Sữa, cá béo và rau xanh cung cấp canxi, vitamin D, magie cùng các dưỡng chất có thể giúp phụ nữ trên 50 tuổi duy trì xương chắc khỏe.
Sau tuổi 50, phụ nữ suy giảm estrogen khiến tốc độ mất xương tăng. Lúc này, chế độ ăn cần chú ý hơn đến canxi, vitamin D, protein và các khoáng chất tham gia vào quá trình duy trì xương. Dưới đây là những thực phẩm phái đẹp nên ăn thường xuyên.
Sữa và sữa chua
Theo Eating Well, sữa và sữa chua giàu canxi, protein tốt cho xương. Protein còn giúp duy trì cơ bắp khi tuổi tác tăng lên. Cơ khỏe góp phần giữ thăng bằng và giảm nguy cơ ngã, từ đó hạn chế nguy cơ gãy xương.
Phái đẹp có thể dùng sữa trong bữa sáng hoặc bữa phụ, ăn sữa chua cùng trái cây và hạt, chọn loại ít đường nếu sử dụng thường xuyên.
Cá béo
Cá hồi, cá thu, cá mòi và cá ngừ cung cấp vitamin D, protein cùng chất béo tốt. Vitamin D thúc đẩy cơ thể hấp thu canxi từ thức ăn, trong khi protein tham gia duy trì cấu trúc xương và khối cơ. Mỗi người nên kết hợp cá với rau xanh và các món giàu canxi để bữa ăn cân đối hơn. Phái đẹp duy trì ăn 2-3 bữa cá béo mỗi tuần.

Rau xanh giàu dưỡng chất tốt cho sức khỏe xương. Ảnh: Bùi Thủy
Hạt bí ngô
Loại hạt này có magie, khoáng chất tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D và góp phần điều hòa canxi trong cơ thể. Bạn thêm hạt bí ngô vào sữa chua, salad hoặc cháo. Thực phẩm này chứa nhiều năng lượng, nên dùng một lượng vừa phải, khoảng một nắm tay, tương đương 28-30 g thay vì ăn nhiều trong ngày.
Mận khô
Mận khô có vitamin K, kali và các hợp chất thực vật hỗ trợ sức khỏe xương. Đây cũng là thực phẩm giàu chất xơ, phù hợp làm món ăn phụ thay cho bánh kẹo nhiều đường. Bạn ăn mận khô cùng sữa chua hoặc hạt vào bữa phụ.
Rau lá xanh
Rau lá xanh như cải thìa, cải xoăn, bông cải xanh và các loại rau cải cung cấp canxi, vitamin K, magie và nhiều chất dinh dưỡng khác. Vitamin K tham gia vào quá trình tạo các protein liên quan đến cấu trúc xương, trong khi canxi là khoáng chất quan trọng giúp duy trì độ cứng của xương. Mỗi người nên ăn rau xanh thường xuyên trong các bữa chính và thay đổi nhiều loại để khẩu phần đa dạng.
Bên cạnh dinh dưỡng, phụ nữ nên duy trì các hoạt động chịu sức nặng như đi bộ nhanh, leo cầu thang và tập kháng lực phù hợp với thể trạng. Đây là những yếu tố quan trọng giúp duy trì sức mạnh của xương khi tuổi tăng.
Lê Nguyễn (Tổng hợp)
]]>Người Việt ăn mặn, uống ngọt, thiếu rau quả nên tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đường, béo phì và nhiều bệnh không lây nhiễm khác.
Chia sẻ thông tin này hôm 26/9 nhân Ngày Tim mạch Thế giới, đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Việt Nam khuyến cáo người dân giảm muối, hạn chế đồ uống có đường và thực phẩm siêu chế biến, đồng thời tăng rau quả và duy trì vận động để giảm các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch.
Khuyến cáo được WHO đưa ra trong bối cảnh bệnh không lây nhiễm là nguyên nhân khoảng 80% số ca tử vong tại Việt Nam. Trong đó, chế độ ăn không lành mạnh là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng, bên cạnh ít vận động, hút thuốc lá, uống rượu bia có hại và ô nhiễm không khí.
“Thói quen đầu tiên đẩy người Việt vào nguy cơ bệnh tật là ăn mặn”, ThS.BSNT Ngô Quỳnh Trang, Khoa Dinh dưỡng lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, nói. Muối là gia vị quen thuộc trong bữa ăn của người Việt và rất dễ được sử dụng quá mức. WHO khuyến nghị người trưởng thành tiêu thụ dưới 5 g muối mỗi ngày, tuy nhiên trung bình mỗi người Việt tiêu thụ khoảng 8,1 g, cao hơn 60% mức khuyến nghị.
Khi cơ thể dung nạp quá nhiều natri, cơ thể giữ nước, làm tăng thể tích tuần hoàn máu và tăng huyết áp. Tình trạng này kéo dài tạo gánh nặng cho tim và mạch máu, góp phần tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim và suy tim.
Lượng muối trong khẩu phần hàng ngày đến từ món ăn, nước mắm, nước tương, bột canh, mì ăn liền, thịt chế biến, thức ăn nhanh và nhiều thực phẩm đóng gói. Do đó, giảm muối không chỉ bớt muối khi nấu thức ăn mà còn cần hạn chế các gia vị mặn, giảm thực phẩm chế biến sẵn và chú ý thông tin dinh dưỡng trên bao bì.
Bên cạnh đó, nhiều người Việt thích dùng đồ uống ngọt trong khi đường là một yếu tố nguy cơ cho sức khỏe. Số liệu của Cục Thống kê cho thấy tổng sản lượng tiêu thụ nhóm đồ uống có đường tại Việt Nam tăng hơn bốn lần trong 14 năm, từ 1,59 tỷ lít năm 2009 lên 6,67 tỷ lít năm 2023. Bình quân mỗi người Việt tiêu thụ gần 70 lít đồ uống có đường mỗi năm.
Một lon nước ngọt 330 ml có thể chứa khoảng 40 g đường, tương đương 10 thìa cà phê. WHO cho rằng mỗi người giảm lượng đường tự do, một ngày chỉ dùng dưới 25 g là có thể mang lại thêm lợi ích sức khỏe. Đồ uống có đường được định nghĩa bao gồm nước ngọt có ga, trà pha đường, cà phê pha sẵn, nước tăng lực và nhiều loại đồ uống đóng chai. Ăn uống ngọt thường xuyên có thể làm tăng năng lượng nạp vào, góp phần tăng cân và béo phì.

Người Việt thường dùng nước chấm trong bữa ăn. Ảnh: Bùi Thủy
Cùng với đó, thực phẩm siêu chế biến ngày càng xuất hiện nhiều trong khẩu phần. PGS.TS Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Dinh dưỡng Quốc gia, cho hay mức chi tiêu bình quân cho nhóm thực phẩm này tại Việt Nam tăng từ khoảng 2,4 triệu đồng mỗi người năm 2017 lên gần 3,1 triệu đồng năm 2024. Mì ăn liền, xúc xích, thịt chế biến, bánh snack, thức ăn nhanh và nhiều sản phẩm đóng gói ưu điểm là tiện lợi nhưng có thể chứa nhiều muối, đường, chất béo bão hòa hoặc năng lượng song ít chất xơ.
Không phải mọi thực phẩm đóng gói đều không tốt cho sức khỏe. Theo WHO, nguy cơ phụ thuộc vào thành phần, khẩu phần và tần suất sử dụng. Thường xuyên dùng thực phẩm nhiều muối, đường, chất béo thay cho thực phẩm tươi và bữa ăn cân đối, thì tổng lượng mặn ngọt đưa vào cơ thể có thể tăng.
Trong khi đó, rau quả, các loại đậu và ngũ cốc nguyên hạt là nguồn cung cấp chất xơ, vitamin và khoáng chất quan trọng. Song, ước tính cứ 10 người Việt thì 4 người không ăn đủ lượng xơ.
“Khẩu phần ăn của người Việt đang có nhiều thay đổi theo hướng bất lợi”, PGS Mai nói, thêm rằng một bữa ăn nhiều muối hay một lon nước ngọt không khiến một người lập tức mắc bệnh tim mạch hoặc đái tháo đường. Vấn đề là thói quen ăn uống này được lặp lại trong nhiều tháng năm dẫn đến lượng tích tụ ngày càng lớn ảnh hưởng sức khỏe.
Vì vậy, thay đổi hành vi cá nhân không phải giải pháp duy nhất. Khi thực phẩm nhiều muối, đường và chất béo không lành mạnh ngày càng phổ biến, người tiêu dùng cần được hỗ trợ bằng một môi trường thực phẩm thuận lợi hơn. Mới đây, WHO Việt Nam đề xuất bắt buộc ghi nhãn cảnh báo dinh dưỡng ở mặt trước bao bì đối với thực phẩm bao gói sẵn. Cơ quan y tế của Liên Hợp Quốc lập luận cách ghi nhãn này giúp người tiêu dùng nhận biết nhanh hơn những sản phẩm có hàm lượng cao muối, đường hoặc chất béo không lành mạnh. WHO đồng thời đề xuất tăng cường các biện pháp hạn chế quảng cáo thực phẩm không lành mạnh hướng tới trẻ em.
Các chuyên gia dinh dưỡng cũng khuyến nghị người tiêu dùng nên đọc bảng thành phần để lựa chọn sản phẩm lành mạnh, tốt cho sức khỏe.
Lê Nga
]]>Uống rượu bia, ăn nhiều đường, hút thuốc, không điều trị phù hợp có thể khiến gan nhiễm mỡ tiến triển, tăng nguy cơ viêm và biến chứng.
Gan nhiễm mỡ xảy ra khi lượng mỡ dư thừa tích tụ trong gan, thường được chia thành gan nhiễm mỡ do rượu và gan nhiễm mỡ không do rượu. Nếu kéo dài, một số trường hợp có thể tiến triển thành viêm gan, tổn thương tế bào gan và hình thành mô sẹo. Quá trình này có thể dẫn đến xơ hóa, xơ gan và làm tăng nguy cơ ung thư gan.
Không phải ai bị gan nhiễm mỡ cũng mắc ung thư gan. Tuy nhiên, bệnh tiến triển và tổn thương gan kéo dài có thể làm tăng nguy cơ biến chứng. Dưới đây là 5 thói quen hằng ngày có thể góp phần khiến gan nhiễm mỡ tiến triển và tăng nguy cơ tổn thương gan nếu duy trì lâu dài.
Ăn quá nhiều đường và thực phẩm siêu chế biến
Theo Times of India, một trong những thói quen gây hại cho gan là tiêu thụ nhiều đồ uống có đường và thực phẩm chế biến sẵn. Khi cơ thể nạp quá nhiều đường, đặc biệt là từ nước ngọt, trà sữa, bánh kẹo hay nước ép đóng chai, gan sẽ chuyển lượng đường dư thừa thành chất béo để dự trữ.
Theo thời gian, lượng mỡ tích tụ trong gan ngày nhiều, làm tăng nguy cơ viêm gan nhiễm mỡ, tổn thương tế bào gan. Để bảo vệ gan, mỗi người nên hạn chế đồ uống có đường, giảm ăn bánh kẹo, đồng thời ưu tiên rau xanh, trái cây tươi và ngũ cốc nguyên hạt trong khẩu phần.

Ăn thực phẩm nhiều đường không tốt cho gan. Ảnh minh họa: Lê Nguyễn
Ngồi quá lâu, ít vận động
Lối sống ít vận động là yếu tố làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ, đặc biệt ở người làm việc văn phòng. Khi ngồi nhiều giờ liên tục, cơ thể tiêu hao ít năng lượng, dễ tích tụ mỡ, giảm độ nhạy insulin. Điều này khiến chất béo dễ lắng đọng trong gan.
Ngay cả khi có tập thể dục vài buổi mỗi tuần, việc ngồi liên tục trong thời gian dài vẫn không có lợi cho sức khỏe chuyển hóa. Mỗi người nên duy trì vận động thường xuyên, đứng dậy đi lại hoặc vận động nhẹ sau khoảng 30-60 phút ngồi làm việc.
Tăng mỡ bụng nhưng không kiểm soát cân nặng
Không phải chỉ người béo phì mới mắc gan nhiễm mỡ, người có cân nặng bình thường nhưng tích tụ nhiều mỡ ở vùng bụng cũng có nguy cơ cao. Mỡ bụng có thể làm tăng kháng insulin, thúc đẩy quá trình tích tụ mỡ trong gan. Nếu tình trạng này kéo dài, gan nhiễm mỡ có thể chuyển sang giai đoạn viêm, hình thành sẹo trong gan và dẫn đến xơ gan, làm tăng nguy cơ ung thư.
Giảm cân từ từ bằng chế độ ăn hợp lý và tập luyện đều đặn có thể giảm lượng mỡ trong gan, đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh.
Uống rượu bia dù đã bị gan nhiễm mỡ
Người đã mắc bệnh gan nhiễm mỡ tiếp tục sử dụng rượu bia có thể khiến tổn thương gan tiến triển nhanh hơn. Gan phải ưu tiên chuyển hóa cồn trước các chất dinh dưỡng khác, quá trình này tạo ra các chất gây tổn thương tế bào gan, làm tăng viêm, thúc đẩy quá trình xơ hóa.
Với người bệnh gan nhiễm mỡ, hạn chế hoặc ngừng uống rượu bia là bước quan trọng để bảo vệ gan và giảm nguy cơ biến chứng, theo WebMD.
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá không chỉ gây hại cho phổi mà còn ảnh hưởng đến gan. Các chất độc trong khói thuốc làm tăng stress oxy hóa và phản ứng viêm, khiến tế bào gan dễ bị tổn thương. Điều này khiến gan dễ hình thành sẹo, xơ hóa và làm tăng nguy cơ phát triển thành ung thư gan, theo Healthline.
Một vấn đề khác là nhiều người chủ quan vì gan nhiễm mỡ thường không gây triệu chứng rõ ràng. Đến khi mệt mỏi kéo dài, đau tức vùng hạ sườn phải, vàng da hoặc men gan tăng cao thì bệnh có thể đã tiến triển.
Lê Nguyễn (Tổng hợp)
]]>
Liệu Pháp Tế Bào Gốc
Một hạt giống cây phát ra một chồi, phát triển thành thân cây. Từ cấu trúc tưởng chừng như tầm thường, không đáng chú ý này, những bộ phận phức tạp, chuyên biệt của cây dần dần phát triển – chồi, chồi bên, lá và những bông hoa tinh tế, phức tạp. Phép so sánh với thân cây khá phù hợp với cái gọi là tế bào gốc của người, động vật và thực vật khác. Tế bào gốc là một tế bào “đa năng”. Nó vẫn chưa phát triển bất kỳ đặc điểm nào cho một chức năng chuyên biệt – không giống như tế bào thần kinh (nơ-ron), ví dụ, thường có nhánh (dendrite) và sợi trục dài hơn (một phần mở rộng đặc biệt của tế bào) và được chuyên biệt hóa để truyền và nhận xung thần kinh; hoặc tế bào hồng cầu, có hình đĩa và chứa đầy hemoglobin để vận chuyển oxy. Tuy nhiên, tế bào gốc có những đặc điểm riêng biệt. Chúng có thể tự tái tạo, duy trì số lượng bằng cách phân chia để tạo ra nhiều tế bào giống mình hơn, và trong một số điều kiện nhất định, chúng có thể tạo ra nhiều loại tế bào chuyên biệt khác.
Theo một nghĩa nào đó, tế bào gốc tối thượng chính là hợp tử – một tế bào trứng đã được thụ tinh bởi tinh trùng. Nó phân chia thành hai, rồi bốn, v.v.
Ban đầu, tất cả các tế bào con của nó đều trông giống nhau, tạo thành một khối cầu giống quả mâm xôi, được gọi là phôi dâu. Các tế bào con tiếp tục nhân lên và tạo thành một khối cầu rỗng gọi là phôi nang. Quá trình phân chia tế bào vẫn tiếp diễn, nhưng giờ đây các tế bào khác nhau bắt đầu chuyên biệt hóa, khiến chúng không còn trông giống nhau và hoạt động khác nhau – một quá trình gọi là biệt hóa. Tiếp theo, trong giai đoạn phôi, hàng ngàn tế bào đang nhân lên tạo ra hàng triệu tế bào chuyên biệt, cuối cùng tạo thành hơn 200 loại mô của cơ thể. Khi các tế bào đã hoàn toàn chuyên biệt hóa, chẳng hạn như tế bào thần kinh hoặc tế bào hồng cầu, chúng thường không thể thay đổi thêm nữa, hoặc thậm chí không thể tự tái tạo bằng cách phân chia để tạo ra nhiều loại hơn. Chúng, như thể, đang ở “cuối dòng”, và chỉ có thể thực hiện các chức năng cụ thể của mình rồi chết đi. Điều này là do hầu hết các tế bào, đặc biệt là các tế bào chuyên biệt, có tuổi thọ hạn chế. Ví dụ, một tế bào hồng cầu trong máu, sống khoảng ba tháng, trong khi một tế bào niêm mạc ruột chỉ tồn tại chưa đầy một tuần, do đó cần phải tạo ra các tế bào mới để thay thế. Ví dụ, tế bào hồng cầu mới được sản xuất với tốc độ ba triệu tế bào mỗi giây. Đây chính là chức năng của tế bào gốc trong cơ thể người trưởng thành. Không giống như hợp tử ban đầu, chúng không thể hình thành bất kỳ loại tế bào hay mô nào, mà có chức năng hạn chế hơn là tạo ra một tập hợp các tế bào liên quan. Tế bào gốc tạo máu được gọi là tế bào gốc tạo máu. Chúng chủ yếu được tìm thấy trong tủy xương, và chúng liên tục phân chia, cung cấp dòng dõi cho hàng chục loại tế bào máu khác nhau trong hệ tuần hoàn – hồng cầu, tiểu cầu (giúp đông máu) và nhiều loại bạch cầu trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, giúp chống lại bệnh tật và vi khuẩn xâm nhập. Vì tế bào gốc tạo máu tồn tại trong suốt cuộc đời của một người, chứ không chỉ trong giai đoạn phôi thai, nên chúng được gọi là tế bào gốc trưởng thành (soma). Vì vậy, có hai loại tế bào gốc chính: tế bào gốc phôi và tế bào gốc trưởng thành.

TẾ BÀO GỐC CỦA CON NGƯỜI
Những tế bào gốc phôi thai đầu tiên này đều trông giống nhau. Khi chúng tiếp tục nhân lên, chúng sẽ tạo ra hàng triệu tế bào chuyên biệt, hình thành nên mọi loại mô trong cơ thể con người.
Mức độ linh hoạt của tế bào gốc, số lượng và loại tế bào chuyên biệt mà nó có thể tạo ra, được gọi là tiềm năng của nó. Tế bào trứng đã thụ tinh, và các tế bào mà nó tạo ra trong giai đoạn phát triển phôi dâu, được gọi là tế bào gốc toàn năng. Chúng có thể tạo ra tất cả các loại tế bào trong cơ thể, cùng với các tế bào và mô hỗ trợ mà phôi thai cần để phát triển, chẳng hạn như nhau thai, dây rốn, màng và dịch xung quanh trong tử cung. Tiếp theo là cái gọi là tế bào gốc đa năng, tạo ra mọi loại tế bào cơ thể, ngoại trừ các mô trong tử cung (vì vậy một tế bào gốc đa năng đơn lẻ không thể tạo ra một con người bằng cách phát triển trong tử cung). Tế bào gốc đa năng bị hạn chế hơn – chúng có thể tạo ra một loạt các tế bào liên quan, nhưng không có tế bào nào quá khác biệt. Ví dụ, tế bào gốc tạo máu tạo ra nhiều loại tế bào máu, nhưng không thể tạo ra tế bào cơ, tế bào gan, v.v. Tế bào gốc đơn năng, hay tế bào tiền thân, thậm chí còn hạn chế hơn và chỉ có thể tạo ra một loại tế bào chuyên biệt.

TIẾN TRÌNH BIỆT HÓA
Tế bào gốc toàn năng – tế bào trong trứng đã thụ tinh hoặc phôi thai giai đoạn đầu – có thể phát triển thành nhiều loại tế bào trong cơ thê, như tế bào tinh trùng, tế bào cơ, tế bào thần kinh, tế bào biểu mô, tế bào mở …
Vậy nên, tế bào gốc có nhiều loại, từ những tế bào có tiềm năng lớn nhưng ít biệt hóa, đến những tế bào rất chuyên biệt nhưng gần như không có tiềm năng. Tại sao một số dòng tế bào biệt hóa, trong khi những dòng khác vẫn là tế bào gốc? Hầu như tất cả các tế bào người đều chứa đựng, trong vật liệu di truyền hoặc DNA của chúng, toàn bộ bộ gen người – bộ gen đầy đủ gồm 20.000-25.000 gen tạo nên các chỉ dẫn để xây dựng và vận hành cơ thể người. Sự biệt hóa, hay trở nên chuyên biệt, rõ ràng không liên quan đến việc mất đi hoặc phá hủy một số gen và tạo ra hoặc nhân đôi gen khác. Tất cả các gen đều được giữ nguyên vẹn, nhưng chỉ một số nhóm gen trong toàn bộ bộ gen được “bật”. Ví dụ, trong tế bào thần kinh, các gen cần thiết để tạo ra tế bào thần kinh và khiến chúng hoạt động thì hoạt động nhưng các gen còn lại thì không; trong tế bào xương, các gen tạo ra và duy trì mô xương hoạt động, nhưng các gen khác thì không. Trong tế bào gốc, các nhóm gen chuyên biệt này không được bật, mà được giữ sẵn sàng để kích hoạt trong tương lai. Các gen hoạt động là các gen giúp tế bào tiếp tục phân chia và tạo ra các bản sao của chính nó. Chìa khóa cho việc sử dụng tế bào gốc trong y học nằm ở việc biết cách điều khiển các nhóm gen khác nhau để chúng có thể được bật và tắt khi cần thiết.
Sau vụ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản năm 1945, người ta phát hiện ra rằng việc tiếp xúc với bức xạ đã gây tổn hại đến máu và hệ miễn dịch. Các tế bào bạch cầu không được tái tạo, và số lượng tiểu cầu, cần thiết cho quá trình đông máu, đã giảm. Điều này đã dẫn đến các thí nghiệm trên chuột, truy tìm nguồn gốc của các tế bào máu mới, khỏe mạnh đến tủy xương – và đến các tế bào gốc tạo máu. Một số rối loạn y khoa cũng có thể ảnh hưởng đến các tế bào gốc tạo máu, làm gián đoạn các dây chuyền sản xuất tế bào máu mới bận rộn của chúng. Những bệnh này bao gồm thiếu máu bất sản, gây tổn thương tủy xương và các tế bào gốc tạo máu của nó, và các dạng bệnh bạch cầu khác nhau – các loại ung thư ảnh hưởng đến các tế bào bạch cầu, khiến chúng nhân lên quá nhanh hoặc không thực hiện được chức năng của mình, lấn át hoặc phá hủy các tế bào bình thường khác. Xạ trị hoặc điều trị bằng thuốc có thể tiêu diệt những tế bào bất thường này, nhưng giống như bức xạ bom nguyên tử – những phương pháp điều trị như vậy cũng tiêu diệt các tế bào gốc tạo máu cực kỳ quan trọng.
Liệu việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu có thể điều trị những vấn đề như vậy không? Nếu tủy được lấy từ xương của một người và cấy vào bệnh nhân, liệu các tế bào gốc có “tiếp nhận” và bổ sung các tế bào máu chuyên biệt của bệnh nhân không? Quy trình này, được gọi là cấy ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT), hay ghép tủy xương, được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1956 bởi Tiến sĩ E. Donnall Thomas và nhóm của ông tại Bệnh viện Mary Imogene Bassett, New York. Các đối tượng là cặp song sinh giống hệt nhau, một trong số họ mắc bệnh bạch cầu. Là cặp song sinh giống hệt nhau, vấn đề đào thải các chất được coi là lạ đối với cơ thể bị hệ thống miễn dịch của người nhận tấn công đã không xảy ra. Trên thực tế, đây là thử nghiệm thành công đầu tiên của một loại phương pháp điều trị mới được gọi là liệu pháp tế bào gốc, và vào năm 1990, Tiến sĩ Thomas đã được trao giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học cho “những khám phá liên quan đến cấy ghép nội tạng và tế bào trong điều trị bệnh ở người”.
Việc phát triển HSCT đòi hỏi phải vượt qua nhiều trở ngại, bao gồm cả sự đào thải, được khắc phục bằng một quá trình gọi là ức chế miễn dịch. Nhờ đó, ca ghép đầu tiên giữa anh chị em ruột không cùng huyết thống đã được thực hiện vào năm 1968, và giữa người hiến tặng và người nhận không cùng huyết thống nhưng phù hợp về mô vào năm 1973. Ngày nay, có một số hình thức HSCT, nhiều hình thức trong số đó liên quan đến việc truyền lại cho bệnh nhân các tế bào gốc tạo máu của chính họ, được thu thập và lưu trữ trước khi một liệu trình hóa trị hoặc xạ trị tiêu diệt các tế bào bệnh trong tủy xương. Sau đó, các tế bào gốc tạo máu được đưa trở lại tủy xương và khởi động lại quá trình sản xuất tế bào máu. HSCT từ người này sang người khác cũng tuân theo quy trình tương tự, nhưng bao gồm việc ức chế hệ miễn dịch để ngăn ngừa đào thải. Trong cả hai trường hợp, tế bào gốc tạo máu có thể được lấy từ máu của người hiến tặng bằng cách cho máu đi qua một thiết bị loại bỏ bạch cầu bằng cách quay máu rất nhanh trong máy ly tâm, nhờ đó các dịch và tế bào khác nhau được tách thành các lớp khác nhau. Tế bào gốc cũng có thể được lấy từ tủy của người hiến tặng, được rút ra bằng một cây kim rộng được đưa vào một xương lớn, thường là xương hông hoặc xương chậu. Gần đây hơn, tế bào gốc cũng được lấy từ máu dây rốn.
“Không có sự bất đồng nào giữa các nhà khoa học về nhu cầu theo đuổi [nghiên cứu tế bào gốc] một cách tích cực”
Tiến sĩ Douglas Melton, Viện Tế bào gốc Harvard

CHUYỂN GIAO NHÂN
Một tế bào gốc trưởng thành được tiêm vào trứng người đã được loại bỏ nhân. Phương pháp này tạo ra một phôi người mới, được “nhân bản”, từ đó có thể thu thập tế bào gốc.
HSCT vẫn là liệu pháp phổ biến nhất liên quan đến tế bào gốc, nhưng trong lĩnh vực y học đang phát triển nhanh chóng này, người ta hy vọng rằng tế bào gốc nói chung sẽ có nhiều ứng dụng. Nghiên cứu cách thức và lý do tế bào gốc phôi hoạt động sẽ làm sáng tỏ cách thức phôi thai người phát triển ban đầu, từ đó cung cấp thông tin chi tiết về các vấn đề bẩm sinh như tật nứt đốt sống và một số dị tật tim. Các bệnh lý nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư, phát sinh từ các tế bào nhân lên bất thường và không biệt hóa như bình thường. Một lần nữa, nghiên cứu tế bào gốc có thể giúp xác định cách thức và lý do tại sao các gen “sai” hoạt động trong các tế bào này, và từ đó dẫn đến các phương pháp điều trị. Nghiên cứu tế bào gốc cũng có thể cung cấp nhiều cách hơn để thử nghiệm các loại thuốc tiềm năng và hóa chất độc hại. Trong nhiều năm, một số loại tế bào được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm đã được khai thác để sàng lọc thuốc theo cả tác dụng mong muốn lẫn không mong muốn. Một số dòng tế bào ung thư đã được nuôi cấy theo cách này vào những năm 1950, và đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển các loại thuốc chống khối u mới. Nhiều loại tế bào gốc khác nhau đang được bổ sung vào kho vũ khí các dòng tế bào nuôi cấy này, trong đó có tế bào gốc đa năng cảm ứng (induced pluripotent stem cells, iPSCs).

