp có, không được chấp không, không vừa có vừa không, cũng không chẳng có chẳng không. Tóm lại là không để lọt vào tứ cúTình trạng đó không thể dùng ngôn ngữlời nói để diễn tả được, mà phải chứng nghiệm, thiền Ấn Độ gọi là nhập niết bàn, hay chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Còn thiền Trung Hoa thì gọi là kiến tánh thành Phật.

Truyền Bình

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6923/feed 0
THẦN CHÚ ĐỂ HỘ THÂN Nguyên Giác https://thuonghylenien.org/luu-tru/6921 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6921#respond Sat, 12 Sep 2026 07:23:23 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6921 THẦN CHÚ ĐỂ HỘ THÂN
Nguyên Giác

Nếu bạn đã từng đọc nhiều truyện, xem nhiều phim trên các mạng truyền hình hay YouTube, bạn sẽ nhận ra rằng, cho dù ở bất kỳ quốc độ nào, cả người lớn và trẻ em đều luôn luôn có các thần chú để hộ thân. Một em bé mới bước vào lớp một trường làng cũng được mẹ dặn dò, rằng có chuyện gì thì la lớn, gọi cảnh sát, hay gọi thầy cô. Các em sẽ được nhắc phải học thuộc số điện thoại gọi cấp cứu. Và nếu các em quên hết, thì bỗng nhiên sẽ gọi âm thanh như từ tiềm thức vọng ra, “Mẹ ơi.” Tiếng gọi cảnh sát hay gọi thầy cô, hay gọi mẹ, và số điện thoại khẩn cấp đó — chính là các câu thần chú hộ thân.

Phật giáo cũng tương tự như thế. Nếu bạn nhớ tới nhiều truyện cổ tích, ngay khi tiếng gọi “Mô Phật” vang lên, truyện kể rằng lúc đó màn sương tan biến, và vị Bụt hiện ra hiền lành, tới đứng trước người gặp nạn. Bài Bát Nhã Tâm Kinh theo truyền thuyết cũng xuất hiện như thần chú hộ thân. Trên đường sang Ấn Độ thỉnh kinh, Ngài Huyền Trang từng gặp nhiều cảnh nguy ngập. Bạn hẳn là biết nhiều chuyện hiểm nạn đó, nếu bạn từng đọc Tây Du Ký hay xem phim về chuyến đi Tây Du. Dĩ nhiên, tiểu thuyết là phải gay cấn, thậm chí còn phải cho thêm (hư cấu) hình ảnh các nàng má phấn môi hồng cho đúng luật thị trường.

Thực tế, thời xa xưa không hề có phi cơ, không có xe lửa, cho nên chuyện dễ hiểu là khi ngài Huyền Trang đi lạc vào sa mạc Gobi suốt 4 ngày 5 đêm không một giọt nước và kiệt sức đến mức ngã gục. Truyền thuyết kể rằng, đối diện với ảo ảnh ma quỷ hiện lên và cái chết cận kề, ngài đã chí thành trì tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiếng Phạn mà một vị tăng cao niên từng truyền dạy. Thế rồi nhờ uy lực của bài kinh, mọi sợ hãi và chướng ngại dần tan biến. Đến đêm thứ năm, một luồng gió mát xuất hiện và con tuấn mã đã dẫn ngài tìm thấy nguồn nước mầu nhiệm để vượt qua kiếp nạn.

Chúng ta đã quen với câu thần chú “Gate Gate Pāragate Pārasaṃgate Bodhi Svāhā” trong bài Tâm Kinh, nhưng khi học tới đây, luôn luôn được các vị thầy giải thích rằng câu này có nghĩa là “Qua đi, qua đi, hãy qua bên bờ trí tuệ bên kia, đó là bờ giải thoát,” nhằm nhấn mạnh trí tuệ là chiếc cầu giải thoát.  Không có gì bí mật hết. Thần chú tuyệt vời như thế, đại minh chú hy hữu như thế.

Nhìn lại, trong các kinh sơ kỳ — các kinh trong Tạng Pali và các kinh A Hàm của Hán Tạng — hình như không có thần chú hiểu theo nghĩa các nhóm chữ, hay nhóm âm thanh khó hiểu hay không có nghĩa, và nếu có thì rất ít. Có thể vì đó là ngôn ngữ thời xưa, mà chúng ta chưa học tới. Nghĩa là, không có “thần chú” (Mantra/Dharani) theo nghĩa huyền bí, mật ngôn trong Kinh tạng Pali (Nikaya) và Hán tạng A-hàm (Agama). Tuy nhiên, cũng y hệt như Bát Nhã Tâm Kinh mà nhiều người chúng ta dùng để hộ thân, hai tạng kinh sơ thời kia vẫn có một số kinh dùng như Kinh Hộ Trì (Paritta).

Cần cảnh giácĐức Phật thường dặn dò chư Tăng không được thực hành bùa chú, pháp thuật hay các trò phương thuật huyền bí (Kinh Phạm Võng – Trường Bộ). Nghĩa là, có chuyện bùa chú, pháp thuật huyền bí như thế. Trong khi đó, các hộ kinh có năng lực bảo hộ nhờ vào Sức mạnh của Sự thậtThí dụtrường hợp ngài Angulimala giúp một bà bầu gặp ca khó sinh đẻ, gặp nguy, bằng cách ngài tuyên thuyết rằng: “Này hiền tỷ, kể từ khi sinh ra trong dòng dõi cao quý [xuất giả], tôi không hề cố ý sát hại bất kỳ sinh linh nào. Với sự thật này, nguyện cầu cho chị được bình an và cho thai nhi trong bụng chị cũng được bình an.” Thế là mẹ tròn con vuông tức khắc. Nghĩa là, lời nói của sự thật đó có sức mạnh như câu thần chú cho các bà bầu. Cũng nghĩa là, nhà Phật có phương cách hồi hướng phước đức. Cho nên, chúng ta chớ nên nói kiểu thường nghe rằng “ai ăn nấy no,” và hãy luôn luôn giữ giới để khi hữu sự, lấy sức mạnh sự thật để hộ thân.

Truyền thống Theravada (Phật giáo Nam Truyền) thường tụng Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) như một pháp hộ thân và cầu anKinh Châu Báu thuộc nhóm Tiểu Bộ “Sutta Nipāta” (Kinh Tập) trong Tạng Kinh Pali (Snp 2.1). Các bạn hãy còn nhớ rằng bài kinh này thường được tụng đọc hàng ngày tại các chùa Phật giáo Nam truyền thời đại dịch coronavirus, và cũng thường tụng để giúp những ai đang đối mặt với các tai ương, điều tiêu cực, bệnh tật hay nỗi sợ hãi cái chết.

Bối cảnh ra đời của bài kinh này như sau. Thành phố Vesāli từng lâm vào cảnh đói kém, nhiều cái chết xảy ra. Do các xác chết nằm trên đường phố phân hủy, các ác quỷ bắt đầu quấy nhiễu thành phố, kéo theo đó là dịch bệnh hoành hành. Bị đe dọa bởi ba tai ương: nạn đói, ác quỷ và dịch bệnh, các nhà lãnh đạo thành phố Vesāli đã tìm đến sự giúp đỡ của Đức Phật – lúc bấy giờ đang cư trú tại thành Rājagaha.

Cùng với năm trăm vị tỳ-kheo, trong đó có Tôn giả Ananda – vị đệ tử thị giả của Ngài, Đức Phật đã đến thành Vesāli. Ngay khi Đức Phật đặt chân vào thành phố, một trận mưa như trút nước đã đổ xuống, cuốn trôi những thi thể đang phân hủy và gột rửa mọi sự ô uế trong thành.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kinh này Ratana Sutta (Kinh Châu Báu) và chỉ dạy Tôn giả Ananda đi khắp thành phố, tụng bài kinh để hộ trì cho người dân Vesāli. Ngài Ananda đã thực hiện theo lời dạy và rưới nước đã được gia trì từ chính bình bát của Đức Phật.

