Y HỌC-SỨC KHỎE – DƯỠNG SINH-VÕ THUẬT NỘI CÔNG – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Thu, 13 Aug 2026 07:15:58 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.20 Lược sử Y Học (Bài 7) https://thuonghylenien.org/luu-tru/6322 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6322#respond Thu, 13 Aug 2026 07:15:58 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6322 Lược sử Y Học (Bài 7)

Lister và Thuốc Sát Trùng

“Phẫu thuật thành công, bệnh nhân đã tử vong” là một trường hợp ghi chép phổ biến trong hồ sơ bệnh án thế kỷ 19. Cuộc cách mạng trong gây mê y khoa vào những năm 1840 đồng nghĩa với việc các bác sĩ phẫu thuật không còn phải ra sức chế ngự những bệnh nhân quằn quại trong đau đớn, hay phải làm việc gấp đôi để giảm thiểu sự đau đớn, và khi bệnh nhân đã nằm yên và mất hết cảm giác, các bác sĩ phẫu thuật có thể khám phá các thủ thuật mới với sự cẩn trọng và tỉ mỉ hơn. Tuy nhiên, ngay cả ở những bệnh viện tốt nhất, nhiều bệnh nhân vẫn tử vong ngay sau đó, thường là do nhiễm trùng.

 

Đến giữa những năm 1860, lý thuyết mầm bệnh đã bắt đầu thâm nhập vào y học, nhờ vào công trình của Louis Pasteur. Cái nhìn sâu sắc của John Snow về dịch tả ở London một thập kỷ trước đó đã đóng góp, cũng như kinh nghiệm của Ignaz Semmelweis với bệnh sốt hậu sản ở Vienna những năm 1840. Mặc dù vậy, phải mất một thời gian dài để ý tưởng này được chấp nhận rộng rãi. Các lý thuyết truyền thống đã thống trị trong nhiều thế kỷ: bao gồm miasma, trong đó một số loại hóa học ác tính trong không khí ô nhiễm gây ra bệnh; và sự sinh sản tự phát, trong đó ký sinh trùng và bệnh dịch phát sinh từ vật chất vô tri. Cơ sở y tế, có tai tiếng là hay nghi ngờ ngay cả đối với những cải tiến nhỏ, luôn có lập trường thận trọng. Một số bác sĩ phẫu thuật vẫn không chấp nhận những ưu điểm của phương pháp gây mê, khăng khăng rằng đau đớn là một phần không thể thiếu của quá trình điều trị và phục hồi. Họ lập luận rằng việc giảm đau bằng gây mê, hoặc thậm chí chính các tác nhân gây mê, có thể dẫn đến các vấn đề như vết thương mưng mủ sau phẫu thuật, mủ rỉ ra, hoặc thối rữa của hoại tử trong bệnh viện. Nhiễm trùng máu (general sepsis từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là thối rữa) là giai đoạn cuối của nhiễm trùng, với một loạt các tác động bao gồm viêm lan rộng, đông máu và cuối cùng là suy đa tạng. Với tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng sau phẫu thuật cao như vậy, cần phải có sự thay đổi.

JOSEPH LISTER

Lister đã nỗ lực hết sức để loại bỏ chất bẩn khỏi phòng phẫu thuật và tiêu diệt vi khuẩn gây ra tỷ lệ tử vong cao sau phẫu thuật.

 

Bác sĩ phẫu thuật Joseph Lister đã cách mạng hóa ngành phẫu thuật và cải thiện đáng kể vận may của bệnh nhân bằng cách chứng minh rằng vi khuẩn gây bệnh có thể được tiêu diệt bằng các chất diệt khuẩn gọi là thuốc sát trùng.

 

Joseph Lister có được bằng cấp y khoa đầu tiên của mình vào năm 1852 tại Bệnh viện Đại học, London, trở thành thành viên của Học viện Phẫu thuật Hoàng gia. Năm 1853, ông chuyển đến Edinburgh và năm sau bắt đầu làm việc với bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng và nhà cải cách y khoa James Syme, người sau này trở thành cha vợ ông. Được dẫn dắt bởi tinh thần tiên phong của Syme, Lister là một nhà nghiên cứu nhiệt huyết, nghiên cứu và viết báo cáo về hoạt động của cơ, sự đông máu và viêm. Ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Phẫu thuật Regius tại Đại học Glasgow vào năm 1860 và bắt đầu hành nghề tại Bệnh viện Hoàng gia Glasgow trực thuộc. Những người chứng kiến ​​ngày nay sẽ kinh hoàng trước một phòng phẫu thuật điển hình vào thời điểm đó. Các bác sĩ phẫu thuật, y tá và các nhân viên khác hầu như không chú ý đến vệ sinh. Tay, quần áo – những vật dụng làm việc thông thường và dụng cụ của họ hiếm khi được làm sạch trước, sau hoặc giữa các ca bệnh mà họ lần lượt giải phẫu. Trong các phòng hồi sức, mủ rỉ ra, mùi hôi thối của hoại thư và nhiễm trùng huyết đáng sợ là điều thường thấy. Vào thời điểm đó, người ta cho rằng oxy trong không khí có tác động hóa học trực tiếp lên phần thịt hở, gây ra chứng hoại thư. Giải pháp là băng bó thật chặt vùng bị thương để không khí không vào được. Điều này làm giảm lưu lượng máu đến và mức oxy trong các mô – trớ trêu thay, đây lại là điều kiện mà các vi khuẩn gây hoại thư ưa thích. Mong muốn tạo ra một tác động nhằm thay đổi tình huống đáng buồn này, Lister đã thử một cách tiếp cận khác. Ông bắt đầu giữ mình sạch sẽ trong khi phẫu thuật, cùng với vệ sinh trang phục và dụng cụ của mình; ông cũng sử dụng garô để giảm mất máu và cung cấp tầm nhìn rõ hơn trong khu vực phẫu thuật. Các bác sĩ phẫu thuật khác cười nhạo nỗ lực của Lister, và một số thậm chí còn công khai chế giễu ông, vì cho rằng máu và mủ lấm trên trang phục của họ tượng trưng cho địa vị cao quý của mình. Lister vẫn kiên trì; các biện pháp của ông bắt đầu mang lại kết quả và tỷ lệ thành công trong phẫu thuật của ông dần tăng lên.

 

Vào giữa những năm 1860, Thomas Anderson, một giáo sư hóa học tại Đại học Glasgow, đã cho Lister xem công trình của Pasteur, gợi ý rằng vi khuẩn có thể là nguyên nhân gây hoại tử bệnh viện và các bệnh nhiễm trùng khác. Lister cũng biết về chiến dịch vệ sinh của Semmelweis nhằm ngăn chặn sốt hậu sản. Ông phỏng đoán: “… Có thể tránh được sự phân hủy của phần bị thương bằng cách sử dụng một số vật liệu có khả năng tiêu diệt các hạt trôi nổi.” Pasteur đã xác định ba biện pháp chống lại các vi sinh vật gây bệnh: bộ lọc, nhiệt và hóa chất. Lister, luôn mong muốn giúp đỡ bệnh nhân của mình và để tăng tỷ lệ thành công của bản thân, ông bắt đầu tìm kiếm một chất hóa học phù hợp để thử nghiệm. Ông đã tìm thấy axit carbolic (ngày nay thường được gọi là phenol), được chiết xuất từ ​​nhựa than đá. Được sản xuất lần đầu tiên vào những năm 1830, axit carbolic đã được sử dụng rộng rãi như một chất bảo quản và trung hòa nước thải trong cống rãnh. Mùi hương mạnh mẽ và đặc trưng của nó, ngọt ngào và giống như hắc ín, được dùng để tiêu diệt các loại hơi gây mùi hôi thối được gọi là miasm. Lister nhớ lại: “Vào năm 1864, tôi rất ấn tượng với một báo cáo về tác động đáng chú ý của axit carbolic đối với nước thải của thị trấn Carlisle [Tây Bắc nước Anh]. Không chỉ ngăn chặn mọi mùi hôi từ những vùng đất được tưới bằng vật liệu phế thải, mà như đã nói, còn tiêu diệt cả entozoa [giun và các loại ký sinh trùng tương tự] thường gây bệnh cho gia súc được chăn thả trên những đồng cỏ đó… Tôi thấy rằng một chất khử trùng mạnh như vậy đặc biệt thích hợp cho các thí nghiệm… Khả năng ứng dụng của axit carbolic để điều trị gãy xương phức tạp [xem bên dưới] tự nhiên xuất hiện trong tôi.” Lister đã nghiên cứu tác dụng của axit carbolic lên da và thịt người, lấy nguồn cung từ Anderson và tiến hành các thử nghiệm sơ bộ. Được khích lệ bởi kết quả, ông bắt đầu sử dụng axit carbolic dạng lỏng trước, trong và sau phẫu thuật, để rửa tay và dụng cụ, và để ngâm băng.

 

Một tai nạn xảy ra vào ngày 12 tháng 8 năm 1865 đã đưa cậu bé James Greenlees, 11 tuổi, vào Bệnh viện Hoàng gia Glasgow. Bị xe đẩy cán, cậu bé đã bị gãy xương ống chân trái (xương chày). Trong trường hợp gãy xương hở, không chỉ xương bị gãy mà cả da cũng bị rách, tạo điều kiện cho bụi bẩn, vi trùng và các chất gây ô nhiễm khác xâm nhập. Vào thời của Lister, những chấn thương như vậy thường tiến triển qua nhiễm trùng huyết đến tử vong, trừ khi chi bị cắt cụt – một thủ thuật tiềm ẩn nhiều rủi ro khác. Chính Lister đã làm sạch vết gãy và vết thương, băng bó bằng vải sợi tẩm dung dịch axit carbolic và nẹp chân. Vài ngày một lần, ông lặp lại quy trình làm sạch và băng bó. Trong sáu tuần, chống lại mọi nguy cơ, James đã hết nhiễm trùng và có thể đi lại bằng cả hai chân khỏe mạnh. Sau chiến thắng này, Lister ra sắc lệnh rằng tất cả các ca phẫu thuật dưới sự giám sát của ông phải tuân theo các quy trình liên quan đến axit carbolic.

 

CƠ HỘI SỐNG SÓT SAU PHẪU THUẬT TRƯỚC KHI THUỐC KHỬ TRÙNG ĐẾN 50%

PHUN SẠCH

Lister đã phát minh ra một cỗ máy diệt vi trùng trong không khí bằng cách phun sương axit carbolic. Ông sẽ hướng dẫn việc phun sương trước khi phẫu thuật.

 

Trong khi đó, ông tiếp tục tìm kiếm những cải tiến. Axit carbolic thô, nguyên chất gây ra các vấn đề như kích ứng da và bong tróc, vì vậy ông đã yêu cầu các dạng tinh khiết hơn, thử nghiệm các dung dịch pha loãng và trộn chúng với các chất khác như dầu hạt lanh và vôi cacbonat. Ngày càng tự tin, ông cũng bắt đầu thuyết trình và công bố kết quả của mình, tóm tắt các phương pháp ban đầu của mình trong Nguyên tắc Sát trùng trong Thực hành Phẫu thuật, được xuất bản trên Tạp chí Y khoa Anh năm 1867: “Khi tiến hành điều trị, mục tiêu đầu tiên phải là tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn gây nhiễm trùng nào có thể đã xâm nhập vào vết thương bằng cách đưa axit với cường độ tối đa vào tất cả các ngóc ngách có thể tiếp cận của vết thương bằng một miếng giẻ được giữ trong kẹp băng và nhúng vào dung dịch. Các chi, nếu không khử trùng sẽ phải bị cắt cụt ngay lập tức, có thể được giữ lại với mức tự tin về kết quả tốt nhất.” Tỷ lệ tử vong do phẫu thuật lớn dưới sự giám sát của Lister đã giảm từ gần 50% xuống còn 15%. Các phương pháp sát trùng được áp dụng rộng rãi hơn cho các vết bầm tím, vết rách và áp xe.

 

Năm 1869, Lister trở lại Edinburgh với tư cách là Giáo sư Phẫu thuật Lâm sàng. Trong khoảng thời gian này, ông đã phát minh ra một loại bình xịt để tiêu diệt các chất gây ô nhiễm lơ lửng trong phòng phẫu thuật và phun sương axit carbolic loãng lên tất cả mọi người và mọi vật ở đó.

MÁY PHUN PHÁP

Kỹ thuật của Lister được Just Marie Marcellin Lucas-Championnière xiển dương tại Pháp, ông đã cải tiến máy phun của Lister.

 

Máy phun của Lister đã trải qua nhiều lần cải tiến: những chiếc đầu tiên được bơm bằng tay và chân một cách vất vả, được gọi là “động cơ lừa” – nhưng đến năm 1871, chúng đã được vận hành bằng hơi nước. Sau đó, chúng bị loại bỏ dần khi người ta phát hiện ra rằng ô nhiễm không khí ít nguy hiểm hơn việc hít phải khí carbolic. Một số bác sĩ phẫu thuật người Anh vẫn không tin, thậm chí còn tỏ ra coi thường, và đưa ra những lý do khác cho kết quả của Lister – từ chế độ ăn uống và chăm sóc điều dưỡng tốt hơn đến khí hậu địa phương. Họ không muốn thừa nhận rằng những phương pháp truyền thống của họ thực sự có thể gây nhiễm trùng bằng cách lây truyền vi trùng, hoặc thay đổi thói quen của mình đối với những sinh vật nhỏ bé mà họ thậm chí không thể nhìn thấy.

 

Khử trùng – quá trình tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của bất kỳ vi trùng nào hiện diện – đã được áp dụng nhanh hơn và nhiệt tình hơn ở lục địa châu Âu, đặc biệt là Đức, so với Anh. Khi lý thuyết về mầm bệnh dần được chấp nhận, các chất khử trùng khác đã được thử nghiệm thay cho axit carbolic. Một hướng chiến tranh khác chống lại vi trùng đã theo sau, quay trở lại một trong ba biện pháp ban đầu của Pasteur – nhiệt độ cao. Năm 1879, trợ lý của Pasteur là Charles Chamberland đã phát minh ra một thiết bị giống như lò nướng gọi là lò hấp, có chức năng tiêu diệt vi trùng bằng hơi nước bão hòa áp suất cao. Bảy năm sau, tại Berlin, bác sĩ phẫu thuật sinh ra ở Latvia Ernst von Bergmann đã giới thiệu phương pháp khử trùng bằng hơi nước cho dụng cụ phẫu thuật và băng gạc. Trước đó, ông đã áp dụng các phương pháp của Lister khi còn là một bác sĩ phẫu thuật quân y và đạt được thành công lớn. Sáng kiến ​​khử trùng của Von Bergmann đánh dấu sự chuyển dịch từ sát trùng sang vô trùng trong đó hoàn toàn không có vi trùng. Cùng với đó là những chiếc khẩu trang, áo choàng và khay dụng cụ sạch sẽ, sáng bóng quen thuộc của phòng phẫu thuật.

 

Lister không phải là người đầu tiên sử dụng chất khử trùng – diệt vi khuẩn hoặc chất ức chế có thể áp dụng cho các mô sống với độ an toàn tương đối. Tuy nhiên, ông đã chính thức hóa việc sử dụng chúng và chứng minh hiệu quả của chúng trong y học.

 

Chất khử trùng có tác dụng tương tự đối với các vật vô tri vô giác như dụng cụ, giường hoặc sàn nhà. Từ thời cổ đại, một số chất đã đáp ứng cả hai nhu cầu. Cồn (ethanol) và giấm đã được ghi nhận ở Hy Lạp cổ đại, Ấn Độ và Trung Quốc, trong khi ở Rome, Aulus Cornelius Celsus đã sử dụng giấm và dầu cỏ xạ hương. Trong nhiều thiên niên kỷ, nhựa thông hoặc dầu đã được đổ lên vết thương hở hoặc vết cắt cụt chi vội vàng. Các hợp chất của đồng, bạc và thủy ngân cũng đã được thử nghiệm, mặc dù một số trong đó tỏ ra khá độc hại. Ngày nay, chất khử trùng tay ở nhiều bệnh viện có thành phần là cồn hoặc iốt. Chất sau, được phân lập vào năm 1811, đã được bác sĩ người Pháp Jean Guillaume Auguste Lugol đưa vào dung dịch iốt vào năm 1829. Iốt của Lugol sau đó đã trở thành một chất khử trùng, tẩy uế và chữa khỏi phổ biến cho nhiều vấn đề về sức khỏe và vệ sinh.

 

Tạp chí Y khoa Anh cuối cùng đã ghi nhận những thành tựu của Lister vào năm 1879: “… Người đã nỗ lực hết mình để xóa bỏ ‘nỗi khiếp sợ’ trong ngành phẫu thuật chính là ông Lister.” Vào thời điểm này, ông đã là Trưởng khoa Phẫu thuật Lâm sàng tại Đại học King’s, London, và là Bác sĩ Phẫu thuật Cá nhân cho Nữ hoàng Victoria. Hoàng gia đã chính thức phê chuẩn ông được vinh dự cắt một ổ áp xe lớn ở nách trái của Nữ hoàng. Bà ghi lại: “… Tôi đau quá. Tôi sẽ được tiêm chloroform… Ổ áp xe, đường kính sáu inch, đã được cắt bỏ rất nhanh chóng. Ông Lister, người phát minh vĩ đại, một loại thuốc xịt carbolic, đã sử dụng nó để tiêu diệt tất cả các vi khuẩn hữu cơ ….” Năm 1883, Lister được phong Tòng Nam tước; năm 1891, ông đồng sáng lập và trở thành chủ tịch của Viện Y học Dự phòng Anh (nay gọi là Viện Y học Dự phòng Lister); và năm 1897, ông là bác sĩ phẫu thuật đầu tiên được phong tước Nam tước vì những thành tựu y học của mình.

