
Việt Nam luôn tự hào là mảnh đất của những người con thượng võ với nền võ thuật được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm cùng lịch sử dựng nước và giữ nước. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu và có cái nhìn tổng quan hơn về 5 môn phái có sức ảnh hưởng lớn trong làng võ thuật Việt.

Việt Võ Đạo, hay còn được biết đến với cái tên Vovinam, là con đẻ của võ sư Nguyễn Lộc vào năm 1936. Sau một thời gian dài hoạt động lặng lẽ, đến năm 1938 ông mới quyết địng công khai môn võ này. Đồng thời ông đề ra chủ thuyết “Cách mạng tâm thân” để thúc đẩy môn sinh luôn luôn canh tân bản thân, và hướng thiện về thể chất lẫn tinh thần.Vào khoảng năm 1970, Vovinam được giáo sư Phan Hoàng gầy dựng nền móng phát triển ở châu Âu và bắt đầu được giảng dạy rộng rãi khắp Việt Nam.
Đến nay, môn võ này được phát triển rất nhiều nơi trên toàn thế giới. Năm 2007 Liên đoàn Vovinam bắt đầu ra đời. Trong thời gian 5 năm tiếp theo, Liên đoàn Vovinam Quốc Tế, Liên đoàn Vovinam Châu Á và Liên đoàn Vovinam Đông Nam Á lần lượt ra đời, đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của Vovinam. Năm 2011, Vovinam vinh dự lần được đưa vào chương trình thi đấu chính thức tại SEA Games 26 lần đầu tiên. Trong các môn võ của Việt Nam, Vovinam được phát triển qui mô và rộng lớn nhất với nhiều môn sinh có mặt ở hơn 40 nước trên thế giới.
Vovinam được sáng tạo dựa trên nền tảng võ và vật dân tộc, đồng thời nghiên cứu tinh hoa của các môn võ khác trên thế giới như Kungfu Trung Quốc, võ thuật Nhật Bản và Hàn Quốc. Hệ thống kỹ thuật của môn phái Vovinam khá phong phú, đa dạng và mang rất nhiều nét đặc trưng riêng .
Một trong những là đặc trưng nổi bật nhất của Vovinam tính thực dụng. Thay vì phải mất một thời gian luyện tấn, đi quyền rồi mới đi vào học các chiêu thức cơ bản, võ sinh Vovinam được huấn luyện viên hướng dẫn ngay các thế khóa gỡ (khi bị tấn công…), phản đòn căn bản và những kỹ thuật gạt, đấm, đá, chém, té ngã… ngay từ các buổi tập đầu tiên.
Đây là tư duy khá mới mẽ của cố võ sư Nguyễn Lộc vào những năm cuối thập kỷ 30, nhằm giúp võ sinh có thể tự vệ hữu hiệu được ngay. Tính thực dụng đó không những phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ mà càng hợp lý và có giá trị đối với thời đại ngày nay, vì võ sinh không chỉ luyện võ để tăng cường sức khoẻ mà còn là để bảo vệ bản thân khỏi những mối nguy hiểm tiềm tàng trong cuộc sống hiện đại.
Năm 1920, môn phái Nam Hồng Sơn được võ sư Nguyễn Nguyên Tộ sáng lập, với ý nghĩa: Nam là võ Việt Nam, Hồng là thiếu lâm Hồng Gia, một môn phái võ Trung Hoa, và Sơn là sự vững chãi và hùng vĩ như núi, nhằm phục hồi và lan truyền tinh thần trượng võ của người Việt.
Cố võ sư Nguyễn Nguyên Tộ đã được các võ sư Hàn Bái, Cử Tốn, Ba Cát nhận làm anh em kết nghĩa, nhờ đó được truyền thụ sở học Võ Việt, để rồi, thầy đã khéo léo kết hợp giữa võ học Thiếu Lâm với Tinh Hoa võ Việt, tạo lên bộ môn võ thuật Nam Hồng Sơn ngày nay.

Bên cạnh đặc tính kết hợp võ thuật của hai dân tộc, Nam Hồng Sơn hiện nay còn gìn giữ được một số bài võ cổ thuộc chương trình thi võ của triều Nguyễn.
Về mặt kĩ thuật, các võ sư Nam Hồng Sơn vẫn trung thành với chương trình giảng dạy của cha ông sử dụng lúc sinh thời. Ba năm đầu, môn sinh luyện tập võ thuật Trung Hoa, bao gồm tấn pháp, đòn thế và các bài quyền như: Long hổ quyền, Tứ lộ đoản quyền, Thảo mã quyền, Phượng vũ quyền,… Những năm tiếp theo, các võ sinh học võ thuật cổ truyền Việt Nam bao gồm các bài như Lão mai quyền, Ngọc trản ngân đài,… kết hợp với tập khí công và nội công.
Hiện nay với hệ thống tổ chức, quy mô phát triển, môn phái đã có hàng ngàn võ sinh thường xuyên luyện tập ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước, thậm chí có những võ đường đã vươn ra hoạt động ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, khẳng định rõ hơn vai trò quan trọng của môn phái trong làng Võ cổ truyền Việt Nam.
Nhất Nam là một trong những môn phái võ thuật có lịch sử phát triển lâu đời nhất của dân tộc ta. Đất tổ của môn phái nằm trên vùng đất tối cổ châu Hoan, châu Ái (tức vùng Thanh Hoá , Nghệ An hiện nay ) địa thế như gốc một chiếc quạt xoè ra.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các kỹ thuật của võ Nhất Nam được lưu truyền và liên tục trau dồi trong các dòng họ. Ngoài ra, môn phái này còn giao lưu, tiếp thu những tinh hoa của các môn võ cổ truyền khác của Việt Nam, tạo nên những đặc điểm riêng biệt phù hợp với thể tạng và tầm vóc của người Việt Nam.

Phái võ Nhất Nam là một môn phái võ có tính qui mô và tính tổ chức cao. Với hệ thống kỹ thuật đồ sộ cùng với hệ thống tâm pháp chuyên sâu, võ Nhất Nam tạo nên nền tảng vững chắc cho người học giao đấu và đối nhân xử thế.
Hệ thống môn công của phái Nhất Nam được đúc kết dựa trên sự vận hành của khí huyết, đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động cơ bắp của con người. Huy động tối đa sức mạnh của bản thân và lợi dụng sức mạnh của đối phương để đánh đối phương là nguyên lý cơ bản của võ Nhất Nam. Các bài tập đặc thù để luyện công bao gồm: tay xà, tay trảo, tay quyền. Cao hơn là các bài “ Ma quyền “ , “ Ảo quyền “ , “ Hoa quyền “. Một binh khí độc đáo của võ thuật Nhất Nam là “ nhung thuật”, sử dụng giải lụa 2 đầu có vật nặng để chiến đấu ; vừa có sự mềm mại uyển chuyển trói bắt binh khí dối phương, vừa có thể công phá mục tiêu với sức khó có binh khí nào đạt tới được.
Đồng thời với việc học tập và rèn môn công, người học võ Nhất Nam cũng được học tập cả Tâm pháp . Đây những đúc kết kinh nghiệm xương máu trong chiến đấu , tập luyện và đối nhân xử thế, với nhiều nguyên tắc khác nhau.

Vật là một bộ môn thể thao rất được ưa chuộng ở nông dân Việt Nam thời xưa. Vào những ngày đầu Xuân hay những buổi hội hè đình đám nơi thôn dã, đấu vật là một thú vui không thể thiếu của người dân. Đặc biệt là ngày Tết mà thiếu đấu vật thì chẳng còn gì là không khí nữa.
Trống vật nổi lên là có sức thu hút mọi người, già, trẻ, gái, trai, đủ mọi tầng lớp nô nức đến bao quanh đấu trường. Người ta bình luận say sưa, chê khen rành rọt từng thế, từng miếng vật, từng keo vật từng tác phong của mỗi đô. Bộ môn vật, ngoài tính cách giải trí vui chơi, còn là một môn thể thao hữu ích, giúp thanh niên trong làng thêm cường tráng, thêm nghị lực, lòng dũng cảm, để giữ làng, giữ lúa và giữ nước. Từ xa xưa, đấu vật đã trở thành một tục lệ, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Đấu vật là môn võ dân gian, không cầu kỳ trong nghi lễ, nhưng chiến thuật và kỹ thuật chơi thì được đúc rút qua nhiều đời. Đến ngày nay, không phải ai cũng được học hết những chiến thuật trong đấu vật để có một trận đấu toàn thắng.
Trước hết, các đô vật được tập cách luyện thể lực cho dai sức, mạnh tay mạnh chân, cách đứng thủ thế nào cho vững chắc. Ngoài ra, họ còn phải tập luyện cách té ngã thế nào cho khỏi chấn thương, tập cách né tránh, thoát hiểm. Mỗi lò vật đều mang một nghi thức và tính cách tôn giáo dành riêng thể hiện qua điệu nhảy đặc trưng như Múa Hoa, Xe Đài hay còn gọi là Ra Giàng, hoặc Múa Hạc,…Đây là lễ nghi thành kính của các đô vật, và còn là một hình thức khởi động của đô vật có mang tính dân tộc, vừa là cách trình diễn của đô vật với khán giả, tạo một không khí hào hứng lành mạnh trước khi vào cuộc đấu thực sự.