Thế rồi thành phố đã thoát khỏi sự quấy nhiễu của ác quỷ; dịch bệnh lắng xuống và nạn đói cũng chấm dứt. Sau đó, Tôn giả Ananda cùng người dân Vesāli trở lại giảng đường công cộng, nơi Đức Phật và các đệ tử đang tập trung. Tại đây, Đức Phật đã thuyết lại bài Kinh Châu Báu cho đại chúng nghe, và nhờ đó, tám mươi tư ngàn người dân đã chứng đắc các quả vị giác ngộ. Kinh Ratana Sutta (Kinh Châu Báu) và cá hộ kinh trong này này có thể tìm qua Google dễ dàng.

Một hộ kinh nổi tiếng khác trong Tạng Pali là Atanatiya Sutta (Kinh Vũ Trụ Bảo Hộ), phiên bản đơn giản là DN 32, có bản dịch của Thầy Minh Châu. Đây là bài kinh do Tứ Đại Thiên Vương dâng lên Đức Phật để chư Tăng đọc nhằm ngăn chặn các chúng sinh vô hình (dạ xoama quỷ) khỏi quấy nhiễuĐức Phật lúc đó đang ở gần thành Vương Xá (Rājagaha), trên núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa). Bốn vị Đại Vương, mỗi vị chỉ huy các đạo quân gồm dạ-xoa (yakkha), càn-thát-bà (gandhabba), kumbhaṇḍa và long vương (nāga), trấn giữ bốn phương quanh ngọn núi. Các vị này đến gầnđảnh lễ Đức Thế Tôn và cung kính ngồi xuống.

Đại Vương Vessavaṇa giải thích rằng phần lớn dạ-xoa không hài lòng với Đức Thế Tôn vì Ngài thuyết giảng về sự tiết độ trong đạo đức (không sát sinhtrộm cắptà dâmnói dối hay dùng chất say), những điều mà loài dạ-xoa không tuân theo. Một số đệ tử của Đức Thế Tôn sống ở những nơi hẻo lánh, yên tĩnh, vốn là nơi cư ngụ của các vị dạ-xoa cấp cao có ác ý. Để bảo vệ các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩĐức Thế Tôn được thỉnh cầu tiếp nhận bài hộ trì Āṭānāṭiya.

Đức Thế Tôn im lặng chấp thuận, và Đại Vương Vessavaṇa đã tụng bài hộ trì Āṭānāṭiya, bày tỏ lòng tôn kính đối với Bảy vị Phật và Đức Phật Gotama. Bài hộ trì mô tả cảnh Bốn vị Đại Vương trấn giữ bốn phương chính:

– Phương Đông: Vua Dhataraṭṭha, chúa tể loài càn-thát-bà.

– Phương Nam: Vua Virūḷha, chúa tể loài kumbhaṇḍa.

– Phương Tây: Vua Virūpakkha, chúa tể loài long vương (nāga).

– Phương Bắc: Vua Kuvera (Vessavaṇa), chúa tể loài dạ-xoa.

Mỗi vị vua trời cùng các thân quyến của họ đều tôn kính Đức Phật và khuyến khích những người khác cũng làm như vậy. Bài hộ trì Āṭānāṭiya hứa hẹn rằng bất kỳ ai học và thông thạo nó sẽ được bảo vệ khỏi sự hãm hại của các phi nhân có tâm địa ác độc. Những phi nhân ác độc nào đến gần hoặc quấy nhiễu người được bảo vệ sẽ bị các dạ-xoa quyền năng khác cùng các tướng lĩnh của họ xua đuổi, khinh rẻ và trừng phạt. Một danh sách các dạ-xoa, càn-thát-bà và các vị vua quyền năng được đưa ra để người tu tập có thể cầu cứu khi bị tấn công.

Bốn vị Đại Vương cùng các dạ-xoa khác biến mất sau khi truyền dạy bài hộ trì. Sau đó, Đức Thế Tôn đã giảng giải sự kiện này cho các tỳ-kheo, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học, thông thuộc và ghi nhớ bài hộ trì Āṭānāṭiya để được an toàn và an lạc. Các tỳ-kheo cảm thấy phấn chấn và hoan hỷ khi nghe bài pháp này.

Tuy nhiên, trong các kinh hộ thân, văn phong và ý nghĩa thơ mộng nhất là Karaṇīya Mettā Sutta (Khp 9 / Sn 1.8), thường gọi tắt là Metta Sutta, tiếng Việt là Từ Bi Kinh. Truyền thuyết (nằm trong chú giải, không ở trong kinh văn) kể về bối cảnh rằng, vào thời Đức Phật, có khoảng năm trăm vị Tỳ-kheo nhận sự hướng dẫn thiền tập từ Ngài tại Sāvatthī (Xá-vệ). Các vị muốn dành trọn mùa mưa—tức kỳ an cư kiết hạ (Vassa) kéo dài ba tháng—tại một khu rừng yên tĩnh để hành thiền. Họ lên đường đến một khu rừng tuyệt đẹp ở vùng Himalaya. Các vị Tỳ-kheo tìm được những chỗ thích hợp dưới các gốc cây và bắt đầu hành thiền.

Tuy nhiên, khu rừng này vốn đã có các vị thần cây (chư thiêncư ngụBan đầuchư thiên còn chấp nhận sự hiện diện của các vị Tỳ-kheo, nhưng họ mong rằng các vị này sẽ sớm rời đi. Sau đó, chư thiên biết được ý định của các vị Tỳ-kheo là sẽ ở lại khu rừng suốt cả mùa an cưChư thiên cảm thấy không hài lòng vì họ phải rời bỏ nơi cư ngụ trên cây khi các vị Tỳ-kheo chiếm giữ khoảng không gian bên dưới. Vì vậy, theo câu chuyện truyền thống, họ đã tìm cách hù dọa để các vị Tỳ-kheo phải bỏ đi.

Vào ban đêm, các vị Tỳ-kheo nghe thấy những âm thanh kinh hoàng và nhìn thấy những hình ảnh đáng sợ. Những sự quấy nhiễu trở nên nghiêm trọng đến mức các vị Tỳ-kheo vừa hoảng sợ vừa bị suy giảm sức khỏe. Họ không còn có thể hành thiền một cách trọn vẹn được nữa.

Cuối cùng, các vị Tỳ-kheo quyết định rằng họ không thể tiếp tục ở lại đó. Họ quay về gặp Đức Phật và kể lại những gì đã xảy ra. Đức Phật xem xét tình hình và nhận thấy không có nơi nào tốt hơn để các vị Tỳ-kheo này thực hiện kỳ ​​an cư. Thay vì bảo họ rời bỏ khu rừng, Ngài chỉ cho họ một phương cách khác để đối phó với tình huống này. Ngài dạy họ bài kinh Karaṇīya Mettā Sutta và bảo họ hãy quay lại khu rừng. Các vị Tỳ-kheo được hướng dẫn sử dụng bài kinh này vừa như một phương pháp hành thiền, vừa như một sự bảo hộ.

Các vị Tỳ-kheo quay trở lại. Thay vì đáp lại chư thiên bằng sự giận dữ hay sợ hãi, họ thực hành mettā—tức tâm từ, lòng an hòa thân thiện. Họ lan tỏa những ý niệm thiện lành về mọi phương hướng: “Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc. Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được an ổn. Nguyện cho tâm trí tất cả chúng sinh đều an vui.”

Các vị chư thiên đã cảm nhận được lòng từ ái của các nhà sư. Sự thù địch trong họ tan biến, thay vào đó là thái độ thân thiện đối với các nhà sư; họ không còn quấy nhiễu mà chuyển sang giúp bảo vệ các vị. Nhờ vậy, các nhà sư có thể an yên tu tập thiền định trong suốt thời gian còn lại của mùa an cư kiết hạ. Một tài liệu truyền thống ghi lại rằng, cuối cùng tất cả 500 vị sư đều chứng đắc quả A-la-hán.

Sau đây, chúng ta dịch bản Kinh Metta Sutta, dựa theo trang Access to Insight.