 

Lister có thể không có kỹ năng phẫu thuật đặc biệt, cũng không có khiếu hài hước: các sinh viên y khoa chỉ nhận được phản ứng im lặng khi họ nói đùa về máy phun carbolic của ông, nói trước khi phẫu thuật: “Chúng ta hãy cầu nguyện”. Nhưng dù ông có kín đáo và tách biệt về mặt cảm xúc như thế nào, nỗ lực của Lister nhằm loại bỏ tình trạng ô nhiễm trong phòng phẫu thuật đã cứu sống nhiều bệnh nhân và đảm bảo vị trí của mình trong lịch sử.

PHẪU THUẬT KHÔNG TÌ VẾT

Bất chấp sự hoài nghi ban đầu, phương pháp sử dụng vệ sinh chống lại vi trùng của Lister đã lan truyền nhanh chóng khắp châu Âu. Bức tranh Áo này từ khoảng năm 1900 mô tả quá trình khử trùng trong phòng phẫu thuật của một bệnh viện thời bấy giờ.

 

Phụ  Khoa và Nhi Khoa

 

Trong y học phổ thông ngày nay, những nhân vật trung tâm trong việc chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh trong giai đoạn hậu sản là bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh. Bác sĩ sản khoa là những bác sĩ có trình độ chuyên môn, chuyên chăm sóc y tế cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Nữ hộ sinh là những chuyên gia có trình độ, cung cấp dịch vụ chăm sóc và tư vấn, thường mở rộng từ mẹ và bé đến bạn đời và gia đình, chăm sóc cả về mặt cảm xúc và xã hội một cách liên đới và toàn diện hơn. Nhìn chung, vai trò của nữ hộ sinh là hỗ trợ và theo dõi phụ nữ trong suốt quá trình mang thai và sinh nở “bình thường” khỏe mạnh; bác sĩ sản khoa có mặt để hỗ trợ những phụ nữ gặp phải những vấn đề khó khăn hoặc phức tạp hơn, có thể cần sự can thiệp chuyên môn hơn.

 

Từ thời xa xưa ở Babylon và Ai Cập, các nữ hộ sinh được miêu tả là đang hỗ trợ sản phụ. Hình ảnh Ai Cập từ hơn 2.500 năm trước cho thấy các bà mẹ ngồi xổm hoặc ngồi để sinh con, và các nữ hộ sinh được mô tả trong giấy cói Ebers. Một cái tên nổi bật ở Hy Lạp cổ đại, hơn 2.300 năm trước, là Agnodice, mặc dù không rõ liệu bà có phải là một nhân vật thần thoại hay không. Vào thời đó, phụ nữ được phép chữa trị cho những người phụ nữ khác trong quá trình mang thai và sinh nở, nhưng không được làm gì khác ngoài y tế. Người ta nói rằng Agnodice đã cắt tóc và cải trang thành nam giới để đủ điều kiện trở thành một thầy thuốc đa khoa. Như Gaius Julius Hyginus kể lại ba thế kỷ sau: “Bà nghe thấy tiếng một người phụ nữ khóc trong cơn đau chuyển dạ nên đã đến giúp đỡ. Người sản phụ, nghĩ rằng đó là một người đàn ông, nên ngại ngùng, từ chối sự giúp đỡ của bà; nhưng Agnodice đã vén áo lên và tiết lộ mình là một phụ nữ, nhờ đó bà có thể chữa trị cho bệnh nhân của mình.” Các bệnh nhân nữ sau đó thường yêu cầu “ông ấy” chữa bệnh, khiến các thầy thuốc nghi ngờ. Tức giận trước những lời buộc tội, Agnodice cuối cùng đã thú nhận bằng cách vén áo choàng trước công chúng. Bà bị buộc tội lừa dối và bị kết án tử hình, nhưng nhờ sự vận động hành lang của bệnh nhân, bà đã được tha thứ, và sau đó phụ nữ được phép hành nghề y rộng rãi hơn.

AGNODICE TIẾT LỘ

Agnodice tiết lộ mình là phụ nữ sau nhiều năm giả làm đàn ông để hành nghề y.

 

Vào thế kỷ thứ nhất CN, thầy thuốc người Hy Lạp Soranus xứ Ephesus đã viết cuốn Gynaikeia (Phụ khoa), chứa đựng rất nhiều chi tiết về sản khoa và hộ sinh. Ông mô tả những khó khăn của ngôi thai ngược, trong đó em bé nằm ở vị trí chuẩn bị ra khỏi tử cung ở tư thế mông ra trước – hoặc chân trước – và chỉ ra thủ thuật “lật” em bé bằng thao tác trong tử cung. Ông khuyến nghị nữ hộ sinh ngồi trước mặt người mẹ trên ghế sinh, sẵn sàng đón nhận em bé, với băng gạc, dầu và thảo dược trong tay. Bà sẽ khuyến khích hài nhi thở, cắt dây rốn và rắc các chất chữa bệnh vào cuống rốn, sau đó kiểm tra và vệ sinh cho trẻ sơ sinh để sẵn sàng giao cho người mẹ – một số trong đó là các quy trình hộ sinh kinh điển vẫn được thực hành cho đến ngày nay. Một số phần trong Gynaikeia của Soranus đã được một tác giả tên là Muscio (Mustio) điều chỉnh vào thế kỷ thứ 6 và được Eucharius Rösslin (còn được gọi là Rhodion; xem bên dưới) tái bản vào thế kỷ 16.

 

Một trong những thủ thuật phẫu thuật lâu đời nhất được biết đến là mổ lấy thai (cesarean section) – sinh con qua một vết rạch trên thành bụng và tử cung của người mẹ. Trong thần thoại Hy Lạp, thần mặt trời Apollo đã đưa Asclepius, vị thần chữa bệnh và y học, ra khỏi bụng mẹ theo cách này. Người ta tin rằng nguồn gốc tên của thủ thuật này – cesarean section – là do Hoàng đế La Mã Julius Caesar ra đội bằng phương pháp này – tuy nhiên, vào thời La Mã, ca phẫu thuật này thường được thực hiện để cứu em bé khi người mẹ đã chết hoặc sắp chết, nhưng mẹ của Julius, Aurelia, vẫn sống. Nhiều khả năng cái tên này bắt nguồn từ tiếng Latin caedare, có nghĩa là “cắt”. Năm 1598, bác sĩ phẫu thuật hoàng gia người Pháp có ảnh hưởng Jacques Guillemeau đã xuất bản một tác phẩm về nữ hộ sinh, trong đó ông sử dụng thuật ngữ “cesarean ‘section’” thay vì “phẫu thuật”, và sau đó thuật ngữ được sử dụng phổ biến.

 

Ở Đông Á, khoảng năm 850, thầy thuốc người Trung Quốc Zan Yin đã biên soạn bộ Kinh Tiểu Thiền Bảo (Tri thức Sản khoa Quý báu, hay Phương thuốc đã được kiểm chứng trong sản khoa) gồm 52 chương. Là tác phẩm lớn đầu tiên của Trung Quốc về phụ khoa và sản khoa, nó đã kết hợp nhiều khía cạnh của y học cổ truyền Trung Quốc, chẳng hạn như điều hòa khí, cũng như hơn 300 bài thuốc và công thức thảo dược. Zan Yin đã đề cập đến sảy thai, băng huyết, nôn nghén (một dạng ốm nghén nghiêm trọng), sinh non và các trường hợp khó sinh, chẳng hạn như ngôi thai ngược.

 

Các văn bản cổ xưa của Ấn Độ cho thấy các nữ hộ sinh Ấn Độ xuất thân từ những gia đình khá giả và có trình độ chuyên môn cao. Susruta Samhita kể lại rằng bà mẹ tương lai nên nằm ngửa, kê gối để đỡ, gập đùi và được bốn nữ hộ sinh lớn tuổi, giàu kinh nghiệm, móng tay được cắt tỉa gọn gàng, hỗ trợ.

MÔ HÌNH GIẢI PHẪU

Mô hình phụ nữ mang thai bằng ngà voi này có các bộ phận có thể tháo rời, loại phổ biến ở châu Âu vào thế kỷ 17, được các nữ hộ sinh sử dụng để hướng dẫn phụ nữ về việc sinh nở.

 

Nghề hộ sinh, một chuyên khoa được tổ chức chính thức như chúng ta biết ngày nay, bắt đầu hình thành ở châu Âu vào thế kỷ 16. Bác sĩ phẫu thuật chiến trường nổi tiếng người Pháp Ambroise Paré  là một trong nhiều bác sĩ lỗi lạc bắt đầu quan tâm đến sản khoa. Ông đã sử dụng phương pháp “podalic versio” (chuyển động chân), theo đó em bé nằm nghiêng trong bụng mẹ có thể được đặt lại vị trí sinh dễ dàng hơn, chân ra trước. Máy in chữ rời mới được phát minh gần đây, và xu hướng của những nhân vật y khoa lỗi lạc như Paré viết bằng ngôn ngữ thời đại thay vì tiếng Latin học thuật, đã mở ra cơ hội nghiên cứu y học và chăm sóc sức khỏe cho công chúng, mang đến cho các bác sĩ nam trẻ cơ hội thực hành phụ khoa và nhi khoa. Ở Đức, dược sĩ kiêm bác sĩ Eucharius Rösslin đã rất thất vọng trước trình độ thấp kém của nghề hộ sinh và đã xuất bản cuốn Der Schwangeren Frauen und Hebammen Rosengarten (Vườn Hồng dành cho Phụ nữ Mang thai và Nữ hộ sinh) nhằm nỗ lực nâng cao trình độ. Tại Pháp vào thế kỷ 17, Louyse Bourgeois trở thành người phụ nữ đầu tiên viết một cuốn sách học thuật về sản khoa, Observations diverses  sur la stérilité, perte de fruits, fécondité, accouchements et maladies des femmes et enfants nouveaux-nés (Quan Sát về Vô Sinh, Rụng Trứng, Khả Năng Sinh Sản, Sinh Con và Bệnh Tật của Phụ Nữ và Trẻ Sơ Sinh), xuất bản năm 1609 – nhưng sự xâm lấn của nam giới vào thế giới truyền thống của nữ hộ sinh vẫn tiếp diễn, dẫn đến sự ra đời của thuật ngữ “nam hộ sinh”, hay accoucheur, trong tiếng Pháp. Các ghi chép lịch sử từ Hà Lan kể về cách hội phẫu thuật viên địa phương tổ chức đào tạo nữ hộ sinh dưới sự chỉ dẫn của accoucheur, người mà các nữ hộ sinh phải gọi điện xin tư vấn chuyên môn nếu phát sinh biến chứng khi sinh.

 

Địa vị của nữ hộ sinh bị xói mòn và số lượng giảm sút. Thành phố Leiden của Hà Lan là điển hình khi chỉ có mười nữ hộ sinh đang hoạt động trong sổ đăng ký của mình trong thế kỷ 17, con số này đã giảm một nửa trong thế kỷ 18. Trong nửa đầu những năm 1700, kẹp sản khoa, được gắn quanh đầu em bé để giúp việc sinh nở dễ dàng hơn, đã trở nên phổ biến rộng rãi, phần lớn là nhờ bác sĩ sản khoa người Scotland William Smellie. Smellie được đào tạo tại Glasgow, Paris và London. Ông đã cải thiện đáng kể kiến ​​thức về chuyển dạ và chỉ ra cách sử dụng kẹp để đỡ đẻ an toàn, ngay cả khi tính mạng của người mẹ không bị đe dọa. Điều này đã chuyển trọng tâm sang việc cứu sống cả mẹ và trẻ sơ sinh, thay vì chỉ trẻ sơ sinh.

NAM-NỮ HỘ SINH

Vào thế kỷ 18, các họa sĩ biếm họa đã mô tả nam hộ sinh hay “ông mụ” là một nhân vật nửa nam, nửa nữ.

SINH MỔ

Trước khi thuốc gây mê và kỹ thuật phẫu thuật sát trùng ra đời vào thế kỷ 19, sinh mổ là một phương pháp cực kỳ nguy hiểm cho người mẹ. Bức tranh khắc gỗ này cho thấy ca phẫu thuật được thực hiện vào thế kỷ 16.

 

Ông đã xuất bản rộng rãi, bao gồm cả Luận thuyết về Lý thuyết và Thực hành Hộ sinh, xuất bản vào những năm 1750. Mỏ vịt âm đạo, vốn đã tồn tại ít nhất từ ​​thời La Mã, cũng được sử dụng rộng rãi hơn vào thế kỷ 18. Nó cho phép quan sát bên trong âm đạo, đặc biệt là trong quá trình sinh nở. Một lần nữa, nó là dụng cụ dành cho bác sĩ sản khoa chứ không phải nữ hộ sinh – một lợi ích là bác sĩ ít cần phải chạm vào vùng sinh dục của sản phụ.

 

Đến lúc này, các nữ hoàng và phụ nữ quý tộc khác đã yêu cầu các bác sĩ nam cung cấp dịch vụ sản khoa, làm trầm trọng thêm xu hướng xa lánh nữ hộ sinh. Sự thay đổi trong mô hình sinh nở từ nhà ra bệnh viện cũng ảnh hưởng đến các bác sĩ sản khoa. Một số thành viên của giới y khoa thậm chí còn đề xuất nên bãi bỏ nghề hộ sinh. Năm 1842, tạp chí y khoa nổi tiếng của Anh, The Lancet, đã đăng một lá thư nêu rõ: “Ai cũng biết rằng sự có mặt của các nữ hộ sinh… về nhiều mặt thực sự gây hại, và trong vô số trường hợp, phụ nữ sẽ an toàn hơn nhiều nếu được giao phó hoàn toàn cho tự nhiên.” Quan điểm tương tự cũng lan rộng sang nhiều quốc gia châu Âu khác và Bắc Mỹ.

 

Vào khoảng thời gian này, bác sĩ người Hungary Ignaz Semmelweis đang làm việc tại khoa sản tại Bệnh viện Đa khoa Vienna. Ông bối rối trước quy mô  các ca bệnh sốt hậu sản phổ biến và đáng sợ, ngày nay được biết đến là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn. Đặc biệt, một phòng khám sản khoa có một tỷ lệ mắc bệnh cao bất thường. Năm 1847, Semmelweis lập luận rằng “chất thải từ tử thi” có thể là nguyên nhân, vì những nhân viên làm việc tại phòng khám phụ khoa có tỷ lệ mắc bệnh cao này là các sinh viên y khoa; họ thường từ các phòng khám tử thi, mổ xẻ tử thi và các công việc tương tự khác, rồi sau đó đi thẳng tới phòng khám phụ khoa mà không vệ sinh và khử trùng. Semmelweis khuyến nghị sinh viên rửa tay bằng nước rửa có chứa clo – và hiệu quả đến ngay lập tức. Trong vòng một năm, các ca sốt hậu sản tại phòng khám đã giảm mạnh, một thực tế đã góp phần thiết lập thuyết vi trùng học về bệnh tật và việc sử dụng thuốc sát trùng trong bệnh viện. Năm 1860, Florence Nightingale thành lập trường điều dưỡng hiện đại đầu tiên.

 

“…nữ hộ sinh phải… tỉnh táo, kiên nhẫn và kín đáo, không có dị tật bên ngoài…”

WILLIAM SMELLIE

Một nữ hộ sinh trực

Một nữ hộ sinh đang vận chuyển một máy gây giảm đau bằng khí trên xe đạp vào năm 1938. Vào thời điểm đóNga Louisa Hubbard thành lập Viện Nữ hộ sinh, với mục tiêu “nâng cao hiệu quả và cải thiện vị thế của nữ hộ sinh, đồng thời kiến ​​nghị quốc hội công nhận họ”. Năm 1902, Đạo luật Nữ hộ sinh ở Anh và xứ Wales đã công nhận nghề nữ hộ sinh là một nghề chính thức, với đầy đủ hệ thống đào tạo có giám sát, chứng nhận và đăng ký. Nghề này vẫn do nam giới thống trị, nhưng giờ đây bất kỳ ai hành nghề  hộ sinh mà không có bằng cấp đều là bất hợp pháp.

 

Trên bình diện quốc tế, nghề hộ sinh đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Ở Hà Lan, nghề này được hưởng lợi từ việc có các trường đào tạo sớm hơn nhiều so với các nơi khác ở châu Âu, nhờ đó tránh được tình trạng bị gạt ra ngoài lề; trường đào tạo đầu tiên của Hà Lan được thành lập vào năm 1861. Nữ hộ sinh Pháp đã đạt được vị thế đáng kể, được phép chẩn đoán và điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau. Trường Cao đẳng Điều dưỡng-Hộ sinh Hoa Kỳ được cấp phép hoạt động vào năm 1955. Đến giữa thế kỷ 20, nghề này đã có chỗ đứng vững chắc ở hầu hết các quốc gia phát triển, đảm bảo sức khỏe tương lai cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh.

 

Lý Thuyết về Mầm Bệnh

 

Những khám phá về vi khuẩn và các vi sinh vật gây bệnh khác cũng sinh sôi nhanh không kém chính vi khuẩn vào cuối thế kỷ 19. Các nhà nghiên cứu khoa học quan sát qua kính hiển vi đã ghi lại đủ loại vi khuẩn, nấm men, động vật nguyên sinh (sinh vật đơn bào, giống động vật), giun nhỏ và nhiều loại khác mới. Vi khuẩn được nuôi cấy, cố định và bảo quản theo những cách mới, và giờ đây chúng có thể được tô màu hoặc nhuộm màu để dễ nghiên cứu hơn. Những dạng sống nhỏ bé đạt được ý nghĩa mới khi vai trò của chúng trong quá trình lên men, phân hủy, bệnh tật và toàn bộ thế giới tự nhiên trở nên rõ ràng. Cùng với Louis Pasteur, một người sáng lập quan trọng ngành vi khuẩn học là bác sĩ và nhà hiển vi học người Đức Robert Koch. Mặc dù hai người có nhiều điểm chung, nhưng họ nhanh chóng trở thành kẻ thù không đội trời chung. Phản ánh sự cạnh tranh chính trị của Pháp và Đức vào thời điểm đó, các cuộc chiến của họ chủ yếu được tiến hành thông qua báo chí y khoa. Khi Koch xúc phạm “phương pháp kém cỏi” của Pasteur, Pasteur đã trả đũa bằng cách cáo buộc Koch là “con nợ của khoa học Pháp”. Bất kể quan điểm của Pasteur là gì, không còn nghi ngờ gì nữa, Koch đã có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực vi sinh y học.

