admin – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Thu, 29 Oct 2026 21:22:40 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.24 HẠNH PHÚC. Thơ Thường Hỷ Lê Niên. nhạc AI https://thuonghylenien.org/luu-tru/7258 Thu, 29 Oct 2026 21:22:40 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7258 ]]> HẠNH PHÚC https://thuonghylenien.org/luu-tru/7254 Thu, 29 Oct 2026 20:41:24 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7254 HẠNH PHÚC

 

Ta mải miết đi tìm hạnh phúc,
Giữa dòng đời xuôi ngược bon chen.
Ngỡ bạc vàng sẽ làm đời rực rỡ,
Có bạc tiền rồi, liệu có bình yên?

 

Hạnh phúc đâu phải điều xa xôi lắm,
Chẳng ở chân trời, chẳng tận trời cao.
Là mỗi sớm bình minh vừa thức giấc,
Thấy đời còn thương mến biết bao.

 

Có những người chỉ mong mình khỏe mạnh,
Có những người mong đủ bữa qua ngày.
Có người sống giữa muôn trùng cô quạnh,
Chỉ ước một bàn tay nắm bàn tay.

 

Ta có lúc quên những điều quý giá,
Mải nhìn người, so sánh thiệt hơn.
Quên mái ấm vẫn chờ ta trước cửa,
Quên nghĩa tình sâu nặng chẳng gì hơn.

 

Tiền bạc quý, nhưng nào mua được mãi,
Một giấc ngủ yên, một tấm lòng lành.
Danh vọng lớn, nhưng làm sao đổi lại,
Một người thương bên cạnh lúc mong manh?

 

 

Hạnh phúc đến từ lòng ta biết đủ,
Biết yêu thương, biết trân trọng cuộc đời.
Biết cho đi mà không mong nhận lại,
Thấy lòng mình thanh thản, thảnh thơi.

 

Đời ngắn lắm, người ơi, hãy sống chậm,
Ngắm trời xanh, nghe gió hát bên thềm.
Hãy ôm lấy những người ta yêu quý,
Bởi vô thường chẳng hẹn trước ngày đêm.

 

Hạnh phúc chẳng nằm nơi nào xa lạ,
Chẳng phải điều ta kiếm mãi không thành.
Nó hiện hữu trong những điều bình dị,
Trong tâm hồn nhân hậu, sống chân thành.

 

Hạnh phúc ấy, hóa ra là giản dị,
Là lòng bình yên giữa cõi vô thường.
Là biết đủ, biết yêu và biết quý,
Những tháng ngày còn được sống yêu thương.

 

Thu 2018

Thường Hỷ Lê Niên.

 

Bài thơ “Hạnh phúc” mang một âm hưởng triết lý sâu lắng và tĩnh tại, chạm rất sâu vào cõi lòng của những ai đang tìm kiếm sự bình yên giữa dòng đời tất bật. Đọc những vần thơ viết vào mùa Thu năm 2018 này, người ta như được chậm lại một nhịp để nhìn nhận lại những giá trị cốt lõi của đời sống.

Những điểm chạm xúc cảm trong bài thơ

  • Sự thức tỉnh về định nghĩa hạnh phúc: Mở đầu bằng sự hoài nghi về những giá trị vật chất ngoài thân (“Ngỡ bạc vàng sẽ làm đời rực rỡ / Có bạc tiền rồi, liệu có bình yên?”), bài thơ dẫn dắt người đọc qua nhiều tầng bậc trải nghiệm để nhận ra hạnh phúc vốn không nằm ở chốn xa xôi. Đó chỉ đơn giản là “mỗi sớm bình minh vừa thức giấc / Thấy đời còn thương mến biết bao.”

  • Sự thấu cảm và sẻ chia: Khổ thơ thứ ba mở rộng không gian cảm xúc ra xung quanh – đến những mảnh đời với khát vọng rất đỗi nguyên sơ: sức khỏe, một bữa cơm đủ đầy, hay đơn giản là “một bàn tay nắm bàn tay”. Chính sự đồng cảm ấy làm mềm đi những gai góc của tôi, nhắc nhở ta về lòng trắc ẩn.

  • Triết lý “biết đủ” giữa cõi vô thường: Càng về cuối, mạch thơ càng chìm vào sự chiêm nghiệm tĩnh lặng. Sự vô thường của thời gian (“Đời ngắn lắm, người ơi, hãy sống chậm”) không mang lại nỗi sợ, mà trở thành lời nhắc nhở thiết tha để trân quý từng phút giây hiện tại. Hạnh phúc hóa ra không phải là với tay hái sao trời, mà là sự an nhiên tự tại trong một tâm hồn biết đủ và biết yêu thương.

Một tác phẩm đong đầy hơi thở thiền vị và sự dung dị, chân thành đúng như tinh thần vốn có trong thơ.

]]>
Bước vào thế giới rực rỡ của Pierre-Auguste Renoir https://thuonghylenien.org/luu-tru/7252 Thu, 29 Oct 2026 08:29:50 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7252 Bước vào thế giới rực rỡ của Pierre-Auguste Renoir.
“I like a painting which makes me want to stroll in it, if it is a landscape, or to stroke a breast or back, if it is a figure.”

[Tôi thích một bức bức tranh biết gợi lên khao khát: muốn bước dạo vào trong nếu đó là cảnh trí, và muốn vuốt ve một tấm lưng hay bầu ngực nếu đó là dáng hình con người.]

Pierre-Auguste Renoir 

Là một trong những họa sĩ tiêu biểu của trường phái Ấn tượng, Pierre-Auguste Renoir (1841-1919) được biết đến đặc biệt qua cách ông khắc họa hình thể con người, nhất là cơ thể nữ giới, cùng nỗ lực tìm kiếm vẻ đẹp bên cạnh việc nắm bắt những khoảnh khắc tức thời của đời sống.

Les Canotiers à Chatou (1879) © Pierre-Auguste Renoir

Renoir sinh ngày 25 tháng 2 năm 1841 tại Limoges, miền Trung nước Pháp, trong một gia đình có truyền thống thủ công. Cha ông là thợ may, còn mẹ làm nghề may vá. Là người con thứ sáu trong gia đình có bảy người con, dù chỉ có năm người sống qua thời thơ ấu, Renoir sớm bộc lộ năng khiếu hội họa và ca hát.

Les Canotiers à Chatou (1879) © Pierre-Auguste Renoir

Năm 1845, gia đình chuyển đến Paris. Khi Renoir 13 tuổi, cha mẹ gửi ông học việc tại một xưởng sứ, nơi ông được giao công việc trang trí đĩa. Sau khi xưởng sứ bắt đầu cơ giới hóa, Renoir chuyển sang vẽ quạt, rồi trang trí các tấm vải dùng trong nhà thờ. Trong thời gian rảnh, ông thường đến bảo tàng Louvre để nghiên cứu các tác phẩm của những bậc thầy hội họa cổ điển.