Người ước muốn đạt đến trạng thái an tịnh cần phải có năng lực và chính trựctrung thực và thẳng thắnhiền hòadễ dạy và không kiêu ngạo.

Người ấy nên biết tri túc, dễ nuôi dưỡng, ít bận rộn và sống giản dị; các căn phải được an địnhsáng suốt và cung kính, không tham cầu sự thân cận hay sự hỗ trợ từ các gia đình ngoài .

Người ấy không nên làm bất cứ điều gì dù là nhỏ nhặt mà các bậc hiền trí có thể chê trách.

Hãy để người ấy suy niệm: ‘Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc và an ổn. Nguyện cho tất cả chúng sinh có tâm an tịnh và hạnh phúc.

Bất kể chúng sinh nào—yếu hay mạnh, không ngoại lệ; dài, lớn, cỡ trung, ngắn, nhỏ hay to lớn—dù được nhìn thấy hay không được nhìn thấy, sống xa hay gần, đã sinh ra hay đang tìm kiếm sự tái sinh—hãy nguyện cho tất cả chúng sinh đó đều hạnh phúc và có tâm an tịnh.

Đừng ai lừa dối người khác. Đừng ai khinh miệt người khác ở bất cứ đâu. Đừng vì giận dữ hay ác ý mà mong cầu sự đau khổ cho người khác.

Y như người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình bằng chính mạng sống của mình, người tu hãy vun bồi lòng từ bi vô lượng đối với tất cả chúng sinh.

Hãy vun bồi lòng từ bi vô lượng đối với toàn thế giới—cõi phía trên, cõi phía dưới và khắp mọi phương hướng—không giới hạn, không hận thù và không ác ý.

Dù đứng, đi, ngồi hay nằm, miễn là còn tỉnh thức, hãy duy trì chánh niệm này.

Đây là lối sống cao thượng nhất ở đời này.

Không chấp giữ tà kiến, có đức hạnh và trí tuệbuông bỏ sự dính mắc vào dục lạc, người như vậy sẽ không còn tái sinh trong bào thai nữa.”

Bạn có thể thấy nhiều bản Việt dịch Kinh Metta Sutta. Nhưng nội dung chính là như trên. Điểm tuyệt vời trong kinh này: người tu phải nhìn tất cả chúng sinh y như bà mẹ bảo vệ sinh mạng đứa con duy nhất của bà.

Trong Tạng A Hàm, có 2 kinh có các thần chú khó hiểu, được phiên âm nhưng không dịch nghĩa.

Kinh SA 252 bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng có các đoạn sau, trích:

Phật phá tất cả độc,

Nay vì phá rắn độc,

Nên nói chú thuật này.

Ô-đam-bà-lệ, đam-bà-lệ, đam-lục, ba-la-đam-lục, nại-tí, túc-nại-tí, chỉ-bạt-tí, văn-na-di, tam-ma-di, đàn-đế, ni-la-chỉ-thí, bà-la-câu-bế-ô-lệ, ô-ngu-lệ, tất-bà-ha.

“Này Xá-lợi-phất, nếu lúc ấy thiện gia nam tử Ưu-ba-tiên-na mà đọc bài kệ này, tụng những câu này, thì chắc chắn rắn độc không rơi trúng người và thân thể cũng không hủy hoại như đống trấu nát.” (ngưng trích)

Cũng trong A Hàm, Kinh DA 19, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, có nhiều câu thần chú, trích:

Bốn vị Thiên vương hộ trì thế gian này có đại oai đức, mình phát ánh sáng, đi đến rừng Ca-duy. Bấy giờ, Thế Tôn muốn hàng phục tâm huyễn ngụy hư dối của họ nên kết chú rằng:

“ma câu lâu la ma câu lâu la, tỳ lâu la tỳ lâu la, chiên đà na, gia ma thế trí, ca, ni diên đậu, ni diên đậu, ba na lỗ, ô hô nô nô chủ, đề bà tô mộ, Ma-đầu la, chi đa la tư na, càn đạp ba, na la chủ, xà ni sa, thi ha, vô liên đà la, tỷ ba mật đa la, thọ trần đà la, na lư ni kha, thăng phù lâu, thâu chi bà tích bà….”(ngưng trích)

Trong Kinh DA 19 vừa dẫn, có vài câu thần chú khác, có phiên âm nhưng không ghi nghĩa. Độc giả quan tâm có thể xem 2 nối kết cuối bài.

Bây giờ, nếu bất ngờ có bạn nào hỏi rằng người viết ưa thích kinh hộ thân nào, thì xin nói chân thật rằng trước giờ vẫn quen thuộc với Bát Nhã Tâm Kinh, gần như không rời. Thêm nữa, càng đọc, càng suy nghĩ, càng thấy rằng không hề có thân nào, cũng không có tâm nào để phòng hộ, vì: cái được thấy là không, cái được nghe là không… Thấy thân tâm mình thường trực là Không, đó là phòng hộ tối thượng. Sau nữa, khi tương tác, luôn luôn cố gắng (chỉ xin cố gắng…) giữ cái nhìn của Metta Sutta, rằng Đức Phật dạy hãy nhìn chúng sinh khác như đứa con duy nhất của mình…

Dĩ nhiên, không nên nói rằng kinh hộ thân nào hay nhất. Nơi đây, người viết chỉ nói rằng thân cận, gần gũi nhất với lòng mình là hai hộ kinh: Tâm Kinh, và Từ Bi Kinh. Xin thú thật, không chắc gì trọn kiếp này, người viết có thể sống trọn 1/10 những gì hai hộ kinh này đã tuyên dạy. Nhưng dù sao đi nữa, tự biết mình vẫn còn trên đường đi, từng bước không rời, đó là hạnh phúc vậy.

THAM KHẢO:

– Kinh Châu Báu (Ratana Sutta): https://mahamevnawa.org/portfolio-items/ratana-sutta

– Kinh Āṭānāṭiyasutta, bản DN 32 do Thầy Minh Châu dịch:

https://suttacentral.net/dn32/vi/minh_chau

Bản có kinh văn nhiều âm thanh khó hiểu:

https://ancient-buddhist-texts.net/English-Texts/Great-Chronicles/39a.htm

– Hai Kinh A Hàm có thần chú phiên âm, không ghi nghĩa:

https://suttacentral.net/sa252/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/da19/vi/tue_sy

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6921/feed 0
Ứng dụng Tam thập lục kế vào kinh doanh hiện đại P2 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6918 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6918#respond Sat, 12 Sep 2026 06:59:01 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6918 Ứng dụng Tam thập lục kế vào kinh doanh hiện đại P2

 

 T. Woolf  C. Roth đã nói: “ Trong kinh doanh, vốn liếng không phải là quan trọng nhất. Kinh nghiệm cũng không phải nốt. Hai thứ đó người ta đều có thể có được không sớm thì muộn. Cái quan trọng là những ý tưởng”. Năng lực cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp là sự sáng tạo”.  Hãy cùng SVLG – rèn luyện óc sáng tạo qua việc ứng dụng  Binh pháp Tôn Tử.

Kế 11: Man thiên quá hải : Dấu trời vượt biển”

Kế “Man thiên” đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực.

Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt.
Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí.
Cốt lõi kế sách
Trong thực tế cuộc sống  có những hoàn cảnh buộc ta phải biết khéo léo che ẩn đi ý đồ của mình để tìm tới thành công một cách xác đáng.
 Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh
Che giấu bí mật kinh doanh bằng cách làm cho đối thủ cạnh tranh mất cảnh giác vì tưởng là đã hiểu rõ và làm chủ được tình hình. Từ đó, chủ động giành lấy thắng lợi.