 

Sinh ra và lớn lên tại Clausthal, tây bắc nước Đức, Robert Koch theo học ngành y tại Đại học Göttingen và tốt nghiệp loại xuất sắc năm 1866. Sự nghiệp của Koch sớm đưa ông rời xa việc điều trị bệnh để đến với niềm đam mê chính của mình – vi khuẩn học. Ông chắc chắn được truyền cảm hứng từ giáo sư giải phẫu học tại Göttingen, Jacob Henle, người đã đưa ra giả thuyết vào năm 1840 rằng một số bệnh là do ký sinh trùng gây ra. Sau một số công việc tại bệnh viện và phòng khám đa khoa, Koch tình nguyện tham gia các nhiệm vụ y tế trong Chiến tranh Pháp-Phổ. Ông chuyển đến Wollstein (nay là Wolsztyn, Ba Lan) vào năm 1872, với tư cách là Bác sĩ Y khoa Quận. Giữa các nhiệm vụ chính thức, Koch làm nghiên cứu tại nhà. Vợ ông, Emmy, đã tặng ông một chiếc kính hiển vi; phần còn lại của thiết bị, ông đã xin hoặc tự chế. Chính tại đây, trong phòng thí nghiệm chật chội của mình, Koch đã có những phát hiện đột phá đầu tiên về bệnh than.

ROBERT KOCH

Koch nổi tiếng với công trình tiên phong về bệnh than và bệnh tả, cũng như việc xác định được vi khuẩn gây bệnh lao ở người.

 

Năm 1850, hai bác sĩ người Pháp Pierre Rayer và Casimir Davaine đã quan sát thấy vi khuẩn trong máu của những con cừu bị bệnh; bác sĩ người Đức Aloys Pollender đã nhìn thấy “những vật thể nhỏ hình cây gậy” một năm trước đó. Không ai thực sự biết liệu những vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh, tác dụng phụ hay kết quả của bệnh. Hơn một thập kỷ sau, Davaine đã chứng minh rằng việc truyền máu bị nhiễm bệnh giữa các loài động vật cũng lây truyền bệnh than. Bệnh than là một vấn đề thực sự vào thời điểm đó, với các đợt bùng phát thường xuyên ở gia súc và thỉnh thoảng có những ca bệnh nghiêm trọng ở người. Ngay cả việc cách ly đàn vật nuôi cũng không hiệu quả vì bệnh dường như xuất hiện bất cứ lúc nào. Koch quyết định điều tra. Sử dụng những mảnh vụn gỗ có sẵn, ông đã tiêm cho chuột các mẫu máu từ lá lách của cả gia súc khỏe mạnh lẫn bị bệnh than. Những con được tiêm mẫu bệnh đã phát triển bệnh than, nhưng những con được tiêm mẫu khỏe mạnh thì không, khẳng định rằng bệnh có thể lây truyền qua đường máu. Sau đó, Koch bắt đầu tinh chế vi khuẩn và nuôi cấy chúng trong môi trường phòng thí nghiệm, tách biệt khỏi vật chủ, bằng cách sử dụng dịch bên trong nhãn cầu bò. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã thử nghiệm nhiều loại chất dinh dưỡng khác nhau để nuôi cấy vi khuẩn, từ lát khoai tây đến nước dùng thịt, trứng, bánh mì và chiết xuất rong biển. Koch cũng tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh qua kính hiển vi, thử nghiệm kỹ thuật này với vi khuẩn bệnh than, và ông đã phát minh ra cách thêm các chất tạo màu – thuốc nhuộm – vào vi khuẩn để tạo màu, giúp nhận dạng chúng dễ dàng hơn.

 

Koch đã nuôi cấy nhiều thế hệ vi khuẩn than, nhận thấy rằng khi đưa chúng vào động vật, chúng vẫn gây ra bệnh than. Ông cũng quan sát thấy trong điều kiện kém thuận lợi hơn, mỗi vi khuẩn dường như tự hình thành một vật thể tròn bên trong chính nó. Vật thể này chống chọi được với các điều kiện bất lợi như nóng, lạnh, khô và thiếu oxy; khi điều kiện được cải thiện, vật thể nội bào tử lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trở lại. Điều này giải thích tại sao bệnh than có thể đột ngột xuất hiện trở lại ở gia súc không tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh: các nội bào tử vẫn tồn tại trong đất. Năm 1876, Koch đã trình bày công trình của mình với một số nhà khoa học lỗi lạc, bao gồm nhà thực vật học và vi sinh vật học Ferdinand Cohn, người cũng đã nghiên cứu về vi  khuẩn Bacillus anthracis của bệnh than. Từ Bacillus bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là một cây que nhỏ, ám chỉ phần da hình que của vi khuẩn; anthracis bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là than đá hoặc than anthracite, và ám chỉ vùng da chết, sẫm màu ở một số dạng bệnh. Koch đã giải thích những phát hiện của ông về vòng đời, sự lây truyền và các biện pháp kiểm soát của vi khuẩn. Cohn rất ấn tượng và đã sắp xếp để xuất bản, nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt. Đây là một bước tiến lớn nữa cho các nhà lý thuyết về vi trùng, trong khi những người ủng hộ thuyết sinh sản tự phát và miasma đã phải chịu một đòn chí mạng.

Mầm bệnh đóng chai

Những mẫu vi khuẩn khác nhau này đã được Ferdinand Hueppe, một trong những đồng nghiệp của Koch, lưu trữ. Hình 7 và 8 (tận cùng bên phải) cho thấy mẻ nuôi cấy vi khuẩn lao.

 

Koch chuyển đến Cục Y tế Hoàng gia ở Berlin vào năm 1880. Cuối thập kỷ đó, ông đã đưa ra một bộ điều kiện được gọi là các tiên đề Koch – một bộ tiêu chí được sử dụng để xác định một vi khuẩn gây bệnh. Theo thời gian, ông áp dụng chúng cho mỗi vi khuẩn mới mà ông phát hiện ra. Các tiên đề Koch có thể được tóm tắt trong bốn điểm: một sinh vật hoặc mô bị nhiễm bệnh (thực vật, động vật) chứa rất nhiều vi khuẩn đang được đề cập, trong khi các sinh vật khỏe mạnh thì không; các vi khuẩn phải được phân lập từ các sinh vật hoặc mô bị nhiễm bệnh và nuôi cấy dưới dạng nuôi cấy thuần chủng; khi các vi khuẩn được nuôi cấy được đưa vào một sinh vật khỏe mạnh, sinh vật đó sẽ phát triển bệnh; và cuối cùng, những vi khuẩn này “phải giống hệt với các vi khuẩn ban đầu”. Với các tiên đề của mình, Koch đang nỗ lực xác định liệu vi khuẩn và bệnh tật có thể tách rời được hay không. Nhưng y học chưa bao giờ rõ ràng đến thế. Ví dụ, một số người hoặc động vật là “vật mang mầm bệnh” – bề ngoài khỏe mạnh với ít hoặc không có triệu chứng, trong khi cơ thể họ lại là ổ chứa vi trùng để lây truyền cho người khác. Vì vậy, thay vì những quy tắc tuyệt đối, các tiên đề của Koch đã trở thành một bộ tiêu chí lý tưởng và vẫn như vậy cho đến ngày nay.

 

Tại Berlin, Koch cuối cùng cũng có một phòng thí nghiệm đúng nghĩa, với các trợ lý, và điều này đánh dấu sự khởi đầu cho giai đoạn nghiên cứu vĩ đại thứ hai của ông, về bệnh lao. Ông và nhóm của mình tiếp tục phát triển các phương pháp và kỹ thuật mới: một cải tiến đáng kể vào khoảng năm 1881 là việc nuôi cấy vi khuẩn trên một chất dinh dưỡng dạng thạch, agar-agar, chiết xuất từ ​​rong biển. Các vi khuẩn phát triển rõ rệt thành từng mảng nhỏ, dễ dàng tiếp cận – tốt hơn nhiều so với việc khuấy trong môi trường dinh dưỡng hoặc chôn sâu trong ống nghiệm. Phương pháp này được phát triển bởi một trong những trợ lý của Koch, Walther Hesse, do bà xã ông, Angelina, đã đề xuất sử dụng thạch agar làm dung dịch nuôi cấy khi bà dùng agar để làm thạch và mứt. Một trợ lý khác của Koch, Julius Richard Petri, có tên được đặt cho một phát minh của mình – đĩa Petri. Thạch agar được trải trên những đĩa thủy tinh tròn, nông có nắp đậy kín, để có thể dễ dàng quan sát vi khuẩn bên trong. Cả thạch agar và đĩa Petri vẫn được sử dụng trong các thí nghiệm trên toàn thế giới.

 

Lúc này, Koch đang lần theo dấu vết của vi khuẩn gây ra một trong những căn bệnh phổ biến, kéo dài và thường gây tử vong nhất trên thế giới – bệnh lao. Vi khuẩn này nhỏ hơn vi khuẩn than và cũng phản ứng khác với các vết nhuộm màu. Công trình được thực hiện tỉ mỉ và công phu. Vào tháng 3 năm 1882, Koch hân hoan tuyên bố rằng ông và nhóm của mình đã tìm thấy và xác định được vi khuẩn, trực khuẩn lao: “Nếu tầm quan trọng của một căn bệnh đối với nhân loại được đo bằng số ca tử vong mà nó gây ra, thì bệnh lao phải được coi là quan trọng hơn nhiều so với những bệnh truyền nhiễm đáng sợ nhất, dịch hạch, bệnh tả, v.v.” Koch tiếp tục mô tả các phương pháp nhuộm màu mới của mình và các kỹ thuật khác, đồng thời giải thích cách ông sử dụng chuột lang làm động vật thí nghiệm, cũng như nghiên cứu các mô từ người, vượn và gia súc trang trại.

 

TỶ LỆ TỬ VONG Ở CHÂU ÂU TRONG THẾ KỶ 19 DO BỆNH LAO:   25%

 

Vi khuẩn được lấy từ một nguồn động vật, nuôi cấy trong môi trường nuôi cấy, rồi cấy vào các động vật khác, mỗi lần đều gây ra bệnh lao. Để chứng minh thêm, Koch đã sản xuất kính hiển vi, lam kính chứa mẫu vi khuẩn nhuộm màu, lọ đựng mẫu mô và các thiết bị khác để khán giả có thể tự mình quan sát. Chỉ trong vòng một tháng, tin tức đã lan truyền khắp châu Âu, tiếp theo là Bắc Mỹ, châu Phi và châu Á. Ban đầu được gọi là trực khuẩn Koch, vi khuẩn này hiện được gọi là Mycobacterium tuberculosis.

 

Tiếp theo, Koch chuyển sự chú ý của mình sang vi trùng gây bệnh tả. Năm 1883, ông được chính phủ cử làm Trưởng ban Ủy ban Bệnh tả Đức để nghiên cứu một đợt bùng phát ở Alexandria, Ai Cập. Tại đây, ông đã xác định được một loại vi khuẩn đáng ngờ hình dấu phẩy. Một chuyến đi khác đưa ông đến Ấn Độ, nơi ông tiếp tục các cuộc điều tra của mình. Cuối cùng, ông đã có thể xác định được vi trùng gây bệnh. Ông đã mô tả sự lây lan của nó – thông qua nước uống bị ô nhiễm và thực phẩm bị ô nhiễm

và khuyến nghị các biện pháp phòng ngừa và kiểm dịch. Những thành tựu này đã mang về cho Koch phần thưởng to lớn là 100.000 Mark Đức và càng nâng cao danh tiếng toàn cầu của ông. Vi khuẩn gây bệnh tả – sau này được đặt tên là Vibrio cholerae, trên thực tế, đã được nhà giải phẫu học người Ý Filippo Pacini phát hiện ra gần 30 năm trước đó, vào năm 1854. Nhưng lý thuyết về vi trùng gây bệnh không hợp thời vào thời điểm đó đến nỗi những thành tựu của Pacini đã không được công nhận.

 

Sau công trình mang tính thời đại của mình về bệnh than, bệnh lao và bệnh tả, Koch cuối cùng đã vấp ngã. Năm 1890, giữa sự ồn ào náo nhiệt, ông giới thiệu thuốc tuberculin – một loại thuốc chữa bệnh lao. Ông từ chối tiết lộ nguồn gốc của nó và nói rằng nó đã được thử nghiệm trên động vật. Các báo cáo ban đầu từ các thử nghiệm trên người cho kết quả khả quan, nhưng thuốc tuberculin lại gây ra phản ứng phụ nghiêm trọng ở một số người và gây tử vong ở một số người khác. Cái gọi là liệu pháp chữa trị này hoàn toàn không phải là chữa trị; Koch thừa nhận rằng tuberculin là một chiết xuất đặc biệt của vi khuẩn, nhưng ông không thể mô tả chính xác thành phần của nó. Dư luận đã quay lưng lại với ông. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi người ta phát hiện ra rằng ông có liên quan về mặt tài chính với các nhà sản xuất tuberculin, mặc dù nghiên cứu của ông được chính phủ tài trợ. Sau khi chia tay với vợ, mối quan hệ mới của ông với cô Hedwig Freiberg mới tuổi teen cũng không giúp ích gì. Koch rời khỏi đất nước và một lần nữa lên đường du hành. Ông đến Ý, Châu Phi, Ấn Độ và New Guinea, nghiên cứu bệnh dịch hạch, bệnh phong, bệnh sốt rét, bệnh dại và các bệnh sốt lạ ở người và gia súc. Năm 1897, ông đã trình bày một phiên bản mới của tuberculin; phiên bản này cũng thất bại, nhưng sau này nó sẽ trở thành một xét nghiệm chẩn đoán bệnh lao hữu ích.

CHĂM SÓC CỦA MẸ, 1918

Áp phích này được Hội Chữ thập Đỏ Hoa Kỳ thực hiện nhằm nâng cao nhận thức về tỷ lệ tử vong ở trẻ em do các bệnh như bệnh lao. Áp phích ghi: Hãy cứu lấy các con mình! (Mỗi 8 trẻ trước 1 tuổi có 1 trẻ chết.) Hỡi các bà mẹ! Hãy dùng sự sáng suốt của mình để cứu con khỏi tay thần chết rình rập.

 

Vắc-xin hiệu quả chống lại bệnh lao ở người cuối cùng đã được phát triển vào những năm 1920 – trớ trêu thay tại chính Viện Pasteur, do đối thủ lớn của Koch là Louis Pasteur thành lập.

 

Bất chấp những thất bại sau này, Koch đã khơi nguồn cảm hứng cho một làn sóng nghiên cứu y học mới về vi trùng và nhiễm trùng. Các học trò của ông bao gồm Friedrich Loeffler, người đã xác định và nuôi cấy mầm bệnh bạch hầu vào năm 1884; Kitasato Shibasaburo, người cũng tham gia nghiên cứu bệnh bạch hầu, và là người đồng phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh dịch hạch vào năm 1894; Emile von Behring, người được trao giải Nobel Y học đầu tiên vào năm 1901 cho công trình nghiên cứu về bệnh bạch hầu; August von Wassermann, người đã xây dựng một xét nghiệm chẩn đoán nhiễm trùng giang mai giai đoạn đầu vào năm 1906; và Paul Ehrlich, người đã phát hiện ra thuốc chống giang mai arsphenamine (Salvarsan) vào năm 1909. Năm 1905, Robert Koch nhận giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học cho “những nghiên cứu và khám phá liên quan đến bệnh lao”. Đó là minh chứng cho những khám phá mang tính đột phá của ông, được thúc đẩy bởi tinh thần làm việc không ngừng nghỉ của mình. Một phương châm mà ông nêu ra trong luận văn đoạt giải ở trường y là Nunquam Otiosus – Không bao giờ nên nhàn rỗi.

 

Vi-rút Hoạt Động

 

Vi rút là những phần tử truyền nhiễm cực nhỏ – nhỏ hơn vi khuẩn khoảng một nghìn lần – chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử. Mỗi vi-rút chứa một bộ lập trình để tạo ra hàng nghìn bản sao giống hệt nhau của chính nó. Có hàng triệu loại vi-rút khác nhau, và chúng gây ra các bệnh từ cảm lạnh và cúm thông thường đến các bệnh chết người như HIV, bại liệt và viêm gan.

 

Vi rút ẩn náu trong môi trường, chờ đợi để xâm nhập vào vi khuẩn, thực vật và động vật. Chúng có thể lây lan trong không khí, trong chất lỏng hoặc qua côn trùng. Thuốc kháng sinh không có tác dụng đối với vi rút, nhưng tiêm chủng có thể giúp tăng cường khả năng miễn dịch chống lại một số loại vi-rút.

Vi rút hoạt động ra sao

Vi rút không có tế bào riêng, vì vậy để sống và sinh sôi, nó phải xâm nhập vào tế bào vi khuẩn, thực vật hoặc động vật và chiếm lấy cơ chế nhân lên của tế bào đó. Vi rút thường tiêu diệt tế bào chủ trong quá trình này.