TẾ BÀO GỐC THẦN KINH
Ảnh chụp dưới kính hiển vi huỳnh quang này cho thấy các tế bào gốc thần kinh di chuyển từ môi trường nuôi cấy mà chúng đang phát triển. Tế bào gốc thần kinh có thể phát triển thành tế bào thần kinh, hoặc các tế bào hỗ trợ có thể được sử dụng để thay thế các tế bào não bị tổn thương hoặc mất đi.
Như đã giải thích trước đó, một tế bào gốc đa năng trong phôi có thể tăng sinh để tạo ra bất kỳ mô nào của cơ thể, ngoại trừ những mô nằm ngoài phôi, chẳng hạn như mô nhau thai. Tế bào gốc đa năng (iPSC) thường là một tế bào trưởng thành, chuyên biệt được lấy từ cơ thể người trưởng thành. Khi được tiếp xúc với một số điều kiện và chất nhất định trong phòng thí nghiệm, nó được thúc đẩy thoái hóa về trạng thái đa năng, như thể nó đang ở giai đoạn phôi thai sớm. Tế bào gốc đa năng (iPSC) ở người lần đầu tiên được tạo ra vào năm 2007 bằng cách xử lý hoặc “tái lập trình” các tế bào trưởng thành gọi là nguyên bào sợi, tạo ra nhiều thành phần cấu trúc, bao gồm các protein dạng sợi như collagen cho các mô liên kết của cơ thể. Năm 2012, bác sĩ và nhà nghiên cứu người Nhật Bản Shinya Yamanaka và nhà nghiên cứu tế bào gốc người Anh John Gurdon đã được trao giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học “cho khám phá rằng các tế bào trưởng thành có thể được tái lập trình để trở thành đa năng”. Cũng trong năm 2012, tế bào gốc đa năng (iPSC) được tạo ra từ các tế bào bong ra từ lớp niêm mạc bên trong của thận. Thay vì kim tiêm, dao mổ hoặc các kỹ thuật xâm lấn tương tự, tất cả những gì cần thiết chỉ là một mẫu nước tiểu.
Điểm thú vị của iPSC là chúng có thể được điều khiển trong phòng thí nghiệm để bắt đầu phát triển thành các tế bào chuyên biệt, tương tự như tế bào gốc phôi. Các tế bào có thể được kích thích để hình thành các loại tế bào và mô cụ thể cần thiết cho việc điều trị bệnh ở bệnh nhân, chủ sở hữu của các tế bào gốc ban đầu. Nếu các tế bào và mô chuyên biệt đến từ tế bào gốc phôi được cấy ghép từ người khác, chúng có thể bị đào thải vì phôi sẽ thuộc về một cá thể khác về mặt di truyền. Giải pháp là sử dụng các tế bào trưởng thành chuyên biệt từ bệnh nhân, khiến chúng trở lại trạng thái tế bào gốc giống phôi dưới dạng iPSC, sau đó kích thích chúng phát triển thành các tế bào hoặc mô cần thiết cho quá trình điều trị của bệnh nhân và đưa chúng trở lại cơ thể bệnh nhân.

TRỮ LẠNH
Tế bào gốc, vốn hứa hẹn mang đến những liệu pháp tế bào mới cho các bệnh lý nguy kịch, có thể được lưu trữ cho đến khi cần thiết. Việc này được thực hiện bằng cách ngâm chúng trong nitơ lỏng để đông lạnh.
Tế bào gốc tạo máu không phải là loại tế bào gốc trưởng thành duy nhất. Đến những năm 1960, tế bào gốc trung mô (tế bào gốc trưởng thành từ tủy xương) đã được xác định. Chúng có thể tạo ra xương, sụn, mỡ và nhiều loại mô khác. Kể từ đó, nhiều loại tế bào gốc trưởng thành khác đã được phát hiện, mỗi loại có khả năng nhân lên để tự thay thế và tạo ra các dòng có thể trở thành các tế bào chuyên biệt. Các tế bào gốc này đã được tìm thấy trong da, mạch máu, cơ, tim, răng, ruột, gan, buồng trứng và tinh hoàn. Ngay cả não người trưởng thành, với các tế bào thần kinh chuyên biệt cao, hiện nay cũng được biết là nơi chứa các tế bào gốc có thể tạo ra ba loại tế bào chính trong các mô của nó. Nhiều tế bào gốc trưởng thành vẫn ở trạng thái ngủ đông cho đến khi chúng cần thiết để phân chia và bổ sung tế bào, cả trong quá trình tái tạo tế bào bình thường và trong trường hợp bị thương hoặc bệnh tật. Giống như iPSC, tế bào gốc trưởng thành dường như là ứng cử viên tuyệt vời cho liệu pháp tế bào gốc, nhưng chúng có số lượng nhỏ, khó nhân lên bên ngoài môi trường tự nhiên của chúng và việc biệt hóa chúng theo thứ tự là một vấn đề. Tuy nhiên, có những dấu hiệu khả quan về tiến triển ban đầu trong phương pháp điều trị bằng tế bào gốc trưởng thành đối với vết bỏng da và tổn thương giác mạc (cửa sổ hình vòm ở phía trước mắt).
Liệu công nghệ tế bào gốc có dẫn đến việc tạo ra “phụ tùng thay thế” và thậm chí là toàn bộ nội tạng để cấy ghép? Vẫn còn một chặng đường dài trước khi bệnh nhân có thể hiến tặng một vài tế bào để nuôi cấy thành tim, gan, mắt hoặc miếng vá mới cho tủy sống, nhưng công nghệ này đã được sử dụng để tạo sụn, ví dụ như cho phẫu thuật đầu gối. Cũng có những câu hỏi về mặt pháp lý và đạo đức, chẳng hạn như ai, nếu có, nên kiểm soát các bằng sáng chế cho việc thao tác tế bào gốc. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị liên quan đến iPSC và tế bào gốc trưởng thành hiện đang được đề xuất cho hàng trăm tình trạng bệnh, bao gồm bệnh Alzheimer, hói đầu, một số bệnh ung thư, bại não, bệnh celiac, khiếm khuyết về thính giác và thị giác, tiểu đường tuýp 1, suy tim, vô sinh, bệnh Parkinson, viêm khớp dạng thấp, chấn thương tủy sống, đột quỵ, bệnh lupus ban đỏ hệ thống và sâu răng – một danh sách dài dằng dặc nhưng đã đại diện cho một cuộc cách mạng trong điều trị y tế.
Nhân Phẩm và Cái Chết
Cái chết của một con người là điều không thể tránh khỏi. Nó thường mang màu sắc buồn bã, và đôi khi bi kịch. Nếu nó xảy ra trong hệ thống chăm sóc y tế, nó cũng có thể phức tạp. Tuy nhiên, ý nghĩa thường nhật, khái niệm triết học và định nghĩa khoa học về cái chết đã thay đổi theo thời gian và khác nhau tùy theo từng nơi.
Chẳng hạn, các tín ngưỡng tôn giáo thường kết hợp khái niệm về thế giới bên kia, coi cái chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp giữa thế giới này và thế giới bên kia. Theo quan niệm này, linh hồn bất tử mang hình dạng con người khi sinh ra, và khi chết, nó di chuyển về phía trước, và có thể lên cao hoặc xuống thấp, tùy thuộc vào hành vi của nó trên Trái Đất. Người Ai Cập cổ đại coi cái chết là một trạng thái tạm thời trước khi tái sinh. Người chết trước tiên bước vào cõi âm đáng sợ, nơi dưới sự giám sát của thần Osiris, người đó được đánh giá bởi một hội đồng giám khảo gồm 42 thành viên, có lẽ được hỗ trợ bởi Anubis, vị thần đầu chó rừng quản lý việc ướp xác và thế giới bên kia. Trong một nghi lễ gọi là “cân trái tim”, một bộ cân sẽ cân trái tim của người chết so với một chiếc lông vũ, biểu tượng công lý và chân lý của nữ thần Maat. Nếu cân cho thấy điều thiện thắng thế, người chết sẽ được đưa đến Cánh đồng Lau Sậy – thiên đường của hạnh phúc vĩnh cửu. Tuy nhiên, nếu tội lỗi chiếm ưu thế, trái tim sẽ được dâng cho Ammit, Thần Ăn Thịt Người Chết, và phần còn lại của cơ thể sẽ được giao cho Seth, vị thần của sự diệt vong, u ám, bóng tối, hỗn loạn.

CÂN TRÁI TIM
Thần Anubis đầu chó rừng đang cân trái tim của một người chết trên một chiếc cân ở địa ngục Ai Cập. Ammit, Thần Ăn Thịt Người Chết, chờ đợi bên dưới chiếc cân, trong khi Osiris (phải) đưa ra phán quyết.
Quan niệm cho rằng trái tim là cốt lõi của cuộc sống con người đã có từ trước thời Ai Cập cổ đại, và thịnh hành trong suốt thời cổ đại, đến thời Trung cổ và sau đó. Vào thế kỷ XI, nhà triết học kiêm thầy thuốc người Ả Rập Ibn Sina đã mô tả linh hồn tác động thông qua trái tim để điều hòa các “tinh khí” của cơ thể, bao gồm tinh khí cảm giác, tinh khí sinh dưỡng và tinh khí thể chất. Việc thở đều đặn cũng được coi là cần thiết cho sự sống, và khi hơi thở hoặc hoạt động của tim ngừng lại, người đó được tuyên bố là đã chết. Những tiêu chí này làm căn cứ đánh giá thời điểm tử vong đã thịnh hành trong y học khoa học cho đến đầu những năm 1920, nhưng ngay từ thế kỷ 12, học giả, giáo viên và y sĩ người Do Thái Musa ibn Maymun (còn được gọi là Maimonides) đã đề xuất rằng có một yếu tố khác cần được xem xét. Ông lưu ý rằng khi một người bị chặt đầu, tim và phổi vẫn hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng sẽ là sai lầm nếu nói rằng họ vẫn còn sống. Báo trước khái niệm “chết não” xuất hiện khoảng tám thế kỷ sau đó, ông cho rằng cơ chế điều khiển vận động trung tâm đã bị loại bỏ, và điều này đồng nghĩa với cái chết.
“Ranh giới phân chia Sự sống và Cái chết suy cho cùng chỉ là mờ mịt và mơ hồ”
EDGAR ALLEN POE
Vào cuối thời Trung Cổ, và cho đến tận thế kỷ 19, quan niệm cho rằng tim bạn có thể ngừng đập và không còn thở, nhưng bạn vẫn còn sống, đã trở nên phổ biến khi xuất hiện những câu chuyện về những người bị cho là đã chết và bị chôn sống, rồi sau đó sống lại. Trường hợp chẩn đoán sai lầm nghiêm trọng nhất này đã trở thành chủ đề chính của tiểu thuyết kinh dị và những câu chuyện được cho là có thật. Năm 1844, tác giả người Mỹ Edgar Allen Poe xuất bản cuốn The Premature Burial (Chôn cất Sớm), trong đó nhân vật chính bị ám ảnh bởi việc thức dậy sau khi bị chôn nhầm trong lúc bất tỉnh vì chứng cứng đơ. Truyện ngắn này đã khơi dậy nỗi sợ hãi đương thời và dẫn đến việc các quan tài và hầm mộ an toàn được trang bị tín hiệu hoặc thiết bị để người chết có thể cảnh báo thế giới bên ngoài. Trong một số thiết kế, “xác chết” xui xẻo kéo một sợi dây buộc vào chuông hoặc cờ.
Năm 1952, một trận dịch bại liệt hoành hành Đan Mạch. Một số bệnh nhân bị ảnh hưởng nặng nề đến mức cơ hô hấp bị liệt và tử vong do ngạt thở. Trong nỗ lực cứu sống bệnh nhân, bác sĩ gây mê người Đan Mạch Bjorn Ibsen đã cải tiến thiết bị thở máy “phổi sắt” hiện có. Thiết bị này cho phép bệnh nhân tiếp xúc với áp suất không khí âm để kích thích hô hấp, nhưng Ibsen đã chuyển áp suất không khí sang dương, đưa không khí vào phổi bệnh nhân với sự hỗ trợ của thuốc natri thiopental. Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân được điều trị bằng thiết bị này đã giảm từ hơn 80% xuống còn dưới 20%, và Ibsen tiếp tục thành lập đơn vị chăm sóc đặc biệt chuyên khoa nội và ngoại đầu tiên trên thế giới .
Công trình của ông cũng được sử dụng để giúp đỡ những bệnh nhân bị tổn thương não nghiêm trọng đến mức không thở được. Các bác sĩ nghiên cứu những bệnh nhân hôn mê như vậy bao gồm Pierre Mollaret và Marcel Goulon tại Bệnh viện Claude Bernard, Paris. Hôn mê thường được định nghĩa là một trạng thái bất tỉnh, kéo dài vài giờ hoặc hơn, đến mức không thể đánh thức được. Năm 1959, Mollaret và Goulon đã nghĩ ra thuật ngữ le coma dépassé, hay “hôn mê không thể cứu chữa”, để mô tả tình trạng bất tỉnh sâu kết hợp với rất ít hoặc không có dấu hiệu hoạt động điện trong não. Trong trạng thái hôn mê không thể cứu chữa, tim có thể đập hoặc ngừng đập, sau đó được khởi động lại bằng máy khử rung tim và phổi có thể thở, nhưng não không có hy vọng phục hồi. Trạng thái lấp lửng giữa sự sống và cái chết này, trong đó tim và phổi hoạt động, nhưng não thì không, được gọi là “chết não”, một trạng thái mà nhờ vào hệ thống hỗ trợ sự sống được cải tiến, cơ thể có thể duy trì hoạt động trong nhiều giờ, nhiều ngày, hoặc thậm chí nhiều tuần.
Các nghiên cứu sâu hơn về bệnh nhân giai đoạn cuối đã dẫn đến việc triệu tập một ủy ban đặc biệt để xem xét định nghĩa về cái chết tại Trường Y Harvard, Massachusetts, vào năm 1968. Báo cáo của ủy ban không chỉ thảo luận về cái chết mà còn về vấn đề tế nhị liên quan đến hiến tạng. Bình luận về tình trạng hôn mê không hồi phục, được khuyến nghị là dấu hiệu của cái chết, Chủ tịch Henry Beecher nói thêm: “Liệu xã hội có thể chấp nhận việc loại bỏ các mô và nội tạng của bệnh nhân bất tỉnh hoàn toàn để chúng có thể được sử dụng để phục hồi một cá nhân vốn đã vô vọng nhưng vẫn còn có thể cứu chữa hay không?.. .
. Tốt nhất nên chọn lựa một mức độ tại đó mặc dù não đã chết, nhưng các cơ quan khác vẫn còn hữu ích.”
Điều này đã thay đổi tiêu chuẩn tử vong do các triệu chứng tim mạch và hô hấp (có nghĩa là thiếu tuần hoàn hoặc hô hấp) thành các triệu chứng dựa trên sự không hoạt động của não và hệ thần kinh.

PHỔI SẮT
Máy thở cơ học này được cải tiến vào những năm 1950 để cung cấp áp lực dương giúp bệnh nhân bị tổn thương não thở được Sau đó, nó được cải tiến để trở thành máy hỗ trợ sự sống đầu tiên.
Năm 1970, Kansas trở thành tiểu bang đầu tiên của Hoa Kỳ đưa chết não vào định nghĩa pháp lý. Tại châu Âu, Phần Lan tiếp bước vào năm 1971. Trong vòng vài thập kỷ, hầu hết các quốc gia có hệ thống chăm sóc y tế tiên tiến thường xuyên sử dụng các tiêu chí dựa trên não để tuyên bố một người đã chính thức chết, tại thời điểm đó, việc “thu hoạch” mô và nội tạng để cấy ghép có thể bắt đầu. Tiêu chí chết não khác nhau tùy theo quốc gia, nhưng chúng có thể bao gồm hôn mê không hồi phục, thiếu một số phản xạ nhất định xuất phát từ thân não (xem bên dưới), vắng mặt của hô hấp không được hỗ trợ hoặc cử động phản xạ, và thiếu hoạt động điện đáng kể thể hiện trên điện não đồ. Nguyên nhân của tất cả các đặc điểm này cũng được xem xét và được kiểm tra lại sau một khoảng thời gian phù hợp. Phải có ít nhất hai bác sĩ có trình độ chuyên môn tham gia và phải có sự đồng ý của điều dưỡng và nhân viên hỗ trợ.
Y học hiếm khi được khẳng định dứt khoát. Ngay cả khi các cơ quan khác vẫn hoạt động nhờ sự hỗ trợ của máy móc, một bộ não đã chết vẫn có thể được coi là dấu hiệu ra đi của một cá nhân, nhưng đó là phần nào của não? Toàn bộ não, thân não, hay phần não cao hơn (tân vỏ não)? Các dấu hiệu truyền thống của sự sống bao gồm tự thở, phản ứng với các kích thích như lời nói hoặc cơn đau, và các phản xạ tự động, chẳng hạn như đồng tử mắt co lại khi gặp ánh sáng mạnh. Những dấu hiệu này cho thấy một số phần của não đang hoạt động, và sự vắng mặt của chúng, cùng với việc thiếu hoạt động điện não, có thể được coi là bằng chứng của tình trạng chết toàn bộ não. Các trung tâm duy trì hơi thở, nhịp tim và các chức năng cơ bản khác nằm ở thân não, phần thấp nhất của não, ngay phía trên tủy sống trên. Vùng này cũng chịu trách nhiệm về ý thức, giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể và huyết áp, và điều phối các hành động như nuốt, ho, hắt hơi và chuyển động nhãn cầu. Khi thân não không hoạt động, nhiều hoặc tất cả các chức năng quan trọng này sẽ ngừng hoạt động. Tân vỏ não, hay phần não cao hơn, bao gồm các vòm lớn, nhăn nheo quen thuộc ở phía trên, tức là bán cầu não. Đây là nơi diễn ra hầu hết các cảm giác và hoạt động tinh thần. Nếu phần não cao hơn ngừng hoạt động, các phần dưới như thân não vẫn có thể tiếp tục cung cấp hơi thở, nhịp tim và duy trì sự sống cho các cơ quan nhưng ý thức, tính cách và các thuộc tính khác giúp cơ thể con người trở thành một cá nhân sẽ ngừng hoạt động.
Khi y học áp dụng khái niệm chết não, những vùng mờ nhạt hơn giữa sự sống và cái chết đã được xác định. Những vùng này bao gồm trạng thái thực vật dai dẳng, một thuật ngữ được giới thiệu vào năm 1972 bởi bác sĩ thần kinh người Mỹ Fred Plum và bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Scotland Bryan Jennet để mô tả trạng thái lai giữa ý thức hoàn toàn và hôn mê. Bệnh nhân ở trạng thái này không hoàn toàn bất động và không phản ứng; họ có thể thực hiện các hành động phản xạ, chẳng hạn như ngủ và thức, nắm tay hoặc đồ vật của người khác và cử động khuôn mặt, nhưng họ vẫn không nhận thức được môi trường xung quanh và các cảm giác cơ thể. Nếu tình trạng này kéo dài hơn một số tháng nhất định, người đó được cho là ở trạng thái thực vật vĩnh viễn. Một trạng thái lấp lửng khác, được xác định vào năm 1966, là hội chứng khóa trong (LIS), cũng được Fred Plum, cùng với bác sĩ thần kinh người Mỹ Jerome Posner, một chuyên gia khác về suy giảm ý thức, xác định. Trong tình trạng này, bệnh nhân có thể tiếp nhận và đồng hóa các kích thích như âm thanh, hình ảnh, mùi vị và xúc giác, nhưng bị liệt cơ lan rộng và không thể nói hoặc thực hiện bất kỳ cử động nào, ngoại trừ nhãn cầu hoặc mí mắt. Posner tóm tắt: “Trong trạng thái khóa trong, bệnh nhân trông có vẻ bất tỉnh nhưng thực ra vẫn tỉnh táo.”
SỐ NĂM TÌNH TRẠNG HÔN MÊ KÉO DÀI NHẤT TỪNG ĐƯỢC GHI NHẬN
42
Fred Plum là một trong những người ủng hộ sớm nhất cho “di chúc sống” do luật sư người Mỹ Louis Kutner đề xuất năm 1969. Đây là một văn bản do một người vẫn còn minh mẫn biên soạn để hướng dẫn cách điều trị nếu sau này họ không còn đủ sáng suốt để đưa ra những quyết định quan trọng về sức khỏe. Điều này dẫn đến một lĩnh vực pháp lý y khoa cực kỳ phức tạp khác đối với bác sĩ và bệnh nhân: việc mong muốn được chết, chất lượng cuộc sống và duy trì phẩm giá, việc được phép chết, thông báo DNR (không hồi sức) và AND (cho phép chết tự nhiên), nguyện vọng ngừng điều trị hoặc dinh dưỡng, mong muốn của bạn đời và người thân, muốn tự tử được hỗ trợ, khi nào nên ngừng hỗ trợ sự sống, an tử, và khả năng hiến tặng mô và nội tạng. Ở đây, các cân nhắc lâm sàng ngày càng trở nên phức tạp với các vấn đề đạo đức, pháp lý và tôn giáo. Hiện tại, an tử tự nguyện chỉ hợp pháp ở Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Canada và Colombia với các tiêu chí cụ thể, và tự tử được hỗ trợ chỉ được phép ở Thụy Sĩ và một số tiểu bang của Hoa Kỳ. Ở hầu hết các quốc gia, câu hỏi ai sẽ có thẩm quyền đưa ra những quyết định sống còn như vậy là một phần của cuộc tranh luận đang diễn ra và chưa có dấu hiệu nào cho thấy sẽ được giải quyết.

GIỮ SỰ SỐNG CỦA BỆNH NHÂN
Trong một số ca phẫu thuật, chẳng hạn như phẫu thuật tim hở, tim phải ngừng đập. Để duy trì sự sống cho bệnh nhân, một máy tim phổi nhân tạo được sử dụng. Thường được gọi là “máy bơm”, máy này thực hiện chức năng của tim và phổi trong suốt ca phẫu thuật.
Y Học Trong Thiên Niên Kỷ Thứ Ba
Nhìn lại quá khứ cho thấy việc dự đoán những thách thức trong tương lai khó khăn như thế nào. Vào giữa thế kỷ 20, không ai biết đến Ebola (phát hiện năm 1976), vi khuẩn Helicobacter pylori gây loét tiêu hóa (năm 1982), HIV/AIDS (năm 1983) hay SARS (năm 2002). Cho đến năm 1977, bệnh Alzheimer là một chẩn đoán dành riêng cho chứng mất trí nhớ khởi phát sớm và là một thuật ngữ xa lạ với hầu hết công chúng. Thụ tinh trong ống nghiệm (thành lập năm 1978) chỉ là một tia sáng trong mắt một số nhà nghiên cứu. Khi máy quét chưa ra đời (năm 1958), phương pháp chụp ảnh cơ thể duy nhất là chụp X-quang tiêu chuẩn. Ghép thận vừa mới bắt đầu (năm 1950) và thuốc kháng sinh được kê đơn mà hầu như không quan tâm đến khả năng vi khuẩn có thể phát triển khả năng kháng thuốc. Điều gì sẽ xảy ra, dù tốt hay xấu, trong một thế kỷ nữa?
Trong số những “quả bom hẹn giờ” của y học là tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng. Kháng sinh không chỉ cách mạng hóa việc điều trị các bệnh truyền nhiễm mà còn cả phẫu thuật và các lĩnh vực y học khác. Tuy nhiên, vi khuẩn đã thích nghi quá nhanh đến nỗi chỉ trong vòng ba năm sau khi “kháng sinh thiết kế” đầu tiên, methicillin, được giới thiệu vào năm 1959, MRSA (tụ cầu vàng kháng methicillin) đã xuất hiện. Hàng chục chủng vi khuẩn mới khác kể từ đó đã gia nhập hàng ngũ siêu vi khuẩn. Tại châu Âu, số lượng các chủng Neisseria gonorrhoeae – nguyên nhân gây bệnh lậu lây truyền qua đường tình dục – kháng với loại kháng sinh chính được sử dụng để điều trị đã tăng gấp đôi từ năm 2009 đến năm 2010. C. diff (Clostridium difficile), một loại vi khuẩn trong ruột gây tiêu chảy, là một loại vi khuẩn đang trỗi dậy, với các chủng kháng kháng sinh fluoroquinolone xuất hiện vào giữa những năm 2000.

BÙNG PHÁT BỆNH CÚM Một người đi làm ở Tokyo, Nhật Bản, đeo khẩu trang phẫu thuật để bảo vệ bản thân khỏi bị nhiễm trùng trong đợt bùng phát dịch cúm.
Các chủng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng đang xuất hiện ngày càng thường xuyên trên toàn cầu, một thảm họa, bởi vì kháng sinh đã được tích hợp hoàn toàn vào tất cả các hệ thống y tế của chúng ta. Thao túng gen, kỹ thuật di truyền, và việc tạo ra GMO (sinh vật biến đổi gen) cho nông nghiệp, chăn nuôi, và thậm chí cả việc phân tán dầu loang, là một nguồn tiềm năng khác của các vi khuẩn gây hại mới. Những câu chuyện đáng sợ về “siêu vi khuẩn” nhân tạo kháng mọi loại kháng sinh hoặc thuốc đã biết đôi khi xuất hiện trên báo chí.
Giải quyết mối nguy hiểm nghèo của tình trạng kháng kháng sinh đòi hỏi phải hành động trên nhiều mặt trận. Năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố Chiến lược Toàn cầu về Ngăn chặn Kháng thuốc, trong đó nêu rõ: “Nhiều quốc gia đã bày tỏ mối quan ngại ngày càng tăng về vấn đề kháng thuốc. Mặc dù có rất nhiều tài liệu nhưng hiếm thấy một cách đáng lo ngại về chi phí thực sự dành cho việc chống lại kháng thuốc và hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Do thiếu dữ liệu, cần phải hành động ngay bây giờ để ngăn chặn thảm họa trong tương lai.” Việc phát minh ra các loại kháng sinh mới, mạnh hơn có vẻ là câu trả lời hiển nhiên, nhưng việc phát triển bất kỳ loại thuốc mới nào cũng là một nhiệm vụ vô cùng to lớn. Trong tương lai gần, tổng chi phí ước tính để sản xuất kháng sinh mới – sau khi điều chỉnh để bao gồm cả các trường hợp thất bại – đang lên tới gần 5 tỷ đô la, và một số ước tính còn gấp đôi con số này. Ngay cả khi chiến lược này thành công trong ngắn hạn, nó cũng chỉ trì hoãn điều không thể tránh khỏi khi vi khuẩn thích nghi và trở nên kháng thuốc với các loại kháng sinh mới. Các bác sĩ thường xuyên nhận được hướng dẫn kê đơn mới có tính đến sự gia tăng của tình trạng kháng thuốc kháng sinh, và WHO nhấn mạnh rằng việc giáo dục bệnh nhân tốt hơn là rất quan trọng cho tương lai. Hãy dùng kháng sinh hoặc các loại thuốc khác đúng theo chỉ định; không bỏ liều; hãy hoàn thành liệu trình ngay cả khi bạn đã cảm thấy khỏe hơn; không chia sẻ đơn thuốc hoặc giữ lại thuốc thừa cho lần sau; quan trọng nhất là không đòi uống thuốc khi bác sĩ nói là không cần thiết; và tuân thủ các biện pháp vệ sinh và phòng ngừa tốt nhất như rửa tay, chuẩn bị thức ăn cẩn thận, sử dụng màn chống côn trùng và thuốc xua đuổi côn trùng. Lời khuyên cơ bản này đã tồn tại cùng chúng ta nửa thế kỷ, nhưng bằng cách nào đó, nó vẫn chưa thực sự ăn sâu vào tiềm thức.
Công nghệ thông tin và mạng lưới truyền thông được phát triển trong vài thập kỷ qua tiếp tục mang lại những thay đổi to lớn trong việc ra quyết định y tế. Y học dựa trên bằng chứng, hay EBM, đánh giá một cách có hệ thống các nghiên cứu lâm sàng hiện có và sử dụng chúng để hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ chăm sóc tối ưu cho bệnh nhân. Bằng chứng đến từ kinh nghiệm cá nhân của bác sĩ lâm sàng và đồng nghiệp, từ lý luận và trực giác sáng suốt, và đặc biệt là từ thông tin được công bố trong các cơ sở dữ liệu y tế và lâm sàng. Các cơ sở dữ liệu này chứa rất nhiều dữ liệu về nghiên cứu, thử nghiệm, chẩn đoán, điều trị và kết quả, và chúng liên tục được mở rộng và cập nhật để cung cấp thông tin mới nhất. EBM giúp các bác sĩ cân nhắc rủi ro và lợi ích dựa trên bối cảnh khoa học vững chắc, sau đó đề xuất hành động phù hợp nhất cho bệnh nhân. Y học dựa trên bằng chứng (EBM) không chỉ tích hợp các số liệu thống kê về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong, là những chỉ số tương đối dễ định lượng, mà còn bao gồm các thước đo phức tạp hơn, chẳng hạn như chất lượng cuộc sống. Nguyên tắc cơ bản là điều trị bệnh nhân khi có bằng chứng về lợi ích, và không điều trị khi không có bằng chứng nào như vậy.

DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM
Công nhân đóng gói thuốc tại một dây chuyền sản xuất dược phẩm ở Trung Quốc – thị trường thuốc theo toa lớn thứ ba thế giới.
Về phần cứng công nghệ cao trong tương lai, điện thoại di động “thông minh” – thiết bị phổ biến nhất – được dự đoán sẽ đóng vai trò chủ đạo. Từ năm 2012, các ứng dụng ghi lại nhịp tim và nhịp điệu (điện tâm đồ đơn giản) đã xuất hiện và gửi dữ liệu đến trung tâm y tế để chuyên gia đánh giá. Việc sử dụng điện thoại thông minh trong y tế dự kiến sẽ tăng theo cấp số nhân trong những thập kỷ tới, với các cảm biến và ứng dụng được thiết kế để phân tích hơi thở, huyết áp và độ bão hòa oxy, chụp ảnh các bệnh ung thư da tiềm ẩn, và – bằng cách phân tích chi tiết âm thanh giọng nói – thậm chí cảnh báo người dùng về các bệnh lý như Parkinson, bệnh thần kinh vận động và Alzheimer. Tuy nhiên, những tiến bộ lớn nhất được kỳ vọng sẽ đến từ khoa học công nghệ nano, một lĩnh vực đang sẵn sàng biến đổi nhiều lĩnh vực y học. Cấp độ “nano” nhỏ hơn đáng kể so với cấp độ “micro” của tế bào cơ thể, và xử lý các phân tử riêng lẻ, thậm chí cả nguyên tử, ở quy mô phần nghìn milimét. Trong thế giới y học nano mới mẻ và kỳ diệu, các hạt nano “chấm lượng tử” đang được thiết kế để có thể được hấp thụ bởi các mô cụ thể, chẳng hạn như mô khối u, và sau đó hiển thị rõ nét với độ chi tiết đáng kinh ngạc trên hình ảnh quét được điều chỉnh theo bước sóng của chúng. Các viên nang nano cũng đã được sản xuất với lớp phủ có thể phân hủy để giải phóng thuốc bên trong khi chúng đến được môi trường thích hợp bên trong bộ phận cơ thể bị tổn thương. Một ngày nào đó, chúng ta có thể thiết kế các vỏ nano có khả năng định vị tại các vị trí cụ thể bên trong cơ thể, nơi chúng được kích hoạt bằng sóng được điều chỉnh đặc biệt để tạo ra các lỗ rỗng trên vỏ, cho phép chúng hấp thụ các chất gây hại và thải bỏ an toàn. Có lẽ đỉnh cao của công nghệ này sẽ là việc tạo ra các nanobot (robot nano) có thể thực hiện các hành động cơ học đơn giản như tái tạo mô bị tổn thương và loại bỏ các mô mỡ.
Kỹ thuật mô tồn tại ở ranh giới giữa sự sống và vật chất vô tri. Các tế bào sống và vật liệu nhân tạo thân thiện với sinh học được kết hợp với nhau để tạo ra các mô mới, thậm chí là toàn bộ các cơ quan mới. Các tế bào phản ứng với nhiều đặc điểm trong môi trường của chúng – không chỉ nhiệt độ, hóa chất và nồng độ dinh dưỡng, mà còn cả các yếu tố vật lý, chẳng hạn như tiếp xúc với nhau và với một bề mặt hoặc khung hình phù hợp. Sự kết hợp của các điều kiện hóa học và vật lý thuận lợi, các yếu tố tăng trưởng và hormone cụ thể, cùng với một khung sinh học phù hợp để chúng có thể bò và tạo thành các lớp và hoa văn, cho phép chúng nhân lên và phát triển theo hướng mong muốn, thành một hoặc nhiều mô với kiến trúc 3D, hoặc thậm chí là một cơ quan hoàn toàn mới.
NĂM CẤY GHÉP CƠ QUAN TỪ TẾ BÀO GỐC ĐẦU TIÊN
2011
Bệnh nhân cần cấy ghép chờ đợi mỏi mòn vì thiếu người hiến tặng nội tạng, vì vậy kỹ thuật nội tạng có thể lấp đầy khoảng trống này, đặc biệt là sử dụng tế bào gốc đa năng (iPSC) được kích hoạt. Nghiên cứu về các lớp tế bào phôi tạo nên một cơ quan phức tạp như mắt cho thấy nếu được xử lý đúng cách, tế bào sẽ biết phải làm gì: chúng nhân lên, di chuyển, chuyên biệt hóa, biệt hóa và tự sắp xếp. Có lẽ iPSC có thể được nuôi cấy trên các giá thể sinh học để phát triển thành các cơ quan hoàn chỉnh như thận, gan và tim, sau đó được đưa trở lại cơ thể ban đầu, nhờ đó tránh được vấn đề đào thải gặp phải trong quá trình cấy ghép từ người hiến tặng.
Một công nghệ đang phát triển khác là in 3D. Kỹ thuật này hiện đang được các kỹ sư sử dụng để tạo mô hình 3D, nguyên mẫu, cấy ghép tùy chỉnh – ví dụ như xương bánh chè – và các bộ phận giả, nhưng một ngày nào đó nó có thể được ứng dụng để in tế bào sống thay vì vật liệu composite vô cơ. Các lớp tế bào được định hình có thể được tích hợp vào các mô, cuối cùng có thể hình thành nên một cơ quan hoàn chỉnh. Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu khả năng tạo hình các lớp tế bào trên vết bỏng hoặc vết thương để thúc đẩy quá trình lành vết thương nhanh hơn. Một ngày nào đó, thậm chí có thể tiếp cận bên trong cơ thể bằng một ống nội soi có thể in các lớp tế bào từ đầu ống để tạo ra các mô tại chỗ.
Các ranh giới tiến bộ khác ít quan tâm đến công nghệ mới mà quan tâm đến việc mở rộng các hoạt động y tế đã được thiết lập. Ví dụ, nghiên cứu về tiêm chủng đang nghiên cứu vắc-xin chống sốt rét, HIV và các bệnh khác, trong khi nhân bản vô tính có thể có những ứng dụng hữu ích hơn bao giờ hết. Một tiến bộ lớn khác là lập hồ sơ di truyền, có thể dẫn đến y học cá nhân hóa. Ví dụ, bộ gen của một cá nhân có thể được xác định là mang một chuỗi gen khiến họ dễ mắc một loại ung thư cụ thể – thông tin cho phép người đó thực hiện các biện pháp phòng ngừa, chẳng hạn như thay đổi chế độ ăn uống hoặc tránh tiếp xúc với các chất gây ung thư cụ thể (các chất kích hoạt ung thư). Nếu khối u ác tính xuất hiện, thuốc chống ung thư được biết là hiệu quả nhất trong những tình huống như vậy có thể được kê đơn. Công nghệ siêu âm cũng đã được điều chỉnh để thực hiện phẫu thuật, thay vì chỉ để chẩn đoán. Sóng âm được tập trung vào một mục tiêu cụ thể và được sử dụng để phá vỡ hoặc phá hủy các mô như khối u. Không cần phải rạch da; sóng đến từ bên ngoài cơ thể và được điều chỉnh để hội tụ với công suất tối đa tại một điểm chính xác. Được gọi là HIFU (siêu âm hội tụ cường độ cao). đây là một trong số nhiều lĩnh vực đang khám phá việc sử dụng năng lượng tập trung để thay thế phẫu thuật truyền thống.
TAY SINH HỌC
Những tiến bộ công nghệ gần đây đã dẫn đến cuộc cách mạng i-LIMB ultra – giúp tạo ra bàn tay giả có độ linh hoạt vô song.
Khi thế giới và các quốc gia phát triển, y học đáp ứng những nhu cầu thay đổi. Nghiên cứu tiên tiến chỉ ra những khả năng, sau đó được rút gọn thành những gì thực tế. Mục tiêu thay đổi và những đổi mới mới vượt trội so với những tiến bộ của năm trước, và ở mỗi giai đoạn, các chính trị gia, nhóm lợi ích và xã hội nói chung đều có tiếng nói của mình. Y học luôn gắn liền với các vấn đề đạo đức và những thử thách, khó khăn của luật pháp và kiện tụng. Đây là một ngành kinh doanh lâu dài, gian khổ và tốn kém, nhưng làn sóng đổi mới hiện nay bao gồm liệu pháp gen, kỹ thuật mô, y học cá nhân hóa, phẫu thuật không chảy máu và nhanh lành, nuôi cấy nội tạng, thuốc điều trị béo phì, rụng tóc và hầu hết mọi thứ khác được thiết lập để có tác động tương tự như tác động của tiêm chủng, gây mê, kháng sinh, hình ảnh điện tử và kiểm soát sinh sản kết hợp lại. Với sự kiên trì bền bỉ, chúng ta có thể thấy rằng những loại thuốc và liệu pháp tốt nhất đang chờ được khám phá.
Sốt Rét Do Muỗi Truyền
Sốt rét là một bệnh sốt nhiệt đới nguy hiểm, do một loại ký sinh trùng lây truyền qua muỗi gây ra. Người bệnh có thể bị nhiễm bệnh chỉ sau một vết đốt, và nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây tử vong. Mỗi năm, 10% dân số toàn cầu mắc bệnh sốt rét, và đây vẫn là một trong những căn bệnh gây tử vong cao nhất thế giới hiện đại. [Vào năm 2024, chỉ có khoảng 280 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét, tương đương với 3–4% dân số toàn cầu: ND]. Thuốc có thể điều trị hiệu quả, nhưng không phải lúc nào cũng có sẵn ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất.

Muỗi mang bệnh sốt rét



ƯỚC TÍNH SỐ TỬ VONG HÀNG NĂM DO BỆNH SỐT RÉT
600.000
Dịch xong ngày 6 tháng 8 năm 2026
st
]]>
GEN VÀ NHỮNG ƯỚC MƠ TƯƠNG LAI: 2000-NAY

Chào mừng bạn đến với một thế giới mới mẻ và tươi đẹp. Tế bào gốc phát triển thành bất kỳ mô hoặc cơ quan nào để cấy ghép vào cơ thể người chủ ban đầu mà không bị đào thải. Tế bào nhân bản hỗ trợ chúng. Kỹ thuật mô cũng vậy, với các khung sinh học thân thiện, cung cấp cho tế bào khung 3D để giúp chúng tạo ra các bộ phận dự phòng. Công nghệ nano cung cấp các cỗ máy kích thước phân tử có thể làm tan cục máu đông bằng tia laser, xâm nhập và tiêu diệt tế bào khối u, và gắn các loại thuốc kháng khuẩn mạnh trực tiếp lên các tác nhân xâm lấn cực nhỏ. Hồ sơ di truyền được thiết kế riêng cho phép bác sĩ xác định chi tiết các yếu tố nguy cơ, khả năng mắc bệnh và hỗn hợp thuốc hoàn hảo cho từng cá nhân. Liệu pháp gen sửa chữa mọi loại khiếm khuyết di truyền và điều trị các đột biến tế bào có thể dẫn đến ung thư. Các chuyên gia thế giới ở một châu lục điều khiển từ xa các bác sĩ phẫu thuật robot ở châu lục khác. Internet cung cấp chẩn đoán và kê đơn chuyên môn tức thì. Các công nghệ hỗ trợ sự sống tiên tiến giúp chăm sóc những cơ thể yếu ớt vượt qua những cơn khủng hoảng bệnh tật khó khăn nhất. Các phương pháp điều trị chống lão hóa, thuốc chống béo phì, thuốc tăng cường trí não, thậm chí cả thuốc chữa hói đầu và nếp nhăn, tất cả đều hiệu quả.
Một số tiến bộ này đang trên đà phát triển; một số hy vọng sẽ không quá vài thập kỷ nữa; một số khác sẽ vấp phải rào cản này hay rào cản khác. Nhưng thế kỷ 21 cũng tiềm ẩn những mối đe dọa – sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh; đại dịch bệnh dịch hạch do các bệnh truyền nhiễm mới lây lan từ động vật; sự gia tăng chóng mặt của chứng mất trí nhớ; nhiều bệnh tật hơn do sự giàu có và tuổi già; chi phí leo thang và những khó khăn về tài chính và nguồn lực. Đối với y học, những năm 2000 có thể là thế kỷ của những cực đoan và bất bình đẳng lớn nhất từ trước đến nay.
Di Truyền và Y Học
Tháng 6 năm 2000, dự án bản đồ người đã công bố một bước đột phá. Lần đầu tiên, dự án đã thành công trong việc lập “bản thảo thô” của bộ gen người – toàn bộ bộ DNA (axit deoxyribonucleic), vật liệu di truyền hình thành nên các chỉ dẫn cho việc xây dựng, vận hành và duy trì cơ thể con người. Bản thảo này là một thành tựu phi thường với những ý nghĩa to lớn đối với sinh học, sức khỏe và y học con người, nhưng nó đã bị hiểu lầm rộng rãi. Dự án không xác định được tất cả các gen trong cơ thể, giải thích cách thức hoạt động và chức năng của chúng. Để hiểu rõ tầm quan trọng của bộ gen và mối quan hệ giữa di truyền học và y học, việc quay ngược lại vài thế kỷ trước và khám phá bối cảnh của gen và DNA sẽ rất hữu ích.
Con cái giống cha mẹ. Không phải ở mọi khía cạnh, nhưng nhìn chung là giống nhau về ngoại hình và tính cách, cộng thêm một vài đặc điểm gia đình rất giống nhau như hình dáng mũi. Các nguyên tắc của quá trình này, được gọi là di truyền, được đặt ra bởi thầy tu người Áo Gregor Mendel, người đã thử nghiệm trên cây đậu Hà Lan chứ không phải trên con người, và công bố kết quả của mình vào năm 1866. Ông đã lai tạo khoảng 29.000 cây đậu Hà Lan có nhiều đặc điểm tương phản khác nhau, chẳng hạn như hoa có màu sắc khác nhau, và đã phát hiện ra rằng nhiều đặc điểm của cha mẹ không bị pha trộn với nhau như một loại súp lai nào đó ở con cái, mà được truyền lại dưới dạng các hạt hoặc đơn vị riêng biệt – ngày nay được gọi là gen – giữ nguyên tính toàn vẹn của chúng và được di truyền theo những mô hình cụ thể qua các thế hệ sau.
Vào đầu những năm 1900, một số nhà sinh vật học đã khám phá lại công trình của Mendel và nhanh chóng thu hút sự chú ý của cộng đồng khoa học.
Nhà sinh vật học người Đức Theodor Boveri, đang nghiên cứu nhím biển, và bác sĩ người Mỹ Walter Sutton, đang thử nghiệm trên châu chấu, đều độc lập đi đến kết luận rằng một tế bào đang phân chia sẽ truyền các bộ nhiễm sắc thể cho mỗi tế bào mới, và đây chính là yếu tố khiến chúng thừa hưởng các đặc điểm và tính chất. Nhiễm sắc thể lần đầu tiên được phát hiện vào giữa thế kỷ 19, và được mô tả chính thức vào năm 1878 bởi một nhà sinh vật học người Đức khác, Walther Flemming. Qua kính hiển vi quang học, chúng xuất hiện dưới dạng các vật thể hình chữ X giống như sợi chỉ khi tế bào chuẩn bị phân chia. Đến năm 1915, nhà sinh vật học người Mỹ Thomas Hunt Morgan, sử dụng ruồi giấm làm thí nghiệm, đã chứng minh rằng nhiễm sắc thể mang thông tin di truyền, và vào năm 1933, ông đã được trao giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học cho “những khám phá liên quan đến vai trò của nhiễm sắc thể trong di truyền”.

PHÂN CHIA TẾ BÀO
Hình ảnh chụp qua kính hiển vi quang học này cho thấy một tế bào đơn lẻ đang phân chia thành hai tế bào riêng biệt. Hai bộ nhiễm sắc thể có thể được nhìn thấy ở trung tâm với màu xám nhạt.
Nhiễm sắc thể được cấu tạo từ gì? Vào những năm 1920, câu trả lời đã trở nên rõ ràng hơn – các protein gọi là histon, cũng như chất mà chúng ta biết là DNA. DNA lần đầu tiên được phân lập và nghiên cứu dưới dạng “nuclein” bởi bác sĩ kiêm nhà nghiên cứu người Thụy Sĩ Friedrich Miescher vào khoảng năm 1870. Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, các thành phần cơ bản của DNA đã được xác định chi tiết hơn là đường deoxyribose, nhóm phosphate và bốn loại thành phần được gọi là bazơ nucleotide, hay đơn giản là bazơ. Đến những năm 1940, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng DNA là một phân tử khổng lồ và là chất mang thông tin di truyền, một sự thật được xác nhận thêm vào năm 1952 bằng các thí nghiệm với vi rút. Tuy nhiên, cấu trúc vật lý chính xác của DNA vẫn chưa rõ ràng. Năm 1953, nhà khoa học người Anh Francis Crick và nhà sinh vật học người Mỹ James Watson đã có khám phá quan trọng về cấu trúc xoắn kép của DNA, với sự hỗ trợ của nhà vật lý sinh học người Anh Rosalind Franklin và Maurice Wilkins, người New Zealand. Phát hiện này đã giải thích cách thông tin di truyền trong DNA được mang bởi trình tự các bazơ của nó. Trình tự này được sao chép khi tế bào phân chia và sau đó được truyền cho cả hai tế bào mới, bao gồm cả tế bào trứng và tinh trùng, rồi tiếp tục được truyền vào hợp tử (trứng đã thụ tinh) và sang thế hệ kế tiếp. Người ta cũng chứng minh rằng DNA hoạt động theo cùng một cơ chế ở vi khuẩn, nấm mốc, thực vật, ruồi giấm và các loài động vật khác, bao gồm cả con người.
Cùng lúc đó, các nhà nghiên cứu y học cũng đang nghiên cứu nhiễm sắc thể. Vào những năm 1920, các nhà khoa học nghiên cứu đã đề xuất rằng có 24 cặp nhiễm sắc thể trong mỗi tế bào cơ thể người – một của mỗi cặp được thừa hưởng từ mẹ, và một còn lại được thừa hưởng từ cha. Năm 1956, với công nghệ tiên tiến hơn nhiều, nhà di truyền học tế bào người Mỹ gốc Indonesia Joe Hin Tjio, làm việc tại Thụy Điển, đã có thể điều chỉnh con số này thành 23 cặp hiện được chấp nhận, tạo ra tổng cộng 46 nhiễm sắc thể trong mỗi tế bào cơ thể. Không lâu sau, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những bất thường trong nhiễm sắc thể là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh bẩm sinh (có từ khi sinh ra). Năm 1958, người ta phát hiện ra rằng những người mắc hội chứng Down có ba nhiễm sắc thể thay vì hai trong cặp thứ 21 trong tổng số 23 cặp. Do đó, đôi khi các bệnh nhân này được gọi là “có thêm một nhiễm sắc thể”.

NHỮNG KHỐI XÂY DỰNG CỦA SỰ SỐNG
Các nhà di truyền học James Watson (trái) và Francis Crick với mô hình DNA – phân tử chứa thông tin di truyền.
TỶ LỆ GEN ĐƯỢC CHIA SẺ GIỮA NGƯỜI VÀ CÂY
50%
Bất chấp những khám phá này, việc xác định chính xác cơ chế của từng loại bất thường di truyền và hiểu cách khắc phục chúng, hoặc thậm chí biết cơ thể con người có bao nhiêu gen, vẫn còn là một chặng đường dài. Tuy nhiên, điều chắc chắn là gen là một đoạn DNA chứa thông tin cần thiết để tạo ra protein. Một số protein là khối xây dựng cấu trúc của tế bào và mô, chẳng hạn như collagen trong da và keratin trong móng tay – trong khi những protein khác tham gia vào quá trình kiểm soát và phối hợp: ví dụ, insulin quản lý lượng đường trong máu và kháng thể chống lại vi khuẩn. Các chất được gọi là enzyme phân hủy thức ăn trong quá trình tiêu hóa cũng là protein, cũng như các enzyme khác đồng bộ hóa khối lượng thay đổi hóa học xảy ra mỗi giây bên trong tế bào.
Protein được tạo thành từ các đơn vị nhỏ hơn được gọi là axit amin, được liên kết với nhau theo trình tự. Một lỗi di truyền có thể khiến cơ thể sử dụng axit amin sai khi tạo ra protein, dẫn đến protein bị dị dạng. Một ví dụ về điều này là tình trạng di truyền được gọi là bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, trong đó các tế bào hồng cầu không có hình dạng giống bánh rán thông thường mà có hình lưỡi liềm, làm giảm khả năng vận chuyển oxy. Năm 1949, các nhà khoa học Hoa Kỳ Linus Pauling, Harvey Itano, Seymour Jonathan Singer và Ibert C. Wells đã công bố bằng chứng cho thấy trong bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm chất hemoglobin (huyết sắc tố) – thành phần của tế bào hồng cầu vận chuyển oxy và carbon dioxide khắp cơ thể – khác với hemoglobin bình thường. Năm 1956, nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này đã được biết là do một phần nhỏ của chuỗi axit amin có sự hiện diện một axit amin khác với bình thường. Đây là phát hiện đầu tiên về cơ sở phân tử cho một rối loạn di truyền.
Bản thảo thô của Dự án Bộ gen Người không phải là một danh mục tất cả các gen, mà chức năng của chúng là cung cấp danh sách các tiểu đơn vị hóa học của DNA, hay còn gọi là bazơ. Các bazơ này trải dài dọc theo chiều dài khổng lồ của mỗi phân tử DNA xoắn, mỗi phân tử tạo thành một trong 46 nhiễm sắc thể. DNA có bốn loại bazơ hóa học khác nhau: A (adenine), T (thymine), G (guanine) và C (cytosine).
Các bazơ này tạo thành cặp, và trình tự các cặp này dọc theo chuỗi xoắn kép mang thông tin di truyền được viết thành chuỗi gồm bốn chữ cái: A-T-C-C-G-T-T-, v.v. Điều quan trọng là bazơ trên một mạch của chuỗi xoắn kép chỉ có thể gắn vào một bazơ khác, là đối tác của nó trên chuỗi xoắn kép thứ hai: A luôn ghép cặp với T, và G luôn ghép cặp với C.
Khi một tế bào phân chia, chuỗi xoắn kép tách theo chiều dọc để tạo thành hai chuỗi xoắn đơn, sau đó mỗi chuỗi xoắn tạo nên một mạch đối tác mới. Do đó, một A trên chuỗi xoắn hiện có gắn vào một T cho mạch mới. Nếu bazơ tiếp theo là C, nó sẽ liên kết với một G mới, v.v. Điều này dẫn đến hai chuỗi xoắn kép mới, mỗi chuỗi bao gồm một mạch của chuỗi xoắn kép ban đầu cộng với một mạch đối tác bổ sung mới. Do sự ghép cặp bazơ, hai chuỗi xoắn kép này giống hệt nhau và giống hệt chuỗi xoắn kép mẹ. Thông tin di truyền đã được sao chép từ tế bào ban đầu sang hai tế bào con của nó. Như chúng ta đã thấy, chỉ có bốn loại bazơ khác nhau trong DNA, nhưng số lượng của chúng là vô cùng lớn – hơn ba tỷ cặp bazơ được kéo dài dọc theo tất cả các phân tử DNA trong tất cả các nhiễm sắc thể của bộ gen người. Và thông tin di truyền này được đóng gói một cách tiết kiệm. Nối liền hai đầu, bộ phân tử DNA này có thể kéo dài hơn 6 ft (2 m), nhưng chúng lại cuộn chặt và gấp lại thành một tế bào nhỏ đến mức 500 phân tử có thể nằm gọn trên đầu một chiếc ghim.
Dự án Bộ gen Người bắt đầu vào năm 1990 với mục tiêu giải trình tự tất cả các bazơ DNA trong các phần chính của bộ gen. Dự án được tuyên bố hoàn thành vào tháng 4 năm 2003 và thông tin được cung cấp miễn phí trực tuyến cho công chúng, bao gồm các nhà khoa học nghiên cứu, bác sĩ, công ty dược phẩm, nhà công nghệ sinh học, công ty bảo hiểm nhân thọ, người cho vay thế chấp và luật sư. Dự án còn mang lại những tác động sâu rộng khác – hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động thực sự của gen, làm sáng tỏ những gì xảy ra trong các bệnh và tình trạng di truyền, và tìm hiểu cách thức và lý do tại sao DNA trong một số tế bào trong cơ thể thay đổi hoặc đột biến để tạo ra khối u, chẳng hạn. Chương trình Ý nghĩa Đạo đức, Pháp lý và Xã hội (ELSI) của dự án đã xem xét các hậu quả của kiến thức này, đặc biệt là ứng dụng của nó vào sức khỏe và y học con người.

BỘ GEN CON NGƯỜI
Một nhà khoa học làm việc trong Dự án Bản đồ gen người năm 1998 tại Đại học Washington ở Hoa Kỳ sử dụng tia cực tím để nghiên cứu các chuỗi DNA của con người.