1hbs1375352040[1]

Chúng ta có thể nhận thấy kế này trong  Phi vụ sáp nhập khổng lồ giữa Interbrew và Ambrev

Interbrew là tập đoàn bia có truyền thống rất lâu đời của Bỉ. Tuy nhiên việc tập đoàn này sáp nhập với tập đoàn Ambrev để trở thành hãng bia số 1 thế giới là một bất ngờ lớn. Với tham vọng bành trướng trên toàn cầu, John Brock – người đứng đầu tập đoàn bia Interbrew đã lựa chọn phương pháp mua  tập đoàn Ambrew. Ambrev là tập đoàn bia có thị phần thứ 5 trên thế giới (sự sáp nhập của hai hãng bia lớn nhất của Nam Mỹ là Brahma và Anarctica).
Để thực hiện vụ sáp nhập này một cách trót lọt, tránh gây ra những chú ý. John Brock một mặt tìm các phương pháp tài chính thích hợp để đàm phán thành công, một mặt ông đã khéo léo dập tắt mọi dư luận có thể liên quan đến việc sáp nhập đó.
Sau khi sáp nhập với Tập đoàn bia Ambrev của Braxin, ngay từ đầu năm 2004 Interbrew đã chính thức được thừa nhận là vị khổng lồ mới trong làng bia. Mỗi năm Interbrew sản xuất ra tới 190 triệu hecto lít bia. Cùng với giá trị chung của tập đoàn lên tới 19 tỉ Euro thì thị phần bia 14% trên toàn thế giới mà tập đoàn này đang có được là những con số khổng lồ mà các đại gia bia hiện nay không thể sánh được.
*Cách thức áp dụng kế sách 
Đây là phi vụ điển hình cho việc phải giữ kín ý đồ kinh doanh của mình. Trong ví dụ này, ông John Bruck đã thành công trong việc che giấu ý đồ kinh doanh của mình. Ông đã hoàn toàn giữ kín được dự định quan trọng của mình để thành công trong việc biến Interbrew trở thành một tập đoàn bia lớn nhất trên thế giới.

Kế 12:  Minh tri cố muội

Kế “Minh tri cố muội” là biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một

Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ.

Ứng dụng

– Dùng trong một số trường hợp khó trả lời có thể lảnh tránh như là không biết

– Một số trường hợp để đánh giá nhân sự chúng ta có thể yêu cầu kể lại mọi chuyện hoặc để nhân viên diễn đạt lại ,..

Ngoài ra có thể sự dụng trọng trường hợp biết rõ mà vẫn hỏi để xem đối phương ứng phó ra sao.

Nguyên tắc: Đã giả thì phải giả cho thật, phải làm thật khéo, thật kín

Điều kỵ để đối phương nắm được sơ hở, để họ bóc được bộ mặt thật.

Kế 13. Di thể giá họa (Dùng vật gì để vu khống người ta)

Kế “Di thể giá họa” là đem xác chết hay đồ vật gì bỏ vào nhà người khác để giá họa.
Kế này thường được dùng bởi khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra mặt mà làm cho đối phương bị hại. Như vậy gọi là “giết người không thấy máu”.

Kế này đa phần sử dụng với mục đích không tốt.

Kế 14: khích tướng kế:

Kế chọc giận đối phương, làm đối thủ giận. Nội giận sẽ mất sáng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự chủ được con người mình.

Kích tướng: nhiều khi áp dụng với trực tiếp nhân viên của mình làm cho họ phát huy được hết sức mạnh của mình.

Nguyên tắc kế chỉ được áp dụng với người có tính nóng nảy, những người muốn lập công

Tuân Tử có câu. “Lời nói êm như lụa, lời nói ác nhọn như giáo mác”.

Kế 15: Ám độ trần sương (Đi con đường mà không ai nghĩ đến)a14-189e6[1]

 

Kế “Ám độ trần sương” là bí mật đưa quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta sẽ đi qua.
Muốn dụng kế này phải là người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một khối óc tuyệt vời.

Nhắc tới kế này ta có thể nghĩ ngay Steve Jobs

Với Steve Jobs, ông đã liên tục là người tiên phong trong một dòng sản phẩm nào đó. Bộ phim Toy Story của hãng Walt Disney hợp tác cùng Pixar. Khi đó, Steve Jobs là chủ của Pixar và ông đã quyết định trở thành công ty đầu tiên làm đồ họa 3D cho một bộ phim hoạt hình dài 3D đầu tiên. Sự thành công của Toy Story đã đưa Pixar trở thành công ty tiên phong lĩnh vực đồ họa 3D điện ảnh. Hay như iPod – máy nghe nhạc với ổ cứng dung lượng lớn đầu tiên với bộ nhớ vượt trội hẳn so với những sản phẩm cùng dòng. Đã mang lại sự thành đạt và lợi nhuận khổng lồ.

Kế 16: Phản khách vi chủ  (Đổi vị khách thành vị chủ)

Cốt lõi kế sách

Nếu ai biết khéo khéo léo tạo được cho đối tác của mình cảm giác thế chủ động, biến họ từ vị trí khách thành chủ thì sẽ đạt được sự ủng hộ của họ.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Người kinh doanh luôn phải tâm niệm ‘Khách hàng là thượng đế’. Doanh nghiệp nào biết khéo léo đem đến cho khách hàng cảm giác đầy đủ về quyền làm chủ hành vi mua hàng của mình, tạo cho họ cảm xúc trọn vẹn trong mua sắm thì sẽ thành công ngoài sức tưởng tượng.

Cách thức trả tiền lạ lùng của quán ăn Primex  là một ứng dụng của kế này trong kinh doanh

Ở London có một cửa hàng tên là Primex quy mô không lớn, mỗi lần chỉ có thể đón tiếp khoảng 20-30 khách. Vẻ ngoài cửa hàng không sang trọng nhưng sạch sẽ, lịch sự. Tuy nhiên nó rất nổi tiếng, ngay cả đài truyền hình BBC của Anh cũng đã từng giới thiệu nó. Cửa hàng ăn Primex có một cách kinh doanh độc nhất vô nhị trên thế giới. Đó là: sau khi ăn xong khách có thể tùy ý trả tiền theo cảm nhận của mình về độ ngon của thức ăn.

Thật ngạc nhiên là dù không có bảng giá nhưng phần lớn khách hàng đều trả đúng giá trị của thức ăn, thậm chí là trả cao hơn và cá biệt mới có người trả thấp hơn giá thực. Vì thế, cửa hàng chẳng những không bị lỗ vốn mà còn kiếm được rất nhiều tiền và khách hàng đến đây mỗi ngày một đông.

Kế 17: Kim thiền thoát xác (Ve sầu vàng lột xác)

Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính chuyện ngụy trang một hình tượng để lừa dối, che mắt đối phương, đặng đào tẩu chờ một cơ hội khác.
Kế “Kim thiền thoát xác” có một phạm vi rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng được.

Cốt lõi kế sách

Ve sầu đã bay đi, xác lột ra còn để lại, nhìn vào tưởng như ve vẫn đậu trên cây.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh

Trong kinh doanh không thể tránh khỏi những tình huống bất lợi, nguy ngập. Vào những tình thế đó người làm ăn có bản lĩnh,  vừa  bình tĩnh  giữ vững tình thế hiện tại, vừa nghiên cứu tìm lối để thoát khỏi tình thế  hiểm nguy, bảo toàn lực lượng, phát triển lâu dài.

Một ví dụ của kế này trong kinh doanh

Ngoài thuận trong nghịch

Năm 1980, để bảo hộ thương mại cho mình, phía bên Mỹ yêu cầu ngành sản xuất xe hơi của Nhật Bản tự động hạn chế sản lượng. Phía bên Nhật tuy thấy bất lợi cho mình nhưng vẫn vui vẻ hứa hẹn nhưng lại bí mật tranh thủ cơ hội đưa thiết bị sản xuất đến bang Kentuckey và bang California. Khiến cho xe hơi của Nhật Bản được ra đời ở Mỹ thâm nhập thị trường nước Mỹ giống như xe hơi Mỹ. 
Chính phủ Mỹ ngay lập tức ra nhiều chính sách để nâng cao giá thành sản xuất của các xí nghiệp Nhật Bản. Các công ty Nhật bề ngoài lại ra vẻ kiềm chế , nhún nhường, nhưng bên trong lại ngấm ngầm chuyển hướng đầu tư vào vùng biên giới của Mehico, vừa lợi dụng nguồn lực lao động rẻ của Mêhicô vừa lọt qua kẽ hở của pháp lệnh Mỹ, sản phẩm của vùng này lại được ngành thu thuế Mỹ ưu đãi.
Thế là đến khi Mỹ phát hiện thì Nhật Bản đã thành công trong việc gõ cửa sau thị trường nước Mỹ rồi.