 

  1. Gắn kết: vi-rút liên kết với màng tế bào của tế bào chủ.

 

  1. Xâm nhập: vi-rút xâm nhập vào tế bào và vỏ của nó bị phá vỡ để giải phóng vật liệu di truyền bên trong.

 

  1. Sao chép: vật liệu di truyền của vi-rút xâm nhập vào nhân tế bào vật chủ

 

  1. Tổng hợp: vi-rút kiểm soát tế bào chủ để sản xuất DNA của riêng nó

 

  1. Lắp ráp: một lớp vỏ hình thành xung quanh DNA mới. Tạo ra một loại vi-rút mới

 

  1. Giải phóng: một loại vi-rút mới được giải phóng từ tế bào chủ đang chết

 

Dmitri Ivanovsky

Năm 1890, nhà sinh vật học người Nga Dmitri Ivanovsky đã đến Crimea để nghiên cứu một căn bệnh trên cây thuốc lá. Ông nghiền nát lá thuốc lá bị nhiễm bệnh và cho dịch chiết qua một bộ lọc có các lỗ cực nhỏ để loại trừ vi khuẩn. Tuy nhiên, ông phát hiện ra rằng nguồn gốc của bệnh vẫn còn đó: ông đã phát hiện ra một vật truyền nhiễm thậm chí còn nhỏ hơn cả vi khuẩn: Vi rút.

IVANOVSKY ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TRONG NGƯỜI KHAI SINH VI-RÚT HỌC

 

Hình dạng vi rút

Năm 1931, kính hiển vi điện tử được phát minh tại Đức, và đến cuối thập kỷ đó, bác sĩ người Đức Helmut Ruska đã sử dụng nó để nghiên cứu vi rút. Các nhà khoa học đã sớm xác định được cấu trúc cơ bản của vi rút. Họ phát hiện ra rằng vi rút rất đa dạng về hình dạng và cấu trúc, cho phép chúng nhắm mục tiêu và xâm nhập vào đúng tế bào vật chủ, đồng thời chống lại sự tấn công từ hệ thống miễn dịch của cơ thể vật chủ. Bốn hình dạng chính của vi rút đã được xác định.

Hình nhị thập diện

Nhiều loại virus động vật có hình dạng giống khối đa diện.

Hình xoắn ốc

Một số loại vi rút có vỏ hình xoắn ốc.

Phức hợp

Vi-rút phức hợp có nhiều biến thể về vỏ bọc, chẳng hạn như “đuôi”.

Bao bọc

Một số loại vi-rút phủ lên mình màng tế bào của vật chủ.

Ghi chú:

Cần phân biệt giữa các thuật ngữ: vi sinh vật, vi trùng, vi khuẩn và vi rút.

Bốn khái niệm này thường bị dùng lẫn lộn trong đời sống, nhưng chúng có ý nghĩa khác nhau:

  1. Vi sinh vật

Đây là khái niệm rộng nhất.

Bao gồm nhiều nhóm:

Vi khuẩn

Nấm men

Nấm mốc

Động vật nguyên sinh

Tảo hiển vi

Trong nhiều tài liệu y học còn tính cả vi rút.

Ví dụ:

Men làm sữa chua là vi sinh vật.

Nấm men làm bánh mì là vi sinh vật.

Vi khuẩn đường ruột là vi sinh vật.

 

  1. Vi trùng

“Vi trùng” là cách gọi phổ biến trong tiếng Việt, tương đương với từ “mầm bệnh” (germ) trong tiếng Anh.

Nó không phải tên của một nhóm sinh học cụ thể.

Ví dụ:

Người ta nói: “Rửa tay để diệt vi trùng.”

Thực tế “vi trùng” có thể là:

vi khuẩn gây bệnh, vi rút,

nấm gây bệnh, ký sinh trùng cực nhỏ.

Do đó trong khoa học người ta ít dùng từ này.

 

  1. Vi khuẩn (Bacteria)

Đây là một nhóm sinh vật thật sự.

Đặc điểm:

  • Có tế bào.
  • Có màng tế bào.
  • Có ADN.
  • Có thể tự sinh sản bằng cách phân đôi.

 

Điều quan trọng là:

  • Chỉ một tỷ lệ nhỏ vi khuẩn gây bệnh.
  • Rất nhiều vi khuẩn có lợi: Giúp tiêu hóa thức ăn, làm sữa chua, sản xuất thuốc, phân hủy chất hữu cơ, cố định nitơ cho cây. . .

Ví dụ:

Escherichia coli (E. coli): phần lớn chủng sống bình thường trong ruột người, nhưng một số chủng gây tiêu chảy.

Lactobacillus: giúp làm sữa chua và có lợi cho đường ruột.

 

  1. Vi rút (Virus)

Vi rút rất khác vi khuẩn.

Đặc điểm:

  • Không có tế bào.
  • Chỉ gồm vật chất di truyền (ADN hoặc ARN) và lớp vỏ protein.
  • Không thể tự sinh sản.
  • Phải ký sinh trong tế bào sống.
  • Kháng sinh không có tác dụng với vi rút.

Ví dụ:

Virus cúm.

SARS-CoV-2.

Virus sởi.

Virus viêm gan B.

 

Y Học về Tâm Trí

 

Tên của các bệnh trạng đã thay đổi, nhưng bệnh tâm thần đã tồn tại cùng chúng ta trong suốt lịch sử và có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến hình thức phẫu thuật sớm nhất thời kỳ đồ đá – khoan hộp sọ. Trong các nền văn minh sơ khai, các rối loạn tâm thần thường được coi là sự trừng phạt của các vị thần, và đôi khi được liên kết với các chu kỳ của mặt trăng – do đó mới có thuật ngữ “lunatic” (người điên, luna có nghĩa là mặt trăng). Người bệnh thường là trách nhiệm của gia đình, và thường được coi là nỗi xấu hổ và kỳ thị, và có rất ít phương pháp điều trị, ngoài một môi trường yên tĩnh và một số loại thảo dược và khoáng chất an thần. Trong trường hợp tốt nhất, nếu rối loạn chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và từng đợt, người bệnh có thể được coi là một cầu nối qua đó các vị thần có thể truyền đạt những lời tiên tri và phán quyết của họ; trong trường hợp xấu nhất, người bệnh có thể bị hạn chế đi lại hoặc bị cô lập. Ở Lưỡng Hà và Ai Cập, các thầy thuốc-thầy tế thực hiện các nghi lễ thần chú và tế lễ để xua đuổi ma quỷ khỏi người bệnh, và ở Babylon, bệnh nhân được khuyến khích ca hát, nhảy múa và vẽ tranh để thanh tẩy bản thân khỏi tà ma. Quan điểm siêu nhiên về bệnh tâm thần này đã thống trị nhiều xã hội trong hàng thiên niên kỷ và thậm chí vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở một số nơi trên thế giới.

 

Ở Hy Lạp, 2.300 năm trước, thần y Hippocrates đã có những ý tưởng khác. Ông cho rằng các vấn đề về tâm thần hoàn toàn bắt nguồn từ cơ thể, đặc biệt là sự mất cân bằng của bốn loại thể dịch. Người ta cho rằng sự chênh lệch nhỏ về thể dịch trong cơ thể tạo ra phạm vi bình thường của tính cách con người, nhưng sự mất cân bằng rõ rệt ở một thể dịch cá biệt có thể dẫn đến rối loạn tâm thần. Hippocrates đã mô tả một số tình trạng mà chúng ta nhận biết ngày nay, bao gồm bệnh hoang tưởng, hưng cảm và trầm cảm, vì người ta tin rằng nó là do sự dư thừa của dịch mật đen, sinh ra bệnh u sầu. Như thường lệ, Hippocrates đề xuất các biện pháp khắc phục nhẹ nhàng cho chứng u sầu, chẳng hạn như môi trường yên tĩnh, tĩnh lặng và các loại thuốc thảo dược thư giãn. Galen của La Mã cổ đại, người có thành tựu y học thống trị trong suốt thời Trung cổ, đã đi theo xu hướng của Hippocrates, mặc dù ông có xu hướng tập trung vào các triệu chứng chính hơn là các tình trạng chung.

 

Y học Ayurvedic truyền thống của Ấn Độ có một phiên bản lý thuyết dịch thể, trong đó sự mất cân bằng trong các dosha giống như chất dịch có thể dẫn đến các vấn đề về tâm thần. Ở Trung Quốc cổ đại, các văn bản như Hoàng Đế Nội Kinh  chủ trương  việc điều trị bằng cách phủ nhận tình trạng tâm thần bằng tâm trạng hoặc cảm xúc đối lập – do đó, người bị trầm cảm có thể nhận được quà tặng và chiều đãi, trong khi người lo lắng có thể đáp ứng với sự hỗ trợ và trấn an mạnh mẽ.

MỔ LẤY VIÊN ĐÁ ĐIÊN RỒ

Việc khoan lỗ vào hộp sọ –

đã được thực hiện trong suốt chiều dài lịch sử như một phương pháp phẫu thuật để giảm bớt chứng điên loạn.

 

Những xã hội coi trọng sự tôn trọng gia đình và danh dự tổ tiên lại đặc biệt nhạy cảm với nỗi sỉ nhục và mất danh dự khi có người bệnh mắc chứng rối loạn tâm thần. Nghi ngờ các  căn bệnh này có thể lây lan hoặc di truyền trong gia đình có thể dẫn đến sự cô lập của một gia đình trong cộng đồng. Ví dụ, ở Trung Quốc, người bệnh bị âm thầm cách ly khỏi đời sống công cộng và thường bị che giấu, hoặc thậm chí bị bỏ rơi. Những thái độ này trở nên nghiêm trọng hơn ở châu Âu trong thời Trung Cổ khi sự kỳ thị đối với người bệnh tâm thần ngày càng gia tăng. Mặc dù Kitô giáo khuyến khích mọi người thể hiện thiện chí, nhưng bệnh nhân gây quá nhiều khó khăn để gia đình có thể chăm sóc có nguy cơ bị ngược đãi, đánh đập và giam giữ. Những con bệnh may mắn được các tu viện và nữ tu viện tiếp nhận – số khác tìm đường vào các trại tế bần hoặc bệnh viện đa khoa, sống nhờ vào lòng từ thiện, hoặc làm những công việc thấp hèn nhất để kiếm sống. Đủ loại lang băm và thầy cúng cung cấp các phương pháp điều trị, bao gồm cả bùa hộ mệnh và thuốc trừ tà. Được đeo quanh cổ hoặc trán, các tấm bùa hộ mệnh này mang hình ảnh hoặc trích dẫn Kinh Thánh, và được trang trí bằng các loại thảo dược trị liệu như cây ban Âu. Sức mạnh của chúng phụ thuộc vào việc người đeo siêng năng đọc kinh, trì chú, thường xuyên đến nhà thờ và hành hương đến các thánh địa.

 

Việc đối xử chu đáo và nhân đạo với người bệnh tâm thần đã xuất hiện trong Thời đại Hoàng kim của Hồi giáo. Như Kinh Qur’an đã dạy: “Đừng trao cho những kẻ kém hiểu biết tài sản của họ mà Thượng Đế đã giao phó cho bạn quản lý; hãy lấy tài sản đó để chu cấp cho họ thức ăn và quần áo, và nói với họ những lời lẽ trân trọng.” Vào thế kỷ thứ 8, ngay sau khi Baghdad được thành lập, một khu bệnh viện đã được dành riêng cho những bệnh nhân như vậy, và các cơ sở tương tự đã được thành lập ở Fez, Cairo, Damascus và Aleppo trong vài thế kỷ tiếp theo. Tuy nhiên, thái độ văn minh và hiểu biết hơn này chỉ lan truyền rải rác khắp châu Á, nó rất hiếm ở các thành phố, và thậm chí còn hiếm hơn ở các vùng nông thôn.

BẢO VỆ CHỐNG LẠI CÁI ÁC

Những tấm bùa hộ mệnh mang hình ảnh Kinh thánh được đeo trên khắp thế giới Cơ đốc giáo để bảo vệ chống lại mọi loại bệnh tật về thể chất và tâm thần.

THÁP NGƯỜI ĐIÊN

Tòa tháp Narrenturm (Tháp Người Điên) giống như pháo đài của Vienna, được xây dựng vào năm 1874, có 139 phòng giam dành cho những người mắc bệnh tâm thần.

 

Ở châu Âu, từ thế kỷ 15, các sự kiện đã diễn ra theo một chiều hướng khác. Những người bệnh không được gia đình, dòng tu hoặc tổ chức từ thiện chăm sóc đã được tập hợp lại vào các trại tâm thần. Một trong những trại đầu tiên được thành lập tại Valencia, Tây Ban Nha, vào khoảng năm 1410. Nhiều trại tâm thần khác tiếp nối ở Tây Ban Nha và khắp châu Âu, đáng chú ý là La Maison de Charenton ở Paris, vào đầu những năm 1640, và Narrenturm (Tháp Người Điên) ở Vienna, năm 1784. Từ đó bắt đầu một giai đoạn đầy tai tiếng khi những người bệnh tâm thần phải chịu đựng đủ loại đối xử kinh hoàng và tồi tệ. Khách tham quan kể về những điều kiện sống man rợ, bị hắt hủi và nhẫn tâm. Trong những căn phòng đông đúc, lạnh lẽo, tối tăm, hôi thối, thường còn tệ hơn cả phòng giam, người bệnh bị còng tay, cùm chân, bị xiềng xích và bị bỏ đói trong nhiều ngày liền. Quần áo, thức ăn, sự sạch sẽ và vệ sinh hoàn toàn không ra gì. Các trại tâm thần cũng trở thành nơi các tội phạm (cả người tỉnh táo lẫn điên loạn), người mắc bệnh giang mai và những kẻ còn lại của xã hội không được chào đón, bị tống vào đó.

 

Các phương pháp điều trị, nếu có, cũng khắc nghiệt hơn bao giờ hết. Theo quan điểm thể dịch của bệnh tâm thần, các phương pháp phục hồi thể chất và tinh thần khỏe mạnh bao gồm tẩy rửa bằng thuốc gây nôn và thuốc nhuận tràng, giác hơi, gây phồng rộp và trích máu, phương pháp điều trị được ưa chuộng nhất. Trích máu từ tĩnh mạch cảnh ở cổ giúp loại bỏ máu chảy trực tiếp từ não, nơi được cho là chứa đựng sự mất cân bằng thể dịch tồi tệ nhất. Ngâm mình trong nước nóng hoặc nước đá, chịu đựng những tiếng ồn chói tai, bị đánh đòn, bị treo bằng tay hoặc chân, bị bỏ đói, bị thiêu bằng axit và các hóa chất khác, bị làm ngạt thở một phần, và bị dìm chết đuối một phần – hầu như mọi hình thức tra tấn đều được thử nghiệm dưới danh nghĩa trị liệu.

ĐỐI XỬ NHÂN ĐẠO VỚI NGƯỜI BỆNH

Bác sĩ tiên phong Philippe Pinel giải thoát những người bệnh tâm thần khỏi xiềng xích tại Hospice de la Salpêtrière dành cho phụ nữ, Paris, vào những năm 1790.

 

Nhiều “nhà thương điên” này, như chúng được gọi, được nhà nước chi trả và điều hành, nhưng một số, khét tiếng nhất ở Anh, lại thuộc sở hữu tư nhân. Các gia đình trả tiền để giam giữ người thân bị bệnh tâm thần, và chủ sở hữu trở nên giàu có khi lòng tham khiến tình trạng ngày càng tồi tệ. Một nghề tay trái sinh lời là thu phí công chúng mua vé vào xem những “tù nhân” này và những trò hề của họ. Khét tiếng nhất về hoạt động là “Bedlam” ở London, tên gọi sau này của Bệnh viện St. Mary Bethlehem, hay Bethlem. Nhà du hành và nhà văn người Pháp César de Saussure đã viết về Bethlem vào năm 1725: “Trên tầng hai có một hành lang dành riêng cho những kẻ điên loạn nguy hiểm, hầu hết đều bị xiềng xích và trông rất đáng sợ. Vào những ngày lễ, nhiều người thuộc cả hai giới, nhưng thường thuộc tầng lớp thấp, đến bệnh viện này và giải trí bằng cách quan sát những kẻ khốn khổ này, những kẻ thường khiến họ bật cười.” Bản thân bệnh viện, hiện được coi là một tổ chức tiên phong, đã chuyển địa điểm nhiều lần, và ngày nay vẫn tiếp tục là Bệnh viện Hoàng gia Bethlem gần London.

 

SỐ KHÁN GIẢ ĐẾN THĂM BETHLEM MỖI TUẦN TRƯỚC NĂM 1770: 2,000

CẢNH TƯỢNG Ở BEDLAM”

Nhà văn trào phúng William Hogarth đã miêu tả Bedlam vào những năm 1730, như nơi an dưỡng của những người hùng bị thất thế. Phía sau, những khán giả ăn mặc chỉnh tề đang giải trí với những trò hề của những kẻ điên loạn, theo thói tục của thời bấy giờ.

 

Bất chấp, hoặc có lẽ chính vì những nỗi kinh hoàng đó, thái độ của mọi người dần thay đổi. Việc tham quan công khai tại Bethlem chấm dứt vào khoảng năm 1770, và vào năm 1793, bác sĩ người Pháp Philippe Pinel tiếp quản l’Hôpital Bicêtre, một bệnh viện tâm thần dành cho nam giới ở Paris, mở ra một kỷ nguyên mà người bệnh tâm thần bắt đầu được đối xử nhân đạo hơn. Theo Pinel, những người sống trong bệnh viện tâm thần nên được gọi là bệnh nhân, thay vì con bệnh nội trú, và nên được cung cấp thức ăn và quần áo bình thường, cũng như ánh sáng mặt trời và không khí trong lành, thay vì bóng tối ẩm ướt. Năm 1794, ông đọc bài báo có tựa đề Hồi ký về chứng Điên loạn trước Hội Lịch sử Tự nhiên Paris, trong đó ông giải thích về “phương pháp điều trị tâm lý” của mình và niềm tin rằng bệnh tâm thần có thể được chữa khỏi. Ông kêu gọi các bác sĩ dành thời gian cho bệnh nhân, phỏng vấn họ, ghi chép và viết bệnh án, trong đó nên bao gồm hồ sơ về bất kỳ sự kiện nào dẫn đến tình trạng của bệnh nhân. Về những người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng, ông lưu ý: “Tôi không thể không bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ nhất của mình đối với phẩm chất đạo đức của những kẻ điên loạn. Tôi chưa từng gặp ở đâu những người chồng, những bậc cha mẹ trìu mến hơn ở bệnh viện tâm thần, trong những khoảng thời gian tĩnh táo và sáng suốt của họ.” Hồi ký về sự điên loạn là một trong những tác phẩm đầu tiên của ngành mà ngày nay chúng ta gọi là tâm thần học, chuyên chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tâm thần.