Tân Khánh Bà Trà là một trong những hệ phái võ thuật thuộc võ cổ truyền Việt Nam. Hệ phái có xuất xứ từ Bình Định và được các võ sư trau chuốt qua nhiều thế hệ tại vùng đất mới ở miền Nam Việt Nam là làng Tân Khánh (nay là thị trấn Tân Phước Khánh, tỉnh Bình Dương), và làng Bình Chuẩn (nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).
Giữa thế kỷ 19, dưới triều vua Tự Đức nổ ra một sự kiện phản ánh rõ rệt tinh thần bất khuất của dân làng Tân Khánh: cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại bè lũ quan lại thối nát tay sai của ngoại bang ở địa phương. Ngày nay nhiều người dân bản địa vẫn còn rất tự hào về sự kiện này và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà. Bà vốn rất giỏi võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa trong 10 năm trời ròng rã từ năm 1850 và chấm dứt khi khi người Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng đất này, bao gồm cả làng Tân Khánh và làng Bình Chuẩn còn được gọi là “đất Bà Trà”. Và cũng từ đây, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “Tân Khánh Bà Trà”. Thời đó, phái võ này được coi là một trong số rất ít phái võ cổ truyền có tiếng ở miền Nam Việt Nam. Võ Bình Định, võ Tân Khánh Bà Trà cũng đã nổi tiếng trong giới võ lâm Việt Nam
Phái võ Tân Khánh Bà Trà vẫn duy trì gần như tất cả những miếng võ cơ bản của phái Tây Sơn trong đó có những bài danh quyền như Ngọc trản, Lão mai quyền, Thần đồng quyền,…, các bài côn như Tấn nhất, Tứ môn, Thần Đồng, Giáng Hỏa,… và nhiều bài binh khí như: Siêu Thái Dương, Siêu Thái Âm, Song Kiếm, Trường Thương…
Tuy nhiên các võ sư đã điều chỉnh và cải tiến các kỹ thuật đòn thế để phù hợp với vùng đất mới đồng thời gia tăng hiệu quả tính, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Những bài thiệu dùng để dạy các võ sinh trong võ Tây Sơn cũng được trau truốt, một số bài có cả những câu mới được bổ sung.
Đặc trưng kỹ thuật của võ phái Tân Khánh Bà Trà là lối tấn công phối hợp, liên hoàn những kỹ thuật đòn chân và đòn tay nhằm làm rối loạn sự phòng thủ của đối phương cũng như giúp cho sự tấn công đạt hiệu quả cao. Những đòn tay và đòn chân tung ra theo đường thẳng, có sức án ngự mọi sự tấn công đối phương. Chính đặc điểm này đã giúp cho môn sinh của võ phái Tân Khánh Bà Trà có khả năng chiến đấu trong mọi tình huống.
Với lịch sử phát triển lâu đời và hệ thống kỹ thuật đa dạng, võ thuật luôn là niềm tự hào sâu sắc của con người Việt. Ngoài những cái tên kể trên, võ thuật Việt Nam còn bao gồm rất nhiều các môn phái khác với những nét đẹp truyền thống riêng biệt.

st

Không chỉ là những vị võ sư tài năng, họ còn cống hiến cả đời của mình để nghiên cứu và đặt nền móng cho nền võ thuật hôm nay với những công trình đồ sộ. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay 5 vị cha đẻ của các hệ phái võ thuật nổi tiếng khắp thế giới này nhé.

Chắc hẳn không ai trong chúng ta không biết đến huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long, người mang tình yêu và đam mê võ thuật của mình truyền cảm hứng khắp thế giới. Dù đã rất nhiều năm trôi qua, ông vẫn được đánh giá là một nhân vật có ảnh hưởng vĩ đại đến sự hình thành và phát triển của võ thuật ngày hôm nay. Một trong những di sản lớn nhất mà Lý Tiểu Long để lại cho nhân loại chính là công trình nghiên cứu của ông về Triệt Quyền Đạo.
Triệt Quyền Đạo chính thức được sáng lập vào năm 1969, là sự kết hợp giữa nhiều môn phái võ thuật khác nhau như Vịnh Xuân Quyền, đấu kiếm, boxing, kick boxing. Lý Tiểu Long cho ra đời Triệt Quyền Đạo với mong muốn tạo ra một môn võ với tính thực chiến cao. Bằng việc kết hợp võ thuật Trung Hoa sắc bén, nhưng lại mang nhiều yếu tố biểu diễn, với các kỹ thuật đối kháng mạnh mẽ của võ phương tây, như boxing và kickboxing, ông đã thành công trong việc hình thành một Triệt Quyền Đạo với khả năng đấu đối kháng và tự vệ vượt trội cũng như tính thời đại, tính thực dụng rất cao. Hơn cả thế, dưới sự nghiên cứu nhiều năm của Lý Tiêu Long, môn phái này đã trở thành là một giao điểm văn hoá và võ thuật tuyệt vời giữa phương Đông và phương Tây.

Judo là một môn phái đến từ xứ sở Cờ Hoa, được sáng lập vào năm 1882 bởi võ sư Kanō Jigorō. Ông là một võ sư, đồng thời cũng là một giáo sư thể chất. Với kinh nghiệm và kiến thức của mình, ông tạo ra Judo trên phương diện hình thành một môn võ với tính kỷ cương, nhất quán về thể chất, tinh thần và đạo đức. Judo là sự kết hợp của môn võ Nhật Bản lâu đời là Jujitsu (Nhu Thuật) và các kỹ thuật võ cổ truyền như Randori, Kata.
Judo khi phiên dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “phong thái khéo léo, uyển chuyển”, và đây cũng chính là bản chất căn bản nhất của môn phái này. Các kỹ thuật chính của Judo bao gồm quật ngã, đè, siết cổ, khoá tay, khoá chân. Đây đều là những kỹ thuật đòi hỏi một sự khéo léo nhất định của người dùng để tối ưu hoá tác dụng với ít sức lực nhất và hạn chế thương tổn hết sức có thể cho đối phương.
Võ sư Jigorō tin rằng để hạ gục đối thủ một cách hiệu quả nhất trong Judo, người học phải biết cách thích nghi với đòn tấn công của đối thủ (thay vì ra đòn phản lại), và sử dụng chính sức của đối phương để đánh bại hắn. Tư tưởng này khá giống với phương châm tả lực đả lực (mượn sức đánh sức) trong Thái Cực Quyền, cùng dựa trên nền tảng rằng võ thuật chính thống chỉ là một phương thức tự vệ khi ta bị đối thủ tấn công chứ không phải thứ dùng để tấn công người khác.