Kế 18: Không thành kế (Kế bỏ trống cửa thành)

Kế này có hai loại:
– Một là lúc tình thế cực khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc, buộc phải dùng nghi binh để lừa dối đối phương mà dựa vào đó để trốn thoát.
– Hai là rút lui với đầy đủ kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập rồi mới bao vây tiêu diệt.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh

Kế sách để giữ bí mật về thực lực trong những tình huống khó khăn nhất thời nhằm duy trì sự quân bình trong quan hệ đối tác, phát triển kinh doanh ổn định.

Ứng dụng trong thực tế

Toshiba quyết không sa thải công nhân

Sau Đại chiến thế giới thứ II, Nhật Bản rơi vào cuộc khủng hoảng thừa. Cũng như các doanh nghiệp khác, Toshiba cũng không tránh được khó khăn chung của nền kinh tế, sản phẩm của họ bị ứ đọng rất nhiều.

Trong tình thế đó, Tổng giám đốc Toshiba đã đi đến một quyết định táo bạo: Cắt giảm sản xuất bằng cách giảm thời gian làm việc xuống còn nửa ngày chứ không sa thải một công nhân. Trong khi đó, họ vẫn phát đủ 100% lương cho công nhân. Tin này làm cho các đối thủ của Toshiba kinh ngạc và phải e dè. Khách hàng nước ngoài lại càng vững tin vào thực lực của Toshiba. Bản thân công nhân viên của họ thì vô cùng cảm kích, tin tưởng vào sự lãnh đạo của những người đứng đầu công ty. Toshiba đã giữ vững thành trì của mình trong hoàn cảnh khó khăn nhất, duy trì sản xuất, củng cố tinh thần toàn công ty tạo nên sức mạnh vượt qua khó khăn. 
Sau một thời gian ngắn, những đơn đặt hàng lớn từ nước ngoài cùng với sự cân bằng trở lại của nền kinh tế đã giúp Toshiba vượt lên mạnh mẽ.
Như vậy, Toshiba đã áp dụng rất thành công kế sách “đã trống càng bỏ trống”. Tình hình vốn đang rất khó khăn (thành đang trống) nhưng để giữ thành tức là giữ lòng tin của khách hàng cũng như sức mạnh sản xuất của mình, Toshiba đã mạnh dạn giảm giờ làm nhưng không giảm lương. Việc làm này khiến các đối thủ không còn hoài nghi về thực lực của công ty, lại càng củng cố được sức mạnh nội bộ. Do đó biến cái không lợi thành có lợi, tạo cơ hội phục hồi, cuối cùng thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn.

Kế 19: Cầm tặc cầm vương (Dẹp giặc phải bắt tướng giặc)

 Cốt lõi kế sách Trong bất kỳ cuộc giao tranh nào, vị tướng hay thủ lĩnh là linh hồn của đội quân. Nếu bắt được tướng giặc, quân giặc sẽ “hồn lìa khỏi xác”. Khi đó ta tấn công thì giặc ắt phải tan.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Trong kinh doanh, người có tài luôn biết phát hiện những yếu tố cốt lõi nhất, bản chất nhất quyết định sự thành bại của thị trường để từ đó “ra đòn’ quyết định.

Đối với mỗi sản phẩm, mỗi khu vực tiêu thụ, việc quyết định hành vi mua hàng của người tiêu dùng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong đó có một hoặc vài yếu tố căn bản nhất, mang tính quyết định. Nếu người kinh doanh tìm ra và đáp ứng vượt trội những yếu tố đó thì không thể không thành công.

Giúp khách hàng tiết kiệm tiền của Lexmark International là một ví dụ của kế này

Các khu vực thị trường khác nhau, yếu tố quyết định hành vi mua hàng khác nhau.

Lexmark International là một trong những hãng sản xuất máy in nổi tiếng trên thế giới. Góp phần vào kỳ tích kinh doanh của Lexmark không thể không nhắc đến dòng sản phẩm máy in “tất cả trong một”. Đây là dòng sản phẩm mới với nhiều chức năng khác nhau như: in, fax, photocopy và scan, kiểu dáng gọn nhẹ, mẫu mã đa dạng, giá bán rẻ.

Khi cho xuất xưởng loại sản phẩm này, Lexmark đã nhắm đến thị trường châu Á – Thái Bình Dương với số dân đông và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, Lexmark nhận thấy đa phần dân cư khu vực này có mức sống còn tương đối thấp, đặc biệt người dân lại có tâm lý rất tiết kiệm. Vì thế muốn chinh phục đối tượng khách hàng này thì phương pháp tốt nhất là tạo ra những sản phẩm có chất lượng vừa phải, nhiều công dụng và giá cả phải chăng. Lexmark đưa ra giá bán cực thấp là 79-129 USD cho mỗi máy in đa chức năng, kết quả là quý 1 năm 2005, doanh thu của công ty tăng 13%, đạt 1,25 tỷ USD, giá cổ phiếu tăng 25% so với cùng kỳ năm trước.

Kế 20: Ban chư ngập hổ (Giả làm con heo để ăn thịt con hổ) hay còn gọi là  (kế giả ngây giả ngô)lop-online-7[1]

 

Làm cho người khác hiểu sai về tình trạng năng lực của mình sẽ vô hiệu hóa ý chí và sự tác động của người khác tới mình

 Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Làm đối thủ cạnh tranh mất cảnh giác, đánh giá sai về khả năng và ý định của mình để gia tăng sức cạnh tranh trên thương trường.

Ứng dụng kế này trong thực tế

Cố ý hiểu lầm làm cho đàm phán thành công

Một công ty Mỹ nhận thầu được một nhà máy lọc dầu ở Kuwait và gọi thầu phụ. Một công ty kỹ thuật Tây Ban Nha tham gia đấu thầu. Đến khi chuẩn bị kết thúc đàm phán, Mỹ lại đưa ra yêu cầu giảm giá 2% trên cơ sở bao thầu cũ để giảm chi phí cho mình. Phía Tây Ban Nha tuyên bố họ đã theo yêu cầu giảm giá, và gửi kèm theo bản giải trình quy cách của công trình, nêu ra một số hạng mục có thể bỏ đi để giảm bớt được giá thành xuống 2%.

Phía Mỹ cho rằng phía Tây Ban Nha có sự hiểu lầm lớn liền cố gắng giải thích. Trong khi đó Tây Ban Nha cứ làm như không hiểu ý. Họ  đưa ra các phương án kỹ thuật đầy tính thực thi nhằm giảm giá thành xuống không những là 2% mà còn có thể đến 3%. Cuối cùng thì đại diện Mỹ một mặt đã yên tâm về năng lực của Tây Ban Nha, mặt khác không có cách gì để đề xuất giảm giá mà giữ nguyên được các hạng mục công trình. Cuối cùng họ cũng chấp nhận ký với Tây Ban Nha hợp đồng nhận thầu với chi phí như cũ.

Kế 21: Quá kiều trừu bản là qua cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình nên giết hại hoặc xa lánh những người bạn đã đồng lao cộng khổ với mình.

Kế này được  người Việt gọi  “qua cầu rút ván”.Đứng trên lập trường đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành động vong ân bội nghĩa.

Kế 22: Liên hoàn kế

– Dụng nhiều kế liên tiếp, muốn chiến thắng phải biết móc nối nhiều kế với nhau.

Kế 23: Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt)

Kế “Dĩ dật đãi lao” là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức.