 

Năm 1795, Pinel đảm nhận vai trò bác sĩ trưởng tại Bệnh viện Hospice de la Salpêtrière dành cho phụ nữ và tiếp tục áp dụng triết lý của mình. Tại Bicêtre, ông đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ Jean-Baptiste Pussin, vị giám đốc cùng chí hướng với mình. Năm 1797, Pussin ra sắc lệnh rằng bệnh nhân, ngoại trừ những trường hợp cực đoan, không được phép bị xiềng xích nữa, và ngay sau đó ông đã tiếp tay cùng Pinel tại Salpêtrière. Năm 1804, Pinel được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và trở thành thành viên sáng lập của Viện Hàn lâm Y học vào năm 1820. Công trình Nosographie của ông liên quan đến lĩnh vực y học nosology (phân loại bệnh), trong khi Traité Médico-Philosophique sur l’Aliénation Mentale (Luận văn Y khoa-Triết học về Sự Tha hóa Tâm thần) đã thúc đẩy “phương pháp tiếp cận tâm lý” của ông.

 

Những tiến bộ cũng được ghi nhận trong các lĩnh vực khác. Vào giữa thế kỷ 19, bác sĩ người Pháp lỗi lạc Jean-Martin Charcot đã đặt nền móng cho ngành thần kinh học, một ngành nghiên cứu về hệ thần kinh, có liên quan đặc biệt đến các rối loạn tâm thần. Tại Ý, vào cuối những năm 1780, bác sĩ Vincenzo Chiarugi đã thiết lập các phương pháp điều trị cải tiến tại Bệnh viện Santa Dorotea và sau đó là Bệnh viện San Bonifacio, cả hai đều ở Florence. Năm 1796, tại Anh, William Tuke, một tín đồ Quaker và là một thương gia giàu có kinh doanh trà và cà phê, đã thành lập York Retreat, một tổ chức từ thiện cung cấp một môi trường nhân đạo cho người bệnh tâm thần. Những người khác tham gia phong trào cải cách, được gọi là traitement moral, hay đối xử đạo đức, vì nó nhấn mạnh đến đức hạnh đạo lý và bổn phận tôn giáo trong các phương pháp điều trị. Sau khi đến Anh và trải nghiệm những cải cách lấy cảm hứng từ vị Quaker này, nhà giáo dục và nhà vận động người Mỹ Dorothea Dix đã trở về Hoa Kỳ vào năm 1840 và nỗ lực hết mình để thúc đẩy sự thay đổi, thành lập một phong trào được gọi là “phong trào vệ sinh tâm thần”.

“Bạn chưa bao giờ thấy một người bận rộn nào mà lại khổ sở”

DOROTHY DIX

 

Trở lại những năm 1770, hy vọng về một phương pháp điều trị rối loạn tâm thần mới mẻ và triệt để đã nhen nhóm với phong trào “từ tính động vật” của Franz Anton Mesmer, người tin rằng mỗi cá nhân đều có một “năng lượng sống” có thể truyền sang người bệnh thông qua nghi thức “đặt tay” theo kiểu Cơ đốc giáo. Ý tưởng này trở nên phổ biến và tạo ra những nhánh như thôi miên, nhưng nó đã dần biến mất khỏi cộng đồng y học chỉ dựa trên khoa học vào đầu thế kỷ 20. Phrenology (Não Tướng học) nổi lên vào đầu thế kỷ 19 với công trình của bác sĩ người Đức Franz Joseph Gall. Phương pháp này bao gồm việc sờ nắn và đo đạc đường viền hộp sọ để xác định kích thước và sự phát triển tương đối của các vùng não hoặc “cơ quan” bên dưới. Mỗi “cơ quan” não kiểm soát một khả năng tinh thần, trí tuệ hoặc đạo đức cụ thể. Kể từ đó, thần kinh học đã chứng minh rằng các vùng não thực sự chuyên biệt, nhưng không theo cách mà phrenology đề xuất. Mặc dù rất phổ biến, nó không có cơ sở khoa học, và đến khoảng năm 1900, nó cũng đã dần rời khỏi y học chính thống.

 

Một chương khác được mở ra vào năm 1895, khi các bác sĩ người Áo Josef Breuer và Sigmund Freud xuất bản cuốn “Nghiên cứu về Chứng Cuồng loạn“. Họ mô tả một hình thức trị liệu mới, gọi là phân tâm học, mà Freud đã phát triển chi tiết trong những thập kỷ sau đó. Nghiên cứu về Chứng Cuồng loạn đã khảo sát một số phụ nữ mắc chứng bệnh đó lúc bấy giờ. Bệnh nhân “Anna O” có các triệu chứng bao gồm ho do căng thẳng, rối loạn thị giác và thính giác, liệt nửa người bên phải và ngất xỉu. Trong cuộc trò chuyện, Breuer và Anna đã kể về tất cả những nguyên nhân có thể gây ra tình trạng của mình, và cô nhớ lại những sự kiện thời thơ ấu, một số là những sự kiện đau thương. Một kỹ thuật mà Breuer sử dụng là “liên tưởng tự do”, trong đó bệnh nhân nói bất cứ điều gì hiện lên trong đầu, và sau đó – dưới sự hướng dẫn của bác sĩ – nói về ý nghĩa hoặc biểu tượng của nó. Đó là một phương pháp điều trị đơn giản bằng cách trò chuyện.

 

Freud đã phát triển những kỹ thuật này và các kỹ thuật khác thành thương hiệu phân tâm học riêng của mình, theo đó những sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời bệnh nhân xảy ra từ thời thơ ấu và bị kìm nén. Freud cũng đề xuất ba thành phần cơ bản của tâm trí: “cái ấy” thực chất là vô thức – lãnh địa của những ham muốn tình dục và hung hăng nguyên thủy; “siêu ngã”, cả ý thức lẫn vô thức, chống lại cái ấy và cố gắng tạo ra hiệu ứng văn minh; “cái tôi” làm trung gian giữa hai bên, cân bằng những ham muốn cơ bản với sự chấp nhận của xã hội. Xung đột giữa những yếu tố này của tâm trí, hay tâm lý, có thể gây ra các vấn đề tâm thần, và việc đào sâu vào vô thức để phơi bày nội dung sâu xa của nó là một phần của liệu pháp. Các kỹ thuật tiếp cận vô thức bao gồm phân tích giấc mơ, hoặc giải quyết những tưởng tượng, như được mô tả trong cuốn Giải mộng (1900) và Tâm bệnh học đời thường (1901).

 

Trong thời gian này, điều kiện nhà thương được cải thiện và số lượng nhà thương tăng nhanh chóng, đặc biệt là ở phương Tây. Tại Hoa Kỳ, số người trong các nhà thương tăng từ khoảng 40.000 người vào năm 1880 lên hơn 250.000 người vào năm 1900. Điều này dẫn đến vấn đề nhập viện ngày càng gia tăng. Các phương pháp điều trị mới cho bệnh tâm thần tiếp tục xuất hiện, bao gồm liệu pháp sốc insulin, phẫu thuật thùy não, liệu pháp sốc điện (“electroshock”), và việc sử dụng chlorpromazine và các loại thuốc chống loạn thần khác. Đối với “phương pháp chữa trị bằng lời nói”, phân tâm học có cả người ủng hộ lẫn người phản đối. Được truyền cảm hứng hoặc cảnh giác bởi Freud, những người khác đã phát triển các hệ thống thay thế, chẳng hạn như tâm lý học cá nhân của Alfred Adler và tâm thần học phân tích của Carl Jung. Những ý tưởng của họ vẫn gây tranh cãi, ngay cả khi hàng triệu người ngày nay vẫn tham khảo ý kiến ​​của các “nhà phân tâm học” để được giúp đỡ về các vấn đề sức khỏe tâm thần.

SIGMUND FREUD

Là cha đẻ của ngành phân tâm học, Freud tin rằng nhiều rối loạn tâm thần là do sự kìm nén những chấn thương thời thơ ấu.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6322/feed 0
Vovinam: Niềm tự hào võ thuật Việt Nam https://thuonghylenien.org/luu-tru/6252 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6252#respond Wed, 12 Aug 2026 21:34:39 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6252 Vovinam: Niềm tự hào võ thuật Việt Nam.

Vovinam là một môn võ thuật mang trong mình niềm tự hào đất Việt và có ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới. Với lịch sử hình thành lâu đời, Vovinam đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa thể thao nước nhà. Hãy cùng  tìm hiểu về môn võ cổ truyền Vovinam và những lợi ích mà chúng mang lại cho trẻ nhỏ.

Vovinam là gì

Vovinam còn được biết đến với tên gọi Việt Võ Đạo, là sự kết hợp kỳ công của môn vật truyền thống và các môn phái võ thuật từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Được xây dựng dựa trên nguyên tắc Cương Nhu Phối Triển, Vovinam tập trung vào các kỹ thuật sử dụng tay không, cùi chỏ, chân, gối và cả việc sử dụng các loại vũ khí như kiếm, đao, mã tấu, dao, côn, quạt… Ngoài ra, môn võ này còn giúp võ sĩ học cách đối phó với vũ khí bằng tay không, sử dụng các phản đòn, khóa gỡ và các kỹ thuật vật hiệu quả.

Vovinam còn được biết đến với tên gọi Việt Võ Đạo

Vovinam đã phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu với sự tham gia của hơn 2 triệu võ sinh đến từ gần 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Lịch sử hình thành võ Vovinam

Vovinam là một môn võ thuật được đặt nền móng bởi võ sư Nguyễn Lộc vào năm 1936. Ban đầu, Vovinam hoạt động một cách âm thầm cho đến năm 1938 khi nó được công khai.

Mặc dù thành lập vào những năm 1930, đến thập kỷ 1970, Vovinam mới phát triển và lan rộng ra quốc tế. Ngày nay, môn võ này đã được phát triển rộng rãi trên toàn thế giới. Liên đoàn Vovinam ra đời vào năm 2007 và trong 5 năm tiếp theo, nhiều Liên đoàn Vovinam châu lục và quốc tế đã được thành lập, chứng tỏ sự phát triển bùng nổ của Vovinam.

Vovinam là đại diện cho võ thuật Việt Nam trên trường quốc tế

Vovinam trở nên nổi tiếng hơn và đại diện cho võ thuật và võ đạo đại diện của Việt Nam trên trường quốc tế. Các võ sinh của môn phái này không chỉ tập trung vào kỹ thuật và binh khí, mà còn phải rèn luyện khí công, đồng thời phát triển tính hướng thiện trong mỗi cá nhân.

Vì vậy, học Vovinam không chỉ là một hình thức tự vệ mà còn là cách để xây dựng một kế hoạch học tập chi tiết. Mặc dù có nhiều môn võ khác nhau tại Việt Nam, song Vovinam vẫn là môn võ được nhiều người Việt ưa thích nhất.

Võ vovinam có mấy đai?

Vovinam có tổng cộng 5 màu đai chính đại diện cho các cấp bậc khác nhau. Mỗi màu sắc trên đai mang đậm ý nghĩa riêng:

image

Vovinam có tổng cộng 5 màu đai

  • Đai xanh: Biểu tượng cho sự hy vọng của những người mới tiếp cận Vovinam và mong muốn rèn luyện tinh thần võ thuật.
  • Đai đen: Đại diện cho sự chuyển hóa của võ công thành trạng thái thực trong cơ thể, đó là nền tảng để võ sinh Vovinam cải thiện kiến thức và kỹ năng của mình.
  • Đai vàng: Tượng trưng cho võ đạo, như màu của đất, nó thể hiện tính chất cốt cách của người môn sinh Vovinam. Tinh thần võ thuật bắt đầu thấm vào cả da thịt.
  • Đai đỏ: Màu của máu và ngọn lửa thiêng, biểu thị sự nhiệt huyết, khát vọng và tinh thần anh hùng. Đai đỏ tượng trưng cho tinh thần võ thuật, đã thấm sâu vào máu, luôn hiện diện và tỏa sáng trong mỗi võ sinh của Vovinam.
  • Đai trắng: Biểu trưng cho sự trong sáng, thuần khiết. Đạt đến mức cao siêu trong võ đạo, đai trắng đại diện cho tất cả tinh hoa của Vovinam.
image

Thắt đai Vovinam

Bát kể ở hạng đai nào, Vovinam đều có cách thắt đai chung như sau:

Gấp đai thành 4 phần, đặt 1/4 chiều dài đai vào giữa bụng và phần còn lại của vòng lặp lại 2 lần. Lúc này, có 2 dây đai, một ở trong và một ở ngoài áo.

Sử dụng đầu ngoài của dây đai để luồn vào phần trong và kéo lên, thắt chặt hai đầu của đai.

Cố định cả hai đầu của đai sao cho đầu ngoài dài hơn đầu trong một chút.

Đầu ngoài của đai được đưa qua đầu kia, sau đó kéo lên và thắt chặt.

Khi hoàn thành, mặt ngoài của đai phải tạo thành một hình vuông, bên dưới có hai đường chéo và hai đầu của thắt lưng phải có chiều dài bằng nhau. Đai không được chạm đất, và vòng đai nằm phía sau lưng.

Đặc điểm của môn võ Vovinam

  • Tính thực dụng: Môn sinh được hướng dẫn thực hành các kỹ thuật tự vệ như gỡ nắm tay, nắm tóc, nắm áo và đấm, đá, đạp,… Tính thực dụng trong Vovinam giúp môn sinh có thể tự vệ và ứng phó với các tình huống xấu trong thực tế.
  • Tính liên hoàn: Khi sử dụng các đòn thế, võ sinh thường tung ra ít nhất 3 động tác liên tiếp, bằng tay (chém, đấm, chỏ) hoặc bằng chân (đá, đạp, triệt ngã). Tính liên hoàn giúp tăng hiệu quả và đảm bảo thành công trong thi đấu.

Vovinam áp dụng tính liên hoàn

  • Nguyên lý Cương – Nhu phối triển: Vovinam áp dụng nguyên lý Cương – Nhu, kết hợp các đòn thế nhu nhuyễn và cương mãnh. Khi bị tấn công, võ sinh sẽ né trước (nhu) và sau đó phản công (cương). Đây là sự kết hợp hài hòa giữa sự mềm mại và sự mạnh mẽ trong võ thuật.
  • Vận dụng nguyên lý khoa học: Vovinam sử dụng các nguyên lý khoa học như lực ly tâm, lực đòn bẩy, lực xoáy, lực co gấp và sức bật. Các nguyên lý này giúp võ sinh tối ưu hóa sức lực và đạt được kết quả cao mà vẫn duy trì độ chính xác và hiệu quả trong tập luyện và thi triển kỹ thuật.

Lợi ích của việc tập Vovinam cho trẻ nhỏ

  • Cải thiện sức khỏe toàn diện: Vovinam là một môn thể thao giúp trẻ tăng cường sức khỏe và tiêu hao năng lượng. Nó giúp trẻ tăng cường sức chịu đựng, tính linh hoạt và phòng ngừa các bệnh tật..

Vovinam giúp trẻ cải thiện sức khỏe toàn diện

  • Phát triển tính kỷ luật: Vovinam rèn luyện tính kỷ luật và sự cân bằng trong cuộc sống hàng ngày. Trẻ sẽ học được giá trị của kỷ luật cá nhân và tuân thủ các quy tắc trong mọi tình huống.
  • Cải thiện khả năng giao tiếp và biểu diễn: Tập Vovinam giúp trẻ vượt qua những rào cản trong giao tiếp và tạo sự tự tin khi tiếp xúc với người lạ. Khi tập luyện các bài quyền và tham gia thi đấu, trẻ sẽ nâng cao khả năng giao tiếp và biểu diễn trước đám đông.
  • Tăng cường khả năng tập trung và nhạy bén: Tập Vovinam giúp trẻ rèn kỹ năng tập trung cao độ và nhạy bén. Các động tác của tay, chân và cơ thể yêu cầu não bộ điều khiển và ghi nhớ theo thứ tự. Trong quá trình thực hiện các bài quyền và thi đấu, trẻ phải tập trung để thực hiện chính xác các động tác và phản ứng nhanh chóng.
  • Tăng cường sức chịu đựng và ý chí: Các bài tập thể lực trong Vovinam giúp trẻ cải thiện độ linh hoạt và sự bền bỉ của cơ thể. Trẻ sẽ rèn luyện sức bền thông qua các bài tập đối kháng, từ đó tăng cường sự dẻo dai của cơ và xương.
  • Cải thiện sức khỏe tinh thần: Tập Vovinam là một cách để trẻ giải trí sau những giờ học căng thẳng. Nó giúp trẻ có tinh thần lành mạnh, thư giãn và tăng cường sự minh mẫn.

Vovinam không chỉ là một môn thể thao, mà nó còn là một con đường để các võ sinh khám phá và phát triển tiềm năng bên trong mình. Mong rằng sau bài viết này bạn đã có cái nhìn toàn diện về Vovinam và có phương pháp tập luyện hiệu quả

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6252/feed 0
Lược sử Y Học (Bài 6) https://thuonghylenien.org/luu-tru/6222 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6222#respond Fri, 07 Aug 2026 22:04:47 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6222 Lược sử Y Học (Bài 6).