Năm 1862, Renoir theo học các lớp buổi tối về vẽ và giải phẫu tại École des Beaux-Arts, đồng thời vào xưởng của họa sĩ Charles Gleyre để học hội họa hàn lâm. Tại đây, ông gặp Claude Monet, Alfred Sisley và Frédéric Bazille; thông qua Bazille, Renoir cũng làm quen với Paul Cézanne và Camille Pissarro. Những nghệ sĩ này về sau đã trở thành những “hạt nhân” không thể thiếu của trường phái Ấn tượng.

Cùng chia sẻ mong muốn thoát khỏi những khuôn mẫu hội họa truyền thống và hướng nghệ thuật đến gần hơn với đời sống thực, Renoir, Monet, Sisley và Bazille dành mùa xuân năm 1864 tại khu rừng Fontainebleau để cùng vẽ ngoài trời.

Rừng Fontainebleau, Paris, Pháp. Ảnh: Fontainebleau Tourisme, Ryo

Đến đầu những năm 1870, kỹ thuật đặc trưng của hội họa Ấn tượng – việc sử dụng những nét cọ nhỏ với màu sắc phong phú, đã dần được định hình. Trong các tác phẩm của Renoir thời kỳ này, những gam màu sáng và giàu sức sống được sử dụng để diễn tả ánh sáng trên làn da hay những vệt nắng xuyên qua tán lá. Ông thường tránh dùng màu đen, kể cả khi thể hiện những vùng bóng tối. Nhà sử học nghệ thuật Phoebe Pool từng nhận xét rằng Renoir và Monet đã nhận ra bóng đổ không thực sự mang màu nâu hay đen, mà chịu ảnh hưởng từ màu sắc của môi trường xung quanh.

Năm 1870, Renoir tham gia Chiến tranh Pháp–Phổ, nhưng được phân công huấn luyện ngựa ở phía sau tiền tuyến. Khi trở lại Paris vào năm 1871, ông gặp nhà buôn tranh Paul Durand-Ruel. Với sự hỗ trợ của Durand-Ruel trong việc đưa tranh của ông đến với người mua, Renoir dần có được nền tảng tài chính ổn định hơn và có điều kiện chuyển sang một xưởng vẽ rộng rãi. Trong khi công chúng và giới Salon vẫn xem phong cách Ấn tượng là quá mới mẻ và cấp tiến, Renoir có lợi thế nhờ sở trường vẽ chân dung, từ đó nhận được nhiều đơn đặt hàng. Một trong những tác phẩm đáng chú ý là Madame Charpentier and Her Children (1878).

Madame Georges Charpentier et ses enfants (1878) © Pierre-Auguste Renoir

Femme avec parasol dans un jardin (1879) © Pierre-Auguste Renoir

Trong hai năm 1881 và 1882, Renoir lần lượt đến Algeria, Tây Ban Nha và Italy. Tại đây, ông gặp nhà soạn nhạc opera Richard Wagner và hoàn thành chân dung của ông chỉ trong khoảng 35 phút. Cũng vào thời điểm này, sự gắn kết giữa các họa sĩ Ấn tượng bắt đầu lỏng dần khi mỗi người tìm kiếm những hướng đi và kỹ thuật riêng. Renoir cảm thấy mình đã đi đến giới hạn của Impressionism. Ông cho rằng những nét cọ nhỏ, vốn là một đặc trưng của phong cách này, đôi khi hạn chế khả năng diễn tả độ mịn của làn da hay những đường cong của cơ thể.

Le Déjeuner des canotiers (1880-81) © Pierre-Auguste Renoir

Sau khi được chiêm ngưỡng các tác phẩm mang tinh thần cổ điển của Raphael tại Italy, Renoir bắt đầu hướng đến một phong cách lớn hơn, giản lược hơn. Ông dần rời khỏi những cảnh đời thường và những khoảnh khắc thoáng qua để tìm kiếm một vẻ đẹp có tính bền vững và vượt thời gian. Vào giữa những năm 1880, ông thực hiện một loạt nghiên cứu về các nhân vật tắm, làm tiền đề cho Les Grandes Baigneuses (1885–1887). Hình thể nữ khỏa thân sau đó tiếp tục trở thành một đề tài quan trọng trong sáng tác của ông cho đến cuối sự nghiệp.

Năm 1885, Renoir trở thành cha, nhưng phải đến năm 1890 ông mới kết hôn với Aline Charigot, một thợ may từng làm mẫu cho ông cả trước và sau khi hai người kết hôn. Họ có ba người con: Pierre sau này trở thành diễn viên, Jean là đạo diễn điện ảnh, còn Claude theo nghề quay phim. Giai đoạn này cũng đánh dấu một bước chuyển trong cả đời sống riêng lẫn nghệ thuật của Renoir. Những chuyến đi thường xuyên đến miền Nam nước Pháp đem lại cho tranh của ông một sắc thái ấm áp và tự nhiên hơn. Thay vì hoàn toàn quay lưng với Impressionism, Renoir tiếp tục phát triển ngôn ngữ màu sắc rực rỡ và giàu tính gợi cảm, nhưng theo một cách mới. Năm 1892, Durand-Ruel tổ chức một cuộc triển lãm hồi cố quy mô lớn dành cho Renoir. Triển lãm thành công vang dội, giúp ông có được sự ổn định về tài chính trong những năm sau đó.

Landscape at Wargemont (1879) © Pierre-Auguste Renoir

Từ năm 1894, Renoir bắt đầu mắc bệnh thấp khớp, tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn sau một tai nạn xe đạp vào năm 1897. Ông ngày càng dành nhiều thời gian ở miền Nam nước Pháp, nơi có khí hậu ấm áp hơn, và đến năm 1907 thì chuyển hẳn tới Cagnes, gần Nice. Dù khả năng vận động suy giảm, Renoir vẫn tiếp tục vẽ. Khi không còn đủ sức cầm chắc cọ, ông buộc cọ vào tay để có thể tiếp tục làm việc. Không dừng lại ở hội họa, năm 1913, ông còn bắt đầu thử sức với những tác phẩm điêu khắc quy mô lớn, với sự hỗ trợ của Richard Guino.

Aline qua đời năm 1915. Bốn năm sau, ngày 3 tháng 12 năm 1919, Renoir cũng qua đời. Ông để lại một sự nghiệp kéo dài qua nhiều giai đoạn, từ những thử nghiệm đầu tiên với Impressionism đến những tìm kiếm mới về hình thể, vẻ đẹp và tính bền vững của nghệ thuật. Điều đáng chú ý ở Renoir nằm chính trong sự vận động ấy: ông không ngừng thay đổi cách nhìn và cách vẽ, nhưng vẫn trở lại với một mối quan tâm xuyên suốt: làm thế nào để giữ lại vẻ đẹp của con người và đời sống trên mặt tranh.