Cốt lõi kế sách Ta có thể không đông, không mạnh bằng đối phương, nhưng nếu ta dùng kế sách để tạo ra sức nhàn cho mình, đối phó với quân đối phương mệt mỏi kiệt sức và bị động thì ắt thắng – Lấy sức nhàn chống kẻ mệt mỏi.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh
Trong kinh doanh, người làm ăn hay doanh nghiệp, đứng trước đối thủ mạnh về tiềm lực, phải biết tận dụng lợi thế sẵn có (vị trí địa lý thuận lợi, bộ máy nhỏ, chi phí ít, yếu tố địa phương,…) để tạo ra sức nhàn cho mình, hạn chế thế mạnh của các đối thủ cạnh tranh để vượt lên trong thương trường.

Lựa chọn căn cứ địa của công ty

Công ty xe đạp Đại Đạt là một xí nghiệp rất nhỏ đặt tại Hồ Bắc. Cuối những năm 1980, do không cạnh tranh được với các công ty lớn trên thị trường này nên xí nghiệp gần như tê liệt, lỗ vốn trầm trọng.
Năm 1989, xí nghiệp may mắn nhận được đơn đặt hàng từ Thâm Quyến. Đơn hàng từ địa phương này ngày càng tăng. Chính lúc đó, một vài công ty xe đạp lớn cũng bắt đầu tiến vào thị trường này.
Công ty Đại Đạt ngay lập tức phải nghĩ cách để duy trì được thị trường mình vừa có được. Họ nhận thấy rằng, nếu mang xe đạp từ Hồ Bắc sang Thẩm Quyến thì giá sàn tăng do nhiều chi phí phát sinh, thời gian giao hàng kéo dài. Chính vì vậy, giám đốc công ty đã mạnh dạn chuyển toàn bộ xưởng sản xuất đến Thâm Quyến.
Thế là chỉ trong năm 1991, xí nghiệp đã làm ăn phát đạt hẳn lên nhờ tận dụng nguồn nhân công giá rẻ, nguyên liệu sẵn có. Sản phẩm đưa ra thị trường vừa đảm bảo chất lượng vừa có giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh nên được tiêu thụ với số lượng lớn, hơn thế đã xuất khẩu được và đạt giá trị 4,78 triệu đô la. Từ một xí nghiệp nhỏ, bị các đối thủ chèn ép tới mức thua lỗ, Đại Đạt đã trở thành một công ty chuyên sản xuất xe đạp có uy tín hàng đầu ở Trung Quốc.
*Cách thức áp dụng kế sách:
Quyết định thay đổi địa điểm sản xuất là một thành công của công ty Đại Đạt trong việc áp dụng kế sách Lấy nhàn thắng mệt. Công ty này đã chủ động tạo ra cho mình sức nhàn từ các nguồn lực tại chỗ như giá nhân công rẻ tại địa phương, thị trường tiêu thụ tại chỗ, nguyên liệu sẵn có.
Trong thị trường cạnh tranh, không phải doanh nghiệp nào cũng có sẵn sức nhàn, vấn đề là doanh nghiệp phải chủ động thay đổi để tạo ra sức nhàn đó.

Kế 24:Chỉ tang mạ hòe (Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe)

“Chỉ tang mạ hòe” là chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác để tỏ thái độ.

Cốt lõi kế sách Tính tự ái, lòng tự trọng là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của con người. Một trong những quy luật tâm lý tự nhiên của con người là không thích bị chỉ trích trực diện. Trong các trường hợp như vậy, họ thường phản ứng lại một cách tiêu cực. Vì thế, trong cư xử giữa con người với nhau cần phải khéo léo, mềm mỏng, tránh phê phán một cách trực diện hiếu thắng mới thu được kết quả mong muốn.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Đây là một kế sách nói về nghệ thuật cảnh báo, nghệ thuật ứng xử để đi vào lòng người, chinh phục tâm lý khách hàng cũng như cộng sự. Trong vấn đề quản trị nhân sự, dung hòa mối quan hệ với đối tác hay khách hàng, người kinh doanh đều có thể sử dụng kế sách này để thành công.

Ứng dụng kế sách thông minh của Toyota

‘Lạt mềm buộc chặt’

Tại tập đoàn sản xuất xe hơi lớn thứ hai trên thế giới là Toyota, một quy tắc được đề ra là các nhà quản trị không được quát tháo, đe dọa hoặc trừng phạt nhân viên dưới quyền khi có sai sót xảy ra. Thực ra đó không phải là cách quản lý e ngại nhân viên, mà thái độ xử sự này mới bảo đảm các lỗi sai, hỏng được báo cáo ngay và đầy đủ. Từ đó, người quản lý mới có thể tìm ra nguyên nhân sâu xa, giúp cho việc sửa đổi chính sách và các quy trình thực hiện công việc phù hợp hơn và sát với thực tế của công ty hơn. Trách mắng nhân viên tất nhiên sẽ không khích lệ mọi người thông báo với cấp trên những việc sai sót và như vậy cũng khó tìm ra nguyên nhân sâu xa của sai lầm. Chính vì phương châm quản lý con người giàu tính nhân văn này mà sự nghiệp kinh doanh của Toyota ngày một phát triển hơn, nguồn lực con người của họ luôn ổn định và lớn mạnh.

Kế 25:  Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng)

Rơi xuống giếng còn ném đá vào đầu. Hành động này quá độc khi người ta rơi xuống giếng lại còn ném đá.  Căn bản triết lý này là chi phối được thì mới chiếm đoạt được. “Nhân từ với kể thù là tàn nhẫn với chính ta”.

Kế 26: Hư trương thanh thế  (Thổi phồng thanh thế)

“Hư trương thanh thế” là thổi phồng thanh thế để cho người ta chóa mắt, nể sợ.
Khi sử dụng kế này, trước hết phải xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã, rồi mới định cỡ to nhỏ.

Kế 27: Phủ để trừu tân (Bớt lửa dưới nồi)

Cốt lõi kế sách Đứng trước những thế lực mạnh có ưu thế hơn, nếu vội đối đầu tất sẽ chuốc hậu quả. Trước hết cần phải bình tĩnh làm giảm khí thế và suy yếu sức mạnh của đối thủ.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh
Người làm ăn, đứng trước đối thủ cạnh tranh hùng mạnh, đương nhiên không thể đương đầu. Cần phân tích tìm ra điểm yếu để làm suy yếu sức cạnh tranh của đối thủ.

Thành công do biết làm suy yếu đối thủ

Công ty Thủy Lợi sản xuất chất kiềm đầu tiên của Trung Quốc và công ty Bunem của Anh cùng kinh doanh chất này trên thị trường. Bunem tìm đủ mọi cách đánh đổ Thủy Lợi, không tiếc tiền cạnh tranh bằng cách ép giá trên thị trường Trung Quốc. 
Qua tìm hiểu, Thủy Lợi biết rằng chất kiềm do công ty Anh sản xuất tiêu thụ ở Nhật Bản nhiều hơn ở Trung Quốc. Thời điểm này, ở Nhật tập đoàn Mitsui cũng đang kinh doanh mặt hàng này, tuy nhiên sức cạnh tranh hạn chế do chưa có nhà máy sản xuất. Biết được điều này, Thủy Lợi bèn đặt vấn đề trực tiếp với Mitsui và đưa đến thỏa thuận: sẽ bảo đảm cung cấp kiềm cho Mitsui một cách ổn định với những điều kiện ưu đãi nhất. Ngay sau đó Mitsui mở chiến dịch tuyên truyền rộng lớn ở Nhật để cạnh tranh. Với chất lượng tốt, giá rẻ lại được tiêu thụ qua hệ thống rộng khắp của mình. Thị phần của của Mitsui tăng lên nhanh chóng
Hành động này làm giảm sút nghiêm trọng mức tiêu thụ của Bunem. Bunem tổn thất, đành phải dàn hòa. Như vậy, Thủy Lợi sẵn có tiềm năng về sản xuất nhưng lại không mạnh, không có ưu thế bằng Bunem của Anh nhưng đã biết cách làm suy yếu đối thủ tại khu vực cốt yếu nhất. Làm giảm sức cạnh tranh của đối thủ, không những giữ được thị phần trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài.
Kế 28: Sát kê hách hầu (Giết gà cho khỉ sợ)

Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy khỉ, trước hết họ giết một con gà, bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết rồi mới bắt đầu giáo hóa.