QUÉT BỘ GEN NGƯỜI
Một kỹ thuật viên làm việc tại Viện Công nghệ California sử dụng máy quét tròn để đọc các phần ảnh chụp X-quang DNA để phân tích trên máy tính.
“Bản thảo thô” được công bố vào tháng 6 năm 2000 đã liệt kê các trình tự cho khoảng 85 phần trăm các bazơ – 25 phần trăm có độ chính xác cao đến mức chúng được coi là hoàn thành, và hơn 50 phần trăm khác gần như vậy.
Một lĩnh vực nghiên cứu bộ gen đặc biệt là SNP (đa hình nucleotide đơn), phát âm là “snips”. Đây là những biến thể về vị trí của một bazơ cụ thể. Ví dụ, một người có thể có bazơ A ở một vị trí nhất định trên một nhiễm sắc thể cụ thể, trong khi người khác có thể có bazơ C. Trên thực tế, trung bình cứ 100-300 bazơ trên toàn bộ bộ gen người lại xuất hiện một lần. Chúng là một phần tạo nên sự độc đáo về mặt di truyền của mỗi người (ngoại trừ những cặp song sinh giống hệt nhau). Nhiều SNP không ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng một số thì có. Một SNP gây ra bệnh hồng cầu hình liềm, như đã đề cập ở trên, và hiện nay chúng ta biết rằng sự thay đổi hoặc đột biến này xảy ra trong một gen gọi là HBB, chứa các chỉ dẫn cho một phần của hemoglobin. Nhiễm sắc thể mà nó xuất hiện dài khoảng 134 triệu cặp bazơ, có khoảng 1.500 gen và liên quan đến hơn 150 rối loạn di truyền và các vấn đề sức khỏe khác. Khi những chi tiết như thế này được biết đến về các rối loạn di truyền, hy vọng là chúng sẽ dẫn đến việc điều trị tốt hơn và khả năng chữa khỏi.
SNP giúp theo dõi các rối loạn di truyền qua các dòng họ, ngay cả khi bản thân các SNP không trực tiếp gây ra rối loạn. Những SNP nằm gần hoặc nằm giữa các trình tự đột biến có thể hoạt động như “dấu hiệu” để xác định các kiểu di truyền. SNP và những thay đổi tương tự trong gen cũng liên quan đến các hiện tượng tổng quát hơn, chẳng hạn như phản ứng với các yếu tố môi trường như độc tố hít phải; phản ứng với một số loại thuốc và thực phẩm; và nguy cơ mắc các bệnh cụ thể – thậm chí cả các bệnh phức tạp như ung thư. Ví dụ, vào năm 2010, gen APCDD1 được cho là có liên quan đến một dạng rụng tóc di truyền. Vào năm 2011, việc mất một nhóm, hoặc một cụm, gồm 27 gen, được cho là có liên quan đến các đặc điểm giống tự kỷ. Vào năm 2013, một nghiên cứu đã báo cáo tìm thấy thêm bảy vị trí hoặc locus trong bộ gen liên quan đến thoái hóa điểm vàng do tuổi tác, đây là nguyên nhân chính gây mất thị lực ở người cao tuổi.
Khi chúng ta tìm hiểu thêm về gen, chức năng của chúng và cách chúng hoạt động sai lệch, câu hỏi đặt ra là: liệu chúng ta có thể điều trị các bệnh lý di truyền bằng cách đưa DNA bình thường vào cơ thể để giúp nó sản xuất một chất, chẳng hạn như enzyme hoặc hormone, vốn bị thiếu hụt hoặc bất thường hay không? Việc đưa DNA bình thường vào các tế bào cơ thể được gọi là “chuyển giao”, và một phương pháp như vậy sử dụng vi rút. Khi một vi rút xâm nhập vào tế bào, nó sẽ chiếm quyền điều khiển bộ máy sản xuất của tế bào, sau đó sử dụng chính các gen của nó để tạo ra nhiều vi rút hơn. Trong liệu pháp gen, vi rút được sử dụng để đưa các gen bình thường của người vào tế bào. Vi rút được sử dụng theo cách này được gọi là “vectơ vi rút”. Kỹ thuật vectơ này đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học sinh học khác kể từ những năm 1970, chẳng hạn như để tạo ra vi khuẩn và cây trồng biến đổi gen. Một hình thức khác của liệu pháp gen là chèn các gen chính xác dưới dạng các đoạn DNA “trần”. Một trong những kỹ thuật như vậy, điện di, bao gồm việc áp dụng một điện trường vào tế bào theo những xung ngắn và đột ngột, để tạo ra các lỗ chân lông trên lớp vỏ ngoài của tế bào, qua đó các phân tử hoặc chất lớn hơn bình thường có thể đi qua – bao gồm thuốc tiêu diệt khối u, hoặc các đoạn DNA để sửa chữa một bệnh di truyền. Điện di đã được thực hiện trên cả tế bào trôi nổi trong chất lỏng phòng thí nghiệm (in vitro) và trên mô sống được tiếp cận bằng các đầu dò nhỏ được đưa vào cơ thể (in vivo). Việc đưa gen vào tế bào theo cách này được gọi là chuyển gen bằng điện. Một cách khác để đưa DNA vào là bọc nó trong các chất béo để tạo thành các bong bóng nhân tạo, hay còn gọi là liposome, sau đó được tiêm vào tế bào. Phương pháp này được sử dụng để điều trị ung thư. DNA khỏe mạnh kích hoạt các gen tiêu diệt ung thư tự nhiên đã có sẵn trong bộ gen, vốn không hoạt động vì lý do nào đó. Khi được kích hoạt trở lại, các gen này sẽ chống lại sự phát triển của ung thư. Phương pháp đưa thuốc vào cơ thể bằng liposome cũng đã được nghiên cứu cho bệnh xơ nang di truyền. Dù sử dụng phương pháp nào, mục tiêu là đưa càng nhiều gen bình thường vào càng nhiều tế bào càng tốt và đảm bảo chúng duy trì hoạt động càng lâu càng tốt.

CỤM LIPOSOME
Ảnh chụp bằng kính hiển vi điện tử quét này cho thấy các liposome – bong bóng được làm từ cùng vật liệu với màng tế bào – được sử dụng để đưa DNA vào bệnh nhân.
“Có hình thức nghiên cứu nào về nhân loại có hiệu quả hơn việc đọc sách hướng dẫn của chính mình không?”
FRANCIS S. COLLINS, NHÀ DI TRUYỀN HỌC HOA KỲ
Năm 1990, liệu pháp gen đã trở nên phổ biến khi một bé gái bốn tuổi được điều trị một chứng rối loạn enzyme hiếm gặp gọi là thiếu hụt ADA (adenosine deaminase). Tuy nhiên, niềm tin vào phương pháp điều trị mới đã bị lung lay vào năm 1999, khi Jesse Gelsinger qua đời tại Philadelphia, Pennsylvania. Gelsinger, khi đó mới 18 tuổi, đang tham gia nghiên cứu lâm sàng về một chứng rối loạn di truyền khiến gan không thể xử lý amoniac, một sản phẩm thải ra khi protein bị phân hủy. Các vectơ vi rút đã được sử dụng để đưa các bản sao bình thường của gen vào, nhưng hệ thống miễn dịch của Gelsinger đã phản ứng một cách thảm khốc. Anh bị tổn thương não, hôn mê và qua đời bốn ngày sau đó. Các cuộc điều tra sau đó cho thấy nhóm thử nghiệm trước đó đã không thông báo cho Gelsinger và gia đình anh về các phản ứng với phương pháp điều trị. Tiếp theo đó là tin tức rằng các thử nghiệm liệu pháp gen khác đã thất bại, với hơn 600 báo cáo về “biến cố bất lợi”, bao gồm cả tử vong. Những bi kịch này là những đòn giáng mạnh vào liệu pháp gen, nhưng theo thời gian, số lượng các thử nghiệm lâm sàng đã tăng lên.
Một lĩnh vực mà liệu pháp gen IS đang phát triển mạnh là tiêm chủng – đưa các phiên bản vô hại của vi khuẩn gây bệnh hoặc các sản phẩm của nó vào cơ thể. Hệ thống miễn dịch của cơ thể nhận diện các chất lạ, được gọi là kháng nguyên, và huy động hệ thống phòng thủ chống lại chúng. Tiêm chủng DNA tiến xa hơn một bước và đưa vào cơ thể các gen nhân tạo mang thông tin chỉ dẫn để tạo ra kháng nguyên. Khi các kháng nguyên được sản sinh, cơ chế phòng vệ của cơ thể sẽ hoạt động. Các loại vắc-xin như vậy đã được thử nghiệm từ những năm 1990, và mục tiêu của chúng bao gồm bệnh lao, HIV và sốt rét. Tiêm chủng DNA có thể giúp loại trừ các bệnh này, cũng như các nghiên cứu di truyền như nghiên cứu lý do tại sao bệnh hồng cầu hình liềm bảo vệ con người khỏi bệnh sốt rét.
Trong những năm 1980, ước tính tổng số gen trong bộ gen người thường vượt quá 100.000. Khi Dự án Bộ gen Người tiến triển, giới khoa học đã đồng thuận giảm con số này xuống còn 60.000-70.000, rồi xuống còn 40.000-50.000. Năm 2013, khoảng 10 năm sau khi dự án kết thúc, hầu hết các ước tính đều nằm trong khoảng 20.000-25.000 – một con số mà 20 năm trước đó dường như quá nhỏ đối với một sinh vật phức tạp và tinh vi như con người. Hơn nữa, hầu hết DNA trong bộ gen người không thực sự đại diện cho mã di truyền. Các trình tự bazơ mà chúng ta gọi là gen, được gọi là DNA mã hóa, chỉ chiếm chưa đến hai phần trăm bộ gen. Phần còn lại, DNA không mã hóa, được cho là một mảng các phần thừa vô hại hoặc các bản sao ngẫu nhiên của thứ đôi khi được gọi là “DNA rác”. Gần đây, người ta đã chứng minh được rằng phần lớn DNA này thực chất không phải là “rác” và chứa các hướng dẫn để tạo ra các chất và phân tử kiểm soát hoạt động của gen, thời điểm và cách thức hoạt động của gen.
Sau nhiều thập kỷ hứa hẹn nhưng không thành hiện thực, năm 2017 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực y học này, đặc biệt là trong lĩnh vực huyết học, với một số liệu pháp mới đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt. Liệu pháp gen cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc chữa trị các rối loạn di truyền nghiêm trọng, và năm 2018, FDA cũng đã phê duyệt liệu pháp gen đầu tiên nhắm vào DNA đột biến cho những bệnh nhân mắc một dạng mù di truyền hiếm gặp. Tất cả những điều này có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu bệnh di truyền và thiết kế các liệu pháp gen cho tương lai.
Mã Di Truyền
Mọi sinh vật sống đều được tạo thành từ các chất hóa học phức tạp gọi là protein. Chất liệu trong nhân tế bào kiểm soát cách sản xuất các protein này và do đó quyết định sự giống và khác nhau giữa các cá thể chính là DNA (axit deoxyribonucleic). DNA có cấu trúc chuẩn mực. Nó được James Watson và Francis Crick xác định là một chuỗi xoắn kép giống như hai lò xo xoắn vào nhau vào năm 1953.
DNA hiện diện trong mọi tế bào sống và chứa một tập hợp các chỉ dẫn – gen – kiểm soát các đặc điểm di truyền. Khi một sinh vật phát triển, các tế bào của nó phân chia theo cách mà mỗi tế bào đều có một bản sao của các chỉ dẫn DNA để tạo ra protein. Vì vậy, các gen là nhất quán trong một cá thể, nhưng khác nhau giữa các cá thể trong cùng một loài. Việc giải mã di truyền – cách các gen ảnh hưởng đến cấu trúc hóa học của cơ thể – vẫn đang tiếp tục thu hút các nhà khoa học, và đang dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về các bệnh lý và rối loạn di truyền.
Friedrich Miescher
Nhà khoa học Thụy Sĩ Friedrich Miescher bắt đầu nghiên cứu protein trong tế bào bạch cầu ngay sau khi tốt nghiệp bác sĩ vào năm 1868-1869. Trong nhân tế bào, ông tìm thấy một chất chứa phosphat và các nguyên tố khác thường không có trong protein. Miescher đặt tên cho chất bí ẩn này là “nuclein“, vì nó có trong nhân tế bào, và thuật ngữ này vẫn là một phần trong tên gọi hiện đại của chất này: axit deoxyribonucleic (DNA).

FRIEDRICH MIESCHER TRỞ THÀNH GIÁO SƯ SINH LÝ HỌC TẠI ĐẠI HỌC BASEL NĂM 1871
XOẮN KÉP
DNA là một phân tử chuỗi dài được tạo thành từ các khối xây dựng lặp lại gọi là nucleotide (xem hình dưới). Cách sắp xếp các nucleotide ảnh hưởng đến thành phần của protein.

Cấu trúc của DNA
Nucleotide, các khối xây dựng nên DNA, mỗi nucleotide được tạo thành từ một loại đường, một loại photphat và một loại bazơ. Có bốn loại bazơ, mỗi loại chỉ ghép đôi theo hai cách do hình dạng và kích thước của chúng. Mỗi cặp bao gồm một bazơ lớn và một bazơ nhỏ.

Robot và Y Học Từ Xa
Ở chiến trường tương lai, một chiếc xe tải bọc thép đến gần tiền tuyến – một đơn vị phẫu thuật quân sự – sẵn sàng hành động. Bên trong là một phòng phẫu thuật thu nhỏ chứa đầy thiết bị chẩn đoán và phẫu thuật. Mỗi thương binh đưa vào đều được kết nối với màn hình để đánh giá chi tiết, sau đó, phương pháp điều trị chuyên môn nhanh chóng, bao gồm cả phẫu thuật, được thực hiện cho hầu hết mọi bộ phận trên cơ thể bởi các chuyên gia tư vấn hàng đầu trong hầu hết mọi ngành y. Tuy nhiên, đơn vị chỉ có một số ít nhân viên được đào tạo bài bản. Các chuyên gia y tế ở hậu phương, cung cấp dịch vụ của họ từ xa thông qua truyền thông vệ tinh siêu nhanh và công nghệ phẫu thuật bằng robot. Đây là một kịch bản cho phẫu thuật từ xa, bản thân nó là một nhánh của y học từ xa – chăm sóc y tế từ xa. Y học từ xa chỉ là một phần nhỏ của cuộc cách mạng y học đang được thúc đẩy bởi máy tính và công nghệ thông tin – một cuộc cách mạng bắt đầu vào đầu thế kỷ 20 và đang phát triển mạnh mẽ.
Năm 2001, phẫu thuật từ xa lần đầu tiên được thực hiện qua Đại Tây Dương. Các bác sĩ phẫu thuật ở New York đã tham gia cùng bệnh nhân và nhóm phẫu thuật tại Strasbourg, Pháp, bằng liên kết cáp quang tốc độ cao. Được hướng dẫn bởi các camera hiển thị cận cảnh khu vực phẫu thuật, cùng với thông tin hiển thị trên màn hình bệnh nhân và âm thanh hai chiều, các bác sĩ phẫu thuật ở New York đã vận hành một bảng điều khiển phẫu thuật từ xa, các chuyển động của bảng điều khiển này được sao chép tại Strasbourg bằng các cánh tay và thiết bị hiệu ứng robot. Bệnh nhân nữ 68 tuổi đã trải qua phẫu thuật cắt túi mật nội soi qua một vết rạch nhỏ. Vì đây chủ yếu là một thử nghiệm tiên phong để chứng minh tiềm năng của phẫu thuật từ xa, nên một nhóm y tế giàu kinh nghiệm đã túc trực tại Pháp để phòng trường hợp có sự cố. Một trong những thách thức mà các bác sĩ phẫu thuật từ xa phải đối mặt là làm cho các robot thao tác sao chép các chuyển động của bác sĩ phẫu thuật gần như theo thời gian thực qua một khoảng cách gần 4.350 dặm (7.000 km). Các thử nghiệm đã chỉ ra rằng độ trễ thời gian hơn 250-300 mili giây (khoảng một phần tư giây) từ chuyển động của người vận hành đến camera của cánh tay robot và trở lại màn hình hiển thị của người vận hành có thể khiến bác sĩ phẫu thuật cảm thấy bị hụt hẫng và mất phương hướng. Độ trễ giữa NY-Strasbourg và NY là 155 mili giây có thể chấp nhận được. Một yếu tố quan trọng khác là phải có một đường truyền thông tin riêng biệt, không giống như lưu lượng truy cập web thông thường trên toàn thế giới, không được chậm lại hoặc bị ngắt quãng, và phải có thể tải được lượng dữ liệu cần thiết để điều khiển robot, giám sát y tế và giao tiếp âm thanh, hình ảnh hai chiều. Toàn bộ ca phẫu thuật kéo dài chưa đầy một giờ và bệnh nhân đã xuất viện hai ngày sau đó. Sự kiện quan trọng này được đặt tên là “Phẫu thuật Lindbergh”, theo tên chuyến bay đầu tiên xuyên Đại Tây Dương một mình, không ngừng nghỉ của Charles Lindbergh vào năm 1927. Giáo sư Jacques Marescaux, Giám đốc Viện Phẫu thuật Từ xa Châu Âu, người đã thực hiện ca phẫu thuật từ xa từ New York, cho biết: “Nó đặt nền móng cho việc toàn cầu hóa các quy trình phẫu thuật, giúp chúng ta có thể hình dung rằng một bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện một ca phẫu thuật cho bệnh nhân ở bất kỳ đâu trên thế giới”.
Ca phẫu thuật Lindbergh sử dụng một hệ thống robot ba cánh tay từ xa gọi là ZEUS, được điều khiển bằng chuyển động của bàn tay bác sĩ phẫu thuật. Hai cánh tay của ZEUS giữ các dụng cụ phẫu thuật, bao gồm một ống soi ổ bụng, trong khi cánh tay còn lại giữ một bộ định vị ống soi ổ bụng gọi là AESOP (Hệ thống Nội soi Tự động Định vị Tối ưu). Ống soi ổ bụng là một ống dài, mảnh có thể mang đèn, camera và nhiều dụng cụ phẫu thuật khác nhau bao gồm kẹp, kẹp gắp, dụng cụ nghiền, lưỡi dao và đầu đốt. Ống soi được đưa vào cơ thể bệnh nhân thông qua một vết rạch nhỏ trên thành bụng. Nội soi ổ bụng là một ví dụ về phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, hay còn gọi là “phẫu thuật lỗ khóa”, so với phương pháp rạch lớn truyền thống, giúp giảm đáng kể sự phá vỡ mô, mất máu, đau sau phẫu thuật, thời gian hồi phục nhanh và ít sẹo. AESOP được thiết kế chủ yếu để giúp bác sĩ phẫu thuật điều khiển ống soi ổ bụng, và do đó, đây là giai đoạn đầu của phẫu thuật robot hỗ trợ bởi máy tính.

PHẪU THUẬT LINDBERGH
Các bác sĩ quan sát cánh tay điều khiển từ xa của robot phẫu thuật ZEUS thực hiện phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong Ca phẫu thuật Lindbergh lịch sử năm 2001.
Tiếp nối AESOP và ZEUS là hệ thống Da Vinci vào năm 2000. Sử dụng công nghệ vũ trụ của NASA ban đầu được điều chỉnh cho điều kiện chiến trường, hệ thống Da Vinci có ba hoặc bốn cánh tay robot. Một cánh tay mang theo ống nội soi và camera kép dùng để hiển thị hình ảnh 3D, trong khi các cánh tay còn lại giữ các dụng cụ phẫu thuật khác nhau. Cánh tay và cổ tay của robot tận dụng rất nhiều trục xoay và khớp xoay, giúp chúng có phạm vi chuyển động rộng hơn bất kỳ con người nào. Bác sĩ phẫu thuật sử dụng tay, chân, đầu và giọng nói để điều khiển ống nội soi, dụng cụ, màn hình hiển thị, ánh sáng và các tính năng khác.

PHẪU THUẬT TIM TỪ XA
Một bác sĩ phẫu thuật đang vận hành cánh tay robot da Vinci trong ca ghép tạng đầu tiên được thực hiện bằng hệ thống này. Ca phẫu thuật diễn ra tại Bệnh viện Guy’s và St. Thomas, London, vào năm 2004.
Hàng trăm nghìn ca phẫu thuật được thực hiện hàng năm bởi da Vinci, mặc dù hầu hết trong số chúng không được thực hiện trên khoảng cách xa, nhưng người vận hành và bảng điều khiển thường được đặt ngay cạnh giường bệnh nhân. Giao diện máy tính/robot này cực kỳ đắt đỏ đối với nhiều trung tâm y tế, nhưng được cho là có lợi thế hơn so với thao tác thủ công trực tiếp. Ví dụ, nó giúp giảm rung động nhỏ thông thường của bàn tay mà ngay cả những bác sĩ phẫu thuật giàu kinh nghiệm nhất cũng khó tránh khỏi. Hệ thống có thể “giảm tốc” để một chuyển động lớn của bàn tay tạo ra một phiên bản chuyển động robot nhỏ hơn nhiều, do đó cải thiện độ chính xác cho vi phẫu. Hệ thống giúp phát hiện và loại bỏ các trường hợp trượt tay hiếm gặp, và bác sĩ phẫu thuật có thể ngồi ở tư thế thoải mái, hiệu quả, giảm thiểu mệt mỏi. Nó cũng cho phép bác sĩ phẫu thuật chạy các thao tác thử nghiệm trên bảng điều khiển; hệ thống lấy thông tin chi tiết từ bệnh nhân thực tế và điều chỉnh chúng bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu để hiển thị kết quả dự đoán trên bệnh nhân ảo. Nếu mọi thứ đều ổn, bác sĩ phẫu thuật sẽ ra lệnh cho các robot thực hiện thao tác.
Vào những năm 2000, phẫu thuật từ xa đã đạt đến một tầm cao mới về độ nhạy cảm ứng, hay phản hồi xúc giác. Các mảng cảm biến phát hiện những rung động nhỏ nhất đi qua các dụng cụ phẫu thuật, cung cấp thông tin như sức cản của mô và độ trơn của dịch. Thông tin này được phản hồi dưới dạng lực cản trong bộ điều khiển của bác sĩ phẫu thuật, cho phép bác sĩ cảm nhận được những gì đang diễn ra.
Phẫu thuật hỗ trợ bằng robot vi tính có danh sách ứng dụng ngày càng mở rộng. Cắt tử cung và các thủ thuật phụ khoa khác, phẫu thuật bắc cầu van tim và động mạch vành, cắt bỏ khối u, và phẫu thuật thần kinh đều đã được thực hiện theo cách này, và các hình thức phẫu thuật từ xa, trong đó bệnh nhân và bác sĩ phẫu thuật ở xa nhau, cũng đang gia tăng. Hướng dẫn và giảng dạy từ xa cho phép các bác sĩ phẫu thuật giàu kinh nghiệm tư vấn, theo dõi và thậm chí hỗ trợ các học viên trên toàn thế giới khi họ thực hành trên động vật hoặc bệnh nhân ảo mô phỏng trên máy tính, hoặc thậm chí (với tất cả các biện pháp bảo vệ) với bệnh nhân thực tế. Các bác sĩ phẫu thuật cũng có thể theo dõi và hỗ trợ lẫn nhau, thảo luận về các ca bệnh cụ thể và chia sẻ kiến thức.
Phẫu thuật từ xa là đỉnh cao công nghệ của việc sử dụng máy tính ngày càng tăng trong y học. Ở nhiều nơi trên thế giới, máy tính hoạt động âm thầm hỗ trợ bác sĩ và bệnh nhân. Chúng phân tích và hình ảnh hóa các phân tử và hợp chất có tiềm năng trở thành thuốc mới, đồng thời phối hợp dữ liệu về hiệu quả và tác dụng phụ của thuốc. Chúng xử lý số liệu để theo dõi các đợt bùng phát dịch bệnh, và liên kết nguyên nhân và kết quả cho các nhà dịch tễ học. Chúng làm sắc nét, tô màu và giải thích hình ảnh từ máy quét, vốn cũng dựa vào sức mạnh của máy tính, và đề xuất chẩn đoán dựa trên những dữ liệu này. Bảng câu hỏi bệnh sử tự động bằng máy tính giúp bác sĩ sử dụng thời gian hiệu quả hơn, và bằng chứng cho thấy bệnh nhân trả lời máy tính trung thực hơn so với bác sĩ, đặc biệt là về các chủ đề nhạy cảm, chẳng hạn như rượu bia, ma túy và quan hệ tình dục. Từ việc cảnh báo bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu về tác dụng phụ của thuốc đối với một bệnh nhân cụ thể, đến việc thực hiện phẫu thuật cứu sống một phi hành gia thông qua một bác sĩ phẫu thuật từ xa ngay trên Trái Đất, những thiết bị điện tử này một ngày nào đó có thể thay thế bác sĩ. Trong khi đó, y học – nhất là phẫu thuật – đang trở nên khó tưởng tượng nếu không có chúng.

PHẪU THUẬT ROBOT
Một bác sĩ phẫu thuật (bên trái) thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu (MIS, hay phẫu thuật “lỗ khóa”) trên tim của bệnh nhân bằng robot da Vinci điều khiển từ xa. Bác sĩ phẫu thuật xem hình ảnh ba chiều của vị trí phẫu thuật trên màn hình.
Y Học Cấp Cứu
“Đó là một sự cố lớn. Báo động tất cả lực lượng ứng cứu đầu tiên, nhân viên y tế, và đưa các EMT (kỹ thuật viên y tế cấp cứu) khác đến. Huy động trực thăng cứu thương. Liên hệ với ER (Phòng Cấp cứu), ICU (Đơn vị Chăm sóc Tăng cường), CCU (Đơn vị Chăm sóc Tim mạch), HDU (Đơn vị Chăm sóc Phụ thuộc Cao). Chuẩn bị cho phân loại mức độ nguy cấp, SCA (Ngưng tim đột ngột), MI (Nhồi máu cơ tim), CAB (Tuần hoàn-Đường thở-Hô hấp, CPR (Hồi sinh Tim Phổi), Defib (Khử rung tim và AED (Máy khử rung tim ngoài tự động). Chúng ta sẽ đo BP (huyết áp) và các dấu hiệu sinh tồn khác, đo sats (độ bão hòa oxy)…” Y học đầy rẫy những từ viết tắt, thuật ngữ chuyên ngành. Một trong những ngành giàu thuật ngữ chuyên ngành nhất là y học cấp cứu, hay EM – một phần, người ta nói, để rút ngắn thời gian nói, đọc và viết trong lĩnh vực chăm sóc y tế, nơi thời gian là vô cùng quý giá.
Đã trải qua một hành trình dài từ các quy trình cấp cứu trên chiến trường La Mã Cổ đại, Ba Tư và Trung Quốc (chủ yếu là thắt garo gần vết thương, hoặc khâu vết thương hở bằng dao găm và chỉ xé từ quần áo) đến dịch vụ cấp cứu y tế (EMS) tinh vi ngày nay. Tiến bộ trong y học cấp cứu đã tăng tốc, đặc biệt là từ những năm 1980, nhờ vào giao tiếp tức thời qua điện thoại di động và internet, việc vận chuyển bệnh nhân và nhân sự ngày càng nhanh chóng bằng ô tô, trực thăng, máy bay và tàu cao tốc, và việc sử dụng máy tính trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị. Cũng có một xu hướng ngày càng chuyên nghiệp hóa, từ những người nghiệp dư hoảng loạn thử nghiệm các kỹ thuật sơ cứu lúc nhớ lúc quên, đến các chuyên gia được đào tạo bài bản, có trình độ cao và liên tục cập nhật kiến thức trong lĩnh vực này. Thuật ngữ chính xác có thể khác nhau tùy theo quốc gia và khu vực, nhưng hiện nay có rất nhiều nhân viên y tế cấp cứu được cấp phép, từ nhân viên sơ cứu không chuyên, được cấp phép đến nhân viên ứng cứu, nhân viên sơ cứu cơ bản và kỹ thuật viên y tế cấp cứu (EMT) và nhân viên y tế cấp cứu chuyên sâu. Ngoài ra còn có nhân viên khoa cấp cứu (ED) và phòng cấp cứu (ER) của trung tâm y tế và bệnh viện, chẳng hạn như y tá, bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa cao cấp.
Là một nhánh chính thức của hệ thống y tế, y học cấp cứu còn khá non trẻ. Các bác sĩ chuyên khoa bệnh viện đầu tiên của ngành này được bổ nhiệm vào những năm 1950. Trước đó, nhân viên từ các chuyên khoa khác đã làm nhiệm vụ luân phiên tại Phòng Cấp cứu. Các khoa y học cấp cứu được công nhận đầy đủ đã được thành lập tại các bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ, Châu Âu, Canada, Úc và Nhật Bản từ những năm 1970. Tạp chí Y học Cấp cứu Hoa Kỳ (American Journal of Emergency Medicine) ra đời năm 1983; Tạp chí Y học Cấp cứu Vương quốc Anh phát hành số 1 năm 1984; và đến năm 2010, một cuộc khảo sát lớn cho thấy khoảng một phần ba các quốc gia trên thế giới đã công nhận y học cấp cứu là một chuyên khoa chính thức.
Mọi chuyện bắt đầu từ đâu? Trong cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất (1096-1099), quân đội châu Âu đã tổ chức các nhóm như Hiệp sĩ Dòng Thánh John thành Jerusalem (Hiệp sĩ Bệnh viện), chuyên sơ cứu cho binh lính bị thương trong trận chiến và giúp đỡ những người hành hương cần điều trị y tế. Một trong những tổ chức sơ cứu hàng đầu của Vương quốc Anh, St. John Ambulance, có nguồn gốc từ thời điểm này. Các tổ chức như vậy tiếp tục hoạt động trong suốt thời Trung cổ muộn và thời Phục hưng, đặc biệt là trên khắp châu Âu. Vào đầu thế kỷ 19, bác sĩ phẫu thuật chiến trường Nam tước Dominique Jean Larrey và các cố vấn của ông đã tiên phong trong khái niệm xe cứu thương dưới hình thức vận chuyển nhanh bằng ngựa kéo cho những người bị thương trong quân đội của Napoleon. Họ đã sắp xếp nhân sự được đào tạo y tế để điều hành các đơn vị tiền tuyến và thành lập các phiên bản đầu tiên của các cơ sở chăm sóc y tế chiến đấu hoặc bệnh viện dã chiến. Các nhóm của Larrey đã tinh chỉnh ý tưởng về phân loại – quá trình đánh giá và ưu tiên nhanh chóng cho bệnh nhân khi đối mặt với những chấn thương quá nặng. Những người có khả năng được cứu sống đã được ưu tiên, trước những người có khả năng hồi phục mà không cần can thiệp y tế và những người ít có khả năng sống sót ngay cả khi được điều trị. Cả tỷ lệ thành công trong điều trị và phân loại đều đã được cải thiện vượt bậc, nhưng những vấn đề thực tiễn và đạo đức cơ bản vẫn như cũ, và xung đột vũ trang vẫn là chất xúc tác cho những tiến bộ trong y học cấp cứu.