Vịnh Xuân Quyền, cái nôi của Triệt Quyền Đạo, là một môn phái võ thuật cổ truyền của Trung Hoa sử dụng nhiều trong đối kháng cự ly gần. Cho đến tận bây giờ, vẫn còn nhiều tranh cãi về việc Vịnh Xuân Quyền được sáng lập như thế nào và do ai. Hầu hết thông tin lịch sử môn phái đều được truyền miệng nên có nhiều khác biệt giữa thực tế và giai thoại mang tính truyền thuyết. Một trong những giả thuyết được đưa ra là môn phái này được tạo ra bởi Ngũ Mai Lão Ni (Mg Mui), một trong 5 bậc cao tăng dạy võ ở chùa Thiếu Lâm còn sống sót khi quân đội Mãn Thanh cho đốt cháy rụi ngôi chùa này vào thời Càn Long. Trong quá trình lẩn trốn khỏi quân thù, ông đã nghiên cứu và phát triển một phương pháp chiến đấu mới được đồn đại là hiệu quả hơn cả Thiếu Lâm truyền thống, chính là Vịnh Xuân Quyền.
Tuy không chắc thực hư lịch sử thế nào, Vịnh Xuân Quyền vẫn được cho là một trong những môn phái võ thuật lâu đời và hiệu quả nhất trong lịch sử võ thuật dày dặn của Trung Quốc. Môn phái này được phát triển dựa trên việc rút tỉa các kỹ thuật chiến đấu hiệu quả nhất của Nam Thiếu Lâm, kết hợp với tinh hoa chiến đấu của giới tướng lĩnh quân sự nhà Minh, để vượt lên khỏi giới hạn là một môn võ thuật, trở thành một môn Khoa học Chiến đấu. Một triết lý đặc trưng của Vịnh Xuân Quyền khi đối kháng gần đó là tấn công đối thủ từ bên ngoài vào, thay vì tấn công trực diện. Ngoài ra, người học môn phái này phải luôn giữ một cơ thể mềm dẻo, thư giãn khi chiến đấu thì mới tận dụng hết được sức mạnh.

Aikido được sáng lập vào khoảng năm 1920 đến 1930 bởi võ sư Morihei Ueshiba. Ông được sinh ra trong một gia đình có truyền thống thượng võ với ông nội là một samurai học tộc Kii và bố là một đại lực sĩ thừa hưởng môn phái Aioi-ryu. Thuở nhỏ, Ueshiba lại là một đứa trẻ có thân hình thấp bé mảnh khảnh, thích được ở trong nhà đọc sách hơn là võ thuật. Tuy nhiên dưới sự kèm cặp và chuyên tâm dạy dỗ của bố, dòng máu võ thuật mau chóng được bộc phát trong Ueshiba khi chỉ sau vài năm, ông đã trở thành một thiên tài võ thuật khó ai bì kịp.
Sau một thời gian dài chu du và thỉnh giáo võ thuật từ khắp mọi ngóc ngách của đất nước, Morihei Ueshiba đã tạo ra Aikido dựa trên triết lý sống, tín ngưỡng và kinh nghiệm của chính mình. Nó là sự trung hoà giữa hệ phái Daitō-ryū aiki-jūjutsu, Tenjin Shin’yō-ryū, Gotōha Yagyū Shingan-ryū và niềm tin tôn giáo Shinto của ông. Chính sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo này đã hình thành nên mục tiêu và đặc điểm lớn nhất của Aikido: một nghệ thuật phòng thủ mà người học có thể tự bảo vệ mình khỏi nguy hiểm nhưng đồng thời cũng không gây ra chấn thương cho đối thủ.

Krav Maga là một hệ thống võ tự vệ sáng tạo được bởi chuyên gia võ thuật Imi Lichtenfeld vào khoảng những năm 1930 cho các binh sĩ trong quân đội quốc phòng Israel. Ông là một người Hungary gốc Do Thái và là một cựu võ sĩ quyền anh, kiêm một tay đô vật nổi tiếng.
Điểm đặc biệt của môn phái này là sự kết hợp đa dạng phương pháp chiến đấu đến từ võ thuật đường phố, Judo, Karate, Aikido, boxing và vật. Trọng tâm lớn nhất của Krav Maga là tính hiệu quả trong thực chiến và tính linh hoạt, dễ sử dụng trong mọi tình huống. Hiện nay, Krav Maga được xem là một môn võ bắt buộc phải tập luyện trong lực lượng vũ trang phòng vệ quốc gia Israel. Ngoài ra, Krav Maga cũng được chỉ định tập luyện trong quân đội Bỉ hay SWAT của Ba Lan. Nhiều nguồn tin còn khẳng định đặc nhiệm SEAL của Mỹ, SAS của Anh và ALPHA của Nga cũng được học môn võ có xuất xứ từ Israel.
Chúng tôi hy vọng bài viết trên đac giúp bạn có cái nhìn rõ nét hơn về nguồn gốc và lịch sử hình thành của Triệt Quyền Đạo, Judo, Vịnh Xuân Quyền, Aikido hay Krav Maga, để rồi từ đó trân trọng hơn những cống hiến của các vị sư tổ quá cố cho nền võ thuật ngày nay.
st
]]>
Không ai có thể chối cãi được những lợi ích tuyệt vời võ thuật có thể tạo ra cho sức khoẻ và thể lực của người học, thế còn não bộ thì sao? Liệu võ thuật có tác dụng không trong việc thúc đẩy sự phát triển não bộ? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây.
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng khả tập trung của con người có thể được cải thiện bằng 2 phương pháp chính là: Attention Training (AT) và Attention State Training (AST). Các kỹ thuật Attention Training (AT) tăng cường sự tập trung của người sử dụng bằng cách khiến họ lặp đi lặp lại một công việc nhất định đồng thời huấn luyện họ đổ dồn sự tập trung vào việc mình đang làm. Mặt khác, Attention State Training (AST) là những hoạt động giúp con người đạt được trạng thái ổn định, thanh tịnh trong tâm trí, gạt bỏ những suy nghĩ vướng bận, và từ đó có thể dễ dàng tập trung hơn khi làm bất kì việc gì. Các hoạt động này có thể kể đến là thiền, yoga, tập thể dục,.v.v..
Có rất nhiều các dẫn chứng khoa học cho thấy rằng võ thuật thực chất là một trong những bài tập AST có hiệu quả tốt trong việc giúp người học đạt được một trạng thái tập trung nhất định. Một nghiên cứu đến từ đại học Bangor ở Anh đã chỉ ra sự liên quan mật thiết của việc luyện tập võ thuật với sự tăng cường chú ý ở cả người lớn và trẻ em của. Ngoài ra, một nghiên cứu nổi tiếng khác cũng cho thấy rằng những người học võ thể hiện tốt hơn hẳn trong những bài kiểm tra hay công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ.

Thật ngạc nhiên phải không nào khi những bộ môn dạy chúng ta đánh đấm lại thực chất giúp ta giảm kiềm chế xu hướng bạo lực từ bên trong mình. Tại sao lại sư vậy?
Trong một thí nghiệm thực hiện ở Mỹ, các em bé từ 8-11 tuổi được tham gia vào những buổi học võ thuật để học cách bảo vệ bản thân khi bị bắt nạt ở trường học. Ngoài ra chúng còn được được dạy cách kiềm chế bản thân khi xung đột xảy ra cũng như luôn dành sự tôn trọng nhất địng cho mọi người xung quanh.
Kết quả của thí nghiệm này cho thấy rằng xu hướng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, hay tính kích động ở các bé trai, có sự giảm thiểu rõ rệt sau khi học võ. Ngoài ra, chúng còn biết cách giúp đỡ kẻ yếu hơn khi chứng kiến bạo lực học đường. Kết quả này hoàn toàn trùng khớp với một nghiên cứu tương tự trước đó nhưng với người lớn. Các nhà khoa học nhận ra rằng cho các hành vi hay lời nói bạo lực cùng với tính cách kích động sẽ có khả năng giảm thiểu rất lớn sau khi một người bắt đầu rèn luyện võ thuật.
Ở nhiều bộ môn võ thuật, việc kiểm soát hơi thở và thiền định là một trong những kỹ năng hết sức cần thiết và được các huấn luyện viên chú trọng. Khoa học đã chỉ ra rằng các bài tập với hơi thở và suy nghĩ như trên trong võ thuật có tác động rất tốt đối với việc giảm thiểu căng thẳng và kiểm soát các cảm xúc hay suy nghĩ tiêu cực ở người trẻ.