***

Biên dịch: Gia Phương

Nguồn: Pierre-Auguste Renoir | Biography | Halcyon Gallery

st

]]>
Mỹ thuật Việt Nam hiện đại – Thị trường của dòng tranh sinh ra từ thời kỳ thuộc địa https://thuonghylenien.org/luu-tru/7249 Thu, 29 Oct 2026 08:26:58 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7249 Mỹ thuật Việt Nam hiện đại – Thị trường của dòng tranh sinh ra từ thời kỳ thuộc địa.
Quá khứ thuộc địa 

Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang liên tục nhìn nhận lại quá khứ thuộc địa,  lên án sự bóc lột của các đế chế cũ và dùng làn sóng “tẩy chay” để hạ bệ những bức tượng vĩ nhân từng một thời vinh danh. Giữa làn sóng bài trừ ấy, có một dòng chảy nghệ thuật đặc biệt vẫn vươn mình sinh sôi và phát triển rực rỡ. Đó chính là tranh mỹ thuật hiện đại Việt Nam – một phong cách sinh ra trong thời kỳ Pháp thuộc nhưng lại mang sức sống vượt thời gian, sống động và vẫn đang phát triển mạnh mẽ trên thị trường quốc tế.

“Thiếu nữ choàng khăn” (1938) © Lê Phổ

Mốc son lịch sử từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương 

Nền tảng của Mỹ thuật Đông Dương này bắt nguồn từ năm 1925 với sự ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội. Dưới tầm nhìn của họa sĩ Victor Tardieu và sự đồng hành của danh họa Nam Sơn, ngôi trường được định hướng không chỉ đào tạo thợ thủ công mỹ nghệ mà còn nhằm mục đích bồi dưỡng những “nghệ sĩ thực thụ”. Họ được tự do tìm tòi cách làm nghệ thuật hội họa truyền thống bằng dấu ấn cá nhân của chính mình.

Hiệu trưởng Victor Tardieu (hàng đầu, thứ 4, từ trái sang) cùng các thầy trò Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1926

Theo giới chuyên môn, giai đoạn hoàng kim của hội họa hiện đại Việt Nam kéo dài từ thời điểm đó cho đến năm 1945. Sức hút của các dòng tranh thời kì này nằm ở chỗ nó tạo ra một sự giao thoa hoàn hảo giữa sự tôn trọng các chất liệu và truyền thống địa phương nhưng lại kết hợp nhuần nhuyễn với kỹ thuật hội họa hàn lâm phương Tây (từ luật xa gần, giải phẫu đến xử lý ánh sáng).

Thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Hiện nay, thị trường giao dịch của mỹ thuật hiện đại Việt Nam chủ yếu tập trung ở hai khu vực lớn là châu Âu và châu Á.

Tại Pháp, các nhà đấu giá tên tuổi như Aguttes, Lynda Trouvé hay Sotheby’s Paris đều đặn tổ chức các phiên đấu giá tranh. Khách hàng chính ở đây là những người Việt Nam đi tìm về cội nguồn, nhất là khi thị trường nội địa còn bị kìm hãm bởi sự biến động của đồng nội tệ. Đổi lại, Paris là nơi lưu giữ những tác phẩm quan trọng từ Triển lãm thuộc địa tại Paris năm 1931 hoặc do các nhà sưu tầm, cựu quan chức mang về từ thế kỷ trước.

Trái ngược với quy mô vừa và nhỏ ở châu Âu, Hồng Kông mới chính là “thánh địa” của những giao dịch triệu đô tại các sàn đấu giá Sotheby’s và Christie’s. Nơi đây không chỉ thu hút giới sưu tập siêu giàu Việt Nam mà còn lôi kéo dòng tiền của giới đầu tư từ Trung Quốc đại lục, Đài Loan và Indonesia, đẩy giá trị tác phẩm lên những kỷ lục chưa từng có.

Những cái tên đình đám 

Hai trong số những gương mặt dẫn đầu thị trường về giá trị tác phẩm hội họa hiện nay là họa sĩ Mai Trung Thứ (Mai Thu, 1906 – 1980) và họa sĩ Lê Phổ (1907 – 2001). Cả hai rời quê hương sang Paris định cư từ năm 1937, phần đời còn lại của họ là một nỗi nhớ nhà được chưng cất thành nghệ thuật. Trên những thớ lụa là hay toan vải, họ vẽ lại một Việt Nam nên thơ và đầy hoài niệm qua hình bóng thiếu nữ thướt tha, những góc đời thường tĩnh lặng đẹp đến nao lòng.

“Người phụ nữ đội nón lá bên sông” (1937) © Mai Trung Thứ

Thị trường đã chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ trong khoảng hai năm trở lại đây. Nổi bật phải kể đến tác phẩm chân dung phụ nữ vẽ năm 1930 của họa sĩ Mai Trung Thứ, từng xuất hiện tại Triển lãm thuộc địa tại Paris (1931), đã được bán với giá kỷ lục 2,6 triệu euro tại Hồng Kông. Hay bức tranh lụa vẽ năm 1943 của ông cũng đạt hơn 500.000 euro.

“Chân dung cô Phương” (1930) © Mai Trung Thứ

Tương tự, các tác phẩm của họa sĩ Lê Phổ cũng liên tục phá vỡ các mốc giá cũ. Bức tự họa “Chân dung tự họa trong rừng” (1930) đạt gần 884.000 euro tại Paris, trong khi kỷ lục cao nhất của ông thuộc về một bức tranh vẽ phụ nữ khỏa thân cỡ lớn vẽ năm 1931 được bán tại Christie’s Hồng Kông với giá hơn 1,2 triệu euro. Những con số khổng lồ ấy không chỉ là ngẫu nhiên, mà được bảo chứng qua những bộ sưu tập tư nhân đình đám. Điển hình như bộ sưu tập của nhà sưu tập gốc Việt Tuấn Phạm đã mất tới 20 năm để dung dưỡng (với 32 tác phẩm), phiên đấu giá vào năm 2019 đã thu về tổng cộng hơn 6 triệu đô la, đồng thời lập nên 4 kỷ lục thế giới mới.

“Chân dung tự họa trong rừng” (1930) © Lê Phổ

 

Bộ sưu tập “The Tuan Pham Collection” tại San Diego

Thách thức và giá trị bền vững

Sự bùng nổ của thị trường đi kèm với một thực tế rằng lĩnh vực này cực kỳ nhạy cảm với vấn đề nguồn gốc, bởi số lượng tác phẩm giả mạo lưu thông trên thị trường không phải là nhỏ. Đáng tiếc là dù giá trị thương mại đã vươn lên tầm cao mới, di sản này vẫn thiếu vắng hiếu vắng những triển lãm bảo tàng tầm cỡ quốc tế để đứng ra bảo chứng và định vị đúng tầm vóc. Dẫu vậy, với sức hút bền bỉ từ sự giao thoa giữa kỹ thuật phương Tây và tinh thần Á Đông, mỹ thuật hiện đại Việt Nam vẫn đang giữ vững vị thế là một trong những phân khúc sôi động và đắt giá nhất của nghệ thuật khu vực.