Đo Huyết Áp

Huyết áp là áp lực do máu lưu thông tác động lên thành động mạch, được đo bằng các dụng cụ và mạch đập để chẩn đoán sức khỏe của bệnh nhân. Huyết áp cao (tăng huyết áp) là kết quả của lượng máu lớn hoặc động mạch bị hẹp và có thể do thiếu vận động, nghiện rượu, ăn nhiều muối và các yếu tố khác. Huyết áp cao gây áp lực lên tim và động mạch, làm tăng nguy cơ đột quỵ, đau tim, rối loạn chức năng thận và các bệnh khác. Huyết áp thấp (hạ huyết áp) có thể do tuổi tác, bệnh tật hoặc mất máu, gây chóng mặt, ngất xỉu và trong trường hợp nghiêm trọng là sốc. Cả hai tình trạng này đều có thể do di truyền. Huyết áp thay đổi theo từng nhịp tim, do đó, huyết áp được đo theo một phạm vi nhất định.

 

Mạch và huyết áp trong lịch sử

Trong hàng ngàn năm, các bác sĩ đã sử dụng mạch đập như một công cụ chẩn đoán. Người Ai Cập cổ đại đã đo mạch đập đơn giản, và các nền văn hóa cổ đại từ Trung Quốc đến Hy Lạp đã đưa ra giả thuyết về cường độ, nhịp điệu và chất lượng của mạch đập. Huyết áp được phát hiện vào năm 1733 bởi giáo sĩ Stephen Hales, người đã đặt ống vào động mạch của động vật và đo độ cao của máu. Từ thế kỷ 19, các thiết bị đo sử dụng vòng vải quấn chặt quanh cánh tay và không làm rách da đã xuất hiện, chẳng hạn như máy dao động ký mạch đập và  máy đo huyết áp (xem hình).

Bắt mạch chẩn đoán kiểu Trung Quốc cuối thế kỷ 17

 

DAO ĐỘNG KẾ MẠCH TIM

ANH QUỐC, 1931-1940 Nhà khoa học và bác sĩ người Hungary Janos Plesch, bạn và bác sĩ của Albert Einstein, đã phát triển máy dao động kế mạch tim, được sử dụng rộng rãi trong những năm 1930. Với vòng bó chặt cánh tay nhờ bơm hơi, đây là tiền thân của các thiết bị được sử dụng ngày nay. Thiết bị này dễ sử dụng và tạo ra bản ghi dưới dạng đồ thị (Hình dưới)

 

Máy dao động kế mạch tim của Praf J.Plesch.

Máy gồm:

  • Vòng quấn chặt vừa vặn với cánh tay bệnh nhân. Nó có van để bác sĩ có thể xả khí ra ngoài trong quá trình sử dụng.
  • Bóng cao su được sử dụng để bơm không khí vào vòng quấn cánh tay, nhằm tạm thời ngăn chặn dòng máu chảy trong động mạch của bệnh nhân
  • Biểu đồ huyết áp của bệnh nhân được ghi lại trên giấy.
  • Thiết bị này chứa một cơ chế đo áp suất hoạt động giống như một áp kế: những thay đổi về áp suất làm cho một tế bào kim loại giãn nở hoặc co lại, và đòn bẩy truyền những chuyển động này đến mặt số

 

Máy đo huyết áp hoạt động như thế nào

Huyết áp được đo ở điểm cao nhất (tâm thu) và thấp nhất (tâm trương), bằng máy đo huyết áp. Một vòng  bơm hơi được quấn quanh bắp tay trên, và một thiết bị nghe gọi là ống nghe (do René Laennec phát minh năm 1816) được đặt bên dưới vòng quấn. Vòng quấn bơm hơi sẽ đóng động mạch và ngăn dòng máu chảy. Nghe qua ống nghe, bác sĩ từ từ xả hơi vòng quấn, ghi nhận những âm thanh đầu tiên khi động mạch mở ra dưới áp lực tâm thu và khi máu chảy tự do dưới áp lực tâm trương.

Ống nghe đặt trên động mạch trụ (Ulnar artery)

Hình dưới chỉ ba tình trạng của động mach: động mạch nghẹt (do quá nhiều xơ vữa), động mạch hở (xơ vữa trung bình), động mạch hở hoàn toàn (không xơ vữa).

 

Pasteur và Vi Sinh Vật Học

 

Vi trùng là kẻ thù vô hình. Những dạng sống nhỏ bé này có thể gây hại cho cơ thể con người và các sinh vật sống khác, nhưng chúng nhỏ đến mức chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi. Không chỉ là những vi sinh vật, vi trùng là tác nhân gây bệnh. Chúng sinh sôi trong cơ thể và gây ra các bệnh truyền nhiễm. Vào thế kỷ 17, những kính hiển vi quang học đầu tiên đã phát hiện ra vô số vi trùng thuộc vô số chủng loại. Nhưng mãi đến thế kỷ 19, những tên xâm lược nhỏ bé này mới được chứng minh là có thể gây bệnh, dẫn đến thuyết mầm bệnh. Những thành tựu phi thường của nhà khoa học người Pháp Louis Pasteur, cũng như của nhà khoa học người Đức Robert Koch, là những yếu tố then chốt cho sự phát triển này.

 

Trong nhiều thế kỷ, các bệnh truyền nhiễm và các bệnh tật khác bị quy cho nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự trả thù của các vị thần thịnh nộ hoặc mắc phải tội lỗi. Hai lý thuyết chính chiếm ưu thế. Lý thuyết thứ nhất, miasma, là một quan niệm chung cho rằng không khí ô nhiễm, nhiễm độc bằng cách nào đó lây lan bệnh tật. Ý tưởng này không hoàn toàn vô lý – mùi hôi thối từ đất hoặc nước bị ô nhiễm bởi vật chất và phân thối rữa luôn đi kèm với bệnh tả, kiết lỵ và các bệnh tương tự. Ở Hy Lạp cổ đại, Hippocrates coi không khí độc hại tương tự như bệnh dịch hạch. Tương tự, Vitruvius, một kiến ​​trúc sư và kỹ sư người La Mã từ thế kỷ 1 trước Công nguyên, đã suy ngẫm về tác hại của không khí ô nhiễm xông lên mũi từ các nguồn như đầm lầy, nước tù đọng và cống rãnh. Hai thế kỷ sau, Galen liên hệ không khí ô nhiễm và bệnh tật với khái niệm về thể dịch của ông. Các lý thuyết phổ biến của Galen vẫn tồn tại trong suốt thời Trung cổ và được điều chỉnh để giải thích các đại dịch như bệnh đậu mùa và bệnh dịch hạch. Các loại khí độc được cho là lây lan bệnh tật được gọi là miasm. Không khí được cho là mang trong mình “ảnh hưởng dịch bệnh”, và khi gặp phải sự phân hủy, người ta tin rằng nó sẽ biến thành các khí độc ác tính dẫn đến bệnh tật. Những tâm hồn bất an ở châu Âu thời Phục Hưng bắt đầu khám phá bí ẩn này. Vào những năm 1540, bác sĩ kiêm nhà khoa học người Ý Girolamo Fracastoro cho rằng các hạt nhỏ li ti – bào tử – có thể là nguyên nhân. Một thế kỷ sau, kính hiển vi của Antoni van Leeuwenhoek và những người khác đã phát hiện ra các “vi sinh vật”. Năm 1700, bác sĩ người Pháp Nicolas Andry đã ghi lại những quan sát của mình về những “con giun” nhỏ xíu, đang ngọ nguậy, mà ông cho rằng có thể gây bệnh. Một số loài giun này là ký sinh trùng đã biết, chẳng hạn như sán dây. Những loài khác, mà Andry nghi ngờ có thể gây bệnh hoa liễu, thực chất là tế bào tinh trùng. Là người ủng hộ nhiệt thành thuyết khí độc, ông cho rằng không khí ô nhiễm có thể chứa “hạt mầm giun”.

LOUIS PASTEUR

Cùng với đối thủ lâu năm của mình là bác sĩ và nhà khoa học người Đức Robert Koch, Pasteur được coi là cha đẻ của ngành vi sinh vật học.

 

Thuyết thứ hai lần đầu tiên được Aristotle ghi chép ở Hy Lạp cổ đại. Ông tin vào sự sinh sản tự phát, hay abiogenesis, trong đó vật chất sống có thể phát sinh từ các thành phần vô tri nhờ một dạng “sinh lực” nào đó. Điều này dường như là một lời giải thích hợp lý cho hiện tượng nấm mốc đột nhiên mọc lên trên bánh mì cũ, giòi dường như xuất hiện từ hư không trên thịt thối rữa, và sự xâm nhập của chấy rận và bọ chét ở những nơi trước đây không hề có. Khi công nghệ kính hiển vi mới tiết lộ nhiều hơn về vi khuẩn, các lý thuyết hiện có đã bị thách thức bởi các nhà khoa học hoài nghi, muốn tìm kiếm bằng chứng. Năm 1668, nhà tự nhiên học kiêm bác sĩ người Ý Francesco Redi đã mô tả các thí nghiệm của mình với những chiếc lọ đựng thịt cũ. Ông để một số lọ mở,  phủ miệng một số lọ khác bằng vải lưới kín, và bịt kín những lọ khác bằng nút bần. Redi lưu ý rằng giòi chỉ xuất hiện trong thịt nếu ruồi thực sự có thể đậu lên; do đó, giòi không hề sinh sản tự phát từ thịt chết. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, niềm tin vào sự sinh sản tự phát đã lan rộng đến mức công trình của Redi không đạt được nhiều tiến triển. Vào giữa thế kỷ 18, linh mục và nhà sinh vật học người Anh John Needham đã thử một phương pháp khác: đầu tiên đun sôi nước dùng gà để tiêu diệt bất kỳ sự sống nào, sau đó bịt kín không cho tiếp xúc với không khí. Nước dùng trở nên đục, điều mà Needham cho là do sự tự phát sinh của vi trùng. Ông khẳng định rằng “các nguyên tử sống” chứa đựng chất lượng sự sống, thấm nhuần thế giới tự nhiên và làm sống động môi trường xung quanh để tạo ra sự sống. Nhìn lại, có khả năng thời gian đun sôi của Needham không tiêu diệt hết vi trùng trong nước dùng, và ruồi có thể đã đậu trên nước dùng và làm ô nhiễm nó khi nó nguội đi trong không khí. Một linh mục khác, Lazzaro Spallanzani người Ý, đã phát triển các thí nghiệm của Needham xa hơn vào những năm 1760. Ông đun sôi nước dùng lâu hơn, và đảm bảo rằng nó sau đó được niêm phong nhanh chóng và an toàn trong các lọ thủy tinh. Các mẫu nước dùng được niêm phong vẫn còn nguyên vẹn và không bị nhiễm bẩn, trong khi những mẫu tiếp xúc với không khí nhanh chóng tràn ngập những sinh vật nhỏ bé. Bám víu niềm tin vào sự sinh sản tự phát, phe phản đối phản bác rằng cách xử lý khắc nghiệt như vậy đã phá hủy “các nguyên tử sống” của Needham, vốn cần tiếp xúc với không khí để có được sự sống.

 

Một căn bệnh ảnh hưởng đến tằm (sâu bướm đêm) lan rộng khắp châu Âu vào đầu thế kỷ 19 đã thu hút sự quan tâm của chuyên gia côn trùng người Ý Agostino Bassi. Ông đã tiến hành một loạt các thí nghiệm công phu, và cuối cùng vào năm 1835, ông đi đến kết luận rằng căn bệnh này là do một loại mầm bệnh hoặc hạt truyền nhiễm nào đó gây ra – một dạng sống của vi trùng, phát tán dưới dạng bào tử bột do tiếp xúc hoặc ở gần. Mười năm sau, ông đưa ra giả thuyết rằng vi trùng cũng có thể hoạt động như tác nhân gây bệnh ở người. Nghiên cứu của Bassi đã cung cấp bằng chứng ban đầu đáng tin cậy về sự lây nhiễm là nguyên nhân gây bệnh, và loại nấm tấn công tằm sau này được đặt tên là Beauveria bassiana để vinh danh ông. Đến lúc này, ông không còn là người duy nhất. Tại Đức, một ngôi sao đang lên trong lĩnh vực giải phẫu học và mô học, Friedrich Gustav Jacob Henle, đã viết một bài báo ủng hộ đề xuất contagium vivum (“vật sống lây nhiễm”): “Vật chất của mầm bệnh không chỉ là vật chất hữu cơ mà còn là vật chất sống… nó, so với cơ thể bị bệnh, là một sinh vật ký sinh.” Hai tiến bộ quan trọng khác đã góp phần vào nguyên nhân lây nhiễm. Tại Vienna, bác sĩ sản khoa Ignaz Semmelweis đã lập luận vào năm 1847 rằng “các hạt trong tử thi” mà bác sĩ và sinh viên y khoa mang theo là nguyên nhân gây ra tỷ lệ sốt hậu sản cao bất thường. Bảy năm sau, tại London, John Snow đã thực hiện vụ tháo dỡ tay cầm máy bơm nước nổi tiếng của mình trong một đợt bùng phát dịch tả, nghi ngờ rằng có sự lây nhiễm đang diễn ra. Thuyết lây nhiễm hay thuyết vi trùng gây bệnh đã trở nên phổ biến, nhưng ngay cả như vậy, khái niệm về khí độc vẫn chiếm ưu thế ở châu Âu những năm 1860. Khí độc dường như giải thích, ví dụ, tại sao bệnh tả lại phổ biến ở các thành phố có khu dân cư đông đúc, thiếu thốn, vệ sinh và sức khỏe cộng đồng kém. Theo lý thuyết này, không khí ô nhiễm, nồng nặc mùi thối rữa và chất thải của con người, chứa rất nhiều khí độc, vì vậy ngày càng nhiều người mắc bệnh.

ĐÁM MÂY DỊCH TẢ

Niềm tin vào khí độc – rằng bệnh tật lây lan qua không khí “xấu” – mạnh mẽ đến mức vào thế kỷ 19, các nhà lý thuyết về vi trùng đã phải vật lộn để lên tiếng.

 

Pháp là một trong nhiều quốc gia trên khắp châu Âu và châu Á thường xuyên phải hứng chịu dịch tả bùng phát; căn bệnh này đã lan tràn khắp Paris vào năm 1832 và một lần nữa vào năm 1849. Louis Pasteur, một nhân vật vĩ đại trong tương lai của giới vi sinh vật học, xuất hiện. Sinh ra tại Dole, miền đông nước Pháp, vào năm 1822, Pasteur lấy bằng cử nhân tại Cao đẳng Hoàng gia khu vực Besançon. Tuy nhiên, mãi đến năm 1843, khi ông được nhận vào trường École Normale Supérieure (Đại học Sư phạm) danh tiếng ở Paris, năng khiếu hóa học của Pasteur mới được công nhận là vượt trội. Ông tốt nghiệp và trở thành trợ lý hóa học, sau đó dạy vật lý một thời gian ngắn ở Dijon trước khi trở thành giáo sư hóa học tại Đại học Strasbourg. Sau khi kết hôn với Marie Laurent vào năm 1849, Pasteur cùng gia đình chuyển đến Lille vào năm 1854, nơi ông được bổ nhiệm làm giáo sư hóa học và trưởng khoa khoa học. Hai năm sau, ông trở lại trường cũ ở Paris, đảm nhận vai trò giám đốc nghiên cứu khoa học. Từ căn cứ của mình ở thủ đô, danh tiếng của Pasteur đã tăng vọt. Ông có tiêu chuẩn cao và con mắt tinh tường như diều hâu đối với các chi tiết, mà ông đã áp dụng rất thành công vào các vấn đề đa dạng trong các lĩnh vực chăn nuôi, khoa học thú y, sức khỏe con người và y học, cùng nhiều lĩnh vực khác.

 

Công trình nghiên cứu của Pasteur trải qua nhiều giai đoạn chính, bắt đầu với việc nghiên cứu cách ánh sáng truyền qua các hình thể và cách sắp xếp tinh thể khác nhau. Đến giữa những năm 1850, ông chuyển sang quan tâm đến quá trình lên men và lý do tại sao chất lỏng bị chua. Trong thời gian làm việc tại Lille, ông được yêu cầu nghiên cứu quá trình hư hỏng của bia, với mục đích cứu lấy ngành công nghiệp sản xuất bia đang chịu tổn thất nặng nề. Làm việc với rượu vang và bia, Pasteur đã chứng minh rằng, trái với niềm tin phổ biến, quá trình lên men không phải là một quá trình hoàn toàn hóa học, mà liên quan đến các dạng sống của vi sinh vật. Ông cũng lưu ý rằng một loại vi sinh vật  đặc biệt – nấm men tròn – phải có trong bia lên men thông thường. Các mẫu bia chua chứa loại vi sinh vật không đúng. Năm 1859, nhớ lại công trình của Needham và Spallanzani, Pasteur đã thực hiện một loạt thí nghiệm quyết định, sử dụng nước dùng thịt luộc và bình thủy tinh được đậy kín hoặc để hở không khí theo nhiều cách khác nhau, giống như những người tiền nhiệm của ông. Một số bình của Pasteur có cổ dài, cong xuống dưới, cho phép không khí đi vào và ra nhưng ngăn bụi trong không khí và các hạt truyền nhiễm đi qua. Nước dùng trong những bình này không bị nhiễm bẩn trong thời gian dài nhất. Trong các bình có cổ cong hướng lên để cho các hạt có khả năng gây ô nhiễm đi vào, nước dùng phát triển nấm mốc sớm hơn nhiều. Những kết quả này, từ một nhà khoa học được kính trọng như vậy, đã giáng một đòn mạnh vào những người ủng hộ thuyết sinh sản tự phát, củng cố lập luận cho thuyết vi sinh vật, và củng cố thêm lập luận rằng các hạt nhiễm bẩn có thể gây ra bệnh tật cho con người. Đầu những năm 1860, Pasteur tiếp tục hợp tác với nhà sinh lý học người Pháp nổi tiếng Claude Bernard, và cùng nhau, họ đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hư hỏng đồ uống: nhiệt độ cao để tiêu diệt các tác nhân gây ô nhiễm mà không làm thay đổi hương vị của sản phẩm. Hình thức xử lý nhiệt này ngày nay được biết đến rộng rãi với tên gọi thanh trùng.