Mối tương quan giữa tinh thần và sức khỏe của con người luôn là một trong những chủ đề được các nhà khoa học hết sức quan tâm. Một trong những dẫn chứng thể hiện rõ mối liên hệ này chính là ở võ thuật, khi người học nhận thấy những thay đổi tích cực không chỉ ở cơ thể mà còn ở tinh thần của họ.
Trong một nghiên cứu ở Mỹ, 45 người tham gia có độ tuổi từ 67-93 được mời tham gia 3 lớp huấn luyện khác nhau: Một lớp học Karate, một lớp rèn luyện khả năng nhận thức và một lớp luyện tập thể thao (các bộ môn không liên quan đến võ thuật). Kết quả cuối cùng được đưa ra khá bất ngờ và thú vị: Những người lớn tuổi học Karate cho thấy mức độ trầm cảm thấp nhất cùng với sự tự tin vào bản thân cao nhất sau khóa huấn luyện. Điều này cho thấy rằng, các bài tập Karate đã giúp họ nâng cao tinh thần và học cách vui vẻ, hài lòng hơn với bản thân mình.
Các nhà khoa học ở Ý đã chỉ ra rằng những người học võ thuật sở hữu trí nhớ tốt hơn rất nhiều so với người bình thường. Họ mời một nhóm người học Karate và một nhóm người bình thường tham gia một số bài kiểm tra về trí nhớ. Những bài kiểm tra này bao gồm học thuộc và gọi tên những dãy số nhất định theo trình tự bình thường và trình tự ngược lại. Độ khó của các bài kiểm tra ngày tăng dần lên cho đến khi vượt quá giới hạn trí nhớ của người tham gia. Kết quả của thí nghiệm này đã cho thấy rằng những người học Karate có khả năng ghi nhớ các dãy số này cao hơn nhiều lần so với người bình thường, chứng tỏ sự cải thiện tích cực trong bộ nhớ của những người này sau khi rèn luyện võ thuật.
Ngoài ra, một nghiên cứu khác cũng cho ra kết quả tương tự khi so sánh trí nhớ của những người tập Thái Cực Quyền và những người tập các bộ môn khác (không phải võ thuật). Các môn sinh Thái Cực Quyền thể hiện khả năng ghi nhớ vượt trội hơn rất nhiều so với nhóm người còn lại.
Với những lợi ích tích cực nêu trên, chúng tôi hy vọng rằng bạn đã và đang chọn cho mình một môn võ thích hợp để theo học.
st
]]>
Mọi người thường lầm tưởng rằng khái niệm võ thuật sẽ gắn liền với sự mạnh mẽ, nam tính. Điều này là hoàn toàn sai lầm. Bất cứ ai cũng có thể học võ, và so với nam giới thì võ thuật còn mang lại nhiều lợi ích đến các chị em phụ nữ hơn đó. Hãy cùng tìm hiểu lý do vì sao qua bài viết này nhé.
Trong thời đại hiện nay, khả năng tự vệ là điều mà cô gái nào cũng nên trang bị cho mình. Từ những đô thị lớn đến những thị trấn nhỏ, từ cơ quan, trường học đến chốn công cộng, nơi đâu cũng ẩn chứa những nguy hiểm bất ngờ. Tuy là một thực trạng đáng buồn nhưng đổi một cô gái trong thời kỳ thiện đại, kỹ năng cần thiết và căn bản nhất bạn cần có chính là khả năng tự bảo vệ bản thân mình trong tình huống cấp bách. Chính vì thế, không bộ môn nào có thể giúp bạn phát triển những kỹ năng này tốt hơn võ thuật.
Nếu bạn đang băn khoăn không biết nên bắt đầu từ đâu, chúng tôi khuyên rằng bạn nên tìm hiểu những bộ môn võ thuật mang thế mạnh về thực chiến như Boxing, Muay Thái, MMA,.. Những bộ môn này sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc học hỏi và rèn luyện nhiều kỹ thuật tự vệ cơ bản, thực tế và dễ sử dụng.
Hơn thế nữa, Khi học võ thuật, bạn luôn cần rèn luyện khả năng phản xạ của mình để chặn hay né những thế võ của đối thủ. Lâu dần, tốc độ phản xạ của bạn trong các tình huống thực tế sẽ nhanh hơn đáng kể. Ví dụ như bạn sẽ xử lý nhanh hơn khi gặp các tình huống nguy hiểm lúc lái xe hay thao tác nhanh hơn khi nấu nướng.
Ngoài ra, không phải ai cũng có đủ bản lĩnh để đứng dậy đương đầu với kẻ xấu trong những tình huống không mong muốn. Nhiều bạn nữ có thể vì quá hoảng sợ mà sẽ lựa chọn đầu hàng ngày tập tức. Chính vì lẽ này, với việc luyện tập võ thuật, bạn không chỉ được học những kỹ năng tự vệ mà bạn còn được tiếp thêm cho sức mạnh về tinh thần để tiếp tục chiến đấu, không chùn bước trước nỗi sợ của bản thân.
Ngoài khả năng tự vệ, sự tự tin cũng là yếu tố giúp các bạn nữ luôn luôn toả sáng trong mắt người khác. Thế nhưng tại sao võ thuật lại giúp làm tăng sự tự tin của phái đẹp?
Nếu bạn chưa biết, môi trường học võ thường sẽ rất nghiêm khắc, kỷ luật. Không hề có sự phân biệt, ưu tiên dành cho nam nữ hay già trẻ ở đây. Các động tác, kỹ thuật mà bạn sẽ luyện tập là dành cho tất cả mọi người và đều đòi hỏi sự mạnh mẽ, cứng rắn và một thái độ hết sức nghiêm túc.

Chính vì vậy, trong thời gian đầu học võ thuật, nhiều bạn nữ sẽ cảm thấy không quen hoặc quá sức với môi trường lạ lẫm này. Tuy nhiên, nếu bạn đủ bản lĩnh và kiên trì để thay đổi từ một cô gái chân yếu tay mềm trở thành một cô gái có thể thực hiện những cú đấm, đá làm người khác bất tỉnh, thì xin chúc mừng bạn, chẳng có điều gì có thể làm khó bạn trong tương lai nữa đâu!
Môi trường học võ thuật, tuy kỷ cương và khó khăn nhưng chắc chắn sẽ giúp các bạn gái trở nên cứng rắn và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nếu bạn có thể vượt lên chính bản thân để thử sức với võ thuật, không còn khó khăn nào có thể cản trở bạn bước tiếp. Và về sau này dù bạn có phải đương đầu với chông gai lớn lao đến thế nào, sự tự tin và bản lĩnh mà việc học võ mang lại sẽ luôn đồng hành cùng bạn tới cùng.
Nhiều bạn gái thường lầm tưởng rằng luyện tập võ thuật sẽ khiến cơ thể trở nên nam tính, cứng rắn, đô con hơn. Điều này là hoàn toàn sai lầm. Võ thuật không hề gây ra sự biến đổi cơ thể một cách kỳ lạ như lời đồn, mà ngược lại còn mang đến vô vàn những lợi ích sức khoẻ cả trong lẫn ngoài cho người tập.
Nếu bạn là một người ít tập thể dục hoặc lười tập thể dục, võ thuật sinh ra là dành cho bạn. Võ thuật có thể giúp tăng khối lượng cơ bắp nên sẽ mang đến cho bạn đốt mỡ và có vóc dáng săn chắc hơn. Điều này là vì các động tác đấm, đá khi học võ thuật đòi hỏi các cơ bắp tay, cơ chân và cơ trọng tâm phải hoạt động rất nhiều. Khi bạn đã có nhiều cơ, tốc độ trao đổi chất sẽ cao hơn và bạn sẽ tiếp tục đốt được nhiều mỡ hơn ngay cả khi nghỉ ngơi.

Ngoài ra, nếu bạn muốn giảm cân thì học võ là một sự lựa chọn tuyệt vời. Võ thuật có thể giúp bạn thúc đẩy sự trao đổi chất trong cơ thể để giảm cân dễ dàng hơn. Theo khuyến nghị của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, bạn nên tập luyện khoảng 150 phút hay 2 tiếng 30 phút mỗi tuần. Vậy nên bạn có thể chia số giờ này thành 2 – 3 buổi tập võ/tuần, mỗi buổi khoảng một tiếng để nhận được nhiều kết quả nhất.
Bên cạnh những tác động tích cực đến vóc dáng, võ thuật còn là một môn thể thao rất tốt giúp các bạn nữ tăng cường sức khoẻ từ bên trong. Trong thời kỳ hiện nay, nhiều người trong chúng ta không thể tránh khỏi việc lười vận động, ít tập thể dục vì cuộc sống bận rộn. Lối sống thụ động này có thể ảnh hưởng không nhỏ đến đến sức khoẻ tim mạch, một bộ phận trọng yếu của cơ thể. Trong thời gian gần đây, chắc hẳn bạn cũng không còn xa lạ với tin tức của các nạn nhân bị đột quỵ chính bởi vì tim mạch yếu.
Chính vì vậy, học võ là một phương pháp tuyệt vời giúp bạn thay đổi thói quen ít vận động để có hệ tim mạch khỏe hơn. Hầu hết các môn võ có tác dụng tương tự như hình thức tập luyện cường độ cao trong thời gian ngắn (High Intensity Interval Training – HIIT). Đây là hình thức tập đòi hỏi bạn tập các bài tập nhanh với 100% sức lực trong thời gian ngắn để cải thiện sức khỏe tim mạch, làm chậm nhịp tim lúc nghỉ ngơi và giảm huyết áp
Sau những giờ học tập và làm việc mệt mỏi, võ thuật là một hoạt động tuyệt vời giúp bạn vừa rèn luyện sức khoẻ, vừa giải toả căng thẳng. Khoa học đã chứng minh học võ thuật có thể kích thích cơ thể giải phóng endorphin, một hormone giúp bạn cảm thấy hạnh phúc và yêu đời hơn.
Bên cạnh đó, khi đi học võ, bạn sẽ được làm quen và tập luyện cùng nhiều người bạn mới cũng như những người huấn luyện viên hết sức thú vị. Chính vì thế, đến với võ thuật, bạn sẽ luôn có những trải nghiệm vừa học vừa vui bên cạnh những người bạn đồng hành này.