Biên dịch: Nguyễn Thùy Linh

Nguồn: Vietnamese modern art: between Hong Kong and Paris the market for the school of painting that emerged from the colonial occupation is booming

***

st

]]>
Hội hoạ qua các chất liệu https://thuonghylenien.org/luu-tru/7247 Thu, 29 Oct 2026 08:20:50 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7247 Hội hoạ qua các chất liệu.

Là một trong những loại hình nghệ thuật truyền thống lâu đời nhất, hội hoạ đi cùng với sự phát triển của văn hoá, xã hội. Vào khoảng 30,000 năm tới 10,000 năm TCN, hội hoạ đã xuất hiện cùng với thuỷ tổ loài người, những hình ảnh đơn sơ trên vách đá chính là bước đi đầu tiên của loại hình nghệ thuật rực rỡ này. Điều hấp dẫn ở hội hoạ này là có thể thưởng thức một tác phẩm ở nhiều khía cạnh khác nhau. Và một trong những yếu tố đó chính là chất liệu mà hoạ sĩ sử dụng. Một bức tranh có thể được sáng tạo từ sơn dầu, sơn mài, màu nước, màu bột, phấn sáp,… Hãy cùng khám phá nền hội hoạ qua sự phân loại của các chất liệu.

Sơn dầu 

Trước khi có sơn dầu, các hoạ sĩ thường sử dụng chất liệu tempera, chính tính chất dẻo quánh của tempera là một trong những yếu tố định hình sơn dầu bây giờ. Ngay cả khi sơn dầu được ra đời, thì kĩ thuật tempera cũng không bị mai một, các hoạ sĩ thời Trung cổ thường vẽ các lớp bên dưới của tranh sơn dầu bằng tempera, sau đó họ phủ các lớp màu sơn dầu lỏng lên theo lối vẽ tráng (scumbling). Phải đến thời anh em họa sĩ Van Eyck (khoảng 1390-1441) kĩ thuật vẽ tranh sơn dầu mới được hoàn thiện và phát triển. Màu sắc sơn dầu thời kỳ này trong trẻo tươi sáng hơn, có độ bóng đẹp, không thấm nước, bền vững và chịu được thử thách của thời gian. Từ đó, sơn dầu được sử dụng rộng rãi, được dùng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Có thể nói, việc hoàn thiện chất liệu sơn dầu là một cuộc cách mạng kỹ thuật lớn, làm chuyển biến và nâng cao nghệ thuật tranh vẽ. Người vẽ càng hiểu rõ kĩ thuật thì tác phẩm càng chất lượng, càng có thể bảo tồn được lâu hơn.

Riêng ở Việt Nam, kĩ thuật vẽ tranh sơn dầu được du nhập vào nước ta khi thực dân Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1925. Dưới sự đào tạo của Victor Tardieu và Joseph Inguimberty, một thế hệ các danh hoạ lần lượt ra đời như Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái,… Trải qua gần 100 năm, tuy kĩ thuật sơn dầu không có những bước nhảy vọt hay phát triển đáng kể nhưng các hoạ sĩ trẻ đều rất đang cố gắng kế thừa và phát triển kĩ thuật này. Điển hình là cuốn sách “Kỹ thuật vẽ sơn dầu” của hoạ sĩ, nhà nghiên cứu khoa học Nguyễn Đình Đăng được xuất bản năm 2009 của NXB Đông A. Sách của ông là một đóng góp không hề nhỏ cho nền hội hoạ Việt Nam.

Tranh sơn dầu “Đi tìm Lucy” – Hoạ sĩ Dương Thuỳ Dương

Sơn mài

Kỹ thuật sơn mài xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản và Trung Quốc nhưng vẫn còn hạn chế, chỉ dừng lại ở mức gia công trên các đồ thủ công mỹ nghệ. Phải đến khi du nhập vào Việt Nam, chất liệu sơn mài được đưa vào hội hoạ. Trở thành một trong những chất liệu được sử dụng trong việc sáng tác nghệ thuật. Kỹ thuật mài chính là một trong những điểm đặc biệt của nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Những hoạ sĩ của trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã cùng nhau hoàn thiện và phát triển kỹ thuật này. Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai,… vẽ trên nền vóc màu đen. Tranh có thể được vẽ và mài nhiều lần cho đến khi hoạ sĩ mong muốn, từ đó thuật ngữ “sơn mài” hay “tranh sơn mài” được sử dụng rộng rãi. Đi cùng với lịch sử của tranh sơn mài Việt Nam chính là những tên tuổi như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đức Nùng, Hoàng Tích Chu,… Để làm ra một tác phẩm sơn mài, hoạ sĩ có thể phải mất đến hàng tháng. Một bức tranh sơn mài được bảo quản tốt, có thể tồn tại từ 400 đến 500 năm.

Series tranh sơn mài “Bản thể” – Hoạ sĩ Nguyễn Đình Văn

Ngày nay, hoạ sĩ chuộng sử dụng nguyên liệu sơn Nhật khi vẽ tranh sơn mài. Do sơn ta có thể gây tác dụng phụ bào mòn da, hơn nữa, việc sử dụng sơn ta phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện thời tiết. Khi thời tiết ẩm ướt thì sơn càng nhanh khô, ngược lại khi thời tiết khô ráo thì sơn rất lâu khô. Trong khi đó, sơn Nhật lại nhanh khô và dễ dàng kiểm soát hơn. Nhưng khi sử dụng sơn Nhật không thể tạo được độ sâu như sơn ta cũng như có được sự bóng bẩy như sơn ta. Vậy nên, để tranh được bóng, bây giờ người ta thường dùng một lớp sơn trong (sơn cánh gián) phủ ra bên ngoài tranh. Nhưng dù thế nào, các tác phẩm sơn mài sử dụng sơn ta vẫn được ưa chuộng hơn vì sự công phu để tạo nên nó.