BÁC SĨ PHẪU THUẬT CHIẾN TRƯỜNG
Nam tước Dominique Jean Larrey, bác sĩ phẫu thuật trưởng của quân đội Napoleon, đang cấp cứu cho một người lính trong Trận Hanau năm 1813.
Ngày nay, một trong những phương pháp điều trị phổ biến nhất trong cấp cứu là hô hấp nhân tạo. Phương pháp này có lịch sử lâu đời, được nhắc đến từ thời cổ đại và thời Trung cổ, nhưng chỉ đến thế kỷ 18, nó mới trở nên phổ biến. Năm 1744, bác sĩ phẫu thuật người Scotland William Tossach đã ghi lại một ví dụ điển hình khi ông cứu sống một thợ mỏ than đang hôn mê: “Tim và động mạch không còn đập, thậm chí không còn hơi thở. Tôi áp miệng sát vào miệng anh ta và thổi mạnh hết sức có thể; nhưng vì quên bịt lỗ mũi anh ta nên toàn bộ không khí đều thoát ra mũi; vậy nên khi dùng một tay bóp chặt chúng… tôi lại thổi… nâng ngực anh ta lên, tôi lập tức cảm thấy sáu hoặc bảy nhịp tim rất nhanh.” Phương pháp này lan rộng khắp châu Âu và Bắc Mỹ vào những năm 1760 và 1770 khi các “tổ chức cứu hộ” được thành lập – chủ yếu để ứng phó với số lượng người tử vong do rơi xuống sông băng vào mùa đông. Việc thông khí đôi khi được thực hiện bằng ống thổi (có thể dùng để thổi khói thuốc lá thay vì không khí), nhưng phương pháp hô hấp nhân tạo tỏ ra hiệu quả hơn.

BỘ HỒI SỨC
Thiết bị thổi khói thuốc lá vào phổi bệnh nhân này ra đời vào thế kỷ 19 và được sử dụng để hồi sinh những người đã ngừng tim và ngừng thở.
Đây là cách một trong những kỹ thuật cấp cứu nổi tiếng và quan trọng nhất đã phát triển: CPR (hồi sức tim phổi). Vào đầu những năm 1900, phần “tim” của quy trình – ECC (ép tim ngoài lồng ngực) – đã được thêm vào phần “phổi” của hô hấp hỗ trợ. Áp lực đều đặn lên xương ức sẽ ép tim bên dưới, đẩy máu ra khỏi tim và chảy dọc theo các động mạch. Các van tim và tĩnh mạch chính duy trì một loại lưu lượng tuần hoàn một chiều và phân phối ít nhất một lượng oxy đến các cơ quan quan trọng – quan trọng nhất là đến não. Đến những năm 1960, CPR đã có nền tảng khoa học hơn và được khuyến nghị không chỉ cho nạn nhân đuối nước mà còn cho các trường hợp cấp cứu y tế như SCA (đột quỵ), trong đó tim đột nhiên ngừng đập. SCA có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả dạng đau tim phổ biến – khi một mảng mỡ tích tụ bên trong động mạch gọi là mảng xơ vữa bong ra và gây ra cục máu đông trong các động mạch cung cấp máu cho cơ tim, dẫn đến nhồi máu cơ tim (MI). SCA là một trong những lý do chính khiến phải gọi cấp cứu.
CPR là một phần của quy trình gọi là “ABC” để điều trị nạn nhân bất tỉnh, không có nhịp thở hoặc mạch đập. Từ viết tắt ABC là viết tắt của Airway (đường thở), Breathing (hô hấp), Circulation (tuần hoàn): A, đảm bảo đường thở xuống phổi không bị tắc nghẽn; B, hỗ trợ hô hấp bằng miệng-miệng; C, thúc đẩy tuần hoàn bằng cách ấn ngực. Mỗi bước đều cần thiết để bước tiếp theo thành công, hỗ trợ hô hấp sẽ vô ích, ví dụ, nếu đường thở bị tắc nghẽn, chẳng hạn như do nôn mửa. ABC được phát triển vào những năm 1950 bởi các bác sĩ Peter Safar và James Elam tại Hoa Kỳ. Safar đã viết cuốn ABC of Resuscitation (1957) và Elam đã xuất bản cuốn Rescue Breathing (1959). Năm 2018, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và các chuyên gia khác của Hoa Kỳ đã khuyến nghị đổi ABC thành CAB (trừ trường hợp trẻ sơ sinh) và tăng tốc độ ép tim từ 100 lên 120 lần/phút. Điều này chuyển nhiệm vụ đầu tiên của nạn nhân từ việc kiểm tra đường thở và hỗ trợ hô hấp sang ép tim và duy trì tuần hoàn. AHA giải thích: “Trong trình tự A-B-C, ép ngực thường bị trì hoãn trong khi người cấp cứu mở đường thở để thực hành hô hấp miệng qua miệng hoặc đi lấy thiết bị che chắn hoặc thiết bị thông khí khác. Bằng cách thay đổi trình tự thành C-A-B, khâu ép ngực sẽ được bắt đầu sớm hơn và việc thông khí chỉ bị trì hoãn một chút cho đến khi hoàn thành chu kỳ ép ngực đầu tiên (30 lần ép ngực).” Việc ép ngực trước tiên làm chậm thời gian bắt đầ quá trình hỗ trợ hô hấp chưa đến 20 giây, và hầu hết mọi người có thể nín thở lâu hơn thời gian này. Một xu hướng gần đây khác là bỏ qua việc hỗ trợ hô hấp và tập trung vào ép ngực sau khi đường thở đã thông thoáng, vì ép ngực giúp không khí di chuyển vào và ra khỏi phổi.
Một biến thể của CAB/ABC là thêm chữ D “defib” (khử rung tim) vào, tức là gây sốc điện được kiểm soát cẩn thận qua ngực và tim, nhằm kích thích hệ thống điều khiển điện của tim hoạt động trở lại. Máy khử rung tim đã tồn tại từ hơn một thế kỷ, mặc dù ban đầu chúng chỉ được thiết kế để sử dụng trên động vật. Lần đầu tiên máy khử rung tim được sử dụng trong bệnh viện là vào năm 1947, trên những quả tim bị hở trong phẫu thuật mở ngực. Việc khử rung tim được áp dụng cho lồng ngực kín từ giữa những năm 1950, bằng cách sử dụng “mái chèo” điện cực được ấn vào da. Trong thập kỷ tiếp theo, máy khử rung tim di động xuất hiện và nhanh chóng được mang theo trên hầu hết các xe cứu thương và phương tiện vận chuyển y tế khẩn cấp. Vào những năm 1970, tại Portland, Oregon, bác sĩ Archibald Warren “Arch” Diack và các cộng sự đã phát minh ra thiết bị đầu tiên mà ngày nay được gọi là AED, hay máy khử rung tim ngoài tự động. Ở Anh, các phiên bản đầu tiên, được thử nghiệm vào những năm 1980, được gọi là Heart Aid (Máy Trợ Tim). Thiết bị điện tử đã làm cho AED nhỏ hơn và dễ sử dụng hơn, sao cho sau khi được kết nối với bệnh nhân, có thể chẩn đoán khẩn cấp và áp dụng phương pháp điều trị phù hợp. Máy AED hiện nay có thể được sử dụng mà không cần đào tạo nhiều hoặc thậm chí không cần đào tạo, và được lắp đặt ở mọi nơi, từ văn phòng và nhà máy đến trung tâm mua sắm, trung tâm bơi lội và phòng tập thể dục.
Ngoài máy khử rung tim và các thiết bị y tế khác, có rất nhiều loại thuốc dành cho bệnh nhân cấp cứu. Ví dụ, thuốc phá huyết khối, có thể làm tan và phân tán huyết khối, hay cục máu đông, để khôi phục nguồn cung cấp máu. Cục máu đông liên quan đến nhiều trường hợp cấp cứu y tế, bao gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và huyết khối tĩnh mạch sâu. Ngay từ năm 1933, William Smith Tillett tại Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Hoa Kỳ, đã phát hiện ra rằng một số vi khuẩn tạo ra một chất làm tan cục máu đông, mà ông gọi là streptokinase. Vào cuối những năm 1950, chất này được dùng cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim đột ngột hoặc cấp tính, mặc dù do dữ liệu chưa rõ ràng về tác dụng phụ của nó, nó chỉ được sử dụng hạn chế vào những năm 1970 và được sử dụng rộng rãi vào cuối những năm 1980. Vào khoảng thời gian này, một thuốc tiêu huyết khối khác có tên là rtPA (recombinant tissue plasminogen activator – chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp) đã trở thành một trong những loại thuốc đầu tiên được tạo ra bằng công nghệ kỹ thuật di truyền. Thuốc này được phát triển từ tPA, một chất hòa tan cục máu đông tự nhiên của cơ thể, được phát hiện vào những năm 1940. Khi được sử dụng càng sớm càng tốt, rtPA cùng với các thuốc tiêu huyết khối khác hiện nay đã cứu sống nhiều người và làm giảm các tổn thương lâu dài cho vô số bệnh nhân mỗi năm.
Hoạt động đánh giá cấp cứu tại bệnh viện được diễn tập kỹ lưỡng và nhanh chóng. Theo truyền thống, bốn dấu hiệu sinh tồn chính được kiểm tra là nhiệt độ cơ thể, nhịp tim (mạch), huyết áp (HA) và nhịp thở. Một số chương trình đánh giá bổ sung phản ứng đồng tử, cảm giác đau và “sats” – độ bão hòa oxy trong máu, hoặc tỷ lệ phần trăm oxy trong máu. Cùng với nhịp mạch, độ bão hòa oxy được đo liên tục, thuận tiện và không xâm lấn bằng máy đo độ bão hòa oxy trong máu; một thiết bị cảm biến nhỏ kẹp trên đầu ngón tay hoặc dái tai sử dụng ánh sáng có bước sóng cụ thể để phát hiện lượng hemoglobin trong hồng cầu ở dạng oxyhemoglobin, một chất chứa oxy. Bệnh nhân cấp cứu có nhu cầu cấp thiết nhất có thể được chăm sóc tại khoa ICU (phòng chăm sóc tăng cường), khoa CCU (phòng chăm sóc tim mạch), hoặc các khoa tương tự – tên gọi chính xác của chúng khác nhau tùy theo từng nơi. Ví dụ, một bệnh tim đe dọa tính mạng có thể cần đến Khoa Chăm sóc Đặc biệt Tim mạch (CICU), trong khi trẻ sơ sinh được chăm sóc tại các khoa Chăm sóc Đặc biệt Sơ sinh (NICU).
Ẩn sâu trong tâm trí mọi người là khái niệm “Giờ Vàng”, một lý thuyết cho rằng việc cấp cứu sẽ có cơ hội thành công cao nhất nếu được thực hiện trong vòng 60 phút đầu tiên sau chấn thương. Điều này đã dẫn đến việc ra đời khái niệm “Mười Phút Bạch Kim”, tức là khoảng thời gian cần thiết để các nhân viên cấp cứu hoặc nhân viên y tế đánh giá, điều trị và khởi động việc vận chuyển bệnh nhân. Theo một nghĩa nào đó, đây chính là phần việc của nhân viên y tế trong “Giờ Vàng”. Khi đội ngũ xe cứu thương được đào tạo bài bản hơn, và trang thiết bị của họ ngày càng được mở rộng và tinh vi hơn, cơ hội cứu sống và cải thiện kết quả cuối cùng sẽ chuyển sang những phút đầu tiên của quá trình cấp cứu y tế.

GIỜ VÀNG
Các nhân viên y tế nhanh chóng đến phòng cấp cứu sau khi đã đánh giá tình trạng của bệnh nhân và tiến hành sơ cứu trong thời gian vận chuyển bệnh nhân.
Một Cú Sốc Đối Với Hệ Thống Tuần Hoàn
Khi một người bị đau tim, các cơ tim thường co thắt ngẫu nhiên, một triệu chứng được gọi là rung thất. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể ngăn chặn rung thất và hồi sức cho một con chó bằng cách gây sốc điện vào tim nó. Năm 1947, kỹ thuật này lần đầu tiên được sử dụng trên người. Bác sĩ phẫu thuật người Mỹ Claude Beck đã sử dụng thành công sự kết hợp giữa dòng điện và xoa bóp tim bên trong để hồi sức cho một đứa trẻ bị ngừng tim trong khi phẫu thuật. Vào những năm 1950, máy khử rung tim ngoài đã ra đời, hoạt động mà không cần phải mở ngực bệnh nhân. Một số thiết bị hiện đại có thể tự động tính toán nhịp tim của bệnh nhân, vì vậy chúng có thể được sử dụng trong trường hợp khẩn cấp bởi những người có ít hoặc không được đào tạo.
Thử và sai
Trước thế kỷ 20, các bác sĩ đã thử nhiều phương pháp để giúp tim bệnh nhân đập trở lại, từ việc trích máu đến việc cù cổ họng. Phương pháp thổi ngạt bằng miệng và ấn bụng được đề xuất vào thế kỷ 18, nhưng không được sử dụng rộng rãi. Đây chính là tiền thân của phương pháp hồi sức tim phổi (CPR) hiện đại, được sử dụng từ đầu những năm 1960, giúp duy trì sự sống cho não bằng cách tuần hoàn máu nhân tạo thông qua hô hấp nhân tạo và ép ngực.

BÁ TƯỚC GASTON DE FOIX NGƯỜI PHÁP CHẾT VÌ ĐỨNG TIM NĂM 1391
Máy khử rung tim 1970-1980

Đến những năm 1970, máy khử rung tim di động với bộ nguồn sạc đã xuất hiện. Kích thước nhỏ gọn rất hữu ích cho các dịch vụ và bệnh viện cấp cứu.
Nó hoạt động như thế nào
Nhịp tim đều đặn được điều khiển bởi các xung điện trong cơ thể. Trong trường hợp ngừng tim, các xung điện này trở nên rối loạn. Máy khử rung tim lưu trữ một dòng điện mạnh và chứa một bộ biến áp cho phép người vận hành kiểm soát lượng dòng điện cung cấp. Khi dòng điện được truyền vào bệnh nhân thông qua hai điện cực, cú sốc điện sẽ “thiết lập lại” nhịp tim đều đặn và tim bắt đầu đập trở lại.
VỊ TRÍ ĐIỆN CỰC
Người vận hành đặt điện cực trước ngay dưới xương đòn phải của bệnh nhân. Điện cực sau được đặt bên trái bệnh nhân, bên dưới cơ ngực.

st
]]>Uống đủ nước, duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế rượu bia, đồ uống nhiều đường và thực phẩm giàu purin, có thể giúp kiểm soát acid uric, giảm nguy cơ gout.
Acid uric là chất được cơ thể tạo ra khi phân giải purine, một hợp chất tự nhiên có trong cơ thể và một số thực phẩm, đồ uống. Khi acid uric tích tụ, các tinh thể có thể hình thành trong khớp, gây đau, sưng và các triệu chứng của gout. Kiểm soát acid uric giúp giảm nguy cơ bệnh gout và hạn chế các đợt tái phát.
Uống đủ nước
Uống đủ nước giúp thận tăng đào thải acid uric qua nước tiểu, đồng thời hỗ trợ phòng hình thành sỏi acid uric. Theo Healthline, thận đảm nhiệm phần lớn quá trình lọc và đào thải acid uric ra khỏi cơ thể, vì vậy duy trì đủ nước là một trong những cách đơn giản để hỗ trợ quá trình này.
Nên ưu tiên nước lọc thay vì nước ngọt hoặc đồ uống nhiều đường. Lượng nước cần thiết tùy cơ địa, thời tiết cũng như mức độ vận động; người có bệnh thận, tim mạch hoặc được bác sĩ yêu cầu hạn chế nước nên thực hiện theo hướng dẫn riêng.
Tránh rượu bia, đồ uống có đường
Theo Medical News Today, uống nhiều rượu và đồ uống có đường có liên quan đến nguy cơ phát triển gout cao hơn. Rượu bia có thể làm tăng nồng độ acid uric do ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa purine và khả năng bài tiết acid uric. Rượu còn góp phần gây mất nước, trong khi một số loại bia chứa lượng purin tương đối cao.
Đường fructose, đặc biệt khi có trong đồ uống, có thể thúc đẩy quá trình tạo acid uric. Nước ngọt, trà sữa, nước ép có thêm đường và các sản phẩm chứa nhiều đường bổ sung vì vậy nên được hạn chế. Có thể thay nước ngọt bằng nước lọc, trà hoặc cà phê không đường; ưu tiên trái cây nguyên quả thay vì các loại đồ uống chứa nhiều đường.
Hạn chế thực phẩm giàu purine
Một số thực phẩm chứa nhiều purin có thể làm tăng lượng acid uric tạo ra trong quá trình chuyển hóa. Nhóm thực phẩm này gồm nội tạng, một số loại thịt đỏ, cá và hải sản như cá mòi, cá trích, cá cơm, trai. Thịt lợn, thịt gà, thịt bò, tôm, cua cũng chứa lượng purine ở mức vừa phải.
Người có chỉ số acid uric máu cao không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn mọi thực phẩm chứa purin mà nên kiểm soát khẩu phần, đặc biệt với nội tạng, thịt đỏ và một số loại hải sản.
Uống cà phê ở mức vừa phải
Cà phê được cho là có thể tác động đến quá trình chuyển hóa purin, đồng thời thúc đẩy cơ thể đào thải acid uric. Do đó, người mắc chứng tăng acid uric máu có thể uống cà phê ở mức vừa phải nếu phù hợp với cơ địa, ưu tiên cà phê ít hoặc không thêm đường. Tuy nhiên, không nên xem cà phê là biện pháp thay thế thuốc hoặc chế độ điều trị gout.

Uống cà phê có thể ảnh hưởng đến quá trình tạo và đào thải acid uric, nhờ đó kiểm soát chỉ số tốt hơn. Ảnh minh họa: Bảo Bảo
Ưu tiên thực phẩm giàu chất xơ
Rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, khoai tây, cơm, mì và các sản phẩm sữa ít béo là những lựa chọn có thể đưa vào chế độ ăn kiểm soát acid uric. Trang Healthline cũng chỉ ra tăng chất xơ từ rau, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt có thể hỗ trợ giảm acid uric, đồng thời giúp kiểm soát đường huyết và tăng cảm giác no. Người trưởng thành nên tăng chất xơ từ từ để hạn chế đầy bụng, khó chịu tiêu hóa.
Duy trì cân nặng hợp lý
Thừa cân, béo phì có thể liên quan đến nồng độ acid uric cao. Lượng mỡ cơ thể cao có thể làm giảm khả năng thải chất thải này của thận, đồng thời ảnh hưởng đến lượng được tạo ra. Giảm cân nếu thừa cân theo hướng từ từ và bền vững, có thể hỗ trợ kiểm soát acid uric và cải thiện sức khỏe chuyển hóa.
Mọi người không nên nhịn ăn hoặc giảm cân quá nhanh vì những thay đổi đột ngột về cân nặng có thể không có lợi cho người tăng acid uric.
Vận động thường xuyên
Tập luyện đều đặn giúp kiểm soát cân nặng và cải thiện sức khỏe chuyển hóa, từ đó hỗ trợ kiểm soát acid uric. Đi bộ nhanh, đạp xe, bơi, tập sức mạnh hoặc các hình thức vận động phù hợp thể trạng đều có thể được lựa chọn.
Theo Verywell Health, duy trì hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp giảm acid uric và cải thiện các yếu tố liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Người đang trải qua cơn gout cấp nên điều chỉnh mức độ vận động theo tình trạng đau và hướng dẫn của bác sĩ, tránh tập quá sức hoặc gây áp lực lên khớp đang viêm.
Các thay đổi về chế độ ăn, cân nặng và vận động có thể hỗ trợ kiểm soát acid uric nhưng không phải lúc nào cũng thay thế được thuốc. Người bị gout tái phát hoặc acid uric tăng kéo dài nên được bác sĩ đánh giá và điều trị phù hợp.
Bảo Bảo (Tổng hợp)
st
]]>Người tăng acid uric máu không nhất thiết phải kiêng trái cây, nhưng nên ưu tiên ăn nguyên quả, kiểm soát khẩu phần và hạn chế nước ép, đồ uống nhiều fructose.
Trái cây cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và các hợp chất chống oxy hóa, có thể là một phần của chế độ ăn lành mạnh cho người mắc tăng acid uric máu hoặc bệnh gout. Tuy nhiên, nhiều loại cũng chứa fructose, một loại đường có thể làm tăng acid uric trong máu khi tiêu thụ quá nhiều. Thay vì loại bỏ trái cây khỏi thực đơn, người có chỉ số acid uric cao nên chú ý cách lựa chọn và sử dụng.
Ưu tiên trái cây tươi, ăn nguyên quả
Ăn nguyên quả giúp giữ lại chất xơ và thường tạo cảm giác no tốt hơn so với uống nước ép. Người tăng acid uric máu có thể lựa chọn đa dạng trái cây tươi, kết hợp với rau, ngũ cốc nguyên hạt, sữa ít béo và các nguồn protein phù hợp.
Một số loại quả giàu vitamin C như cam, bưởi, dâu tây cũng có thể được đưa vào chế độ ăn. Vitamin C từng được nghiên cứu về khả năng ảnh hưởng đến nồng độ acid uric, nhưng không nên xem việc ăn trái cây giàu vitamin C là phương pháp điều trị tăng acid uric.
Theo hướng dẫn của Hội Thấp khớp học Mỹ (ACR), các thay đổi chế độ ăn nhìn chung chỉ tạo ra mức thay đổi nhỏ đối với nồng độ acid uric; người bệnh gout vẫn cần điều trị theo chỉ định khi cần.

Cam cung cấp vitamin C và có thể là một phần của chế độ ăn phù hợp cho người có acid uric cao. Ảnh minh họa: Bảo Bảo
Hạn chế nước ép, nhất là loại uống nhiều trong một lần
Nước ép trái cây có thể chứa lượng đường tự nhiên đáng kể và dễ khiến cơ thể nhận nhiều fructose trong thời gian ngắn. Các loại nước trái cây đóng chai, nước ép thêm đường hoặc đồ uống có hàm lượng fructose cao.
ACR khuyến nghị người bệnh gout hạn chế các nguồn fructose cao, đặc biệt là siro ngô giàu fructose. Do đó, một quả cam hoặc một phần dâu tây ăn nguyên quả thường là lựa chọn phù hợp hơn so với uống một cốc nước ép được làm từ nhiều quả cùng lúc.
Không cần kiêng hoàn toàn trái cây ngọt
Fructose có thể làm tăng acid uric, nhưng điều này không có nghĩa người bị tăng acid uric máu phải loại bỏ toàn bộ trái cây có vị ngọt. Trái cây nguyên quả còn chứa chất xơ và nhiều dưỡng chất khác. Vì vậy, điều quan trọng là lượng ăn và dạng thực phẩm, thay vì chỉ dựa vào vị ngọt của quả.
Người có chỉ số acid uric cao có thể thay đổi các loại trái cây trong ngày, ăn lượng vừa phải và tránh biến trái cây thành nguồn đường chính của khẩu phần.
Ưu tiên khẩu phần vừa phải thay vì ăn thật nhiều
Mặc dù trái cây có lợi cho sức khỏe nhưng bạn không nên ăn với lượng quá lớn, đặc biệt ở người đang cần kiểm soát tổng lượng đường và năng lượng. Có thể chia thành các phần nhỏ trong ngày, kết hợp với bữa ăn cân bằng thay vì ăn một lượng lớn cùng lúc. Uống đủ nước cũng quan trọng vì thận đảm nhiệm việc lọc và đào thải acid uric khỏi cơ thể.
Bên cạnh trái cây, chế độ ăn tổng thể có vai trò lớn hơn. Người tăng acid uric hoặc gout nên hạn chế rượu bia, đồ uống nhiều đường và các thực phẩm giàu purine theo hướng dẫn của bác sĩ.
Chế độ ăn có thể góp phần kiểm soát acid uric và giảm nguy cơ các yếu tố kích hoạt cơn gout, nhưng vẫn cần kết hợp với việc dùng thuốc theo chỉ định nếu có. Nếu đã được chẩn đoán gout hoặc nồng độ acid uric tăng kéo dài, nên theo dõi xét nghiệm và dùng thuốc theo chỉ định thay vì chỉ dựa vào thay đổi thực đơn.
Bảo Bảo (Tổng hợp)
st
]]>
Chụp Ảnh Cơ Thể
Hầu hết các ngành y đã tồn tại từ thời Hippocrates của Hy Lạp cổ đại, Trương Trọng Cảnh ở Trung Quốc, và Charaka của Ấn Độ. Những bậc tiền bối này hẳn sẽ kinh ngạc trước phép màu hiện đại của hình ảnh y học, cho phép nhìn thấy bên trong cơ thể mà không cần mổ xẻ. X-quang là chuyên khoa y tế sử dụng hình ảnh để chẩn đoán bệnh, theo dõi tiến triển và thực hiện các liệu pháp. Đây là một lĩnh vực kết hợp sinh học, hóa sinh và y học với vật lý và công nghệ. Những người tiên phong trong lĩnh vực này đã giành được không ít giải Nobel và các giải thưởng danh giá khác, và nó nổi tiếng với hàng loạt các từ viết tắt gây chóng mặt – CT, MRI, PET, SPECT, US, v.v.
Công nghệ hình ảnh chỉ mới tồn tại hơn một thế kỷ. Đầu tiên là tia X, câu chuyện về nó đã được ghi chép lại đầy đủ. Vào ngày 8 tháng 11 năm 1895, nhà vật lý người Đức Wilhelm Röntgen đang thử nghiệm một thiết bị điện thời thượng vào thời của ông – ống chân không cao áp hay ống Crookes. Ống này sử dụng điện để tạo ra “tia âm cực”, sau này được phát hiện là các chùm hạt gọi là electron. Röntgen nhận thấy rằng, mặc dù ống của ông được che chắn bằng bìa cứng, nó vẫn làm phát sáng một màn hình gần đó – một màn hình được phủ một hóa chất gọi là bari plantinocyanide để chuẩn bị cho một thí nghiệm khác về tia âm cực. Các nhà nghiên cứu khác đã nhận thấy hiện tượng này với các ống cao áp, nhưng không theo đuổi nó. Röntgen quyết định điều tra đầy đủ. Trong nhiều tuần, ông miệt mài nghiên cứu “những tia bí ẩn” phát ra từ ống, và phát hiện ra rằng chúng xuyên qua các vật liệu ít đặc hơn như giấy và bìa cứng, nhưng không xuyên qua các vật liệu đặc và nặng như kim loại. Ngoài ra, khi ông giữ các vật thể trên đường đi của chúng để xem chúng có tạo ra bóng hay không, ông thấy rằng xương bàn tay của mình được chiếu lên màn hình – một hiện tượng có tiềm năng y học to lớn.

WILHELM RÖNTGEN
Được biết đến là cha đẻ của ngành chẩn đoán hình ảnh, nhà vật lý Đức Wilhelm Röntgen là người tiên phong trong việc sử dụng tia X Röntgen để chụp ảnh y tế.