Trong kinh doanh nếu ta bắt được điểm yếu đối thủ, hoặc dọa được đối thủ sợ thì ta đã nắm bắt 1 phần sự thành công.

Kế 29: Phản gián kế (Dùng kế của đối phương để quật lại)

“Phản gián kế” là dùng người của đối phương lừa dối đối phương, dùng kế địch lừa địch.

Một ví dụ minh họa

Herbert Dow sáng lập công ty hóa chất Dow Chemical sau khi tìm ra cách rẻ tiền để sản xuất brom. Công việc làm ăn tại Mỹ thuận lợi nhưng Dow không thể vươn sang châu Âu vì thị trường bị liên minh khổng lồ của Đức nắm giá.

Để đối phó, Herbert tiến vào thị trường Anh, dùng giá thấp để đánh bại đối thủ khiến họ phải bán tháo hàng sang Mỹ với giá siêu rẻ. Lúc này Dow dừng bán hàng tại quê hương, âm thầm mua lại toàn bộ số brom mà liên minh Đức bán ra rồi đem về châu Âu bán với giá của họ.

Chiến lược thông minh này giúp Herbert mở rộng quy mô doanh nghiệp, đánh gục đối thủ và trở thành kế sách cạnh tranh mới trong kinh doanh.

Kế 30: Mận đại đào cương (Đưa cây lý chết thay cây đào) hay còn gọi là kế “ Bỏ mận giữ đào”

Cốt lõi kế sách

Kế sách “Bỏ mận giữ đào” hàm ý rằng: Nếu phải hy sinh hãy biết hy sinh cái nhỏ để bảo vệ cái lớn hơn.
Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh
Người làm ăn khi gặp rủi ro kinh doanh phải biết hy sinh cái thiệt hại nhỏ hơn để giữ lấy toàn cục.
Ứng dụng kế này trong kinh doanh
 Chấp nhận hy sinh cái nhỏ, thu được lãi lớn
Nhà máy bơm An Huy (Trung Quốc) chuyên sản xuất loại bơm dùng để bơm dầu Diesel và Fuel, do bị cạnh tranh ghê gớm nên tình hình tiêu thụ giảm mạnh.
Qua điều tra, nhà máy biết được đa số vùng nông thôn dùng loại bơm 75 mà các nhà máy khác không quan tâm. Lập tức, An Huy tạm dừng mặt hàng đang có để sản xuất loại 75-80. Thoạt đầu, việc đổi mặt hàng khiến nhà máy phải chịu những tổn thất không nhỏ. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, sản phẩm mới đã được đón nhận với mức sản xuất hàng tháng 2 vạn chiếc, hơn nữa nhà máy còn thiết lập được mối quan hệ sản xuất tiêu thụ ổn định lâu dài với công ty nông nghiệp của 260 huyện.
Kế 31: Thuận thủ thiên dương( thuận tay bắt dê)

Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến trước mắt, đó là những cái lợi bất ngờ.

 Cốt lõi kế sách Thuận tay dắt dê là để chỉ việc khi người ta đang làm một việc theo chủ đích, khi thấy có những thời cơ khác đã biết tận dụng để có được những mối lợi mới bất ngờ.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Trong kinh doanh cơ hội luôn ở quanh ta. Đừng bao giờ quá mải mê cắm cúi vào một mục đích duy nhất mà bỏ qua các cơ hội khác đang ở trong tay. Người làm kinh doanh không phải lúc nào cũng chỉ chăm chắm vào một mục đích duy nhất mà phải biết phóng tầm nhìn ra xa, biết chớp các thời cơ đến với mình.

Ứng dụng trong kinh doanh

Thuốc tẩy trắng : Chuyện về một họa sĩ nghèo 

Ở Pháp có một họa sĩ nghèo tên là ChiMai. Một hôm trong lúc ông đang tập trung tinh thần bên giá vẽ thì bà vợ ông đang giặt quần áo bên bể nước. Vợ ông giặt quần áo xong, xếp đồ đạc sang một bên mệt mỏi vươn vai. Đúng lúc ấy ChiMai vô tình vảy bút một cái. Ngay lập tức chất mực màu xanh da trời rảy đầy lên chiếc áo trắng vợ ông mới giặt xong. Dù bà vợ ông có giặt kỹ đến mấy cũng không tẩy hết màu xanh da trời của mực vẽ dây trên chiếc áo trắng ấy. Giặt mãi không sạch bà đành phơi áo dưới ánh nắng mặt trời. Khi chiếc áo đã khô bà kinh ngạc nhận thấy chiếc áo không hề sót lại một chút vệt màu xanh nào, trái lại nó còn sáng đẹp hơn trước rất nhiều. 
Ngày hôm sau ông thử lại với những chiếc quần áo đã giặt sạch. Thật kỳ lạ là những chiếc áo đó sáng đẹp rất nhiều. Ông thử nghiệm lại nhiều lần và kết quả đều như nhau. 
Một ý tưởng kinh doanh nảy ra trong đầu ông họa sỹ. Ông gọi loại màu vẽ đó là « loại thuốc có thể làm trắng những vật cần giặt tẩy » và bán nó với dòng chữ «cho thêm một lượng nhỏ dung dịch này vào hộp xà phòng» sau đó đem ra tiêu thụ trên thị trường.  Thế là từ đó Chimai từ biệt cuộc sống khốn khó của mình để bước chân vào một cuộc sống giàu có.

Kế 32: Dục cầm cố tung (muốn bắt nên thả)

Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song. Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ có đủ tài trí để thi hành nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng người, giữ người.

Cốt lõi kế sách Muốn khuất phục người khác không nên chỉ dựa vào sức mạnh mà phải biết dựa vào trí tuệ và sự thành tâm của mình. Hành động thấu tình đạt lý sẽ giúp ta thu phục được lòng người, thêm bạn bớt thù là thêm nhiều thành công trong cuộc sống.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh

Trong kinh doanh, nghệ thuật tác động vào tâm lý tiêu dùng, thay vì mình muốn bán, lại làm cho khách hàng muốn mua là nghệ thuật đem lại sự thành công cho doanh nghiệp

Ứng dụng kế này như thế nào?

Triết lý chờ đợi

Ở Trung Quốc, có một cửa hàng thực phẩm tên là Bác Ái, đã có lịch sử trên 50 năm và buôn bán rất đông khách.

Bí quyết kinh doanh của cửa hàng hết sức đặc biệt. Đó là hàng ngày họ chỉ làm một lượng thực phẩm nhất định, khi nào bán hết thì lập tức đóng cửa hàng. Nếu khách hàng đến muộn, chủ quán sẽ vui vẻ xin lỗi và hẹn rằng ngày mai xin mời khách đến sớm hơn. Lý do là món chân giò hun khói ở đây thơm ngon đặc biệt, được chế biến kỹ càng và an toàn tuyệt đối. Để giữ uy tín, cửa hàng có nguyên tắc là không không bán ra ngoài mà chỉ bán cho khách đến tận nơi mua để tránh tình trạng làm vội, làm dối cho kịp các đơn đặt hàng.

Trong quá trình phát triển đó, số lượng thực phẩm của họ bán ngày càng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên họ vẫn duy trì một nguyên tắc không bán quá số thực phẩm họ quy định trong ngày. Thực tế là, dù có phải chờ đợi thêm 1 ngày nhưng lượng khách đến mua không hề thuyên giảm mà lại còn tăng lên

Cách thức áp dụng kế sách:

Nghệ thuật “Xin mời quý khách ngày mai tới mua” của ông chủ cửa hàng Bác Ái rất hiệu nghiệm. Cửa hàng có dụng ý làm cho khả năng cung ứng của mình thấp hơn nhu cầu của khách hàng, cố ý không thỏa mãn hết mong muốn của khách. Với thực phẩm thơm ngon như thế nếu không mua được đương nhiên khách sẽ canh cánh trong lòng và hôm sau nhất định sẽ đến mua từ sớm, như thế cầm chắc việc bán được hàng.