 

“Học thuyết về sự sinh sản tự phát sẽ không bao giờ phục hồi được sau đòn chí mạng do thí nghiệm đơn giản này gây ra”

LOUIS PASTEUR

 

Từ khoảng năm 1865 đến năm 1871, Pasteur cũng nghiên cứu về bệnh tằm. Tương tự công trình trước đó của Bassi, được mô tả ở trên, Pasteur đã chứng minh rằng các bệnh này là do vi sinh vật gây ra (một loại sau này được xác định là nấm, loại còn lại là vi rút), và nhờ đó đã góp phần phục hồi ngành công nghiệp tơ lụa Pháp. Hoàng đế Napoleon III đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Pasteur vì những đóng góp của ông cho ngành công nghiệp đồ uống và tằm, điều này càng làm tăng thêm danh tiếng ngày càng vang dội của Pasteur.

Đến những năm 1870, Pasteur đã phát triển mối quan tâm đến việc tiêm chủng. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi đối với bệnh đậu mùa, nhưng tham vọng của Pasteur là tìm ra vắc-xin cho các bệnh khác ở người và gia súc, đặc biệt là bệnh tả và bệnh than. Ông đã tập hợp một nhóm bao gồm các bác sĩ trẻ đầy triển vọng Emile Roux và Charles Chamberland, và tiến hành các thử nghiệm trên bệnh tả gia cầm, dạng bệnh ảnh hưởng đến gà, gà tây và các loài chim tương tự. Roux tiếp tục nghiên cứu về bệnh bạch hầu, trong khi Chamberland phát minh ra một bộ lọc để giữ lại vi khuẩn từ dung dịch. Cả hai sau đó đều làm việc tại Viện Pasteur, được Pasteur thành lập vào năm 1887. Pasteur và nhóm của ông đã nuôi cấy – làm tinh khiết và tăng số lượng trong phòng thí nghiệm – loại vi trùng gây bệnh tả gia cầm, một loại vi khuẩn từ đó được đặt tên là Pasteurella multocida. Các mầm bệnh nuôi cấy được sử dụng để gây bệnh cho gà nhằm thử nghiệm các kỹ thuật tiêm chủng khác nhau.

 

Năm 1879, một phần do sự đãng trí của Chamberland, một lô vi khuẩn này đã không phát triển bình thường. Chúng chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ ở gia cầm, nhưng sau đó, một cách bất thường, chúng đã hồi phục. Bối rối trước điều này, Pasteur đã tiêm chủng cho chính những con gà này một chế phẩm vi khuẩn có nồng độ đầy đủ. Kết quả là đám gà này không bị bệnh tả gia cầm. Ông nghi ngờ rằng chủng vi khuẩn kỳ lạ này bao gồm những vi khuẩn đã bị suy yếu hoặc giảm độc lực vì lý do nào đó. Thông thường, các lô vi khuẩn không được tiếp xúc với không khí, nhưng chủng vi khuẩn bị lãng quên thì có. Liệu điều này có làm chúng yếu đi không? Để kiểm chứng lý thuyết của mình, Pasteur đã nuôi cấy một số chủng vi khuẩn tả mới. Một số được tiếp xúc với không khí, trong khi một số khác được niêm phong trong ống nghiệm, nơi oxy nhanh chóng bị sử dụng hết. Sau đó, Pasteur đã kiểm tra độc lực của chúng bằng cách tiêm chủng cho gà để xem có bao nhiêu con bị bệnh và chết. Kết quả rất thuyết phục: “Điều đáng chú ý là thí nghiệm cho thấy độc lực trong những điều kiện này [không có oxy]  giống với độc lực được sử dụng trong những lần tiêm chủng ban đầu. Trong khi các chủng vi khuẩn tiếp xúc với không khí hoặc đã chết hoặc có độc lực rất yếu. Do đó, vấn đề của chúng ta đã được giải quyết: chính oxy làm giảm độc lực.” Pasteur đã thành công trong việc tạo ra một chủng vi khuẩn truyền nhiễm được làm yếu một cách nhân tạo để sử dụng cho mục đí ch tiêm chủng. Điều này khác với vắc-xin đậu mùa, vốn có nguồn gốc tự nhiên. Người chăn nuôi gia cầm rất biết ơn, khám phá này đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu về các bệnh khác, và vắc-xin phòng bệnh tả ở người đã ra đời vào năm 1900.

 

NGÂN HÀNG MÁU

Những ống nghiệm này từ bảo tàng tại Viện Pasteur ở Paris, Pháp, chứa mẫu máu từ những con gà mái chết do bị tiêm dịch tả gà

 

Cùng thời gian đó, Pasteur cũng đang nghiên cứu bệnh than, một căn bệnh nghiêm trọng ở gia súc, cừu, các loại gia súc khác và động vật hoang dã, cũng có thể gây tử vong ở người. Vi khuẩn gây bệnh than Bacillus anthracis đã được Robert Koch, đối thủ của Pasteur, phân lập và xác định vào giữa những năm 1870. Làm việc tại nhiều trang trại, Pasteur đã áp dụng phương pháp mà ông đã áp dụng cho bệnh tả gà, phát triển một chủng vi khuẩn yếu hơn để sử dụng trong vắc-xin chống lại vi khuẩn gây bệnh. Năm 1881, ông đã tiến hành thử nghiệm tại một trang trại ở Pouilly-le-Fort gần Melun, phía đông nam Paris. Ông đã sử dụng hai nhóm gia súc, mỗi nhóm gồm 25 con cừu, cùng với một vài con bò và dê. Mỗi con vật trong nhóm đầu tiên được tiêm hai mũi tiêm vắc-xin phòng bệnh than mới cách nhau 15 ngày. Các con vật trong nhóm còn lại không được tiêm mũi nào. Mười lăm ngày sau mũi tiêm thứ hai, các con vật từ cả hai nhóm đều được tiêm một liều vi khuẩn than sống. Kết quả thật đáng kinh ngạc. Tất cả các con vật được tiêm vắc-xin đều sống sót, chúng “vui đùa và có dấu hiệu khỏe mạnh hoàn toàn”. Số còn lại chết trong vòng hai ngày. Những hoài nghi về tính hiệu quả của việc tiêm vắc-xin đã bị dập tắt, cũng như phe hậu thuẫn thuyết sinh sản tự phát và khí độc. Ngành chăn nuôi nhanh chóng được hưởng lợi, mặc dù vắc-xin phòng bệnh than cho người mãi đến năm 1954 mới được sản xuất.

 

Giai đoạn chính cuối cùng trong công trình tiêm chủng của Pasteur tập trung vào căn bệnh dại đáng sợ. Bệnh dại được biết đến nhiều nhất là do chó gây ra, nhưng bất kỳ động vật máu nóng nào cũng có thể bị nhiễm bệnh và có thể lây truyền sang người nếu bị cắn. Pasteur đã nghiên cứu các bài viết về bệnh dại của Girolamo Fracastoro, đã được đề cập trước đó, và của nhà khoa học người Đức Georg Gottfried Zinke, người đã chứng minh rằng bệnh dại lây truyền qua nước bọt vào năm 1804. Vi trùng gây bệnh dại – một loại vi-rút – ảnh hưởng đến hệ thần kinh, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống). Đồng nghiệp của Pasteur, Roux, đã phát triển một phương pháp sản xuất vắc-xin bằng cách lây nhiễm cho thỏ, sau đó mổ xẻ và sấy khô tủy sống để làm suy yếu hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Đến năm 1885, vắc-xin đã được thử nghiệm trên chó. Cùng năm đó, Joseph Meister, chín tuổi, đã bị một con chó dại tấn công. Quá tuyệt vọng, mẹ cậu bé đã đưa cậu đến gặp Pasteur. Bệnh dại thời đó được coi là nỗi sợ hãi đến mức một số người đã tự tử sau khi bị chó dại cắn thay vì chịu đựng nỗi đau đớn. Pasteur đã cân nhắc tình hình và tham khảo ý kiến ​​của đồng nghiệp: “Ý kiến ​​của đồng nghiệp sáng suốt của chúng tôi và của Tiến sĩ Grancher là, xét theo cường độ và số lượng vết cắn, Joseph Meister gần như chắc chắn sẽ mắc bệnh dại.” Mặc dù không đủ điều kiện để điều trị cho người và có nguy cơ bị chính quyền trừng phạt, Pasteur vẫn tiêm vắc-xin cho Joseph. Kết quả cậu ta không mắc bệnh dại, vì vậy vắc-xin được cho là thành công. Các thử nghiệm sau đó được tiến hành nhanh chóng, và danh tiếng của Pasteur lên một tầm cao mới.

 

Joseph Meister sau này trở thành người quản lý Viện Pasteur ở Paris. Viện Pasteur nổi tiếng thế giới này đã dẫn đầu trong nghiên cứu y học chống lại các bệnh truyền nhiễm và là một sự tôn vinh lâu dài cho những thành tựu của con người vĩ đại này.

SỦI BỌT Ở MÕM

Biết rằng bệnh dại lây truyền qua nước bọt, Pasteur đã nghiên cứu sâu hơn về căn bệnh này bằng cách lấy mẫu bọt từ mõm  một con chó bị dại.

 

Nỗi Kinh Hoàng của Bệnh Dại

 

Bệnh dại là một bệnh do virus nguy hiểm gây viêm não, gây ra một loạt các triệu chứng tiến triển khủng khiếp, từ giãy giụa và cắn xé đến ám ảnh sợ hãi và ảo giác. Bệnh có thể gây tử vong nếu người bệnh không được tiêm phòng kịp thời. Bệnh dại có thể lây truyền giữa các loài, và con người thường bị nhiễm bệnh từ vết cắn của chó bị nhiễm bệnh; căn bệnh này không thể chữa khỏi cho đến khi vắc-xin đầu tiên được tiêm cho người vào cuối thế kỷ 19. Hiện nay, vắc-xin phòng bệnh dại cũng đã có sẵn để phòng ngừa bệnh ở động vật, nhưng mỗi năm trên toàn cầu vẫn có 55.000 người tử vong vì bệnh dại.

Lọ vắc-xin phòng bệnh dại

 

  • 1271 Ba mươi người thiệt mạng do dịch bệnh dại bùng phát ở Đức sau khi đàn sói bị nhiễm bệnh xâm chiếm một ngôi làng.
  • Năm 1548, bác sĩ người Ý Girolamo Fracastoro cho rằng bệnh dại lây truyền qua một chất trong nước bọt của người bệnh. Fracastoro cũng đặt tên cho loại virus này theo từ tiếng Latin có nghĩa là “cơn thịnh nộ”; cả người và động vật đều dùng tay cào vào miệng và hành động hung hăng.
  • Năm 1793, Bác sĩ Samuel Argent Bardsley đề xuất một hệ thống kiểm dịch tại Vương quốc Anh để cách ly động vật và loại bỏ lây nhiễm, nhưng ý tưởng này không được thực hiện.
  • Năm 1804, nhà khoa học người Đức Georg Gottfried Zinke tiêm bệnh dại cho động vật, chứng minh rằng căn bệnh này có khả năng truyền nhiễm.
  • Năm 1881, các nhà khoa học người Pháp Louis Pasteur và Emile Roux bắt đầu nghiên cứu về bệnh dại.
  • Năm 1881, giáo sư người Pháp Pierre-Victor Galtier tiêm nước bọt mang mầm bệnh dại vào cừu; điều này dường như giúp chúng miễn nhiễm với bệnh truyền nhiễm tiếp theo.
  • Năm 1883, Emile Roux xuất bản một bài báo về nghiên cứu của ông và Pasteur.
  • Năm 1884, Pasteur và Roux mô tả cách bệnh dại được tìm thấy trong tủy sống và não.
  • Năm 1885, Pasteur và Roux sản xuất vắc-xin phòng bệnh dại; hàng trăm bệnh nhân đã được tiêm phòng thành công trong năm đó.

TỶ LỆ TỬ VONG CHO BỆNH NHÂN BỊ CHẨN ĐOÁN MẮC BỆNH DẠI CHƯA TIÊM VẮC XIN

100%

  • 1902 Vương quốc Anh tuyên bố không còn bệnh dại, mặc dù vẫn có một số trường hợp riêng lẻ.
  • Năm 1932, Tiến sĩ Russ Pfister phát hiện ra bệnh dại ở loài dơi quỷ.
  • Năm 1936, Leslie Webster và Anna Clow nuôi cấy virus gây bệnh dại trong phòng thí nghiệm; virus này có hình dạng đặc trưng giống viên đạn.
  • 1955 Việc tiêm vắc-xin phòng bệnh dại cho chó trở thành yêu cầu pháp lý ở hầu hết mọi nơi tại Hoa Kỳ.

  • 1967 Vắc-xin tế bào lưỡng bội của con người có hiệu quả cao trong phòng chống bệnh dại được phát triển.
  • 1976 Vắc-xin HDCV được cấp phép ở Châu Âu; loại vắc-xin này cần thời gian tiêm ngắn hơn so với các loại vắc-xin trước đây.

  • Những năm 1970-1980, chính quyền châu Âu sử dụng vắc-xin uống thông qua thức ăn để lại cho cáo để kiểm soát số lượng lớn động vật mắc bệnh dại.
  • Năm 1979, các nhà khoa học ở Philippines sản xuất ra vắc-xin dành cho chó có tác dụng phòng ngừa bệnh dại ở một số vùng của đất nước.
  • 1984 Vắc-xin VR-G, có thể cho động vật uống, được phát triển tại Viện Wistar ở Hoa Kỳ.
  • Năm 2015, Tổ chức Thú y Thế giới tuyên bố Tây Âu không còn bệnh dại từ động vật không biết bay.
  • Năm 2017, tổng cộng có 106 quốc gia báo cáo không có trường hợp mắc bệnh dại nào trong vòng 12 tháng trước đó.
]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6222/feed 0
Võ thuật cổ truyền: Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam https://thuonghylenien.org/luu-tru/6215 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6215#respond Fri, 07 Aug 2026 21:30:11 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6215 Võ thuật cổ truyền: Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam.

võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.”

Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam

Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.

Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.

Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.

Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.

Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.

Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6215/feed 0
Võ Cổ Truyền – Ý nghĩ biểu của biểu tượng Âm Dương https://thuonghylenien.org/luu-tru/6213 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6213#respond Fri, 07 Aug 2026 21:28:32 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6213 Võ Cổ Truyền – Ý nghĩ biểu của biểu tượng Âm Dương.

Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.

Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.

Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “Đằng sau võ học là triết học”. Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương – Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

NGŨ HÀNH VI BẢN
Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. “Tương sinh” mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. “Tương khắc” là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là “Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa”, kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy “nội, ngoại Ngũ hành”của thân thể con người làm chủ.

Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

BÁT QUÁI VI CĂN
Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly… Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6213/feed 0
Võ cổ truyền – Nhất Nam Võ Phái https://thuonghylenien.org/luu-tru/6211 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6211#respond Fri, 07 Aug 2026 21:27:12 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6211 Võ cổ truyền – Nhất Nam Võ Phái.

Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…

Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

 

Trống đồng giục chí trai anh tuấn
Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

Lịch sử
Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…

Tác giả giới thiệu
Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

Đặc điểm
Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.

 

Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.

Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

Nguyên tắc
Học lấy tinh, không cần nhiều
Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
Giác đầu thành tay, thành chân
Cần chí hơi lý ở đầu
Phương pháp
Dậy chí trước môn công
Dậy ý trước tay chân
Dậy chế công, lấy công làm gốc
Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
Biết chế chống công, biết công được chế
Yếu pháp
Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

Bộ tay
Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

Bộ chân
Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

Quyền
Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6211/feed 0
Lợi ích của nước chanh gừng https://thuonghylenien.org/luu-tru/6207 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6207#respond Fri, 07 Aug 2026 21:15:22 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6207 Lợi ích của nước chanh gừng.
SKĐS – Chanh và gừng là hai nguyên liệu quen thuộc trong ẩm thực. Nước chanh gừng không chỉ có hương vị thơm ngon mà sự kết hợp này còn có những lợi ích tiềm năng đối với sức khỏe.

Trà chanh gừng, nước chanh gừng hay các loại đồ uống từ hai nguyên liệu này thường được sử dụng như một phần của chế độ ăn uống lành mạnh, đặc biệt trong những ngày thời tiết lạnh hoặc sau bữa ăn.

Chanh cung cấp vitamin C và chất chống oxy hóa

Lợi ích của nước chanh gừng - Ảnh 1.

Chanh giàu vitamin C. Ảnh minh họa AI

Chanh là loại quả thuộc họ cam quýt. Thành phần nổi bật của chanh là vitamin C – một chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, góp phần duy trì chức năng miễn dịch bình thường, tham gia vào quá trình hình thành collagen và bảo vệ tế bào khỏi tác động của các gốc tự do. Ngoài ra, chanh còn chứa flavonoid và nhiều hợp chất thực vật có đặc tính chống oxy hóa.

Vị chua đặc trưng của chanh giúp tăng hương vị cho đồ uống và món ăn. Mặc dù nhiều người cho rằng chanh có thể “thải độc” hoặc chữa bệnh nhưng hiện chưa có bằng chứng khoa học đủ mạnh để khẳng định những tác dụng này. Vì vậy, chanh nên được xem là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng thay vì một phương pháp điều trị.

Gừng chứa nhiều hoạt chất sinh học

Hoạt chất chính trong gừng là gingerol, cùng với shogaol và zingerone, góp phần tạo nên hương vị cay nồng và mùi thơm đặc trưng.