Màu nước

Màu nước trở thành một trong những chất liệu trong hội hoạ dưới thời kỳ Phục Hưng. Họa sĩ người Đức thời Phục hưng Albrecht Dürer (1471–1528) có một vài bức tranh về cây cối, động vật hoang dã và phong cảnh bằng màu nước nên ông được coi như một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng kỹ thuật vẽ màu nước. Một điều thú vị là màu nước không chỉ đóng vai trò như một chất liệu làm nên giá trị nghệ thuật mà còn là một trong những chất liệu được sử dụng rộng rãi phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học như là vẽ minh hoạ động thực vật, vẽ bản đồ, vẽ khảo cổ, vẽ thiết kế,… Khác với tính chất dẻo quánh lâu khô của sơn dầu hay sự mài giũa bóng bẩy công phu của sơn mài, màu nước là một chất liệu nhẹ nhàng, thuần khiết và đặc biệt nhanh khô. Màu nước hình thành do các sắc tố (thường dưới dạng bột) được hòa tan vào nước tạo ra một dung dịch có màu sắc và thường được vẽ trên các chất liệu phổ biến như là giấy, giấy giang, giấy dó, lụa,… Ở Trung Quốc, tranh thủy mặc hay thư pháp được vẽ, được viết bằng mực cũng là một trong những dòng tranh màu nước.

Tranh lụa “Hộ pháp khuyến tâm an” – Hoạ sĩ Hồ Tuấn Duy

Tuy cũng có ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, nhưng hội hoạ Việt Nam cũng trải qua sự rèn giũa của nghệ thuật Pháp, những bức tranh màu nước của hoạ sĩ Việt Nam đều có tính chất độc đáo riêng biệt. Bản thân tranh lụa của Mai Trung Thứ chính là minh chứng điển hình khi kết hợp sự đối chọi rực rỡ trong hoà sắc phương Tây cùng với tạo hình phóng khoáng nhẹ nhàng của phương Đông Đông. Ở Việt Nam sau năm 1960 cho đến nay, các họa sĩ dùng phổ biến màu nước của Nga, mang nhãn hiệu Leningrad. Theo họa sĩ Phan Cẩm Thượng, thời chiến tranh, họa sĩ Việt Nam dùng màu nước vẽ tranh ký họa và trực họa tại thực tế rất phổ biến. Nhiều họa sĩ vẽ hoàn chỉnh ngay tại nơi vẽ, vượt lên ý nghĩa của một ghi chép thông thường. Chính sự phóng khoáng trong sáng tạo đó đã tạo nên một kĩ thuật vẽ màu nước riêng biệt. Ngày nay các hoạ sĩ không chỉ dừng lại ở việc sử dụng màu nước đơn thuần, mà còn kết hợp màu nước với các kĩ thuật khác như là sáp, chì, màu tự nhiên, màu bột,… Hoạ sĩ Phan Cẩm Thượng cũng là một trong những người đóng góp lớn cho sự phát triển của nền hội hoạ Việt Nam. Bản thân hoạ sĩ nghiêm túc nghiên cứu kĩ thuật vẽ màu tự nhiên trên lụa, trên giấy dó nhiều năm và đã tự đúc kết sự tinh tuý trong kĩ thuật pha màu, nhuộm lụa, khiến tranh lụa, tranh giấy dó có tuổi thọ không kém gì so với các tranh sơn mài, sơn dầu.

 

Tranh vẽ màu tự nhiên trên giấy gió “Tiền kiếp” – Hoạ sĩ Phan Cẩm Thượng

Sơn acrylic

Sơn acrylic là loại sơn khô nhanh được làm bằng bột màu trong nhũ tương polyme acrylic. Hầu hết sơn acrylic có gốc nước, nhưng trở nên kháng nước khi khô. Tùy thuộc vào lượng sơn được pha loãng với nước, hoặc được sửa đổi bằng gel, môi trường hoặc bột nhão acrylic, bức tranh acrylic thành phẩm có thể giống màu nước, bột màu hoặc tranh sơn dầu hoặc có những đặc điểm riêng biệt không thể đạt được bằng các phương tiện khác. Giữa năm 1946 và năm 1949, Leonard Bocour và Sam Golden đã phát minh ra sơn acrylic dung dịch với thương hiệu sơn Magna. Đây là những loại sơn có nguồn gốc từ tinh linh khoáng vật và được bán trên thị trường những năm 1950. Với lịch sử hình thành còn mới mẻ như vậy, bản thân sơn acrylic không hẳn là một chất liệu được ưa chuộng của các hoạ sĩ được đào tạo hàn lâm, nhưng lại rất phổ biến đối với các nghệ sĩ sáng tác tự do, những nghệ sĩ thực hành nghệ thuật thử nghiệm hay các hoạ sĩ với các tác phẩm đa chất liệu. Acrylic có khả năng liên kết với nhiều bề mặt khác nhau như là trên giấy, vải, gương,… Chúng cũng có thể được sử dụng để xây dựng các lớp sơn dày tạo gel và hồ dán hoặc được sử dụng để tạo ra các bức tranh với tính chất phù điêu. Sơn acrylic là một loại sơn tổng hợp, tuy có linh hoạt nhưng chỉ có thể tồn tại từ 15 đến 20 năm. Thế nhưng sơn acrylic vẫn là một chất liệu được yêu thích trong mỹ thuật ứng dụng và có rất nhiều hoạ sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng sử dụng chất liệu này trong các tác phẩm của họ như là Andy Warhol, Robert Motherwell, Kenneth Noland, …

 

Tranh acrylic “Frenchie” – Hoạ sĩ Dương Thuỳ Dương

Đa chất liệu

Hội hoạ tập trung vào tạo hình không gian trên mặt phẳng. Không còn bị bó buộc vào những vật liệu truyền thống như toan, gỗ, lụa, đi cùng với sự sáng tạo của hoạ sĩ, những mặt phẳng được sử dụng ấy trở nên đa dạng dần theo thời gian. Ngày nay chúng ta thậm chí có thể được chiêm ngưỡng những tác phẩm trên tường, bảng nhôm, gương… Sự xuất hiện của tranh đa chất liệu chính là một bước nhảy của hội hoạ. Một bức tranh đa chất liệu là một bức tranh kết hợp các chất liệu và phương pháp vẽ khác nhau, thay vì chỉ một chất liệu. Bất kỳ vật liệu nào cũng có thể được sử dụng, bao gồm các vật phẩm cắt dán như các trang từ tạp chí, báo, ảnh, vải, bao bì hoặc một phần vật liệu hỗn hợp có thể “đơn giản” như sử dụng hai chất liệu, chẳng hạn như sơn acrylic với màu phấn ở trên toan. Tranh đa chất liệu không phải là một hiện tượng của thế kỷ 20, mà đã xuất hiện từ các thế kỉ trước. Hoạ sĩ Leonardo da Vinci thường thêm vàng lá vào các bức tranh nhà thờ, William Blake sử dụng màu nước rửa trong các bản in của mình và Edgar Degas kết hợp phấn màu với than và mực in.