BÀN TAY CỦA BÀ RÖNTGEN
Vào năm 1895-1896, Röntgen đã chụp một số bức ảnh X-quang bàn tay của vợ mình, bức ảnh này có đầy đủ hai chiếc nhẫn và một cặp compa.
Ngày 22 tháng 12, Röntgen đặt một tấm phim lên màn hình và chụp ảnh bàn tay của vợ mình, để lộ xương – khiến bà thốt lên: “Tôi đã chứng kiến cái chết của chính mình!” Röntgen đặt tên cho các tia này là “tia X”, vì bản chất của chúng vẫn chưa được biết rõ, và công bố kết quả nghiên cứu của mình vào cuối tháng đó. Năm 1901, ông được trao giải Nobel Vật lý đầu tiên “để ghi nhận những đóng góp phi thường của ông trong việc khám phá ra các tia đáng chú ý sau này được đặt theo tên ông” – mặc dù cái tên “tia Röntgen” đã sớm được thay thế bằng “tia X”. Ngay sau khám phá của Röntgen, các bác sĩ đã tận dụng tối đa công nghệ mới này. Ngày 11 tháng 1 năm 1896, tại Birmingham, Anh, bác sĩ phẫu thuật John Hall-Edward đã chụp X-quang một cây kim cắm vào tay bệnh nhân, và ngày 3 tháng 2, tại Connecticut, Giáo sư Y khoa Gilman Frost đã chụp X-quang cổ tay của Eddie McCarthy, 14 tuổi, người đã bị gãy xương hai tuần trước đó. Ngày 14 tháng 2, trở lại Birmingham, Hall-Edward đã chụp X-quang cho một bệnh nhân trước khi phẫu thuật để giúp định hướng ca phẫu thuật.
Đến đầu thế kỷ 20, việc sử dụng tia X đã trở nên phổ biến, và người ta nhận thấy rằng mô cơ thể càng đặc thì càng làm giảm (làm yếu) tia, nghĩa là xương và sụn hiện rõ nhất, trong khi các mô mềm hơn khó nhìn thấy. Phải mất vài năm sau, tác hại của loại bức xạ này mới trở nên rõ ràng, và thậm chí còn lâu hơn nữa, liệu pháp xạ trị mới biến điều này thành lợi thế. Năm 1908, Hall-Edward phải cắt bỏ cánh tay trái do tổn thương bởi bức xạ. Tuy nhiên, liều lượng bức xạ đã giảm và thiết bị dần được cải tiến, cung cấp hình ảnh có thể được ghi lại trên phim ảnh hoặc xem “trực tiếp”, chuyển động trên màn hình huỳnh quang. Hình ảnh trên các màn hình “soi huỳnh quang” này là cực kỳ nhợt nhạt và tối tăm, điều này có nghĩa là mức độ ánh sáng trong phòng khám phải được giữ ở mức tối thiểu. Vào những năm 1950, các bộ khuếch đại hình ảnh điện tử và các loại máy ảnh mới đã làm cho hình ảnh trên màn hình huỳnh quang đủ sáng để có thể xem dưới ánh sáng bình thường và được ghi lại để nghiên cứu sau này.

BẢO VỆ BỨC XẠ
Một kỹ thuật viên chụp X-quang của quân đội Pháp đang mặc đồ bảo hộ trước khi sử dụng thiết bị chụp X-quang. Bức ảnh được chụp vào năm 1918, gần cuối Thế chiến thứ nhất.
Các kỹ thuật chụp X-quang khác cũng đã được phát triển. Ngay từ năm 1906, các chất cản quang hay còn gọi là “thuốc nhuộm”, đã được sử dụng. Những chất này chặn tia X, do đó chúng hiển thị rõ ràng trên hình ảnh chụp X-quang. Chúng có thể được đưa vào cơ thể dưới dạng chất lỏng, để hiển thị chi tiết các cấu trúc rỗng như dạ dày và ruột. Đến những năm 1920, các hợp chất gốc bari đã được uống hoặc đưa vào qua đường thụt tháo để hiển thị đường viền ruột. Kỹ thuật tương tự cũng được áp dụng cho mạch máu, sử dụng thuốc nhuộm gốc iốt. Nhà phát triển kỹ thuật này, bác sĩ thần kinh người Bồ Đào Nha António Egas Moniz, đã tiên phong trong chụp động mạch não để hình dung các mạch máu của não, và nhờ đó ông đã nhận được Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y khoa năm 1949.
Năm 1913, nhà vật lý người Mỹ William David Coolidge đã phát minh ra ống tia X “cathode nóng” hay ống tia X nhiệt điện tử để thay thế loại Crookes “lạnh” cũ. Tia X của nó cho hình ảnh rõ nét hơn, sắc nét hơn so với ống Crookes, đặc biệt là ở những vùng sâu bên trong cơ thể. Cùng năm đó, bác sĩ phẫu thuật kiêm bác sĩ bệnh học người Đức Albert Salomon đã kiểm tra tỉ mỉ 3.000 mẫu vật vú cắt bỏ, chụp X-quang để so sánh và chỉ ra mối tương quan giữa các đốm trên hình ảnh với sự phát triển của ung thư vú. Công trình của ông đã đặt nền móng cho chụp nhũ ảnh, một nhánh y học chuyên phát hiện các dấu hiệu sớm của ung thư vú.
Hai người nhận giải Nobel khác về hình ảnh y tế là Godfrey Hounsfield và Allan Cormack, cùng nhận được vinh dự này vào năm 1979 “vì sự phát triển của chụp cắt lớp vi tính – thường được gọi là quét CAT hoặc CT, là hình ảnh được tạo thành từ một loạt các đơn vị ánh sáng nhỏ, từng dòng một. Hounsfield lớn lên trong một trang trại ở Nottinghamshire, Anh, và từ khi còn nhỏ, ông đã phát minh, mày mò và cải tiến đồ chơi và máy móc, thậm chí còn nhảy từ đống cỏ khô xuống để thử nghiệm một chiếc tàu lượn tự chế. Ông tiếp tục theo đuổi sở thích về máy bay trong Thế chiến II, chuyển sang lĩnh vực radio và radar, và làm việc tại Tây London cho EMI (Electrical and Musical Industries khi đó là một công ty nghiên cứu công nghiệp cũng như một hãng thu âm). Tìm kiếm các dự án trong tương lai, ông lưu ý: “Chính trong khi khám phá các khía cạnh khác nhau của nhận dạng mẫu và tiềm năng của chúng, vào năm 1967, ý tưởng nảy ra trong tôi mà sau này sẽ trở thành máy quét EMI và kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính.”
Quét đòi hỏi máy tính phải xử lý dữ liệu thô thành hình ảnh, vì vậy nó không trở thành một phần của quy trình y tế chính thống cho đến những năm 1970. Chùm tia X yếu của máy quét CT đi qua cơ thể bệnh nhân đến một bộ phận dò ở phía bên kia, khi toàn bộ thiết bị xoay quanh bệnh nhân. Sau đó, thiết bị di chuyển đến phần tiếp theo của cơ thể bệnh nhân và lặp lại quá trình, cứ thế. Máy tính phân tích kết quả và tạo ra một loạt hình ảnh cắt ngang của cơ thể. Kỹ thuật này được gọi là “chụp cắt lớp (tomography)”, bắt nguồn từ thuật ngữ “vẽ lát cắt” trong tiếng Hy Lạp. Các mặt cắt ngang sau đó được biên dịch để tạo ra hình ảnh 3D đầy đủ của cơ thể, không chỉ cho thấy xương và sụn mà còn cả toàn bộ các mô mềm. Không giống như hình ảnh X-quang truyền thống, mỗi điểm quét được mã hóa kỹ thuật số, cho phép phóng to và thao tác chưa từng có trước đây, và truyền tải điện tử rộng rãi.
Các thử nghiệm CT đầu tiên của Hounsfield vào cuối những năm 1960 tập trung vào não, bộ phận không thể nhìn thấy bằng tia X thông thường vì nó được che chắn trong hộp sọ. Ban đầu, Hounsfield quét các cơ quan động vật bằng tia gamma, một quá trình mất nhiều ngày để thực hiện trên một máy tính cơ sở hạ tầng lớn. Việc chuyển sang tia X và các máy quét tốt hơn đã giảm đáng kể thời gian thực hiện một lần quét. Nhóm của Hounsfield đã công bố các bản chụp CT sơ bộ vào năm 1968, thực hiện các lần chụp CT đầu lâm sàng vào năm 1971, ra mắt máy quét EMI đầu tiên vào năm 1972 và chuyển sang quét toàn thân vào năm 1974. Hounsfield đã tình nguyện làm vật thí nghiệm cho các lần quét não và toàn thân, tuyên bố rằng ông có thể nhìn thấy bữa trưa của mình ở quán rượu với bia và khoai tây chiên. Tại một hội nghị ở Bermuda năm 1975, ông đã trình diễn các bản chụp CT toàn thân của chính mình – sau đó, kỹ thuật được chấp nhận bởi cơ sở. Người đồng nhận Giải Nobel với Hounsfield
là nhà vật lý Nam Phi Allan Cormack, người đã công bố cơ sở lý thuyết của phương pháp chụp CT vào đầu những năm 1960. Tuy nhiên, hai người chưa từng gặp nhau trước lễ trao giải Nobel ở Stockholm.
Tia X là một dạng bức xạ điện từ, có phổ bước sóng rộng. Các bước sóng này trải dài từ sóng vô tuyến tương đối dài đến sóng vi ba ngắn hơn, ánh sáng hồng ngoại, ánh sáng khả kiến, ánh sáng cực tím, tia X và tia gamma. Những tia ngắn nhất này được sử dụng trong kỹ thuật chụp ảnh hạt nhân, một kiểu quét y tế “từ trong ra ngoài” (“hạt nhân” bắt nguồn từ “hạt nhân” – phần trung tâm của hạt nhỏ nhất trong vật chất thông thường, nguyên tử). Không giống như hầu hết các công nghệ chụp ảnh, vốn chiếu bức xạ vào và xuyên qua cơ thể, chụp ảnh hạt nhân hoạt động bằng cách đưa các chất phát ra tia gamma hoặc bức xạ tương tự vào bên trong cơ thể và sử dụng các đầu dò bên ngoài để theo dõi chuyển động của chúng. Các chất này được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hạt nhân phóng xạ, đồng vị phóng xạ, đồng vị phóng xạ, chất đánh dấu phóng xạ, thẻ phóng xạ và nhãn phóng xạ.
Các chất phóng xạ có hạt nhân không ổn định, phát ra sóng điện từ (và đôi khi là các hạt) khi chúng chuyển sang dạng bền hơn. Chúng được tích hợp vào các chất được đưa vào cơ thể qua đường tiêu hóa, tiêm hoặc hít, và được theo dõi tại các vị trí cụ thể. Thiết bị phát hiện đầu tiên của chúng là camera gamma (hay “scintillation”), còn được gọi là camera Anger, theo tên nhà vật lý người Mỹ Hal Anger, người đã phát triển chúng vào năm 1957. Một trong những chất phóng xạ được sử dụng phổ biến nhất là technetium-99m. Được phát hiện vào năm 1938, nó đã trở nên phổ biến vào những năm 1960, sau khi một máy phát điện để tạo ra nó được phát minh bởi Powell Richards, Walter Tucker và một nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, New York. Technetium-99m giảm một nửa sau mỗi sáu giờ, do đó mức độ phơi nhiễm của bệnh nhân thấp, mặc dù bức xạ của nó có thể dễ dàng phát hiện bằng thiết bị chẩn đoán. Nó được sử dụng để chụp ảnh nhiều loại mô cơ thể, bao gồm xương, tim, tuyến giáp và phổi. Technetium-99m thường được sử dụng như một phần của quá trình quét SPECT (chụp cắt lớp phát xạ photon đơn), giống như chụp CT, tạo ra hình ảnh 3 chiều theo từng lát cắt khi các máy dò quay xung quanh cơ thể.
Một kỹ thuật chụp ảnh điện từ khác là MRI (chụp cộng hưởng từ). MRI cũng tạo ra một loạt lát cắt cho phép nhìn thấy các mô mềm cũng như xương và sụn cứng hơn. Kỹ thuật này hoạt động bằng cách sử dụng từ tính sắp thẳng hàng các hạt nhân nguyên tử hydro trong cơ thể bệnh nhân – các hạt nhân nhân vốn thường quay và lắc lư theo mọi hướng, sau đó giải phóng chúng để phát ra các xung vô tuyến, được các cảm biến xung quanh cơ thể bệnh nhân phát hiện. Vì nguyên tử hydro chiếm hai phần ba cơ thể, là thành phần của nước (H2O), carbohydrate và chất béo, nên MRI có thể chụp ảnh hầu hết các bộ phận của cơ thể, bao gồm não, cơ, mô liên kết, dây thần kinh, mạch máu và khối u.
MRI lần đầu tiên được nghiên cứu vào năm 1946 bởi nhà vật lý người Mỹ gốc Thụy Sĩ Felix Bloch tại Đại học Stanford và nhà vật lý người Mỹ Edward Purcell tại Đại học Harvard. Ban đầu, họ nghĩ đến việc sử dụng MRI để chụp ảnh bên trong cơ thể, nhưng mối quan tâm chính của họ là nghiên cứu thành phần cấu trúc của các chất hóa học. Trong những năm 1960 và 1970, nhà hóa học người Mỹ Paul Lauterbur đã áp dụng kỹ thuật này vào chụp ảnh y tế và sử dụng máy MRI tại Đại học Stony Brook, New York, để làm các thử nghiệm. Cùng lúc đó, nhà vật lý người Anh Peter Mansfield cũng đang nghiên cứu về MRI, thiết lập cách tạo ra hình ảnh từ các xung vô tuyến phát ra từ hạt nhân hydro. Đến cuối những năm 1970, ông đã thực hiện các bản quét toàn bộ cơ thể người. Lauterbur và Mansfield đã cùng chia sẻ Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2003 “cho những khám phá của họ liên quan đến chụp cộng hưởng từ”. Mansfield tiếp tục phát triển MRI xa hơn nữa với một kỹ thuật gọi là chụp ảnh phản xạ phẳng, cho phép chụp ảnh nhanh hơn nữa.

QUÉT MRI
Bệnh nhân nằm bên trong máy quét MRI. Máy thực chất là một nam châm lớn, mạnh mẽ tác động lên các hạt nhân nguyên tử khác nhau trong cơ thể để tạo ra hình ảnh có thể được sử dụng để đánh giá tình trạng của bệnh nhân.
Gần đây hơn, các máy quét kết hợp hai hoặc nhiều công nghệ đã được phát minh. Ví dụ, máy quét PET/CT cho thấy cả cấu trúc mô – thông qua CT (chụp cắt lớp vi tính) và chức năng mô – thông qua PET (chụp cắt lớp phát xạ positron). PET có một lịch sử lâu dài, bao gồm những tiến bộ được thực hiện vào đầu những năm 1970 tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, bởi James Roberston và Sy Rankowitz, và tại Montreal, Canada, bởi Chris Thompson, Ernst Myer và Lucas Yamato. Michael Phelps và các đồng nghiệp của mình tại Đại học Washington đã chế tạo những chiếc máy chụp cắt lớp đầu tiên vào năm 1973-1974. Một trong số đó, PET III đã tạo ra những lần quét đầu tiên có chất lượng như ngày nay, và vào năm 1978, máy quét PET thương mại đầu tiên, ECAT II (Máy chụp cắt lớp trục phát xạ II) đã có mặt trên thị trường.
“Các phát hiện vĩ đại do tình cờ hiếm gặp hơn nhiều so với mức công chúng vẫn tưởng.”
EDWARD PURCELL
Tương tự như quét hạt nhân phóng xạ, quét PET đòi hỏi phải đưa một chất đánh dấu phóng xạ không ổn định vào cơ thể, một ví dụ phổ biến là glucose. Chất này bắn ra các hạt gọi là positron, tức là các electron đối lập với electron “quay quanh” hạt nhân nguyên tử, và khi mỗi positron va chạm với một electron đối lập, hai hạt này sẽ hủy lẫn nhau trong một chùm tia gamma được các cảm biến phát hiện. Các tế bào và mô hoạt động mạnh nhất đốt cháy glucose nhanh nhất, vì vậy chúng xuất hiện dưới dạng các điểm nóng trên hình ảnh thu được. Quét PET cho thấy hoạt động của các cơ quan và mô, và được ứng dụng rộng rãi trong tim mạch, điều trị ung thư, và thậm chí trong việc đánh giá một số bệnh lý tâm thần như tâm thần phân liệt hoặc lạm dụng chất gây nghiện. Mặc dù chụp PET nhất thiết phải sử dụng bức xạ, nhưng mức độ bức xạ được sử dụng thấp, tương đối an toàn và không gây đau đớn hoặc khó chịu cho bệnh nhân, mặc dù một số bệnh nhân có thể cảm thấy sợ không gian hẹp khi nằm trong phạm vi hẹp của máy quét. Chụp PET cũng thường được sử dụng kết hợp với các hình thức chụp ảnh khác, chẳng hạn như CT và MRI, giúp làm sáng tỏ cấu trúc mô. PET đặc biệt hữu ích trong việc xác định các tế bào đang phân chia mạnh mẽ trong khối u, và một biến thể của chụp MRI, được gọi là fMRI (f là viết tắt của chức năng), cho thấy hoạt động của não.
Máy quét PET/CT là phát minh y khoa của năm 2000 do Tạp chí TIME bình chọn. Sự phát triển của công nghệ quét đã mang lại lợi ích to lớn cho bệnh nhân trên toàn thế giới, cả về mặt chẩn đoán lẫn các thủ thuật không xâm lấn, tương đối an toàn và thoải mái. Các bác sĩ X quang ngày nay có nhiều lựa chọn máy chụp, mỗi loại đều có những ưu điểm riêng. Ví dụ, siêu âm (US); sử dụng sóng âm thay vì sóng điện từ để tạo ra hình ảnh, đây là một hình thức chụp cực kỳ an toàn và thường được sử dụng để kiểm tra trẻ sơ sinh trong bụng mẹ. Hình ảnh kỹ thuật số của các máy quét hiện đại có thể được phóng đại rất nhiều và phân phối điện tử trên toàn cầu để có được nhiều ý kiến thứ hai. Mỗi ngày, hàng triệu lần quét xác định hoặc loại trừ các vấn đề, giúp lập kế hoạch phẫu thuật, theo dõi điều trị và nói chung là cứu sống mạng người – nhìn từ bên ngoài cơ thể mà không cần đến dao mổ.
Hình ảnh bên trong cơ thể
Việc phát hiện ra tia X vào cuối thế kỷ 19 đã giúp chúng ta lần đầu tiên nhìn thấy hình ảnh bên trong cơ thể, làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về cấu trúc, cách thức hoạt động và cách cơ thể bị ảnh hưởng bởi bệnh tật. Kể từ đó, các phương pháp chụp X-quang ngày càng tinh vi đã được phát triển – một số cho các cơ quan hoặc mô cụ thể, số khác cho toàn bộ cơ thể. Tất cả chúng đều là những công cụ hỗ trợ vô giá cho chẩn đoán, phẫu thuật và điều trị.

Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm (IVF)
Những em bé được thụ thai ngoài cơ thể, sau đó trứng đã thụ tinh được đưa trở lại tử cung người mẹ để phát triển và lớn lên bình thường. Bé đầu tiên như vậy, chào đời năm 1959, hầu như không gây chấn động thế giới – chắc chắn vì đó là một chú thỏ. Tuy nhiên, em bé đầu tiên trên thế giới được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm – Louise Brown, chào đời tại Oldham, Anh, vào ngày 25 tháng 7 năm 1978 – đã gây chấn động toàn cầu. Sự kiện này đã mang lại hy vọng cho hàng triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trên khắp thế giới đang gặp khó khăn trong việc thụ thai. Nó cũng khơi mào một cuộc tranh luận đạo đức lớn. Các bác sĩ bị cáo buộc “đóng vai Chúa” khi tạo ra sự sống ở nơi mà Chúa chưa cho phép. Câu trả lời của họ là họ không thực sự tạo ra sự sống đó; y học chỉ đơn giản là hỗ trợ một quá trình sinh học tự nhiên, do đó có thuật ngữ “hỗ trợ sinh sản”.
Trẻ sơ sinh là kết quả cuối cùng của một loạt các quá trình phức tạp, tinh tế mất khoảng chín tháng để hoàn thành. Các quá trình này bắt đầu trong cơ thể phụ nữ với sự giải phóng (rụng trứng) của một tế bào trứng chín (trứng trưởng thành) từ nang của nó trong một trong hai buồng tạo trứng. Sau đó, trứng di chuyển dọc theo ống dẫn trứng về phía tử cung. Trong khi đó, trong cơ thể nam giới, hàng triệu tế bào tinh trùng trưởng thành hàng ngày trong tinh hoàn. Trong quá trình quan hệ tình dục, khoảng 250-500 triệu tinh trùng trong chất lỏng dinh dưỡng của chúng (tinh dịch) được giải phóng vào âm đạo của phụ nữ và một số đi qua cổ tử cung vào tử cung và tiếp tục vào hai ống dẫn trứng. Nếu có một quả trứng chín trong một trong các ống, tinh trùng có thể thụ tinh cho trứng. Trứng đã thụ tinh (hợp tử) sau đó tiếp tục di chuyển dọc theo ống dẫn trứng vào tử cung, phân chia thành hai tế bào, bốn tế bào, tám tế bào, v.v., cho đến vài ngày sau, một khối tế bào hình cầu giống quả mâm xôi – phôi thai giai đoạn đầu, hay phôi dâu. Các tế bào của phôi dâu tiếp tục nhân lên cho đến khi tạo thành một cụm tế bào rỗng gọi là phôi nang, sau đó phôi nang này sẽ bám vào niêm mạc tử cung và tiếp tục phát triển. Toàn bộ chuỗi quá trình này được tính toán thời gian cẩn thận, và mỗi giai đoạn đều phụ thuộc vào việc giai đoạn trước đó đã hoàn thành mỹ mãn hay chưa, vì vậy, bất kỳ vấn đề nào trên chuỗi đều có thể ngăn cản quá trình thụ thai.
Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), giúp trứng và tinh trùng gặp nhau “in vitro” (trong ống nghiệm), trái ngược với in vivo (trong cơ thể sống), trong “mô sống” của người mẹ. Năm 1978, em bé IVF đầu tiên được quảng cáo là “em bé ống nghiệm” đầu tiên, mặc dù thực tế quá trình thụ tinh có thể diễn ra trong nhiều loại vật chứa khác nhau, chẳng hạn như cốc thủy tinh, bình cầu, hoặc đĩa Petri (như trường hợp của Louise Brown). Sau khi thụ tinh, sự phát triển được theo dõi dưới kính hiển vi, và ba đến năm ngày sau, phôi thai đầu tiên, vẫn còn nhỏ khoảng một inch, được đưa vào tử cung – một quá trình được gọi là chuyển phôi.
Trong gần một nửa số trường hợp vô sinh, việc không thụ thai tự nhiên là do thiếu hụt tinh trùng nam. Nó cũng có thể là kết quả của việc chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ bị rối loạn, có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế sự rụng trứng. Điều này có thể là do thiếu hụt hoặc mất cân bằng giữa các hormone điều hòa chu kỳ, đặc biệt là estrogen, progesterone và hormone kích thích nang trứng. Tình trạng rụng trứng không đều hoặc không rụng trứng do các vấn đề về hormone có thể được điều trị bằng các loại thuốc hỗ trợ sinh sản. Một trong những loại thuốc đầu tiên trong số này là clomifene (được đăng ký nhãn hiệu là Clomid và Omifin), xuất hiện vào những năm 1960. Thuốc hoạt động bằng cách khiến não bộ nghĩ rằng cơ thể không sản xuất đủ estrogen, khuyến khích cơ thể tăng nồng độ hormone, thường dẫn đến rụng trứng. Một nhóm thuốc tăng cường sinh sản khác là menotropin, được giới thiệu vào những năm 1970. Chúng được chiết xuất từ nước tiểu của phụ nữ sau mãn kinh và chứa các hormone kích thích nang trứng và hormone hoàng thể tự nhiên, cả hai đều kích thích sự phát triển của trứng trong nang trứng. Một trong những menotropin, Pergonal, được phát triển bởi nhà sinh lý học Robert Edwards và bác sĩ sản phụ khoa Patrick Steptoe, bộ đôi đã thực hiện ca sinh nở bằng phương pháp IVF đầu tiên, đó là Louise Brown.
Patrick Steptoe lớn lên gần Oxford, được đào tạo y khoa tại London, và đảm nhiệm một vị trí tại Bệnh viện Đa khoa Oldham ở Lancashire, tây bắc nước Anh, nơi ông đứng đầu một khoa sinh sản. Robert Edwards trải qua tuổi trẻ ở Yorkshire và Manchester, sau đó học tập và nghiên cứu sâu hơn tại nhiều địa điểm khác nhau trên khắp Vương quốc Anh, bao gồm Bangor, Edinburgh, London và Glasgow, và tại Viện Công nghệ California, trước khi định cư tại Đại học Cambridge vào năm 1963 để nghiên cứu về sinh học phát triển. Trong suốt thời gian dài hợp tác với Steptoe, Edwards đã cung cấp kiến thức phòng thí nghiệm và sinh lý học, cố gắng tạo ra các điều kiện cho phép trứng và tinh trùng kết hợp bên ngoài cơ thể, trong khi Steptoe phát triển các phương pháp thu thập trứng từ phụ nữ. Hai người gặp nhau vào năm 1968 và bắt đầu làm việc với bệnh nhân vào năm 1970. Edwards đã thành công trong việc thụ tinh trứng trong phòng thí nghiệm, một quá trình liên quan đến việc tạo ra một môi trường lỏng hoặc môi trường nuôi cấy mà trứng và tinh trùng có thể hòa trộn vào nhau. Môi trường này phải mô phỏng nhiệt độ và hỗn hợp của các chất dinh dưỡng, khoáng chất cơ thể và các chất khác có trong ống dẫn trứng, và phải kích hoạt các tế bào tinh trùng – thách thức lớn thứ hai đối với IVF. Quá trình này bao gồm việc làm suy yếu “mũ” ở đầu trước của tinh trùng, để tinh trùng có thể hòa màng và kết hợp với trứng — một quá trình vốn diễn ra tự nhiên trong cơ thể khi tinh trùng tiếp xúc với các dịch trong âm đạo và tử cung.

ĐĨA PETRI TRẺ SƠ SINH
Phôi thai người trong đĩa Petri tại một phòng thí nghiệm IVF ở Hoa Kỳ. Việc thụ tinh “em bé ống nghiệm” cũng có thể diễn ra tốt đẹp trong đĩa Petri, cốc thủy tinh hoặc bình.
Steptoe đã tích lũy kinh nghiệm với ống nội soi – một thiết bị dài, mỏng được đưa vào qua một vết rạch nhỏ trên thành bụng – và phát triển kỹ năng chuyên môn trong việc lấy tế bào trứng chín ra khỏi nang trứng. Ông cũng sử dụng siêu âm để hiển thị hình ảnh quét buồng trứng, giúp việc lấy trứng dễ dàng hơn. Năm 1969, ông bắt đầu cung cấp Pergonal và các loại thuốc hỗ trợ sinh sản khác cho phụ nữ tình nguyện. Điều này dẫn đến hiện tượng siêu rụng trứng – tạo ra nhiều trứng trưởng thành. Edwards đã thử nghiệm nhiều phương pháp và môi trường thụ tinh khác nhau, sử dụng tinh trùng do chồng của mỗi phụ nữ hiến tặng. Khi thụ tinh thành công, các khối tế bào đầu tiên được kiểm tra kỹ lưỡng để tìm bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.
Vào khoảng thời gian này, ngày càng có nhiều tranh cãi về đạo đức của nghiên cứu IVF ở Anh, không chỉ trong cộng đồng mà còn trong cộng đồng y tế, các tổ chức tôn giáo, quốc hội Anh và giới cầm quyền nói chung. Edwards và Steptoe đã bị từ chối tài trợ và gặp khó khăn trong việc thu hút tài trợ. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã chuyển đến Bệnh viện Dr. Kershaw’s Cottage nhỏ ở Oldham, nơi họ thành lập các phòng khám và phòng thí nghiệm và chuyển sang giai đoạn tiếp theo – chuyển phôi sớm vào tử cung. Tuy nhiên, những thất bại đủ loại vẫn tiếp tục làm hỏng chương trình, và Steptoe và Edwards lập luận rằng các phương pháp điều trị vô sinh được áp dụng cho các bà mẹ tương lai để kích thích rụng trứng siêu kiểm soát đã can thiệp vào tử cung, khiến tử cung không thể tiếp nhận phôi sớm vài ngày sau đó. Họ đã thử tiêm một loại hormone khác để giúp niêm mạc tử cung duy trì trạng thái sẵn sàng, nhưng điều này mang lại kết quả trái chiều và ngày càng gây thất vọng cho tất cả những người liên quan.
“Chúng tôi đã nhận được rất nhiều lời chỉ trích nhưng chúng tôi đã chiến đấu hết mình vì bệnh nhân của mình”
ROBERT EDWARDS
Vào năm 1977, sau hơn 70 lần mang thai không thành công, Edwards và Steptoe đã quay lại chính sách can thiệp tối thiểu bằng cách thu thập một quả trứng duy nhất đã chín môt cách tự nhiên trong kỳ rụng trứng, và thụ tinh trong ống nghiệm, theo dõi sự phát triển ban đầu của phôi và chuyển phôi trở lại người mẹ mà tử cung đã sẵn sàng tự nhiên. Để đảm bảo thành công, các bà mẹ phải cung cấp mẫu nước tiểu vài giờ một lần để xét nghiệm hormone luteinizing, nồng độ hormone này tăng lên khoảng 36 giờ trước khi rụng trứng. Nhóm nghiên cứu cũng quyết định chuyển phôi ở giai đoạn sớm hơn khi nó chỉ có kích thước tám tế bào. Vào tháng 11 năm 1977, Lesley Brown, bệnh nhân thứ hai trong thử nghiệm mới, đã đến Kershaw. Chu kỳ kinh nguyệt và rụng trứng của cô bình thường, nhưng ống dẫn trứng của cô bị tắc. Steptoe đã sử dụng ống nội soi để lấy một quả trứng chín, sau đó được thụ tinh với tinh trùng của chồng cô, John. Phôi thai tám tế bào sau đó được chuyển trở lại tử cung – và chín tháng sau, bé Louise chào đời.