Ngoài ra, khoa học còn cho thấy rằng võ thuật có khả năng giúp người học giải toả căng thẳng rất hiệu quả. Ở nhiều bộ môn như Taekwondo, Karate,…, việc kiểm soát hơi thở và thiền định là một trong những kỹ năng hết sức cần thiết và được các huấn luyện viên chú trọng. Khoa học đã chỉ ra rằng các bài tập với hơi thở và suy nghĩ như trên trong võ thuật có tác động rất tốt đối với việc giảm thiểu căng thẳng và kiểm soát các cảm xúc hay suy nghĩ tiêu cực ở người trẻ.
Nhiều bạn gái từng tâm sự với chúng tôi rằng họ cảm thấy thân thiện, hoà đồng với mọi người xung quanh hơn rất nhiều sau khi học võ. Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi vì võ đường hoặc trung tâm dạy võ là một nơi có môn sinh đến từ nhiều độ tuổi, xuất thân, ngành nghề, giới tính khác nhau. Chính vì vậy, đây cũng là một môi trường tuyệt vời để bạn làm quen với những người bạn mới, cải thiện khả năng giao tiếp cũng như các kỹ năng xã hội.
Nếu bạn cũng là người hay cảm thấy e ngại, lo sợ khi nói chuyện với người lạ hoặc khi đến chỗ đông người, tại sao không thử chọn ngay một môn võ thuật để theo học? Biết đâu đây sẽ là một phương pháp hữu dụng để bạn thay đổi bản thân mình thì sao!
Với những lợi ích tuyệt vời kể trên, chúng tôi tin chắc rằng các chị em nên chọn ngay cho mình một môn võ thuật để vừa có thể rèn luyện sức khoẻ, vừa phát triển các kỹ năng cần thiết.

]]>

Khi nhắc đến nét võ đặc trưng của xứ sở hoa anh đào- Nhật bản, chắc hẳn người ta sẽ nghĩ ngay tới Aikido, một môn võ cổ truyền mang những nét đặc sắc độc đáo. Aikido được biết đến là môn võ tự vệ, lấy nhu thắng cương và không mang tính chất đối kháng. Được xem như là môn võ tình thương và sự hoà hợp (kết hợp giữa Hiệp – Khí – Võ và Đạo),là sự kết hợp hoàn hảo giữa võ thuật và cái đẹp, giúp rèn luyện Chất, Trí và Thức cho những phụ nữ hiện đại. Vì vậy, Aikido được biết đến như là một môn võ hàng đầu trong sự lựa chọn của phái đẹp ngày nay.
Aikido hay còn được gọi với cái tên Hiệp Khí đạo, là môn võ Nhật Bản được ông Ueshiba Morihei phát triển. Aikido là sự tổng hợp nghiên cứu về các môn võ, tín ngưỡng tôn giáo và triết học của ông. Aikido thường được dịch với 2 nghĩa đó là “con đường của tinh thần hài hòa” hoặc ” Con đường hợp thông với năng lượng cuộc sống”. Mục tiêu của ông chính là tạo ra một môn võ giúp các võ sinh có thể tự bảo vệ mình và không làm người tấn công bị thương.
Aikido được viết bởi 3 chữ: Ai là hòa hợp, khí là tinh thần, đạo là con đường, đạo. Thuật ngữ Aiki gần như không xuất hiện trong tiếng Nhât, và đây chính là điều khiến Aikido có nhiều các giải thích. Hiểu theo cách diễn tả thuần túy thì môn võ Aikido chính là con đường kết hợp các sức mạnh. Người dùng Aiki cần hiểu được ý định của kẻ tấn công để lựa chọn thời cơ phản đòn.

Với đặc điểm là một môn võ mang tính tự vệ thuần túy, Aikido hoàn toàn phù hợp với cá tính dịu dàng đằm thắm của phái nữ. Trong Aikido không có những đòn tấn công hung hăng hay thô bạo, bạn chỉ có thể tìm thấy trong môn võ này toàn đồn thế để tự vệ khi bị kẻ khác tấn công trước mà thôi.
Các chiêu thức của Aikido đã được tổ sư Ueshiba Morihei lọc đi những kĩ thuật chiến đấu mang tính sát thương cao. Vì thế, những môn sinh Aikido khi tự vệ chỉ hóa giải các đòn tấn công của đối phương và kiềm chế họ mà không gây nguy hiểm chết người hoặc làm đối phương bị thương tật nặng nề đến tàn phế.
Không những thế phụ nữ hay xúc động hơn nam giới nên vẫn được mệnh danh là yếu lòng, đa sầu đa cảm. Dù những điều đó có thật hay không họ vẫn có đặc điểm là dễ thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau của người khác hơn nam giới. Với đặc điểm đó là cá tính của họ: yêu thương và thích chăm sóc những người mình yêu mến. Cá tính này rất phù hợp với tôn chỉ của Aikido môn võ được mệnh danh là “môn võ của tình thương”. Bên cạnh đó, tôn chỉ “yêu thương và hòa hợp” của Aikido rất phù hợp với cá tính yêu thương của phụ nữ nên môn phái này đã hấp dẫn nữ giới đến với mình nhiều hơn các võ phải khác.

Xem xét từ góc sinh học, cấu trúc cơ thể của nữ giới bao giờ cũng nhỏ bé hơn nam giới (tất nhiên là cũng có những trường hợp ngoại lệ – nhưng tỉ lệ này không cao). Vóc dáng nhỏ bé trong một số môn võ là điều ngược lại.
Tổ Sư bộ môn Aikido, Morihei Ueshiba, là một người nhỏ con. Với chiều cao chưa đến 1,60cm, nên ndĩ nhiên các tuyệt chiêu do ông tác và truyền lại cho thế hệ đời sau đa phần là những kỹ thuật dành cho người nhỏ con chế ngự người to con hơn mình. Vì thế, có thể nói Aikido là một môn võ dành nhiều lợi thế cho người có vóc dáng nhỏ bé – điển hình là nữ giới.