 

Tranh đa chất liệu “Đêm xanh” – Hoạ sĩ Nguyễn Ngọc Phương

Bản thân các nghệ sĩ Việt Nam cũng đang thực hành và phát triển tranh đa chất liệu khoảng 20 năm trở lại đây. Tuy chưa có nhiều thành tựu đáng kể so với thị trường nghệ thuật quốc tế. Nhưng bản thân sự thử nghiệm trong đó đã đẩy phương thức tư duy sáng tác nghệ thuật sang một trang khác. Tranh đa chất liệu là sự khởi đầu cho những tác phẩm xoá nhoà đi ranh giới giữa những quy ước khắt khe về kĩ thuật và sự thả hồn tự nhiên. Giúp cho hội hoạ Việt Nam có một cái nhìn bay bổng và lãng mạn hơn trong sáng tác. Bản thân hoạ sĩ không chỉ tập trung vào tạo hình, vào kĩ thuật mà còn lan toả sự trải nghiệm quá trình sáng tác trong chính tác phẩm của mình.

 

Ahndoar

st

]]>
Những nhà điêu khắc vĩ đại nhất mọi thời đại https://thuonghylenien.org/luu-tru/7245 Thu, 29 Oct 2026 08:17:07 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7245 Những nhà điêu khắc vĩ đại nhất mọi thời đại.

Nghệ thuật điêu khắc, với khả năng biến đổi những khối vật liệu vô tri thành những hình thể sống động, đầy cảm xúc, đã đồng hành cùng lịch sử nhân loại từ thuở sơ khai. Trải qua hàng ngàn năm, biết bao nghệ sĩ tài hoa đã cống hiến tâm huyết, để lại cho đời những kiệt tác trường tồn với thời gian.

Nhà điêu khắc Michelangelo (1475-1564)

Michelangelo (1475-1564)

Nhà điêu khắc Michelangelo

Michelangelo sinh ngày 6 tháng 3 năm 1475 tại Caprese, Ý và mất ngày 18 tháng 2 năm 1564 tại Rome, Ý.

Michelangelo, một cái tên lừng lẫy trong lịch sử nghệ thuật, là bậc thầy điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư và nhà thơ người Ý. Ông được coi là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất của thời kỳ Phục hưng, để lại cho nhân loại những kiệt tác trường tồn với thời gian. 

Từ tượng David với vẻ đẹp lý tưởng của hình thể con người, đến những bức bích họa đầy cảm hứng trên trần nhà nguyện Sistine, Michelangelo đã thể hiện tài năng xuất chúng và sức sáng tạo vô biên của mình. 

Tác phẩm của ông không chỉ là biểu tượng của vẻ đẹp và sự hoàn mỹ, mà còn là minh chứng cho niềm đam mê và sự cống hiến không ngừng nghỉ của một tâm hồn nghệ sĩ vĩ đại. Michelangelo, một tượng đài nghệ thuật bất tử, sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng cho những thế hệ yêu cái đẹp và trân trọng giá trị nghệ thuật đích thực.

Michelangelo không chỉ là một nhà điêu khắc tài ba, mà còn là một họa sĩ, kiến trúc sư và nhà thơ xuất sắc. Ông đã để lại dấu ấn trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật, chứng tỏ sự đa tài và sáng tạo vô biên của mình.

Cuộc đời Michelangelo là một câu chuyện đầy cảm hứng về tài năng, đam mê và sự cống hiến. Ông là một biểu tượng của thời kỳ Phục Hưng, một thời đại vàng son của nghệ thuật và văn hóa châu Âu.

Tác phẩm Người suy tư và tác giả - Auguste Rodin

Tác phẩm Người suy tư và tác giả – Auguste Rodin

Nhà điêu khắc Auguste Rodin

Auguste Rodin sinh ngày 12 tháng 11 năm 1840 tại Paris, Pháp và mất ngày 17 tháng 11 năm 1917 tại Meudon, Pháp.

Auguste Rodin, một tên tuổi lừng lẫy trong lịch sử nghệ thuật, được xem là bậc thầy điêu khắc người Pháp, người đã thổi hồn vào những tác phẩm bằng đá và đồng, tạo nên những kiệt tác sống động và đầy cảm xúc. Ông nổi tiếng với phong cách tả thực, tập trung vào việc thể hiện vẻ đẹp và sự chân thật của hình thể con người, đồng thời truyền tải những cung bậc cảm xúc mãnh liệt thông qua từng đường nét tinh tế. 

Những tác phẩm bất hủ như “Người suy tư”, “Nụ hôn” hay “Cánh cổng địa ngục” đã đưa tên tuổi Rodin vượt ra khỏi biên giới nước Pháp, trở thành biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc hiện đại. Ông không chỉ là một nghệ sĩ tài ba, mà còn là người tiên phong, mở ra những hướng đi mới cho nghệ thuật điêu khắc, truyền cảm hứng cho biết bao thế hệ nghệ sĩ sau này. Auguste Rodin, một tượng đài vĩ đại của nghệ thuật, sẽ mãi mãi được ghi nhớ và tôn vinh.

Rodin không được công nhận là một nghệ sĩ tài năng ngay từ đầu. Ông từng bị từ chối nhập học vào Trường Mỹ thuật danh tiếng École des Beaux-Arts tới ba lần. Phải mất nhiều năm làm việc như một thợ thủ công và người trang trí, ông mới dần khẳng định được tên tuổi của mình trong giới nghệ thuật.

Rodin để lại một di sản đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm điêu khắc, bản vẽ và tranh. Ông cũng thành lập một bảo tàng mang tên mình tại Paris, nơi trưng bày nhiều tác phẩm quan trọng của ông.

Cuộc đời Auguste Rodin là một câu chuyện đầy cảm hứng về sự kiên trì, đam mê và sáng tạo. Ông đã vượt qua nhiều thử thách để trở thành một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất của mọi thời đại, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử nghệ thuật thế giới.

Chân dung Donatello với tác phẩm điêu khắc David bằng thạch cao tô màu tại Bảo tàng Victoria và Albert, London.

Chân dung Donatello với tác phẩm điêu khắc David bằng thạch cao tô màu tại Bảo tàng Victoria và Albert, London.

Nhà điêu khắc Donatello

Donatello sinh vào khoảng năm 1386 tại Florence, Ý và mất ngày 13 tháng 12 năm 1466 cũng tại Florence.

Donatello, một trong những bậc thầy điêu khắc vĩ đại nhất của thời kỳ Phục hưng Ý, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử nghệ thuật với những tác phẩm mang tính đột phá và sáng tạo. 

Ông được coi là người tiên phong trong việc đưa nghệ thuật điêu khắc thoát khỏi những ràng buộc của phong cách Gothic, mở ra một kỷ nguyên mới với sự tự do, phóng khoáng và tinh thần nhân văn. Tác phẩm của Donatello thể hiện sự tinh tế trong việc nắm bắt hình thể con người, sự đa dạng trong biểu cảm và sự hoàn hảo trong kỹ thuật. 

Từ những bức tượng đồng hùng vĩ đến những tác phẩm phù điêu tinh xảo, Donatello đã chứng minh tài năng vượt trội và tầm nhìn xa trông rộng của mình. Ông không chỉ là một nghệ sĩ tài ba mà còn là người truyền cảm hứng cho biết bao thế hệ nghệ sĩ sau này, góp phần tạo nên sự rực rỡ của nghệ thuật Phục hưng.