ĐỨA TRẺ ĐẦU TIÊN ĐƯỢC THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
Robert Edwards bế Louise Brown, em bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm. Bên cạnh ông là nữ hộ sinh và Patrick Steptoe.
Năm 1980, Steptoe và Edwards thành lập Phòng khám Bourn Hall, gần Cambridge, phòng khám đầu tiên trên thế giới chuyên về thụ tinh trong ống nghiệm. Năm 2010, Edwards được trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y khoa “cho sự phát triển của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm” (Steptoe không được vinh danh – ông đã mất năm 1988).
Sự ra đời của Louise Brown không lâu sau đó đã dẫn đến các ca sinh IVF thành công trên toàn thế giới: tại Úc vào năm 1980, tại Hoa Kỳ vào năm 1981 và tại Thụy Điển và Pháp vào năm 1982. Các nhóm nghiên cứu tại các quốc gia này đã bắt đầu thử nghiệm nhiều cách khác nhau để cải thiện quy trình. IVF vẫn sẽ là một thủ thuật tốn thời gian nếu nó vẫn phụ thuộc vào một trứng duy nhất rụng trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt của người mẹ. Tuy nhiên, trong những năm 1980, các loại thuốc và chế độ điều trị vô sinh tốt hơn đã cho phép giải phóng nhiều trứng hơn với khả năng dự đoán cao hơn, cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công của IVF. Đến những năm 2010, tỷ lệ này đã đạt một ca sinh thành công trên ba đợt điều trị cho phụ nữ dưới 35 tuổi. Các phương pháp đông lạnh phôi sớm để rã đông sau và chuyển cho mẹ cũng đã được thiết lập, điều này có nghĩa là một phụ nữ có thể thụ thai sau khi trải qua quá trình điều trị có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản của cô ấy. GIFT (chuyển giao tử vào vòi trứng) cũng đã được phát triển – một quy trình trong đó trứng và tinh trùng được kết hợp vào ống dẫn trứng, để quá trình thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể, như thể quá trình thụ thai đã diễn ra tự nhiên.
Đến năm 1990, việc sàng lọc cũng đã được triển khai. Được biết đến với tên gọi chính xác là chẩn đoán di truyền phôi trước chuyển giao (P(I)GD, hoặc PGS), sàng lọc là một quy trình trong đó một hoặc nhiều tế bào của phôi mới thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) được phân lập trước khi phôi được chuyển vào tử cung. Những tế bào này được phân tích để tìm ra các trục trặc về di truyền hoặc nhiễm sắc thể, chẳng hạn như hội chứng Down, và nếu chúng bị lỗi, phôi sẽ không được chuyển giao.

NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
Một kỹ thuật viên lấy tế bào tinh trùng đông lạnh ra khỏi bình chứa nitơ lỏng. Sau khi mẫu được rã đông, những tế bào khỏe mạnh nhất được chọn lọc bằng hệ thống hình ảnh máy tính và mỗi tế bào được tiêm vào trứng để tạo thành phôi.
.Một cải tiến khác là tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI). Thay vì để trứng và tinh trùng hòa quyện tự do, một tinh trùng duy nhất được chọn dưới kính hiển vi và được hút vào một ống thủy tinh cực mỏng, sau đó được đẩy qua các lớp ngoài của tế bào trứng để đưa tinh trùng vào. ICSI hữu ích cho các ông có số lượng tinh trùng rất thấp hoặc có nhiều tinh trùng bị dị dạng hoặc bất thường.

KHOẢNH KHẮC THỤ THAI
Trong một quy trình gọi là tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), bác sĩ sẽ hướng một cây kim (bên trái) chứa tinh trùng đến một tế bào trứng. Sự kết hợp thành công của hai tế bào này đánh dấu sự khởi đầu của một sự sống con người.
Trong khi đó, các cuộc tranh luận về đạo đức vẫn tiếp tục. Năm 1984, Chính phủ Victoria, Úc, đã ban hành luật đầu tiên để điều chỉnh IVF và nghiên cứu phôi người liên quan, sau khi xem xét các thông lệ mới. Nhờ những tiến bộ trong hỗ trợ sinh sản và nghiên cứu tế bào gốc, hầu hết các quốc gia đã ban hành luật để điều chỉnh các hoạt động liên quan. Tại Vương quốc Anh, Cơ quan Thụ tinh và Phôi học Người (HFEA) được thành lập năm 1991 để thực hiện việc này.
Trong 35 năm kể từ khi Louise Brown trở thành tâm điểm chú ý, khoảng 5 triệu em bé trên khắp thế giới đã được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo. Ai mà biết được con số này sẽ còn tăng lên bao nhiêu trong 30 năm nữa? Về mặt lý thuyết, một em bé có thể có bốn “người mẹ” (và một “người cha”): một cặp đôi đồng giới nữ có thể nhận nuôi một em bé từ một trứng được hiến tặng, sau đó (với sự hỗ trợ của tinh trùng) sẽ kết hợp thành phôi thai, rồi cấy vào người mẹ mang thai hộ.
Y Khoa Bổ Sung và Thay Thế
Trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, chẳng hạn như âm nhạc, ẩm thực và thời trang, “luồng chính” của người này lại là “luồng thay thế” hoặc “luồng bổ sung” của người khác, và điều tương tự cũng đúng với sức khỏe và y học. Các liệu pháp thay thế và bổ sung bao gồm hầu hết mọi hệ thống hoặc triết lý nhằm cải thiện sức khỏe và hạnh phúc nhưng không phải là một bộ phận của y học phương Tây thông thường. Các liệu pháp “thay thế” chính xác là một lựa chọn khác biệt, độc lập với luồng chính, trong khi “bổ sung” ngụ ý một sự bổ sung hoặc hỗ trợ hoạt động song song với thực hành y tế đã được thiết lập. Một thuật ngữ liên quan là y học “toàn diện”, hướng đến bệnh nhân như một tổng thể, xem xét các yếu tố sinh học, tâm lý và tinh thần, thay vì chỉ quan tâm đến “bộ máy” của cơ thể.
Khi các quốc gia phương Tây phục hồi sau thời kỳ thắt lưng buộc bụng của Thế chiến II, một kỷ nguyên mới của tự do và thịnh vượng đã hé mở. Đến những năm 1960, các nền văn hóa đối lập đã nở rộ trong nghệ thuật, tôn giáo và y học. Tivi và du lịch hàng không giá rẻ mới ra đời đã giúp mọi người tiếp cận với các phương pháp y học từ khắp nơi trên thế giới. Cùng với thái độ bất mãn với triết lý “dây chuyền sản xuất” của y học chính thống, với máy móc công nghệ cao, phẫu thuật xâm lấn, thuốc tổng hợp và đội ngũ bác sĩ luôn bận rộn, mối quan tâm đến các hình thức trị liệu khác, đặc biệt là các phương pháp của văn hóa phương Đông, đã bắt đầu gia tăng. Trong suốt cuối thế kỷ 20, những quan điểm này tiếp tục lan rộng trong xã hội phương Tây, và Đại hội Y học Thay thế Thế giới đầu tiên đã được tổ chức tại Rome, Ý, vào năm 1973. Đại hội thứ ba, được tổ chức tại Sri Lanka, vào năm 1982, đã công bố mục tiêu cung cấp “Y học Toàn diện cho tất cả mọi người vào năm 2000”. Năm 1992, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) thành lập Trung tâm Y học Bổ sung và Thay thế Quốc gia (NICCAM), một trong những mục tiêu dài hạn của trung tâm là “cho phép đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng tốt hơn về việc sử dụng y học bổ sung và thay thế cũng như việc tích hợp chúng vào chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe”. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi vào đầu thế kỷ 21, các cuộc khảo sát ở Châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy một nửa hoặc hơn số người lớn tham khảo ý kiến bác sĩ đa khoa thông thường cũng đã thử một số hình thức y học bổ sung hoặc thay thế (CAM).
Theo quan điểm phương Tây truyền thống, có tới 150 liệu pháp được liệt kê là bổ sung, thay thế hoặc toàn diện. Một số, chẳng hạn như châm cứu, y học Ayurvedic, thảo dược, kampo, xoa bóp và yoga, đã có truyền thống lâu đời, nhưng nhiều liệu pháp, chẳng hạn như những liệu pháp được thảo luận dưới đây, là những phát minh hiện đại sau này. Ví dụ, liệu pháp laser không thể thực hiện được cho đến khi nhà vật lý người Mỹ Theodore Maiman phát minh ra laser vào năm 1960. Kể từ năm 1968, laser đã được sử dụng theo cách thông thường như “dao mổ nhẹ” có thể được nhắm với độ chính xác đáng kinh ngạc để cắt xuyên qua các mô và bịt kín mạch máu để giảm chảy máu. Điều trị bằng laser để định hình lại giác mạc bắt đầu vào cuối những năm 1980, và phẫu thuật cắt mảng xơ vữa bằng laser, giúp thông các động mạch bị tắc nghẽn bởi các mảng bám mỡ, đã được phát triển cùng thời điểm. Laser cũng được sử dụng để triệt lông, giảm mỡ và các thủ thuật thẩm mỹ nhỏ như nâng mí mắt. Tuy nhiên, gây tranh cãi hơn là liệu pháp laser cường độ thấp (LLLT), một liệu pháp bổ sung trong đó các tia laser được thiết kế đặc biệt được sử dụng để tạo ra ánh sáng xuyên thấu sâu, được cho là có khả năng kích thích các mô và tế bào không khỏe mạnh tăng cường trao đổi chất và tái tạo năng lượng. Liệu pháp này được cho là giúp chữa lành sau phẫu thuật hoặc chấn thương, giảm đau bằng cách giải phóng endorphin (chất giảm đau tự nhiên của cơ thể), cải thiện khả năng vận động và chức năng, thậm chí kích thích các vị trí huyệt đạo cụ thể để giảm các triệu chứng cai nghiện do nicotine và rượu.

TRỊ LIỆU LASER
Một bệnh nhân đang được điều trị bằng laser cường độ thấp để điều trị viêm khớp dạng thấp. Phương pháp điều trị này, được cho là giúp giảm đau, cũng được sử dụng để điều trị viêm xương khớp, đau lưng và các bệnh khớp mãn tính.
Liệu pháp vi lượng đồng căn (Homeopathy), một phương pháp do bác sĩ người Đức Samuel Hahnemann phát triển vào thế kỷ XIX, còn gây nhiều tranh cãi hơn. Nguyên lý chỉ đạo của vi lượng đồng căn, có nghĩa “cùng một nỗi đau” theo tiếng Hy Lạp, là “lấy cái giống để chữa cái giống” (like heals like), còn được gọi là “quy luật tương đồng” (law of similars).” Có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại, La Mã và Châu Á, học thuyết này cho rằng một chất gây ra một số tác dụng hoặc triệu chứng nhất định trong cơ thể khỏe mạnh, với liều lượng ít hơn, có thể chữa khỏi một căn bệnh có cùng triệu chứng. Ví dụ, một chất gây nôn mạnh, dùng với liều lượng nhỏ, có thể được sử dụng để điều trị một căn bệnh có triệu chứng chính là nôn mửa. Trong cuốn Organon der rationellen Heilkunde (Nguyên lý của 8Nghệ thuật Chữa bệnh), Hahnemann lập luận rằng bệnh tật là do cơ thể bị xâm chiếm bởi “miasm” – những thực thể bệnh bị thu hút bởi các trạng thái tâm trí tiêu cực và cho rằng nhiều bệnh trở nên trầm trọng hơn do y học thông thường. Theo quan điểm của ông, điều này là do các bác sĩ có xu hướng điều trị các triệu chứng của bệnh bằng những yếu tố đối lập, thay vì điều trị nguyên nhân tiềm ẩn (hay miasm) bằng một thứ gì đó tương tự. Để chống lại điều này, Hahnemann đã tạo ra một loại dược liệu gồm các chất có thể được sử dụng để chống lại các loại độc tố. Ông đã thử nghiệm hàng trăm chiết xuất thực vật và động vật, khoáng chất và các chất khác trên những người khỏe mạnh, và đi đến kết luận rằng, trái ngược với trực giác, một chất càng được pha loãng thì tác dụng của nó càng mạnh. Ông gọi quá trình này là “sự tiềm năng hóa”, và nhận thấy rằng nó được thúc đẩy bằng cách lắc, đập và rung dung dịch ở mỗi giai đoạn pha loãng. Kết quả cuối cùng thường là một hỗn hợp rất yếu, chỉ còn lại một vài phân tử của chất điều trị ban đầu. Sau nhiều lần thử nghiệm, Hahnemann đã sản xuất ra các loại thuốc chữa trị cho đủ loại bệnh lý rất đặc hiệu. Ví dụ, nếu cơn đau đầu trở nên tồi tệ hơn khi nằm xuống, thì Gelsemium được kê đơn – nếu cơn đau giảm bớt, thì Bryonia được khuyến nghị.

HỘP THUỐC CỦA NHÀ TRỊ LIỆU VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN
Rương thuốc của Pháp này, chứa hơn một trăm loại thuốc vi lượng đồng căn, có niên đại từ cuối thế kỷ 19.
SỐ LƯỢNG XẤP XỈ CÁC LOẠI THUỐC ĐỒNG CĂN
4,000
Một liệu pháp có ảnh hưởng khác, được gọi là Kỹ thuật Alexander, được phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Phương pháp này được tiên phong bởi nam diễn viên người Úc Frederick Matthias Alexander, người gặp phải các vấn đề về hô hấp ảnh hưởng đến công việc sân khấu của mình, đã trải qua một thời gian tự phân tích chuyên sâu. Trong quá trình này, ông đã phát hiện ra các kiểu căng thẳng và áp lực ở mặt, cổ, lưng và các nơi khác ảnh hưởng đến khả năng di chuyển tự do và nói tốt của mình. Ông đã mở rộng khái niệm này vào tâm trí của mình và phát triển các kiểu suy nghĩ, tư thế và chuyển động được thiết kế để mang lại sự cân bằng cho mọi khía cạnh của tâm trí và cơ thể ông. Khi những người khác tham khảo ý kiến của Alexander, ông đã nghĩ ra các cách sử dụng tay của mình để giúp họ thư giãn cơ, khớp và xương, đồng thời dạy họ về nhận thức và sự phối hợp của cơ thể, và cách cải thiện hơi thở, lời nói và sức khỏe tổng quát – tất cả những điều này ông đã mô tả trong cuốn sách The Use of the Self năm 1932 của mình.
Cùng thời điểm đó, Daniel David Palmer ở Davenport, Iowa, đang phát triển ngành nắn xương cột sống. Palmer là một người có tính cách phức tạp, từng đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, bao gồm cả cố vấn tâm linh và thầy lang từ tính, nhưng ông không được đào tạo y khoa chính thức. Năm 1895, ông đã nắn xương cổ cho một bệnh nhân địa phương bị khiếm thính lâu năm, và người đàn ông này đã phục hồi thính lực. Là một phương pháp điều trị thủ công, nắn xương cột sống bao gồm việc đẩy, kéo, nâng và nói chung là nắn các đốt sống và khớp cột sống để khôi phục vị trí và chức năng tự nhiên của chúng, từ đó hỗ trợ hệ thần kinh và cơ cũng như nhiều vấn đề sức khỏe liên quan. Ông phỏng đoán rằng các khớp cột sống bị lệch sẽ ảnh hưởng đến dây thần kinh và dòng chảy năng lượng chung khắp cơ thể, từ đó gây ra một loạt các vấn đề sức khỏe. Nắn xương cột sống hiện đại đã cải tiến các kỹ thuật của Palmer, nhưng trọng tâm chính của nó vẫn là nắn xương cột sống và hệ thống cơ xương, đặc biệt là để giảm đau lưng dưới và cổ. Về mặt vật lý trị liệu, nắn xương tương tự như phương pháp nắn xương, được bác sĩ người Mỹ Andrew Taylor Still sáng lập sớm hơn một chút. Mục tiêu của phương pháp nắn xương cũng là kích hoạt cơ chế tự phục hồi bẩm sinh của cơ thể để khắc phục các vấn đề sức khỏe, bằng cách tác động lên cơ và khớp.
Một phương pháp khác để cân bằng năng lượng cơ thể đã xuất hiện với kỹ thuật phản xạ học, sử dụng “phản xạ”, hay các vùng phản ứng trên bàn chân và bàn tay, được cho là tương ứng với các vùng và cơ quan trong cơ thể. Giống như nhiều liệu pháp bổ sung và thay thế khác, kỹ thuật này có nguồn gốc cổ xưa và chỉ mới được phương Tây hóa gần đây, trong trường hợp này là bởi bác sĩ phẫu thuật tai mũi họng người Mỹ William Fitzgerald, người mà công trình của ông vào những năm 1910 đã được nhà vật lý trị liệu người Mỹ Eunice Ingham phát triển vào những năm 1930. Cùng thời điểm đó, tại Đức, bác sĩ tâm thần Johannes Schultz đã phát triển phương pháp tự sinh (có nghĩa là “do bản thân tạo ra”), một loạt sáu bài tập tinh thần được thiết kế để giải phóng cá nhân khỏi căng thẳng và lo lắng, để họ có thể tập trung vào bản thể bên trong, hay tinh thần của mình. Schultz đã mượn các yếu tố từ truyền thống phương Đông, chẳng hạn như Thiền và một số hình thức yoga, để giúp vượt qua bản năng chiến đấu hoặc bỏ chạy được khuyến khích bởi cuộc sống hiện đại và nuôi dưỡng trạng thái “thư giãn và phục hồi”, trong đó cơ thể có thể đối phó tốt hơn với chứng lo âu, thay đổi tâm trạng, mất ngủ, huyết áp cao, căng cơ và các vấn đề sức khỏe liên quan đến căng thẳng.
Hai liệu pháp khác được phát triển vào những năm 1930 là các bài thuốc hoa Bach – được đặt theo tên của nhà vi khuẩn học người Anh Edward Bach – và liệu pháp hương thơm. Các bài thuốc hoa Bach nhằm mục đích làm giảm những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực được cho là nguyên nhân gây ra rất nhiều rối loạn về thể chất. Bach đã nghĩ ra một hệ thống trong đó 12 loại trạng thái tinh thần và cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, không chắc chắn, thiếu hứng thú, cô đơn và trầm cảm có thể được khắc phục bằng tác dụng của các chiết xuất dạng nước từ một số loại hoa hoặc nụ. Ông gọi những chiết xuất này là 12 loại thuốc chữa lành, và sau đó bổ sung chúng bằng 26 loại thuốc trợ giúp. Ví dụ, hoa hồng đá (Rock Rose) được khuyến nghị cho trạng thái kinh hoàng và Chi Long (Agrimony) cho nỗi lo lắng tiềm ẩn. Sau này, các học viên đã đưa ra các bài thuốc kết hợp từ hoa, bao gồm cả dầu Rescue Remedy nổi tiếng, chứa Impatiens, Star of Bethlehem, Cherry Plum, Rock Rose và Clematis, một công thức được khuyến nghị cho các trường hợp khẩn cấp và các tình huống đáng sợ.
Thuật ngữ “liệu pháp hương thơm” được đặt ra vào năm 1937 bởi nhà hóa học mỹ phẩm người Pháp, Giáo sư René-Maurice Gattefossé, mặc dù tác dụng của mùi hương và hương liệu đối với tâm trí và cảm xúc đã được đánh giá cao trong hàng thiên niên kỷ. Gattefossé đã phát triển việc sử dụng tinh dầu chiết xuất từ hoa, lá, vỏ cây, nhựa cây, nhựa thông, rễ cây và các bộ phận khác của cây, có thể dùng để hít, mát-xa da hoặc pha vào nước tắm. Ví dụ, dầu tỏi xoa lên bụng được khuyên dùng cho các vấn đề về tiêu hóa, hoa cúc hoặc hương thảo cho đau khớp, và quế cho đau răng

DẦU OẢI HƯƠNG
Hình ảnh kính hiển vi điện tử này cho thấy những giọt tinh dầu oải hương trên bề mặt lá oải hương. Các bác sĩ y học thay thế sử dụng tinh dầu oải hương như một chất khử trùng, giảm đau và xoa ngực cho bệnh hen suyễn.
Bên cạnh những nguy cơ chẩn đoán sai (điều này đúng với tất cả các loại thuốc), câu hỏi đặt ra là liệu những phương pháp điều trị này có thực sự hiệu quả hay không? Bằng chứng giai thoại cho thấy hàng triệu người đã được chữa trị, và mỗi liệu pháp được mô tả ở trên hiện đều có các chuyên gia thực hành và các tổ chức chính thức trên khắp thế giới. Điều thường thiếu, theo quan điểm thông thường, là bằng chứng đáng tin cậy được bình duyệt từ các thử nghiệm có đối chứng, và một giả thuyết khoa học cơ bản. Hiệu ứng giả dược cho thấy niềm tin vào một phương pháp chữa trị có thể mang lại kết quả, làm dấy lên khả năng rằng những bệnh nhân vi lượng đồng căn, chẳng hạn, đang tự chữa lành mình chứ không phải nhờ thuốc. Tuy nhiên, câu hỏi “tại sao” sẽ luôn đứng sau câu hỏi “liệu có hay không” — và câu hỏi ấy có lẽ chỉ mang ý nghĩa học thuật đối với bất kỳ ai được hưởng lợi từ những kỹ năng vốn từ trước đến nay vẫn còn đầy bí ẩn này mà thôi.
THĂM LẠI HIỆU THUỐC
Một hiệu thuốc Pháp thế kỷ 15 đã biến thực vật thành thuốc. Các bác sĩ y học thay thế vào thế kỷ 20 đã tìm cách khôi phục các phương thuốc tự nhiên của tổ tiên, khi y học hiện đại ngày càng phụ thuộc vào hóa chất.
Đại Dịch Tiềm Tàng
Bệnh dịch hại, bệnh đậu mùa, bệnh tả – các bệnh truyền nhiễm đã đe dọa nhân loại qua nhiều thế kỷ. Ở mức độ nghiêm trọng nhất, chúng là đại dịch: bùng phát ở quy mô lục địa, thậm chí toàn cầu. Đại dịch đầu tiên và tồi tệ nhất của thế kỷ 20 là đợt bùng phát ba đợt cúm từ năm 1918 đến năm 1919, được gọi là cúm Tây Ban Nha; số ca tử vong ước tính từ 30 triệu đến hơn 100 triệu người, gần bằng một phần 20 dân số thế giới vào thời điểm đó.
Hệ thống miễn dịch của cơ thể cố gắng tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập và bảo vệ cơ thể khỏi các cuộc tấn công trong tương lai. Tuy nhiên, các vi sinh vật gây nhiễm trùng có thói quen xấu là đột biến (thay đổi) gen và cấu trúc của chúng. Các chủng khác nhau cũng có thể tương tác trong cơ thể, chia sẻ các gen hiện có của chúng. Điều này có nghĩa là hệ thống miễn dịch có thể không nhận ra một chủng mới là kẻ xâm nhập trước đó, cho phép nhiễm trùng xâm nhập. Các loại vi rút cảm lạnh thông thường và cúm là bậc thầy của nghệ thuật này, liên tục đột biến để thích nghi và do đó trốn tránh sự bảo vệ của hệ thống miễn dịch. Ở quy mô rộng hơn, các vi khuẩn lây nhiễm cho một nhóm hoặc loài, chẳng hạn như chim hoặc khỉ, có thể thay đổi để chúng có thể truyền sang một nhóm hoặc loài khác như con người.
Khoảng năm 1981, các cơ sở y tế Hoa Kỳ đã công nhận rằng một số bệnh và tình trạng hiếm gặp, chẳng hạn như u Kaposi, một loại ung thư da và viêm phổi Pneumocystis carinii (PCP, giờ gọi là P. jirovecii), đã bất ngờ xuất hiện cùng nhau ở một số bệnh nhân, những người đầu tiên mắc phải căn bệnh vào năm 1982 được gọi là Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải (AIDS). Vào thời điểm đó, nguyên nhân vẫn chưa được biết. Sau đó, vào tháng 5 năm 1983, một bài báo trên tạp chí Science đã đưa tin về việc phát hiện ra một loại vi-rút mới. Nó được các nhà vi rút học người Pháp Luc Montagnier và Françoise Barré-Sinoussi xác định tại Viện Pasteur ở Paris và được gọi là Lymphadenopathy-Associated Virus (LAV). Bệnh lý Lymphadenopathy có nghĩa là bất kỳ bệnh nào ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết (các tuyến sưng quen thuộc trong rất nhiều bệnh nhiễm trùng), vốn là một bộ phận của hệ thống miễn dịch và vi-rút đã được phân lập từ nguồn này. Vào tháng 4 năm 1984, một thông báo liên quan đến từ một nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ do Robert Gallo đứng đầu tại Viện Ung thư Quốc gia, Bethesda, Maryland. Được gọi là Virus Lymphotropic T ở Người loại III (HTLV III), vi rút của Gallo dường như có liên quan đến loại I và loại II, vốn đã được phát hiện và liên quan đến u lympho tế bào T, một loại ung thư bạch cầu. Người ta nghi ngờ, và sớm xác nhận, rằng LAV và HTLV III là một. Năm 1986, chúng được đổi tên thành Vi rút Gây Suy giảm Miễn dịch ở Người (HIV), nguyên nhân gây ra bệnh AIDS.

PHÁT HIỆN HIV
Các nhà khoa học người Pháp Luc Montagnier (trái) và Françoise Barré-Sinoussi (phải) đã nhận giải Nobel năm 2008 cho phát hiện về loại vi rút sau này được gọi là HIV vào năm 1983.
Jean-Claude Chermann (ở giữa) là người đứng đầu phòng thí nghiệm nghiên cứu retrovirus.
Được coi là một đại dịch thời hiện đại có thể lây lan nhanh như cháy rừng, AIDS đã trở thành tin tức toàn cầu. Nguồn gốc của nó vẫn còn là một bí ẩn và chưa có cách chữa trị. Nó dường như có liên quan đến một số lối sống và hành vi, đặc biệt là ở nhóm đồng tính luyến ái và tiêm chích ma túy. Những lời đồn đại và quan niệm sai lầm lan tràn. Chính phủ đã phát động các chiến dịch quốc gia để chấn chỉnh những sai lầm về HIV/AIDS, truyền đạt sự thật khách quan và khuyến khích các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này.
HIV là một loại retrovirus. Hầu hết các loại vi rút đều chứa vật liệu di truyền, DNA, bên trong một lớp vỏ bảo vệ. Vi rút xâm nhập vào tế bào chủ và lừa tế bào này tạo ra thêm vi rút. Một retrovirus bổ sung một bước retro (ngược) vào quá trình này: nó mã hóa thông tin di truyền của mình ở một dạng khác và sử dụng một enzyme đặc biệt để chuyển đổi nó thành DNA, sau đó hoạt động theo cách tương tự một vi rút thông thường. Robert Gallo đã phát hiện bằng chứng đầu tiên về retrovirus ở người vào đầu những năm 1970. HIV nhắm vào chính các bộ phận và quá trình của cơ thể được thiết kế để đẩy lùi những kẻ xâm lược – hệ thống miễn dịch. Cụ thể, nó lây nhiễm và phá hủy một loại tế bào bạch cầu quan trọng có khả năng chống lại vi trùng và tạo kháng thể của cơ thể. Khi HIV làm giảm số lượng các tế bào này, hệ thống miễn dịch bị tước đi các lực lượng quan trọng. Hệ thống phòng thủ của cơ thể suy yếu, khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng cơ hội và tạo ra các biến đổi ung thư.