Nguyên tắc của Aikido là lấy nhu thắng cương, “tá lực đả lực”. Điều này có nghĩa là các đòn thế của Aikido chuyên vận dụng nguyên tắc lấy lực của đối phương để chống lại đối phương, không buộc người sử dụng phải đối kháng trực tiếp với một đấu thủ có sức mạnh hơn mình.
Tuy nhiên, trong cuộc sống ngày nay, con người liên tục phải đối mặt với các nguy cơ, và tai họa có thể xảy ra không thể lường trước. Aikido không đảm bảo sự an toàn cho bạn trước những mối nguy hiểm bất ngờ ấy, nhưng nó giúp ta bình tĩnh, và dạy cách di chuyển hiệu quả nhất, điều đó có thể xem như sự tự vệ chống lại những cuộc tấn công đột ngột. Do vậy, một bạn nữ rơi vào tình huống cần phải đối phó với những kẻ xấu mạnh hơn mình mà trực tiếp đối kháng là một điều bất hợp lí. Nếu bạn ấy có tập luyện Aikido, bạn ấy sẽ mượn ngay chính sức của những kẻ mạnh hơn mình để chống lại, hóa giải các chiêu thức tấn công của họ.
Trong Aikido không có hình thức, không có phong cách (style). Chuyển động của Aikido là chuyển động của trời đất, tự nhiên; mà sự huyền diệu của nó thật là sâu thẳm và vô tận. Trong khi chuyển động, thân thể con người quay tròn như một cái bông vụ. Nhưng khi không di chuyển, thế tấn của thân mình lại vững chãi, thăng bằng của khối tam giác này là thế tấn lý tưởng của kỹ thuật Aikido. Khi thân pháp chuyển động lại quay tròn như bông vụ. Trong chiều hướng này, các kỹ thuật Aikido tìm đến trạng thái mà bạn có thể dời đổi được trọng tâm của đối thủ bằng động tác hình cầu có tâm chính là trọng tâm đan điền của bạn, do đó có thể tác động và quây tròn đối thủ vào chuyển động của bạn.Sự di chuyển theo đường tròn phải thật mềm dẻo, chính xác và giữ được thăng bằng như có sức mạnh nền tảng ở trọng tâm. Những yêu cầu này lại trở thành một ưu thế đối với phái nữ. Và như thế, Kokyu Nage (các kỹ thuật bộc lộ rõ nhất đặc tính “nhu khắc cương” của Aikido) lại có phần ưu ái dành cho nữ giới nhiều hơn nam.
Ngoài ra, trong Aikido có bộ Koshi nage là một tập hợp những đòn ném, quật bằng lực hông. Khi một môn sinh Aikido thực hiện các kỹ thuật Koshi nage, ta có thể thấy tính cương trong các đòn thế thể hiện rõ nét. Nam giới có thể tìm thấy “nơi phô diễn” sức mạnh đầy nam tính của mình trong các kỹ thuật của Koshi nage trong khi những bạn nữ mới tập Aikido bao giờ cũng rất e dè khi bắt đầu tập chúng. Tuy trong “cương” của Koshi nage vẫn có nhu, không ít bạn nữ phải rêm cả người mấy ngày liền khi lần đầu tiên thực hành các kỹ thuật này. Nhưng khi đã bắt đầu quen thuộc với Koshi nage, các bạn nữ sẽ thấy thích nó vì đó là phương pháp tập luyện thể lực rất hữu hiệu.

Các bạn nữ sẽ thấy thích thú với những đòn ném, quật bằng lực hông.
Học võ để tự vệ là nhu cầu cần thiết trong đời sống ngày nay. Đối với nam giới, họ thường có nhiều sự lựa chọn hơn, nhưng với phụ nữ để chọn được 1 môn võ phù hợp không dễ. Vì vậy Aikido luôn là sự lựa chọn hàng đầu đối với phái đẹp. Nắm vững những kỹ thuật cơ bản trong Aikido sẽ giúp phụ nữ dễ dàng đối phó với những người đàn ông có thể chất khỏe mạnh hơn. Aikido không chú trọng đối kháng, nó là ‘môn võ của tình thương và hòa hợp’ nhưng nếu biết cách vận dụng hợp lý thì nó cũng hiệu quả trong việc tự vệ.
st
]]>
Trong môn võ Taekwondo, hệ thống màu đai và các kỳ thi lên đai là những kiến thức quan trọng mà tất cả các môn sinh đều cần biết. Nếu bạn đang muốn theo học Taekwondo hoặc đã là một môn sinh của môn phái này, hãy tham khảo ngay bài viết sau đây để tìm hiểu ngay những thông tin bổ ích này nhé.
Taekwondo có 6 màu đai cơ bản và mỗi màu đều mang một ý nghĩa khác nhau. Các giả thuyết phổ biến thường cho rằng mỗi màu đai trong Taekwondo đều là một biểu tượng cho quá trình trưởng thành của môn sinh như sự lớn lên và phát triển của một chiếc cây. Chiếc cây này khởi nguồn bằng hạt giống của sự tinh khôi, trải qua sự nuôi nấng của của môi trường võ đạo và phát triển thành những cây cổ thụ mang đầy tri thức.

Chiếc đai đầu tiên các môn sinh nhận được khi bắt đầu với Taekwondo là màu trắng. Với nhiều nền văn hoá khác nhau, đây là màu sắc thể hiện cho sự tinh khôi, trong sáng. Trong Taekwondo, sắc trắng còn là biểu tượng sự khởi đầu cho một sự sống, một hạt giống bắt đầu được ươm trồng. Võ sinh đeo vòng đai trắng là một học sinh mới bắt đầu trên con đường học “đạo” , tìm kiếm các kiến thức về võ thuật.
Để một chiếc cây lớn lên khoẻ mạnh, chắc chắn không thể nào thiếu được ánh nắng mặt trời. Sau khi các môn sinh vượt qua cấp đai trắng đầu tiên sẽ được nhận một chiếc đai vàng. Màu vàng ở đây chính là biểu tượng cho ánh sáng của mặt trời. Chính ánh sáng mặt trời đã giúp cho hạt giống Taekwondo trong các môn sinh được vươn dậy, cho họ sức mạnh để lĩnh hội và phát triển những kiến thức, kĩ năng võ đạo.
Màu đai tiếp theo các môn sinh nhận được là xanh lá cây. Sau một quá trình trau dồi kiến thức ở hai cấp đai đầu tiên, các môn sinh Taekwondo được ví von như những mầm giống xanh mơn mởn chờ đợi được uốn nắn và vươn chồi. Chiếc đai xanh lá cây thể hiện khao khát được học tập và phát triển bản thân mình của các môn sinh tại thời điểm này
Sự trưởng thành của cái cây, khi nó đã đứng vững nó sẽ vươn cao để khẳng định thế đứng của chính bản thân mình. Và theo quy luật tự nhiên, cái cây sẽ vươn lá xanh về phía bầu trời xanh của trí tuệ của võ học. Một lần nữa, chiếc đai xanh da trời chính là khẳng định cho mong muốn được vươn cao, vươn xa và ý chí vượt qua mọi khó khăn để vươn cao tới thành công của môn sinh Taekwondo
Cấp đai Taekwondo kế tiếp là đai đỏ. Đối với những người mang đai đỏ họ giống như một cái cây đã trưởng thành. Đã có những tán lá rộng, vươn cao và đang tiếp tục phát triển về phía có mặt trời. Trong Taekwondo đai đỏ được xem là đai cao cấp nhất trong các cấp đai cơ bản. Với những võ sinh đạt đến trình độ này, họ đã phải nắm rất vững những kiến thức cơ bản và nâng cao một cách thuần thục. Với kỹ thuật và những bài tập ở cấp đai này yêu cầu người võ sinh và có một thể chất và tâm lý vững vàng.
Đai được cao nhất trong hệ thống đai của Taekwondo chính là đai đen. Màu đen là màu biểu tượng cho sự tri thức của võ thuật. Với những võ sinh đã lên được đai đen thì họ là người đã nắm bắt được những kiến thức căn bản. Và vẫn đang trên con đường để tìm kiếm những kiến thức mới. Con đường của những đỉnh cao võ thuật, được gọi là nghệ thuật. Võ sinh đạt đến trình độ đai đen sẽ có thể làm thầy, huấn luyện viên để dạy võ cho những người mới luyện tập. Bắt đầu công việc ươm hạt giống đầu tiên cho môn võ Taekwondo.
Các môn sinh lên đai đen khi chưa đủ 18 tuổi sẽ được đeo đai đỏ đen.