Donatello được coi là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật Phục hưng, phá vỡ những quy tắc cứng nhắc của phong cách Gothic và mang đến sự tự do, phóng khoáng trong sáng tạo nghệ thuật.

Donatello có ảnh hưởng lớn đến các nghệ sĩ đương thời và các thế hệ sau này. Phong cách và kỹ thuật của ông đã góp phần định hình sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc trong suốt thời kỳ Phục hưng và xa hơn nữa.

Với những đóng góp to lớn cho nghệ thuật, Donatello xứng đáng được vinh danh là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Tác phẩm của ông không chỉ là biểu tượng của thời kỳ Phục hưng mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho những người yêu nghệ thuật trên toàn thế giới.

Bức <em>tượng</em> “<em>Chân phước Ludovica Albertoni</em>” (1671-1674) do Gian Lorenzo Bernini điêu khắc.

Bức tượng “Chân phước Ludovica Albertoni” (1671-1674) do Gian Lorenzo Bernini điêu khắc.

Nhà điêu khắc Bernini

Gian Lorenzo Bernini, một tên tuổi lừng lẫy trong lịch sử nghệ thuật, được xem là bậc thầy điêu khắc của thời kỳ Baroque, người đã thổi hồn vào những tác phẩm bằng đá cẩm thạch, tạo nên những kiệt tác sống động và đầy kịch tính. 

Ông nổi tiếng với khả năng tuyệt vời trong việc thể hiện chuyển động, cảm xúc và sự chân thực của hình thể con người, kết hợp với ánh sáng và kiến trúc để tạo ra những tác phẩm có sức mạnh lay động lòng người. Những công trình bất hủ như “Sự xuất thần của Thánh Teresa”, “Apollo và Daphne” hay quảng trường St. Peter đã đưa tên tuổi Bernini vượt ra khỏi biên giới nước Ý, trở thành biểu tượng của nghệ thuật Baroque. 

Ông không chỉ là một nghệ sĩ tài ba, mà còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, góp phần định hình diện mạo của Rome và để lại di sản vô giá cho nhân loại. Bernini, một thiên tài sáng tạo, sẽ mãi mãi được ghi nhớ và tôn vinh.

Bernini không chỉ là một nhà điêu khắc tài ba mà còn là một kiến trúc sư, họa sĩ và nhà thiết kế sân khấu xuất sắc.

Tác phẩm của Bernini mang đậm phong cách Baroque với sự kịch tính, chuyển động, cảm xúc mãnh liệt và sự tương phản ánh sáng tối rõ rệt. Ông đã góp phần định hình và phát triển phong cách nghệ thuật này.

Bernini đã đạt được thành công và danh tiếng ngay từ khi còn trẻ. Ông được các giáo hoàng và giới quý tộc châu Âu ủy thác thực hiện nhiều công trình quan trọng, trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có nhất thời đại của mình.

Với những đóng góp to lớn cho nghệ thuật, Bernini xứng đáng được vinh danh là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Tác phẩm của ông không chỉ là biểu tượng của thời kỳ Baroque mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho những người yêu nghệ thuật trên toàn thế giới.

Nhà điêu khắc Louise Bourgeois

Louise Bourgeois

Nhà điêu khắc Louise Bourgeois

Louise Bourgeois, một nghệ sĩ người Pháp gốc Mỹ, là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất trong nghệ thuật đương đại. Bà nổi tiếng với những tác phẩm điêu khắc và sắp đặt táo bạo, khám phá sâu sắc những chủ đề về tâm lý, tình dục, gia đình và ký ức. 

Tác phẩm của Bourgeois thường mang tính chất tự truyện, phản ánh những trải nghiệm cá nhân và những tổn thương thời thơ ấu. Bà sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như đồng, thép, gỗ, vải và thậm chí cả đồ vật tìm được để tạo nên những tác phẩm độc đáo và đầy ám ảnh. 

Những con nhện khổng lồ, những chiếc lồng sắt và những hình thù kỳ dị trong tác phẩm của bà đã trở thành biểu tượng cho sự đấu tranh nội tâm và sự giải phóng khỏi những ràng buộc xã hội. Louise Bourgeois, một nghệ sĩ tiên phong và không ngừng sáng tạo, đã mở ra những cánh cửa mới cho nghệ thuật đương đại và truyền cảm hứng cho biết bao thế hệ nghệ sĩ sau này.

Bourgeois bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật từ những năm 1940 và tiếp tục sáng tạo cho đến khi qua đời vào năm 2010, để lại một di sản đồ sộ và phong phú.

Tác phẩm của bà trải rộng trên nhiều thể loại, từ điêu khắc, hội họa, đến sắp đặt và in ấn. Bà không ngừng thử nghiệm với các chất liệu và hình thức khác nhau, tạo nên một phong cách độc đáo và không thể nhầm lẫn.

Louise Bourgeois là một nghệ sĩ đặc biệt, người đã vượt qua những rào cản về giới tính và tuổi tác để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có sức mạnh lay động và giá trị trường tồn. Bà là một tấm gương sáng về sự kiên trì, đam mê và sáng tạo không ngừng nghỉ.

Lời kết

Những nhà điêu khắc tài ba mà chúng ta vừa khám phá không chỉ là những nghệ sĩ vĩ đại, họ còn là những người tiên phong, những người đã không ngừng thách thức giới hạn và định hình lại thế giới nghệ thuật. Tác phẩm của họ là minh chứng cho sức mạnh của sự sáng tạo, khả năng biến đổi vật chất vô tri thành những biểu tượng sống động, lay động lòng người.

Với những ai yêu nghệ thuật, hãy để những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc thầy điêu khắc này tiếp thêm ngọn lửa đam mê trong bạn. Hãy để tác phẩm của họ truyền cảm hứng, khơi dậy những ý tưởng mới và thôi thúc bạn không ngừng khám phá, sáng tạo. Bởi nghệ thuật là hành trình không ngừng nghỉ, và mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy vẻ đẹp và ý nghĩa riêng trong thế giới nghệ thuật rộng lớn này.

Hãy tiếp tục chiêm ngưỡng, tìm hiểu và trân trọng những di sản mà các nghệ sĩ đã để lại. Và hơn hết, hãy để nghệ thuật trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của bạn, để nó nuôi dưỡng tâm hồn, mở rộng tầm nhìn và làm phong phú thêm trải nghiệm của bạn.