 Giao ‘thượng đế’ cho đối thủ

Ở Mỹ, sự cạnh tranh giữa các công ty vô cùng gay gắt, họ luôn cố gắng tìm mọi cách không để khách hàng rơi vào tay đối thủ của mình. Tuy nhiên, công ty My Joy đặt tại thành phố New York lại là một ngoại lệ.

Mọi khách hàng khi đến công ty My Joy đều được phục vụ hết sức chu đáo, họ có thể xem hàng thỏa thích và câu nói cửa miệng của nhân viên phục vụ ở đây là “nếu bạn chưa chọn được món đồ ưng ý ở đây, chúng tôi sẵn sàng giới thiệu cho bạn sang những cửa hàng khác trong thành phố này”. Cách tiếp thị đó đã gây ra sự ngạc nhiên tột độ cho mọi khách hàng, bởi xưa nay họ chưa từng thấy công ty nào lại tự nguyện “tặng” khách hàng cho các đối thủ khác. Phương châm kinh doanh “mạo hiểm” của My Joy không những không đẩy khách đi mà trái lại còn thu hút nhiều khách hơn.

Kế 33: Khổ nhục kế kế (Hành hạ thân xác mình để người ta tin)

Ứng dụng trong kinh doanh

Để tìm được người xứng đáng giao lại cơ nghiệp, nhiều ông chủ buộc thế hệ kế thừa phải chứng tỏ mình từ vị trí nhỏ nhất trong công ty.

34. Phao bác dẫn ngọc (Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc)

Tức là dùng tiểu vật để đoạt một đại vật, như người đi câu vậy.
Dân gian thường nói “thả con tép bắt con tôm” cũng là kế này.

Cốt lõi kế sách Biết nhìn xa, suy trước tính sau, hy sinh mối lợi nhỏ, ắt có mối lợi lớn, đó gọi là ‘đổi gạch lấy ngọc’.

Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh Người làm kinh doanh nếu chỉ biết chăm chăm thu lời trước mắt mãi khó có thể phát triển thành doanh nghiệp lớn. Nếu biết nhìn xa trông rộng, dám quyết đoán đầu tư sức người sức của mà không vội cầu lợi trước mắt, ắt sẽ có ngày nên người.

Trong kinh doanh, bỏ chi phí quảng cáo, tiếp thị; bỏ tiền vào nghiên cứu phát triển thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm; hoặc chính sách ưu đãi thu hút nhân tài là một kiểu đổi gạch lấy ngọc.

Ứng dụng kế 

Sara Blakely và cách giới thiệu sản phẩm đặc biệt

Thương hiệu đồ lót Spanx là do Sara Blakely sáng lập. Người phụ nữ trẻ này rất tự tin về sự khác biệt của sản phẩm của mình. Nhưng khi mới tiếp cận thị trường, cô đã bị hàng loạt nhà sản xuất cũng như khách hàng từ chối. Rồi, Sara đã nghĩ ra một cách để giới thiệu sản phẩm: nhờ một người khách đi mua sắm tại Trung tâm thương mại Neiman Marcus thử sản phẩm của mình. Không lâu sau đó, show truyền hình Oprah Winfrey đã làm riêng một chương trình về Spanx, và từ đó thương hiệu này đã nổi tiếng. Sara tự mình làm các công việc từ tiếp thị, hậu cần cho đến định vị sản phẩm, cho đến khi công ty đạt mốc lợi nhuận 1 tỷ USD.

Blakely sở hữu 100% Spanx, không hề vay nợ, chưa từng đầu tư thêm và cũng chưa phải trả một đồng nào cho quảng cáo.

Mua nhân tài phát triển doanh nghiệp của công ty Applejobs-2011[1]

 

Trong ngành máy tính nước Mỹ, công ty máy tính Apple ra đời khá muộn và thua xa các tên tuổi lớn như IBM, Microsoft,… Người sáng lập công ty là Steven Jobs và cựu Tổng giám đốc Mike Markkula rất giỏi về kỹ thuật máy tính nhưng lại thiếu khả năng bán hàng, vì thế lúc mới bắt đầu công ty phát triển rất chậm. Nhận rõ yếu điểm của mình, Apple đã không tiếc tiền của để mời vị cựu Tổng giám đốc kinh doanh tài giỏi của công ty Pepsi Cola là John Sculley về đảm nhận chức vụ Tổng giám đốc của công ty với mức lương và tiền thưởng tổng cộng là 2 triệu USD.

Apple quả là đã không mua nhầm “ngọc”. Trước khi nhận lời làm quản lý công ty, ông John Sculley đã dành thời gian 3 tháng để nắm vững tình hình của Apple. Vì thế, khi vừa nhậm chức ông đã lập tức đưa ra được kế hoạch chiến lược phát triển, và cộng với sự quyết tâm, John Sculley đã biến Apple trở thành một doanh nghiệp hùng mạnh ngang tầm với IBM và Microsoft.

Kế 35: Tá thi hoàn hồn (Mượn xác để hồn về)

Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại, buộc phải lợi dụng một lực lượng nào đó để khởi lên thi hành trở lại chủ trương của mình.

 Ý nghĩa vận dụng trong kinh doanh

Trong kinh doanh hiện đại, kế sách này được áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới và trong mọi ngành kinh tế. Người ta thường dùng đến kế sách này khi một sản phẩm có chất lượng và giá trị sử dụng đích thực nhưng vì những lý do nhất định không được thị trường chấp nhận. Trong trường hợp đó giá trị sử dụng đó phải được đưa vào một chiếc “bình mới” để đưa lại thị trường.
Xe máy Honda lội ngược dòng là một ví dụ 

Vào đầu những năm 2000, xe máy Trung quốc tràn ngập thị trường Việt Nam với giá siêu rẻ. Xe máy Honda vốn đang bán chạy hàng đầu trở nên ế ẩm do giá thành cao gấp 2 lần. Tên tuổi  của Honda vẫn là mong muốn số 1 của người dân Việt Nam nhưng vấn đề là giá không còn cạnh tranh.
Trước trình hình đó, Honda đã nghiên cứu kỹ lưỡng và tung ra thị trường một dòng xe máy mới với tên gọi là Wave anpha. Về cơ bản chiếc xe vốn là chiếc Super Dream  trước đây và có thêm một số chi tiết nội địa hóa. Chất lượng hầu như tương đương nhưng gía cả rất cạnh tranh, chỉ cao hơn xe máy Trung Quốc một chút. Với tên tuổi và niềm tin vào chất lượng Honda. Wave anpha đã được thị trường đón nhận nhanh chóng. Super Dream hoàn hồn trong thân xác của chiếc Wave anpha đã tạo nên một cú lội ngược dòng ngọan mục cho Honda Vietnam.

Kế 36: Tẩu kế

“Tẩu kế” nghĩa là chạy, lùi, thoát thân.

Tại sao kế sau chót cổ nhân lại đặt là “kế chạy”?
Lại có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. (Ba mươi sáu chước, chạy là hơn hết!)
Bởi vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành bại của một công việc lớn. Nếu không ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh bất lợi, để nắm mau lợi thế mà tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài.
Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp, bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ mà chạy tới đường lớn, bỏ đường bộ mà chạy sang đường thủy… Các phương thức tuy không giống nhau nhưng cùng hướng chung đến mục đích là tránh tai họa để bảo đảm an toàn, để bảo toàn lực lượng.
“Tẩu kế” không phải là chạy dài. Chạy chỉ là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo tồn sức khỏe, lực lượng.
Rút chạy đến một vị trí mới, cho tư thế vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và củng cố tinh thần, chọn một cơ hội thuận tiện để quật lại, ấy mới thực là “Tẩu kế”.

Chúc các bạn thành công!

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6918/feed 0