Sau khi đã nắm rõ các đai trong taekwondo, điều các môn sinh cần làm đó là luyện tập để thi lên đai. Quy chế thi lên đai của hệ phái WTF cụ thể như sau:
Võ sinh sẽ phải thực hiện các yêu cầu sau nếu khi thi cấp 8 lên 7, cấp 7 lên 6, đó là:
Yêu cầu khi thực hiện thi lên đai xanh cấp 6 lên xanh cấp 5 cụ thể như sau:
Khi thực hiện thi lên cấp này, các bài thì sẽ bao gồm:
Những người đạt đai đỏ cấp 1 ít nhất 6 tháng mới đủ điều kiện tham gia kỳ thi này. Thời gian thi sẽ vào tháng 5 và 11 hàng năm.
Đối với Đẳng thì có điều kiện dự thi “đeo” cấp Đẳng hiện tại với thời gian (được tính bằng năm) bằng với cấp Đẳng hiện tại.
Mỗi năm có 2 đợt thi sơ cấp Huyền đai vào tháng 5 và tháng 11. Võ sinh từ 1 đai đến 3 đai có bảng tên Nền đen chữ vàng sẽ được tham gia kỳ thi này. Yêu cầu bắt buộc đối với thí sinh dự thi đó là thực hiện các đòn đấm, đá căn bản như kỳ thi trước.
Đọc thêm: Giải Mã Tán Thủ – Hệ thống đối kháng đỉnh cao của Trung Quốc
Điều kiện tham gia là những võ sinh từ có từ 1 đến 3 đai và có bảng tên nền đen chữ đỏ. Kỳ thi này được tổ chức 1 lần duy nhất vào tháng 11 trong năm.
Lưu ý: Đối với 5 Dan lên 6 Dan thì phải chặt vỡ gạch bằng cạnh bàn tay trong.
Với kỳ thi này, võ sinh sẽ phải sang trực tiếp Kukkiwon Hàn Quốc mới có thể tham gia.
Chúng tôi hy vọng bài viết trên đã giúp bạn có thêm nhiều thông tin kiến thức hay ho về môn võ Taekwondo.
st
]]>
Nếu bạn đang có ý định theo học Judo thì hãy tham khảo ngay bài viết này để tìm hiểu những kiến thức hay ho, thú vị về môn võ đến từ đất nước mặt trời mọc này nhé!
Judo là một môn võ xuất phát từ xứ sở hoa anh đào Nhật Bản vào khoảng năm 1882 bởi sư tổ Kano Jigoro (1860-1938). Ông là một võ sư, đồng thời cũng là một giáo sư thể chất. Với kinh nghiệm và kiến thức của mình, ông tạo ra Judo trên phương diện hình thành một môn võ với tính kỷ cương, nhất quán về thể chất, tinh thần và đạo đức.
Judo là sự kết hợp của môn võ Nhật Bản lâu đời là Jujitsu (Nhu Thuật) và các kỹ thuật võ cổ truyền như Randori, Kata. Tuy nhiên, trong quá trình hình thành của Judo, sư tổ Kano Jigoro đã lược bớt đi các đòn thế bạo lực của Jujitsu cũng như tập trung phát triển Judo thành một môn võ rèn luyện cả thể chất lẫn tinh thần, một quan niệm sống có ý nghĩa triết học, chứ không thuần tuý chỉ là những kỹ thuật chiến đấu.
Năm 1956, trải qua rất nhiều khó khăn, Liên đoàn Judo quốc tế (IJF) chính thức thành lập. Tính đến nay, IJF có hơn 100 nước thành viên,trong đó có cả Việt Nam. Năm 1964 Judo được đưa vào chương trình thi đấu chính thức của Đại hội Olympic được tổ chức tại Tokyo. Với quá trình phát triển lên tới hơn 100 năm, Judo đang ngày càng phát triển lớn mạnh và trở thành một môn võ được đông đảo môn sinh trên thế giới yêu thích.

Judo thường được nhắc tới với những kỹ thuật ném vô cùng điệu nghệ cùng với những đòn thế vật lộn tuyệt đẹp. Thế nhưng, ít ai biết được rằng, đặc điểm cốt yếu nhất của môn võ Judo thực chất lại là phương châm “dùng nhu thắng cương”, hoàn toàn trái ngược với sự mạnh bạo mà người ta thường thấy. Chính từ cái tên Judo đã nói lên được điều này. Judo được ghép từ hai ký tự là “Ju” và “do”. Trong đó, “Ju” có nghĩa là sự nhẹ nhàng, nhu mì, còn “do” chính là cách. Môn võ này được dịch ra có thể hiểu là nguyên tắc của sự dịu dàng.
Với nguyên tắc này, các kỹ thuật trong Judo thường vận dụng yếu tố linh hoạt, uyển chuyển, khéo léo của mọi chuyển động để khống chế đối phương. Môn Judo không sử dụng binh khí mà vận dụng các đòn quật ngã, đè, các đòn xiết cổ, các đòn khóa tay, các đòn khóa chân. Bên cạnh đó, còn có những đòn đâm, chém dùng bàn tay. Học viên của môn võ Judo được gọi là Judoka. Mục tiêu chính của một Judoka là hạ gục đối thủ xuống đất và khoá các bộ phận trên cơ thể thoặc làm nghẹt thở đối phương.

Các kỹ thuật khác nhau trong Judo được gọi là waza. Hệ thống đòn thế Judo, hay còn gọi là Judo waza, gồm có 3 phần chính:
Võ phục Judo còn gọi là Judogi, bao gồm áo dài, quần và đai tuỳ theo đẳng cấp của môn sinh. Cả áo dài và quần đều có cùng màu trắng hoặc xanh. Chính vì bản chất của việc tập luyện Judo yêu cầu các môn sinh phải sử dụng nhiều kỹ thuật quật và ngã, võ phục của môn sinh cũng phải được thiết kế chống rách đặc biệt với các phần được may chắc ở những vị trí chịu tác dụng của lực hoặc chịu lực ma sát.
Người bắt đầu tập judo hoặc đã học judo được một đến hai năm nên có thể chọn võ phục bằng chất liệu cottone hoặc polycotton để đảm bảo cảm giác mềm mại, thoải mái khi luyện tập và giữ được sự bền bỉ với thời gian.
Tuy nhiên, với những võ sĩ quyết tâm gắn bó với Judo lâu dài hoặc người đã bắt đầu thi đấu nên đầu tư cho mình một bộ võ phục có sợi dệt bằng tre. Các sản phẩm với võ phuc Judo với áo được làm từ vải sợi tre và quần được làm từ vải 100% cotton sẽ giữ được phom dáng và màu sắc rất tốt theo thời gian cùng với khả năng chống rách tối ưu và đặc biệt được thiết kế để chịu được những cú nắm mạnh mẽ của việc luyện tập Judo.
Ngoại ra, bạn nên chọn một bộ võ phục Judo phù hợp với chiều cao và cân nặng của mình để tạo ra cảm giác thoải mái nhất khi tập luyện. Thông thường, bạn nên lựa chọn võ phục dài hơn chiều cao của bạn từ 5 cm đến 10 cm. Ví dụ, nếu bạn cao 174 cm, một bộ đồng phục dài 180 cm sẽ khá hợp lý với vóc dáng của bạn
Để bảo quản võ phục một cách tốt nhất, bạn cũng nên nên giặt và phơi khô võ phục sau mỗi lần sử dụng. Vì võ phục Judo có màu trắng và dễ bị vấy bẩn trong quá trình bạn luyện tập, việc giặt thường xuyên sẽ giúp bạn luôn sở hữu những bộ đồng phục sạch sẽ và trắng sáng. Ngoài ra, bạn cũng nên sử dụng nước lạnh trong những lần giặt đầu tiên và sau đó, giặt ở nhiệt độ không lớn hơn 30°C.
Hệ thống đai của Judo được thể hiện qua thứ hạng và màu đai. Trên tổng thể, thứ hạng của môn sinh Judo được chia thành 2 nhóm chính “Kyu” và “Dan”. “Kyu “là từ chỉ thứ hạng cho những người mới nhập môn Judo. Thứ hạng “Kyu” được thể hiện theo thứ tự giảm dần (số thứ hạng càng thấp, cấp độ kỹ năng càng cao). Trong “Kyu” sẽ có 6 cấp đai chính:
Môn sinh sau khi vượt qua bài kiểm tra của cấp đai nâu sẽ được nâng lên thứ hạng “Dan”. “Dan” là từ chỉ thứ hạng cho những môn sinh Judo đã có nhiều kinh nghiệm luyện tập. Thứ hạng “Dan” được thể hiện theo thứ tự tăng dần với số thứ hạng càng cao, cấp độ kỹ năng càng cao. Những môn sinh ở thứ hạng “Dan” thường sẽ đeo đai đen để thể hiện trình độ và kinh nghiệm của mình. Tuy nhiên, tương tự với cấp “Kyu”, các môn sinh ở cấp Dan cũng có hệ thống màu đai cho riêng mình:
Nếu bạn là một môn sinh mới bắt đầu với Judo và chưa biếy phải thắt đai thế nào cho hợp lý thì hãy tham khảo ngay các bước sau đây nhé:

Chúng tôi hy vọng bài viết trên đã giúp bạn phần nào trong việc tìm hiểu về bộ môn Judo.
st
]]>
Judo là môn thể thao thú vị, một nghệ thuật, một kỷ luật, một hoạt động giải trí, xã hội, một chương trình thể dục, một phương tiện tự vệ, chiến đấu, và một cách sống… và nhiều hơn thế nữa. Bài viết dưới đây giúp bạn khám phá về Judo- môn võ thuật phổ biến nhất Nhật Bản
Judo chủ yếu vận dụng đòn quật ngã, sau đó là đè, xiết cổ, khóa tay, khóa chân. Ngoài ra, những đòn như đâm, chém dùng bàn tay, bàn chân cũng nằm trong đó nhưng chỉ được sử dụng khi đã được sắp xếp để biểu diễn, tuyệt đối không dùng trong thi đấu và luyện tập.
Đặc trưng của Judo là các tư thế ném ngã. Một đòn ném ngã sẽ có 3 giai đoạn. Đầu tiên là kéo cho đối phương mất thăng bằng, giai đoạn thứ hai là thực hiện kỹ thuật, giai đoạn thứ ba là ném ngã. Nói thì nói dài, nhưng mình thực hiện đòn chỉ trong một vài tích tắc, chỉ một hai giây.
Môn võ Judo từ xưa đã biết đến là một môn võ thuật rất mạnh mẽ và yêu cầu người học phải có đủ sức khỏe, cũng như tinh thần khi theo học. Đối với võ judo sẽ có những tư thế đứng và sử dụng những kỹ thuật cơ bản để có thể thực hiện được các động tác như: quật ngã hoặc nâng đối thủ. Ngoài ra, judo còn cho phép bạn thể hiện được các động tác kỹ thuật như ghìm đối thủ xuống, hoặc là khống chế và bẻ khớp. Làm cho đối phương không kịp phản ứng lại.