HIV DƯỚI KÍNH HIỂN VI
RNA (vốn mã hóa gen) xuất hiện dưới dạng hình thuôn dài, sẫm màu trong hình cắt ngang này của HIV. Lớp vỏ ngoài của nó (phần viền tối màu) chứa một protein gắn vào tế bào hỗ trợ-T (một loại tế bào bạch cầu).
Retrovirus lây nhiễm cho nhiều loài động vật, bao gồm chim, gia súc, chuột, mèo, khỉ và vượn. Đây chính là manh mối về nguồn gốc của HIV. Các nhà nghiên cứu bắt đầu kiểm tra các mẫu máu và mô được lưu trữ từ những người có triệu chứng và chẩn đoán phù hợp với hồ sơ HIV/AIDS. Từ năm 1985, họ đã xác định được một nhóm vi rút tương tự được gọi là SIV (Vi rút Simian Immunodeficiency gây suy giảm miễn dịch ở khỉ). Chúng xuất hiện ở khỉ và vượn châu Phi, một nhóm bao gồm con người và họ hàng gần nhất còn sống của chúng ta, tinh tinh và khỉ đột. Đến giữa những năm 2000, các phân tích chuyên sâu đã kết luận rằng HIV đã lây truyền từ tinh tinh sang người, có thể ở Tây Phi do hoạt động giết mổ thịt rừng. Sự lây truyền này có thể đã xảy ra vào nửa đầu thế kỷ 20, vì các mẫu mô được bảo quản sớm nhất có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV có niên đại từ năm 1959 và 1960. Từ Tây Phi, vi rút di chuyển trong vật chủ là người đến Haiti và từ đó đến Bắc Mỹ, nơi hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến giúp việc xác định có thể thực hiện được. HIV/AIDS đã được phát hiện ở mọi quốc gia. Đến năm 2010, hơn 30 triệu người đã tử vong vì căn bệnh này.
ƯỚC TÍNH SỐ NGƯỜI SỐNG VỚI HIV/AIDS
30 TRIỆU
Trong thập kỷ trước khi AIDS xuất hiện, hai bệnh nhiễm trùng đáng kể khác đã được phát hiện. Trường hợp đầu tiên mắc bệnh Legionnaire được ghi nhận là vào năm 1976 tại Hoa Kỳ. Đây là một trong nhóm bệnh viêm phổi – bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng chủ yếu đến phổi, đặc biệt là hàng triệu phế nang (túi khí cực nhỏ), nơi oxy thiết yếu đi từ không khí vào máu và carbon dioxide đi ra khỏi máu vào phổi. Viêm phổi có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do nhiều loại vi rút và vi khuẩn. Nhưng khi một đợt bùng phát bệnh giống viêm phổi xảy ra tại một khách sạn ở Philadelphia, nó không thể được truy tìm đến bất kỳ nghi phạm thông thường nào. Các đại biểu dự hội nghị tại khách sạn là thành viên của Hội Cựu Chiến binh Hoa Kỳ (American Legion), do đó nguyên nhân gây bệnh được đặt tên vi khuẩn Legionella pneumophila. Không giống như HIV, đây không phải là một loại vi khuẩn mới tiến hóa, mà là một cư dân phổ biến, đã tồn tại lâu đời trong môi trường nước và ẩm ướt. Hệ thống điều hòa không khí và tháp giải nhiệt của khách sạn tình cờ cung cấp nhiệt độ và độ ẩm lý tưởng cho vi khuẩn sinh sôi và phát tán dưới dạng những giọt nước nhỏ như sương mù, rất dễ hít phải. Hầu hết các đại biểu tham dự hội nghị đều ở độ tuổi trung niên trở lên, một nhóm hiện được biết là dễ bị nhiễm trùng. Các triệu chứng của họ xuất hiện vài ngày sau đó, và bác sĩ Ernie Campbell tại Philadelphia nhận xét rằng một số bệnh nhân đã tham dự hội nghị. Đợt bùng phát đầu tiên này đã gây ra 220 ca bệnh và 34 ca tử vong, vì vậy các hệ thống đã được đưa ra để xác định các đợt bùng phát trong tương lai nhanh hơn nhiều. Các quy định mới cũng được đưa ra nhằm giảm thiểu rủi ro đối với các thiết bị như máy điều hòa không khí, máy sưởi, máy tạo độ ẩm, phòng xông hơi khô, máy phun sương và bồn tắm nước nóng.
Bệnh Legionnaire có khả năng nghiêm trọng nhưng hiếm gặp, và vẫn tiếp tục hoành hành với tốc độ vài đợt bùng phát được báo cáo mỗi năm. Kể từ khi được phát hiện, bệnh đã gây ra một số ca tử vong nhỏ ở nhiều khu vực khác nhau, bao gồm Na Uy, Úc, Tây Ban Nha và Bắc Mỹ. Có lẽ còn nhiều trường hợp khác không được phát hiện, đặc biệt là ở những khu vực có hệ thống chăm sóc sức khỏe kém phát triển. Các yếu tố hạn chế quan trọng là bệnh Legionnaire thường xảy ra ở một số loại môi trường trong nhà “không tự nhiên” và không lây lan trực tiếp từ người sang người.
Bệnh nhiễm trùng thứ hai mới được phát hiện, cũng vào khoảng năm 1976, là bệnh do vi rút Ebola. Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Sudan và khu vực sông Ebola thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo ở Trung Phi. Cực kỳ nghiêm trọng, giống như nhiều bệnh khác, bệnh bắt đầu với các triệu chứng giống cúm, nhưng sau đó tiến triển đến hệ tiêu hóa, gây buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy; đến hệ thần kinh với các triệu chứng đau đầu dữ dội, lú lẫn, kích động, co giật và đôi khi hôn mê; và đến hệ hô hấp với các triệu chứng khó thở. Xuất huyết ở da và các cơ quan khác là triệu chứng đặc trưng. Triệu chứng này có thể gây tử vong ở khoảng hai phần ba số trường hợp.
Bệnh do vi rút Ebola lây lan chủ yếu qua tiếp xúc với máu và các dịch cơ thể khác, trực tiếp hoặc qua các vật dụng bị nhiễm bệnh. Tại các trung tâm y tế và bệnh viện, bệnh có thể lây lan nhanh chóng giữa các nhân viên từ bệnh nhân nhiễm Ebola chưa được chẩn đoán. Đây là lý do tại sao việc cách ly, kiểm soát nhiễm trùng và rào chắn điều dưỡng – kính bảo hộ, khẩu trang, găng tay, áo choàng và khử trùng thiết bị kỹ lưỡng – là tối quan trọng.
Giống như HIV và các loại vi rút khác, bệnh do vi rút Ebola có thể bắt nguồn từ động vật, vốn là ổ chứa vi rút, do đó, ngay cả khi tất cả các trường hợp nhiễm bệnh ở người được loại trừ ngay lập tức, con người vẫn có thể bị nhiễm bệnh trong tương lai do tiếp xúc gần với động vật. Một số loài dơi ăn quả là nguồn chính và liên tục của vi rút. Khỉ đột, tinh tinh, khỉ, linh dương rừng và nhím cũng được công nhận là nguồn lây nhiễm. Vì những loài này chỉ được tìm thấy ở một số ít nơi ngoài Tây và Trung Phi, và việc lây truyền từ người sang người có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp phòng ngừa tích cực, nên bệnh do vi rút Ebola khó có thể trở thành một đại dịch tiềm tàng.
Vào giữa những năm 1990, một chủng cúm gia cầm mới đã được phát hiện ở Trung Quốc. Đây là một phân nhóm của vi rút cúm A được định danh là H5N1. Vào thời điểm đó, và giống như các chủng vi rút tiền nhiệm, chủng vi rút này chỉ lây nhiễm cho các loài chim, chủ yếu là gà và các loài chim nước như ngỗng và vịt. Việc tiêu hủy đàn gia cầm đã giúp hạn chế những đợt bùng phát ban đầu này. Đầu những năm 2000, nhiều đợt bùng phát ở chim và sau đó là ở người đã lan rộng khắp Trung Quốc và Đông Nam Á, và đôi khi ở những nơi khác. Đến năm 2012, đã có hơn 580 trường hợp cúm gia cầm ở người trên 15 quốc gia và gần 350 ca tử vong.
Cúm gia cầm lây truyền từ gia cầm bị nhiễm bệnh sang người thông qua tiếp xúc gần với lông, da, nội tạng, dịch tiết và phân (khô và phân tán thành bụi). Thực phẩm và trứng được chế biến và nấu chín đúng cách không lây lan bệnh. Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, mối lo ngại là cấu trúc gen của vi rút có thể thay đổi, khiến nó dễ dàng lây truyền từ người sang người hơn, gây ra đại dịch. Năm 2013, một chủng khác, H7N9, được báo cáo là dễ lây lan hơn từ gia cầm sang người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy sự lây truyền từ người sang người.
Một bệnh truyền nhiễm gần đây khác là Hội chứng Hô hấp Cấp tính Nặng (SARS). Do một loại vi rút corona gây ra (nhìn dưới kính hiển vi, nó trông giống như một vầng hào quang hoặc vương miện – corona trong tiếng Latin), nó được đặt tên như vậy vì tác động của nó lên cơ thể, thoạt nhìn giống như bệnh cúm. Dịch SARS bùng phát ở miền nam Trung Quốc từ năm 2002 đến năm 2003 vừa được hỗ trợ vừa bị cản trở bởi công nghệ của thế kỷ 21, với internet và truyền thông điện tử đóng vai trò quan trọng. Căn bệnh này lây lan ngay lập tức qua đường hàng không quốc tế và các phương tiện truyền thông toàn cầu đã nhanh chóng cảnh báo thế giới, ví nó như cúm Tây Ban Nha. Nguyên nhân của nó đã nhanh chóng được xác định nhờ nỗ lực hợp tác của nhiều quốc gia, sử dụng các phương pháp y tế tiên tiến nhất, các biện pháp phòng ngừa và ngăn ngừa đã sớm được triển khai. Kết quả là, dịch SARS đã được kiểm soát ở mức dưới 9.000 ca nhiễm và 800 ca tử vong, và không chuyển từ dịch bệnh sang đại dịch.

CẢNH SÁT BẢO VỆ KHỎI SARS
Trong nỗ lực ngăn chặn sự bùng phát của dịch SARS năm 2003, một cảnh sát quân sự đeo mặt nạ bảo vệ đứng gác bên ngoài một bệnh viện 102 ở Đài Loan, bệnh viện đầu tiên chỉ dành riêng cho bệnh nhân SARS.
Tất cả những bệnh nhiễm trùng này vẫn tiếp tục gây lo ngại, cũng như sự tái xuất hiện của những kẻ thù cũ như các chủng lao kháng thuốc mới. Một vấn đề đáng lo ngại khác là nhóm đậu mùa. Bệnh đậu mùa đã biến mất, được tuyên bố tuyệt chủng vào năm 1980. Kể từ đó, việc tiêm chủng vắc-xin phòng bệnh đậu mùa đã chấm dứt. Tuy nhiên, có thể chương trình tiêm chủng này từng giúp tạo ra khả năng bảo vệ chống lại các chủng virus thuộc chi Orthopoxvirus có họ hàng gần, chẳng hạn như virus gây bệnh đậu chuột (mousepox), đậu khỉ (monkeypox) và đậu bò (cowpox), vốn được chuột cống và các loài gặm nhấm khác mang theo. Chỉ cần một biến đổi nhỏ ở một trong những chủng virus này cũng có thể khiến nó lây truyền từ động vật sang người, rồi từ người này sang người khác—đáp ứng đầy đủ những điều kiện lý tưởng để bùng phát thành một đại dịch.
Ghi chú: Sách này được viết ra khi chưa có đại dịch Covid-19 bùng phát đầu tiên vào cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán (Trung Quốc), trước khi lan ra khắp thế giới, đã cướp đi sinh mạng hơn 7 triệu người trên toàn thế giới theo báo cáo chính thức của WHO. Nhưng nếu xét các trường hợp không báo cáo trực tiếp, số ca tử vong có thể đến hơn 10 triệu người.
Cuộc Chiến Chống HIV và AIDS
HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người) là một trong những loại vi rút tiến hóa nhanh nhất mà y học từng biết đến – nó sinh sản nhanh như chớp, tạo ra hàng triệu bản sao chỉ trong một ngày. Với các triệu chứng giống cúm, nó làm suy yếu hệ thống miễn dịch của nạn nhân, khiến họ dễ bị nhiễm trùng đe dọa tính mạng. Là một căn bệnh mới xuất hiện gần đây, HIV có lẽ bắt nguồn từ châu Phi vào đầu thế kỷ 20, nhưng vẫn gây ra hơn 30 triệu ca tử vong và vẫn đang lây lan nhanh chóng. Hiện tại vẫn chưa có phương pháp chữa trị, nhưng thuốc kháng vi-rút có thể làm chậm tiến triển của bệnh.
st
]]>Phật giáo cho nhân sinh là bể khổ, sinh lão bệnh tử là một quá trình không dứt của đau khổ. Bệnh tật là chỗ “khổ” nhất, trực tiếp giày vò thân tâm, cho nên cứu 1 mạng người hơn xây 7 toà tháp. Hàng ngàn năm qua, việc chữa bệnh cứu người gắn liền với truyền bá học thuyết Phật giáo đã khiến cho y học Phật giáo không ngừng phát triển.
Đức Phật là lương y đệ nhất thế gian

Đức Phật lúc còn trẻ tuổi từng học qua Ngũ minh, một trong ngũ minh là Y phương minh, sự sáng suốt về phương pháp trị bệnh. Căn cứ những ghi chép của kinh điển, trong hàng đệ tử của Đức Phật có Kỳ-bà, danh y thời đại Đức Phật, từng dựa vào những chỉ thị của Ngài để hoàn thành rất nhiều phương cách chữa trị xuất sắc; ví dụ, sau khi chẩn đoán người bệnh bị tắc đường ruột, trước hết, người y sĩ thực hiện việc gây tê, cùng vá lại phần ổ bụng, hoàn thành công việc trị liệu: đây chính là kỹ thuật giải phẩu mổ bụng thuộc ngoại khoa trong y học hiện đại.
Trong lịch sử Phật giáo, đa số chúng Tăng thông đạt y phương minh, đã từng xuất hiện không ít y Tăng tiếng tăm lừng lẫy, ví như Phật –đồ-trừng, Trúc-pháp-điều, Đơn-đạo-khai, Trúc-pháp-khoáng, Ha-la-kiết, Pháp Hỷ. Na-liên-đề-da-xá đời Tuy, Đạo Thuân ở núi Dương Đầu thuộc huyện Trạch Châu đời Đường, Đạo Tích chùa Phúc Thành quận Ích Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên), Sa-môn Trí nghiêm ở Đan Dương, Sa môn Tăng Triệt ở huyện Giáng Châu…các Ngài đã không ngại khó khăn gian khổ cứu giúp chữa trị bệnh tật, hay tẩy rữa quần áo và đồ dùng hàng ngày cho những bệnh nhân, lòng từ cảm động lòng người.
Trong kinh điển Phật giáo, cũng không ít những tác phẩm chuyên ngành bàn đến lĩnh vực y dược, trong đó có đến hai mươi loại từ các lãnh thổ Ấn Độ, Tây Vực truyền vào Trung Quốc; bên cạnh đó, sách vở về y thuật do giới Tăng sĩ Trung Quốc sáng tác cũng ước chừng mười lăm loại. Trong Tam tạng mười hai bộ kinh điển, văn hiến, tài liệu về y học Phật giáo nhiều vô kể; chẳng hạn như trong Tăng nhất A hàm kinh ghi chép, Đức Phật có nói đến ba loại bệnh lớn là phong, đàm và rét, đồng thời nêu ra phương cách trị liệu; trong y dụ kinh, Đức Phật chỉ ra điều kiện đủ các bác sĩ, cho đến các hạng mục khi chăm sóc bệnh nhân cần tuân thủ; trong Phật y kinh, Đức Phật nói có mười nguyên nhân khiến con người bị bệnh; Ma-ha-chỉ quán chỉ ra rằng có sáu nguyên nhân tạo nên bệnh tật; Đại trí độ luận cho biết sự sản sinh của bệnh tật là do các nhân duyên ngoại tại hoặc nội tại tạo thành; Thanh tịnh đạo luận của Nam truyền cũng đề cập đến tám loại nguyên nhân dẫn đến bệnh tật. Ngoài ra, còn có các kinh, luật khác như: Phật thuyết chú xỉ kinh, Phật thuyết chú mục kinh, Phật thuyết chú tiểu nhi kinh, Chú thời khí bệnh kinh, Liệu bệnh trí kinh, Trị thiền bệnh bí yếu kinh, trừ nhất thiết tật bệnh a la ni kinh, Kim quang minh tối thắng vương kinh, Tứ phần luật, Ngũ phần luật, Thập tụng luật, ma ha tăng kỳ luật, vân vân và vân vân, tất cả cũng đều có nói đến vấn đề y dược.
Đức Phật không chỉ là một đại y vương giỏi chữa lành bệnh tật thân thể của chúng sinh, Ngài đặc biệt còn là một bậc y sư chuyên về tâm lý khéo léo đối vời việc trị liệu các chứng tâm bệnh của chúng sinh. Chính Đức Phật đã lập nên tám vạn bốn ngàn pháp môn như Tam học, Lục độ, Tứ vô lượng tâm, Ngũ đình tâm quán…những điều này không ngoài mục đích nhằm đối trị tám vạn bốn ngàn loại phiền não tật bệnh như tham sân si của chúng sinh.

Trong “Ngũ minh” mà giáo đồ Phật giáo học có “Y phương minh” là tri thức y học. “Y phương minh” có hệ thống lý luận riêng có tác dụng chỉ đạo nhất định đối với vấn đề trị bệnh, bảo vệ sức khoẻ.
Từ thời Tam Quốc, Nguỵ Minh Đế, hai vị hòa thượng Ấn Độ là Nhương Na Bạt Đà La và Da Xá Quật Đa đã dịch “Ngũ minh luận” trong đó có “Ngũ minh phương”. Từ cuối đời Hán đến Ngụy Tấn – Nam Bắc triều, sách Phật dịch có đến 1.621 bộ, 4.180 quyển trong đó có nội dung y học khá nhiều. Đại Tạng Kinh là bộ đại thành của kinh điển Phật giáo, nội dung có khoảng 400 bộ chuyên luận về y lý, có vệ sinh y dược, bệnh về sinh lý, ma thuật, tu tâm dưỡng tính, nội dung vô cùng phong phú, đến nay vẫn còn lưu truyền và vận dụng rộng rãi.
“Ngũ minh phương” của Phật giáo có sự ảnh hưởng qua lại với lý luận Trung y. Phật giáo cho rằng, thân thể con người là do “Tứ đại” (địa, thủy, hỏa, phong) cấu thành. Căn nguyên của mọi bệnh tật là do Tứ đại không điều hòa. “Sơ thì địa (đất) tăng mạnh khiến cho thân thể nặng nhọc, nhì là thủy (nước) chứa nhiều khiến chảy nước mắt nước mũi, ba là hỏa tịnh (lửa) khiến cho đầu nóng ran, tư là phong (gió) động mạnh khiến cho khí ngưng khó thở. Quan điểm này có chỗ tương đồng với thuyết Âm dương ngũ hành”, “Âm dương chuyển hóa” và “Âm dương tiêu trưởng” của Trung y. Âm dương bình hòa thì người khỏe mạnh, nếu mất sự bình hòa thì sẽ bị bệnh.
Về ký sinh trùng học, y học Phật giáo cũng có phát hiện độc đáo. Theo “Thiền bệnh pháp yếu kinh” và “Chánh pháp niệm xứ kinh” thì cơ thể là ổ vi trùng, có khoảng 80 loại, được miêu tả phù hợp với quan điểm của y học hiện đại.
Trong “Tu hành đạo địa kinh” lại có nghiên cứu về bào thai người miêu tả rất tỉ mỉ quá trình hình thành thai nhi trong bụng mẹ, đặc biệt là Tiểu thừa Phật giáo đã trực tiếp hấp thụ lý luận “Nguyên khí thuyết” và “Âm dương ngũ hành thuyết” để giải thích về nguyên nhân bệnh tật cho rằng, “nguyên khí” phối hợp tốt thì tâm thần bình hòa, không bị các loại phiền não và dục vọng quấy nhiễu. Ngược lại nếu âm dương ngũ hành rối loạn, mất đi sự bình hòa muôn vàng bệnh tật phát sinh.

Phật giáo chia bệnh tật ra 404 loài, 101 loại, lại phân ra hai bộ phận lớn là “Tâm bệnh” và “Thân bệnh”. “Tâm bệnh” là chỉ những sự phiền não trong nội tâm, như tham chấp, lo sợ, ưu sầu, thù hận… Trong “Giáo thừa pháp số” có nói, phiền não của chúng sinh có thể quy vào 8 vạn 4 ngàn loại, chia thành 3 gốc phiền não là “Tham, sân, si,”. Do đó, Phật Thích Ca lấy việc trị tâm bệnh của chúng sinh làm trách nhiệm của mình. “Thân bệnh” là chỉ thân thể, cơ nhục, gân cốt, thần kinh, lục phủ, ngũ tạng không điều hòa, gọi là “Tứ đại ngũ tạng bệnh tướng”.
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa “Sức khoẻ” không chỉ là cơ thể không bị bệnh tật hay khiếm khuyết mà còn phải có trạng thái tâm sinh lý, tinh thần hoàn chỉnh và năng lực thích ứng với xã hội. Phật giáo cho rằng căn (sinh lý), trần (hoàn cảnh xã hội) và thức (tâm lý) là ba duyên hòa hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ. Do đó, tâm khởi phiền não ác nghiệp thì không chỉ là biểu hiện của tâm bệnh mà còn có thể dẫn đến thân bệnh.
Phật giáo đưa ra phép trị liệu tương ứng đối với bệnh tâm lý cho rằng, sức mạnh của tâm linh có thể phát sinh hiệu quả trị bệnh, lại vận dụng phép tu định chuyên chú tâm ở bộ phận nào đó trong cơ thể, từ đó mà khởi tác dụng trị liệu, điều này có chỗ rất giống với lý luận khí công. Ngoài ra, các hình thức khác trong sinh hoạt hằng ngày như lễ bái, tụng niệm, tọa thiền… cũng đều có tác dụng phòng trị bệnh tật.
Lễ bái là một trong các phương pháp tu trì của tín đồ Phật giáo. Lúc cúi đầu lễ bái, co gập thân mình khiến cho toàn thân vận động lại thêm tinh thần tập trung, động tác chậm rãi có thể làm cho khí huyết lưu thông, tinh thần bình hòa không nóng vội. Lúc lễ bái tâm ý thành tín rất có tác dụng với việc phòng trị bệnh.
Sám hối là tưởng tượng trước mắt là chư Phật, Bồ tát, thành khẩn hối lỗi khiến cho mọi tội lỗi như sương móc bị ánh dương xóa tan đi.
Xướng tụng là khi tụng kinh thì mọi ý niệm điều bỏ, chân thành kính ý, phối hợp với âm thanh nhạc khí như chuông, mõ, trống theo tiết tấu trầm bổng trong không khí trang nghiêm của Phật đường có hiệu quả rất tốt cho việc trị liệu bệnh thân tâm. Những phương pháp và nguyên tắc trị liệu này rất có nhiều điểm tương đồng với lý luận Đông y.
Y học của thế gian (y khoa ngày nay) đối với việc trị liệu bệnh tật, phần lớn nhấn mạnh đến các liệu pháp như ẩm thực, vật lý, hóa học, tâm lý, môi trường, khí hậu, y dược, nội trong phạm vi hữu hạn, chữa trị theo con bệnh. Y học của Phật giáo thì không chỉ bao gồm y lý thế gian, mà còn coi trọng việc diệt tận gốc ba độc tham sân si ở nội tâm. Cõi trần thế chừng nào còn tâm bệnh, thì chừng đó còn cần đến tâm dược y của Phật, chỉ có điều hòa sức khỏe về sinh lý và tâm lý, mới có thể thực sự rảo bước, tiến tới con đường sức khỏe, tráng kiện.
phatgiao.org.vn
st
Ăn chay vốn là phương pháp dưỡng sinh tuyệt vời để thanh lọc cơ thể nhưng thực tế tại nhiều cửa hàng và quán chay hiện nay, đồ chay giả mặn đang dần chiếm ưu thế nhờ hình thức bắt mắt cùng hương vị mô phỏng đồ thật đến 90%.
Tuy nhiên, việc lạm dụng hoặc lựa chọn các loại thực phẩm chế biến sẵn không rõ nguồn gốc này có thể vô tình biến bữa ăn thanh tịnh trở thành nguy cơ bệnh tật. Chính sự phụ thuộc vào các món ăn tinh luyện, sử dụng quá nhiều chất phụ gia để đánh lừa cảm giác, đang khiến nhiều người rời xa mục đích ban đầu là bảo vệ sức khỏe.
Đồ ăn chay giả mặn sử dụng nhiều chất phụ gia ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng.
Để biến bột mì, bột đậu nành thành những miếng “thịt ba chỉ” hay “cá thu” có đầy đủ gân, mỡ và mùi thơm đặc trưng, các nhà sản xuất phải sử dụng một lượng lớn phụ gia thực phẩm. Các loại phẩm màu công nghiệp, hương liệu nhân tạo và chất tạo dai như hàn the thường được sử dụng để đánh lừa cảm giác của người ăn.
Việc tiêu thụ quá nhiều thực phẩm chứa phụ gia hóa chất trong thời gian dài có thể gây quá tải cho gan, thận, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ gây ung thư.
Để đồ chay giả mặn có thể bảo quản được lâu trong điều kiện nhiệt độ thường và có vị đậm đà, nhà sản xuất thường cho rất nhiều muối (natri) và chất bảo quản như sodium benzoate.
Chế độ ăn nhiều muối là “kẻ thù” số một của huyết áp và tim mạch. Những người ăn chay vì bị tăng huyết áp nhưng lại chọn đồ giả mặn thường xuyên sẽ vô tình làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn.
Các triệu chứng đầy hơi, giữ nước và tăng huyết áp đột ngột sau khi ăn đồ chay chế biến sẵn là dấu hiệu điển hình của việc dư thừa muối.
Đồ chay giả mặn chủ yếu làm từ tinh bột và protein thực vật như đậu nành, lúa mì là môi trường cực kỳ thuận lợi cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển.
Nhiều cơ sở sản xuất thủ công không đảm bảo điều kiện tiệt trùng. Việc bảo quản hút chân không không đúng cách có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn kỵ khí như Clostridium botulinum phát triển – loại vi khuẩn từng gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng.
Nếu thấy dấu hiệu đồ ăn chay như sản phẩm bị nhớt, có mùi chua nhẹ hoặc bao bì bị phồng lên là những tín hiệu tuyệt đối không được sử dụng.
Nhiều người lầm tưởng ăn đồ chay giả mặn là tốt nhưng thực tế chúng thường bị chiên đi chiên lại qua dầu mỡ để tạo độ giòn và béo.
Quá trình chế biến sâu làm mất đi hầu hết các vitamin và khoáng chất tự nhiên có trong đậu nành hay rau củ. Thay vào đó, người ăn nạp vào cơ thể một lượng lớn chất béo chuyển hóa và carbohydrate rỗng, dễ gây tăng cân và máu nhiễm mỡ.
Dạo quanh các chợ truyền thống, không khó để tìm thấy những túi giò chả chay “3 không”: Không nhãn mác, không hạn sử dụng, không thành phần. Việc tin tưởng vào các loại thực phẩm này là hành động gây hại sức khỏe của chính mình và gia đình.
Nhiều sản phẩm ăn chay giả mặn giá rẻ chỉ chứa tinh bột và chất tạo dai thay vì đạm từ đậu nành hay nấm chất lượng cao. Điều này khiến người ăn chay bị thiếu hụt protein, dẫn đến mệt mỏi, thiếu máu và suy giảm sức đề kháng.
Hãy ưu tiên thực phẩm có nhãn mác rõ ràng, công bố đầy đủ hàm lượng dinh dưỡng.
Lưu ý khi ăn chay:
Theo SK&ĐS
ST