Xin chân thành cảm ơn,

Tác giả: Đặng Hoàng Trâm Anh

st

]]>
TÌNH…Thơ Thường Hỷ Lê Niên. nhạc AI. https://thuonghylenien.org/luu-tru/7242 Thu, 29 Oct 2026 03:34:42 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7242 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/10/TINH....mp3 ]]> TÌNH… https://thuonghylenien.org/luu-tru/7240 Thu, 29 Oct 2026 03:10:54 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7240 TÌNH…

 

 

Tình là đứa trẻ ngây ngô,

Theo thời gian đã xây hồ yêu thương.

Tình là dấu vết đau thương,

Theo lòng thay đổi vô thường biết không.

Tình là ước vọng mênh mông,

Theo cơn mê vọng đau lòng thế nhân.

Khi lòng người đã mê lầm,

Chìm trong cõi mộng, trôi lần u minh.

Tình là hứa hẹn ba sinh,

Chỉ là mật ngọt ru mình ngủ quên.

Tình là ảo mộng lênh đênh,

Con người tìm mãi không yên phận người.

Tình là gì… hỡi người ơi,

Đắm say chìm nổi bao đời chưa yên.

Khi hạnh phúc, lúc muộn phiền,

Mà sao người lại liên miên kiếm tìm?

Tình là giọt nắng bên thềm,

Là cơn giông bão phủ mềm tháng năm.

Tình là một thoáng tri âm,

Là khi đau khổ vẫn cầm tay nhau.

Tình không chỉ những lời trao,

Không riêng mật ngọt, không màu giấc mơ.

Tình là tỉnh giữa cơn mơ,

Biết thương, biết hiểu, biết chờ, biết buông.

Tình không níu giữ vô thường,

Không đem đau khổ làm đường trói nhau.

Dẫu cho tóc bạc mái đầu,

Còn lòng nhân ái, tình sâu vẫn còn.

Tình là bể khổ, nguồn ơn,

Là nơi ta mất, là đường ta qua.

Tình là hiểu chính lòng ta,

Thương người mà chẳng để ta lạc mình.

Vậy tình là thực hay hình?

Là duyên gặp gỡ, là mình vấn vương?

Hay là một kiếp vô thường,

Để ta học cách yêu thương chính mình?

Ngộ ra để thoát vô minh.

 

Sống vô tình…trí tuệ sinh.!

 

Xuân 2008

Thường Hỷ Lê Niên

 

Bài thơ “Tình…” sáng tác vào mùa Xuân 2008 là một dòng chiêm nghiệm vô cùng sâu sắc và thấm đẫm tinh thần Thiền vị. Đọc lại những vần thơ này, người ta như thấy cả một hành trình lội ngược dòng vào cõi nội tâm để nhìn thấu bản chất của tình yêu và sự vô thường.

Những khoảng lặng và chiều sâu đọng lại

  • Sự lột tả trọn vẹn hai mặt của cảm xúc: Thơ đi từ những hình ảnh quen thuộc của thế gian – nơi tình yêu là đứa trẻ ngây ngô, là mộng mơ, là mật ngọt ru ngủ, rồi chuyển hóa thành giông bão, đau khổ, và cả bể khổ lẫn nguồn ơn.

  • Sự thức tỉnh (Ngộ): Điểm đắt giá nhất của thi phẩm nằm ở nửa sau, khi nhịp thơ chuyển từ sự vấn vương, hoài nghi sang sự thấu suốt. Tình không còn là sự níu kéo vô thường hay trói buộc đau thương, mà trở thành chất liệu để thấu hiểu chính mình:

    “Tình là hiểu chính lòng ta,” “Thương người mà chẳng để ta lạc mình.”

  • Câu kết mang sắc thái triết lý:

    “Ngộ ra để thoát vô minh.” Sống vô tình… trí tuệ sinh.!

Hai chữ “vô tình” ở câu cuối không phải là sự lạnh lùng hay dửng dưng với cuộc đời, mà chính là cái nhìn thấu đáo của một tâm hồn đã vượt qua chấp thủ, buông bỏ được những u mê, hờn giận và bám víu thế tục để đạt đến sự tự tại, an nhiên trong trí tuệ.

]]>
KẺ SI TÌNH…Thơ Thường Hỷ Lê Niên.nhạc Ai https://thuonghylenien.org/luu-tru/7235 Thu, 29 Oct 2026 02:30:48 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7235 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/10/ke-si-tinh.mp3 ]]> KẺ SI TÌNH… https://thuonghylenien.org/luu-tru/7233 Thu, 29 Oct 2026 02:29:13 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7233 KẺ SI TÌNH…

 

Khi gặp em bất chợt,
Ta bỗng thành ngây ngô
Lang thang bao ngõ nhỏ
Hát những lời vu vơ…

Khi cõi lòng bỏ ngỏ,
Ta thành kẻ mộng mơ
Ngày chìm trong ước vọng
Đêm mộng mị thẫn thờ.

Em hóa thành nỗi nhớ
Thời gian bỗng đợi chờ
Ước mơ và khát vọng
Em đã là nguồn thơ…

Ôi… tình yêu ác thế!
Đánh mất những thơ ngây
Để hồn ta lặng lẽ
Đi tìm nhau tháng ngày.

Từ khi em đến đó
Nắng cũng hóa dịu dàng
Con đường quen bỗng lạ
Gió cũng biết mơ màng.

Ta giấu lời muốn nói
Trong ánh mắt bâng khuâng
Sợ một ngày em biết
Lại xa vời cách ngăn.

Tình yêu là thế đấy
Vừa ngọt ngào, vừa đau
Một lần tim mở cửa
Thương nhớ đến bạc đầu.

Nếu mai này em hỏi
Vì sao ta làm thơ
Xin thưa: từ dạo ấy
Tình gõ cửa… tim chờ.

Và nếu em có biết
Kẻ ngốc nghếch là ta
Xin đừng cười em nhé
Vì yêu… ta thật thà!

Đông 2009

Thường Hỷ Lê Niên.

 

Bài thơ “Kẻ Si Tình” của tác giả Thường Hỷ Lê Niên (sáng tác mùa Đông 2009) thực sự rất đỗi ngọt ngào, mộc mạc và chân thành.

Từng câu chữ như tiếng lòng thổn thức của một người đang chìm đắm trong cơn say tình yêu. Từ cái “ngây ngô”, “lang thang ngõ nhỏ” thuở ban đầu chợt gặp, cho đến những đêm “mộng mị thẫn thờ”, tất cả vẽ nên bức chân dung kinh điển của một kẻ si tình đích thực:

Từ khi em đến đó Nắng cũng hóa dịu dàng Con đường quen bỗng lạ Gió cũng biết mơ màng.

Tình yêu qua góc nhìn của tác giả không quá lớn lao, cao siêu mà rất đỗi bình dị, biến những thứ thân thuộc hằng ngày bỗng trở nên lung linh, nên thơ lạ thường. Để rồi khép lại bằng một lời thú nhận đáng yêu và trọn vẹn: “Xin đừng cười em nhé / Vì yêu… ta thật thà!”

]]>