Nhiều nghiên cứu cho thấy gừng có thể hỗ trợ giảm buồn nôn, đặc biệt ở phụ nữ mang thai trong giai đoạn đầu, người say tàu xe hoặc sau một số phương pháp điều trị. Ngoài ra, gừng cũng có thể hỗ trợ tiêu hóa, thúc đẩy quá trình làm rỗng dạ dày và giúp giảm cảm giác đầy bụng ở một số người. Một số nghiên cứu còn ghi nhận gừng có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm, tuy nhiên vẫn cần thêm nhiều bằng chứng để xác định hiệu quả trong điều trị hoặc phòng ngừa bệnh.

Lợi ích của nước chanh gừng

Lợi ích của nước chanh gừng - Ảnh 2.

Nước chanh gừng là nước uống có thể hỗ trợ tiêu hóa.

Khi kết hợp, chanh và gừng tạo nên thức uống có hương vị hài hòa giữa vị chua thanh và vị cay ấm. Đây là lựa chọn phổ biến của nhiều người muốn thay thế các loại đồ uống có đường hoặc nước ngọt.

Sau bữa ăn, một cốc nước hoặc trà gừng chanh có thể mang lại cảm giác dễ chịu và hỗ trợ tiêu hóa ở một số người. Chanh giúp tăng hương vị và bổ sung vitamin C, trong khi gừng có thể góp phần giảm cảm giác đầy bụng hoặc khó tiêu. Tuy nhiên, hiệu quả này không giống nhau ở tất cả mọi người và không nên xem là biện pháp điều trị các bệnh lý tiêu hóa.

Vào những ngày thời tiết lạnh, đồ uống gừng chanh nóng còn tạo cảm giác ấm áp và dễ chịu. Nếu được pha từ gừng và chanh nguyên chất, không bổ sung trà xanh hoặc trà đen, thức uống này không chứa caffeine nên phù hợp với những người muốn hạn chế chất kích thích.

Một số lưu ý khi sử dụng

Mặc dù là thức uống từ nguyên liệu tự nhiên, chanh gừng không phù hợp với tất cả mọi người. Người bị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày – thực quản hoặc có dạ dày nhạy cảm có thể cảm thấy khó chịu khi sử dụng quá nhiều do tính acid của chanh và vị cay của gừng.

Ngoài ra, gừng có thể tương tác với một số loại thuốc, đặc biệt là thuốc chống đông máu. Những người đang điều trị bệnh hoặc phụ nữ mang thai nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng gừng với lượng lớn hoặc dùng thường xuyên.

Nhìn chung, chanh và gừng là hai nguyên liệu giàu hương vị, có giá trị dinh dưỡng và một số lợi ích đã được nghiên cứu. Khi được sử dụng hợp lý trong chế độ ăn uống cân bằng, chúng có thể góp phần mang lại trải nghiệm thưởng thức dễ chịu và hỗ trợ sức khỏe tổng thể nhưng không nên được coi là phương pháp thay thế cho thuốc hoặc các biện pháp điều trị y khoa.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6207/feed 0
Những thói quen đơn giản giúp bảo vệ trái tim, phòng bệnh tim mạch https://thuonghylenien.org/luu-tru/6205 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6205#respond Fri, 07 Aug 2026 21:13:30 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6205 Những thói quen đơn giản giúp bảo vệ trái tim, phòng bệnh tim mạch.
SKĐS – Vận động thường xuyên, ăn uống khoa học, ngủ đủ giấc, tránh thuốc lá và kiểm soát căng thẳng là những thói quen đơn giản giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch, giảm nguy cơ tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Những thói quen đơn giản giúp bảo vệ trái tim, phòng bệnh tim mạch- Ảnh 1.9 dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch nhiều người dễ bỏ qua

SKĐS – Không phải lúc nào bệnh tim cũng biểu hiện bằng đau ngực. Khó thở, phù chân, chóng mặt hay mệt mỏi kéo dài có thể là những dấu hiệu sớm cảnh báo các bệnh lý tim mạch nguy hiểm.

Bệnh tim mạch hiện vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đáng chú ý, phần lớn các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch có thể được kiểm soát thông qua việc xây dựng lối sống lành mạnh. Chỉ với những thay đổi nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày, mỗi người đều có thể góp phần bảo vệ trái tim khỏe mạnh, giảm nguy cơ tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Duy trì thói quen vận động mỗi ngày

Hoạt động thể chất được ví như “liều thuốc tự nhiên” giúp tăng cường sức khỏe tim mạch. Tập luyện thường xuyên giúp cải thiện tuần hoàn máu, kiểm soát huyết áp, giảm cholesterol xấu (LDL), tăng cholesterol tốt (HDL), đồng thời duy trì cân nặng hợp lý.

Không nhất thiết phải tập luyện với cường độ cao, mỗi người có thể bắt đầu bằng những hoạt động đơn giản như đi bộ khoảng 30 phút mỗi sáng, đạp xe, tập yoga hoặc bơi lội. Nếu đặc thù công việc phải ngồi nhiều, hãy tạo thói quen đứng dậy đi lại hoặc vận động nhẹ khoảng 2 – 5 phút sau mỗi giờ làm việc để giảm nguy cơ hình thành huyết khối và cải thiện lưu thông máu.

Bên cạnh đó, những hoạt động thường ngày như làm việc nhà, chăm sóc cây cảnh, đi cầu thang bộ thay vì sử dụng thang máy hoặc đi bộ khi có thể cũng góp phần tăng cường vận động cho cơ thể.

Các chuyên gia khuyến cáo, người trưởng thành nên duy trì ít nhất 150 phút hoạt động thể lực ở mức độ vừa phải hoặc 75 phút hoạt động thể lực cường độ mạnh mỗi tuần để bảo vệ sức khỏe tim mạch.

Xây dựng lối sống lành mạnh

Bên cạnh vận động, duy trì lối sống khoa học đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh lý tim mạch.

Căng thẳng kéo dài khiến cơ thể tăng tiết các hormone stress như cortisol và adrenaline, làm huyết áp tăng, tim đập nhanh hơn và gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Vì vậy, mỗi người nên học cách cân bằng giữa công việc và cuộc sống, dành thời gian nghỉ ngơi, thư giãn, ngủ đủ 7 – 8 giờ mỗi đêm và hạn chế thức khuya.

Ngoài ra, cần tránh sử dụng thuốc lá dưới mọi hình thức. Hút thuốc lá chủ động hoặc hít phải khói thuốc thụ động đều có thể làm tổn thương thành mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, từ đó làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Việc hạn chế rượu, bia cũng rất cần thiết. Uống quá nhiều đồ uống có cồn có thể làm tăng huyết áp, gây rối loạn nhịp tim và tổn thương cơ tim theo thời gian.

Những thói quen đơn giản giúp bảo vệ trái tim, phòng bệnh tim mạch- Ảnh 2.

Ăn uống khoa học, vận động thường xuyên, ngủ đủ giấc… là những thói quen đơn giản giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch. Ảnh AI.

Thực hiện chế độ dinh dưỡng tốt cho tim

Dinh dưỡng hợp lý là nền tảng quan trọng giúp phòng ngừa các bệnh lý tim mạch.

Duy trì cân nặng hợp lý

Thừa cân, béo phì làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn mỡ máu – những yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh tim mạch. Vì vậy, mỗi người nên ăn uống vừa đủ theo nhu cầu năng lượng của cơ thể, kết hợp vận động thường xuyên để duy trì cân nặng phù hợp.

Lựa chọn chất béo có lợi

Không phải tất cả chất béo đều có hại cho sức khỏe. Mỗi người nên ưu tiên sử dụng các loại dầu thực vật như dầu ô liu, dầu đậu nành, dầu cải, dầu lạc thay cho mỡ động vật.

Đồng thời, nên hạn chế các món chiên, rán chứa nhiều dầu mỡ. Thay vào đó, ưu tiên chế biến thực phẩm bằng các phương pháp như hấp, luộc, nướng hoặc kho để giảm lượng chất béo bão hòa trong khẩu phần ăn.

Hạn chế chất béo xấu

Người trưởng thành nên lựa chọn thịt nạc, loại bỏ phần mỡ và da gia cầm. Đồng thời, nên tăng cường sử dụng cá, đặc biệt là các loại cá biển giàu omega-3 như cá hồi, cá thu, cá ngừ… Đây là nhóm thực phẩm được đánh giá có lợi cho sức khỏe tim mạch.

Bên cạnh đó, nên sử dụng sữa ít béo hoặc không béo, đồng thời bổ sung các loại đậu và chế phẩm từ đậu nành nhằm thay thế một phần nguồn đạm động vật.

Tăng cường rau xanh và trái cây

Rau củ và trái cây tươi là nguồn cung cấp dồi dào vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa, góp phần bảo vệ hệ tim mạch.

Đặc biệt, chất xơ trong rau quả giúp giảm hấp thu cholesterol từ ruột vào máu, hỗ trợ kiểm soát đường huyết sau ăn và cải thiện chức năng tiêu hóa. Mỗi người nên ăn đa dạng các loại rau xanh và trái cây theo mùa, đồng thời hạn chế sử dụng các loại nước sốt chứa nhiều chất béo khi chế biến salad.

Ưu tiên ngũ cốc nguyên hạt

Các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt, yến mạch, bánh mì nguyên cám hay lúa mạch chứa nhiều chất xơ, vitamin nhóm B và các khoáng chất như magie, kẽm, selen. Những dưỡng chất này góp phần điều hòa huyết áp, hỗ trợ kiểm soát cholesterol và duy trì sức khỏe tim mạch.

Giảm lượng muối trong khẩu phần ăn

Ăn quá mặn là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp và đột quỵ. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lượng muối tiêu thụ mỗi ngày nên dưới 5g.

Để giảm lượng muối trong chế độ ăn, cần:

  • Hạn chế nêm nhiều muối, nước mắm, nước tương, hạt nêm trong quá trình chế biến.
  • Giảm sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đóng hộp, cá khô, dưa muối, mắm hoặc các món ăn chứa nhiều natri.
  • Không chấm muối khi ăn trái cây và tập thói quen thưởng thức vị tự nhiên của thực phẩm.

Chủ động chăm sóc sức khỏe tim mạch

Bên cạnh việc duy trì chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh, mỗi người nên kiểm tra sức khỏe định kỳ, đặc biệt là theo dõi huyết áp, đường huyết và mỡ máu. Việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ sẽ giúp can thiệp và điều trị kịp thời, hạn chế các biến chứng nguy hiểm.

Một trái tim khỏe mạnh không đến từ những thay đổi lớn trong thời gian ngắn mà được xây dựng từ những thói quen tích cực được duy trì mỗi ngày. Vận động thường xuyên, ăn uống khoa học, ngủ đủ giấc, tránh thuốc lá và kiểm soát căng thẳng chính là những “chìa khóa vàng” giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ.

BS Nguyễn Thị Thảo

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6205/feed 0
7 thói quen hàng ngày kéo dài tuổi thọ https://thuonghylenien.org/luu-tru/6203 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6203#respond Fri, 07 Aug 2026 21:10:59 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6203 7 thói quen hàng ngày kéo dài tuổi thọ
SKĐS – Tuổi thọ không chỉ phụ thuộc vào di truyền mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ lối sống. Duy trì những thói quen lành mạnh mỗi ngày như ăn uống hợp lý, vận động và ngủ đủ giấc có thể giúp sống khỏe mạnh và lâu hơn.

1. Thói quen hoạt động thể chất thường xuyên

Hoạt động thể chất thường xuyên là thói quen quan trọng làm giảm các dấu hiệu sinh học của lão hóa bao gồm tổn thương DNA, viêm nhiễm, rối loạn hệ vi sinh đường ruột và sự suy giảm sản xuất năng lượng trong tế bào. Tập thể dục cũng mang lại lợi ích bảo vệ chống lại các bệnh mạn tính, bao gồm bệnh tim, đái tháo đường và ung thư.

Để nhận được nhiều lợi ích sức khỏe nhất từ hoạt động thể chất, người lớn cần ít nhất 150 đến 300 phút hoạt động aerobic cường độ vừa phải (chẳng hạn như đi bộ nhanh hoặc nhảy nhanh) mỗi tuần, cũng như các hoạt động tăng cường cơ bắp, như nâng tạ hoặc chống đẩy, ít nhất hai ngày mỗi tuần.

2. Luôn cập nhật các xét nghiệm sức khỏe

Khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc ung thư theo khuyến cáo, kiểm tra huyết áp và tiêm chủng đầy đủ giúp phát hiện sớm bệnh lý, tăng cơ hội điều trị hiệu quả, đồng thời góp phần giảm nguy cơ tử vong sớm.

Tùy thuộc vào tuổi tác, giới tính và các yếu tố nguy cơ, mỗi người có thể cần được sàng lọc ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư cổ tử cung, huyết áp cao, mức cholesterol bất thường, mức đường huyết cao, loãng xương hoặc các vấn đề sức khỏe tâm thần. Điều quan trọng là không chủ quan với sức khỏe mà nên thực hiện khám định kỳ để phát hiện và xử lý sớm các bất thường.

7 thói quen hàng ngày kéo dài tuổi thọ - Ảnh 1.

Thói quen vận động thường xuyên giúp nâng cao tuổi thọ. Ảnh AI.

3. Giảm lượng thịt đỏ và thịt chế biến sẵn

Chế độ ăn nhiều thịt đỏ và đặc biệt là thịt chế biến sẵn như xúc xích, thịt xông khói, thịt nguội… không được khuyến khích nếu mục tiêu là duy trì sức khỏe lâu dài. Trong khi đó, các mô hình ăn uống lành mạnh như chế độ ăn Địa Trung Hải hay chế độ ăn của các “Vùng Xanh” – nơi có nhiều người sống thọ – đều ưu tiên cá, gia cầm, các loại đậu và ngũ cốc nguyên hạt, đồng thời hạn chế thịt đỏ và thực phẩm chế biến. Cách ăn này đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, rối loạn chuyển hóa và một số loại ung thư – những nguyên nhân có thể làm giảm tuổi thọ.

Để áp dụng vào thực tế, không nhất thiết phải chuyển ngay sang chế độ ăn chay. Bạn có thể bắt đầu bằng những thay đổi nhỏ như giảm số bữa ăn có thịt bò, thịt lợn hoặc các loại thịt chế biến sẵn trong tuần, thay vào đó lựa chọn cá, thịt gà, thịt gà tây hoặc các nguồn protein từ thực vật như đậu, đỗ và hạt diêm mạch (quinoa).

Việc thử nhiều loại thực phẩm lành mạnh khác nhau cũng giúp bạn dễ dàng tìm được những món ăn phù hợp với khẩu vị và duy trì chế độ ăn lâu dài. Nếu gặp khó khăn trong việc thay đổi thói quen ăn uống hoặc thường xuyên ăn theo cảm xúc, bạn nên tìm đến chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn và xây dựng chế độ ăn phù hợp.

4. Xây dựng và duy trì sự cân bằng và sức mạnh cốt lõi

Theo CDC Hoa Kỳ, té ngã là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do chấn thương ở người từ 65 tuổi trở lên. Tỷ lệ tử vong do té ngã đang ngày càng tăng, đặc biệt là ở người từ 85 tuổi trở lên. Biện pháp quan trọng để hạn chế tình trạng này là tăng cường sức mạnh cơ lõi và khả năng giữ thăng bằng.

Cách thực hiện: Tập thể dục để tăng cường cơ lõi. Một thói quen dễ thực hiện là khi đứng dậy khỏi ghế, chỉ sử dụng sức mạnh ở cơ lõi và chân, không sử dụng tay. Để tăng cường khả năng giữ thăng bằng, hãy thử đứng trên một chân mỗi khi đánh răng.

5. Hạn chế thời gian ngồi trong ngày

Lối sống ít vận động, ngồi nhiều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và tử vong sớm, ngay cả khi có tập thể dục.

Cách giảm thời gian ngồi: Nếu làm việc tại văn phòng, hãy tận dụng mọi lúc để đứng lên và đi bộ như đi uống nước, đứng khi nghe điện thoại, đỗ xe xa hơn, đi cầu thang bộ thay vì thang máy… Nếu làm việc tại nhà, có thể muốn đi bộ quanh khu phố, nghỉ giải lao để làm việc nhà như dọn giường hoặc dành vài phút để thực hiện một số tư thế yoga…

6. Thực hành thói quen ngủ tốt

Chất lượng và thời lượng giấc ngủ có mối liên quan chặt chẽ với sức khỏe và tuổi thọ. Không chỉ ngủ đủ thời gian, giấc ngủ cần đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của cơ thể và có chất lượng tốt. Một số nghiên cứu cho thấy ngủ dưới 7 giờ hoặc trên 9 giờ mỗi đêm đều liên quan đến nguy cơ tử vong sớm cao hơn. Vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị người trưởng thành nên duy trì khoảng 7–9 giờ ngủ mỗi đêm, đồng thời xây dựng thói quen ngủ đều đặn để bảo vệ sức khỏe lâu dài.

Cách tạo thói quen ngủ tốt: Duy trì lịch ngủ đều đặn, hạn chế caffeine, rượu và tránh sử dụng các thiết bị điện tử trước khi đi ngủ.

7. Dành thời gian cho bạn bè

Sự cô đơn có liên quan đến các kết quả sức khỏe tiêu cực, bao gồm tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu, bệnh tim, chứng mất trí nhớ và tử vong sớm. Nghiên cứu cho thấy rằng kết nối xã hội có lợi ích bảo vệ sức khỏe và có thể giảm nguy cơ tử vong sớm.

Cách thực hiện: Liên lạc với bạn bè bằng tin nhắn hoặc gọi điện thoại, và lên kế hoạch dành thời gian gặp gỡ, trò chuyện cùng nhau.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6203/feed 0
Ebook Chương trình huấn luyện võ thuật cổ truyền Việt Nam Phần 2 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6200 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6200#respond Fri, 07 Aug 2026 21:07:08 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6200 28. Ebook Chương trình huấn luyện võ thuật cổ truyền Việt Nam Phần 2

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6200/feed 0