Judo là môn võ linh hoạt
Võ judo chính là sự kết hợp giữa tinh hoa của các môn võ khác. Nó được phát triển bởi những chiến binh samurai và từ thời phong kiến. Mặc dù judo có nguồn gốc từ môn võ Jujitsu, môn võ nghiêng về sự chiến đấu và hạ gục đối thủ. Nhưng judo đang ngày càng sử dụng những kỹ thuật để có thể phù hợp với mọi tầng lớp trong xã hội, học sinh sinh viên, có thể áp dụng một cách an toàn và hiệu quả. Để không ảnh hưởng và gây thương tích cho đối thủ.
Đối với môn thể thao judo, sẽ không liên quan đến những kỹ thuật đấm, đá hoặc tấn công đối thủ. Không áp dụng những áp lực lên các khớp khi ném đối thủ. Quan trọng nhất là judo tuyệt đối không sử dụng vũ khí mà chỉ sử dụng hoàn toàn cơ thể con người mà thôi.
Judo là môn võ đơn giản với những kỹ thuật liên quan đến việc năm đặt, sử dụng về sức mạnh để chuyển động và khuất phục đối thủ. Không phải vì thế mà bạn thấy judo rất dễ dàng đâu. Tuy thấy đơn giản nhưng để có thể thành thạo các kỹ năng này bạn sẽ mất khá nhiều thời gian, năng lượng để luyện tập.
Judo được ghép từ hai ký tự là “Ju” là sự nhẹ nhàng, còn “do” chính là cách. Vì thế, mà nó được xem là môn võ có nguyên tắc “dịu dàng”. Khi luyện tập môn võ này, sẽ đòi hỏi bạn thời gian luyện tập, và hoạt động thể chất khá là nghiêm ngặt. Những kỹ thuật cơ bản của judo sẽ giúp người tập có thể phát huy thể chất của mình một cách tốt nhất.
Nhu đạo (Judo) là “đường lối uyển chuyển” và nguyên tắc của nhu đạo là “sức lực ít , hiệu năng nhiều”. Theo định nghĩa của người Nhật ,nhu đạo là nghệ thuật dùng sức nằm gọn trong bí quyết đơn giản “Khi bị đẩy thì kéo, khi bị kéo thì đẩy”. Ta thử tưởng tượng một người khoẻ dùng sức đẩy một người yếu. Thay vì đẩy lại, người yếu lại dùng sức mình kéo luôn đối phương về phía mình, khiến họ mất thăng bằng. Ngay thời điểm này, với một thế căn bản của Judo người yếu quật ngã đối phương dễ dàng. Ðó là phương pháp tự vệ không cần khí giới, dựa trên nguyên tắc đánh bại đối phương bằng cách nhượng bộ và sử dụng chính sức mạnh của đối phương . Võ sinh Judo không tấn công đối phương, chỉ khi nào bị tấn công thì mới phát huy đòn thế.

Judo sử dụng nguyên tắc sự dịu dàng
Sự linh hoạt, nhanh nhẹn, tốc độ hay giúp cân bằng giữa các hoạt động chính là điều mà môn võ này mang lại cho người học. Nếu luyện tập một cách nghiêm túc và thường xuyên, sẽ giúp cho người học có khả năng phản ứng nhanh nhạy, giúp bạn có tự tin và sức khỏe bền bỉ.
Võ judo không chỉ được biết đến là môn võ rất mạnh mẽ và áp dụng những kỹ thuật chiến đấu. Mà ngoài ra, nó còn là một môn giáo dục thể chất, đạo đức, trí tuệ vô cùng tuyệt vời đến cho con người. Judo còn có cả một hệ thống văn hóa, di sản và truyền thống rất riêng biệt.
Đối với những học sinh, sinh viên học môn võ này, sẽ được học những nguyên tắc về đạo đức và cách sống trong xã hội. Đây cũng chính là môn thể thao được ưa thích trong hệ thống giảng dạy giáo dục, các câu lạc bộ hay trung tâm đào tạo ở rất nhiều quốc gia. Trên thế giới hiện nay đã có hơn 20 triệu người luyện tập và thực hành rất nhiều.
Chúng tôi hy vọng bài viết trên đã giúp bạn phần nào trong việc tìm hiểu về bộ môn Judo.
st
]]>

Nếu bạn đang băn khoăn với câu hỏi liệu có nên cho con theo học võ thuật, hay đang tìm kiếm một môn võ phù hợp để cho con, bài viết sau đây sẽ giúp bạn trả lời những câu hỏi này và đưa ra quyết định dễ dàng hơn.

Trước hết bạn phải xác định rõ ràng mục tiêu của bạn khi cho con học võ là gì? Khả năng tự vệ? Ý chí mạnh mẽ? Tinh thần kỷ luật? Có rất nhiều lợi ích khi cho con học võ nhưng nhưng chọn ra một định hướng cụ thể cho con là điều quan trọng hơn hết. Truớc khi bạn tìm hiểu trường lớp, trung tâm để gửi con đến học, hãy tự hỏi bản thân rằng bạn muốn con mình đạt được lợi ích gì từ võ thuật. Ví dụ võ thuật không thể dạy một đứa bé 4 tuổi học cách tự vệ thực sự, nhưng nếu bạn muốn định hướng cho con phát triển khả năng võ thuật lâu dài, bạn nên suy nghĩ về bộ môn này nhưng một cách nghiêm túc hơn và đưa ra những định hướng lâu dài, cụ thể.
Tiếp đến, bạn cần chọn lựa kĩ càng mội trường và huấn luyện viên để gửi gắm con em. Đối với trẻ em, sự khác nhau giữa các môn võ không quá rõ ràng. Điều quan trọng hơn hết là huấn luyện viên và môi trường bạn chọn gửi con học võ. Việc chọn thầy dạy võ cũng quan trọng nhiều như chọn giáo viên cho con bạn vậy nếu bạn muốn con học được nhiều nhất có thể từ võ thuật Joshua David Stein, một võ sư Aikido đai đen nói: “Tìm hiểu chuyên sâu về võ sư của con bạn rẩt quan trọng. Đừng ngần ngại tìm hiểu về chuyên môn và kinh nghiệm của thầy dạy võ trước khi quyết định gửi con đi học”.
Tương tự như vậy, tìm hiểu về môi trường và lớp võ cũng quan trọng không kém. Bạn có thể đển trung tâm dạy võ, xem qua các lớp học và những học trò lâu năm của lớp võ đó. Nếu trông chúng không có tinh thần hào hứng khi tập luyện thì đó là một minh chứng tiêu cực cho lớp học đó. Bạn cũng nên nhìn ra xem có dấu hiệu bạo lực, cạnh tranh hay học sinh bị bắt tập luyện quá căng thẳng ở những môi trường đó không. Kể cả khi ngay bên cạnh nhà bạn là một lớp tâm dạy võ, bạn cũng không nên vì sự tiện lợi mà bỏ qua việc tìm một lớp học phù hợp nhất cho con bạn. Bạn muốn con mình được học và luyện tập trong một môi trường chúng cảm thấy thoải mái, thích thú và hào hứng đến học mối tuần. Nếu trẻ em không phát triển được sự đam mê thích thú với võ thuật ở nơi học, chúng sẽ rất nhanh chóng từ bỏ!
Khi cho con học võ, bạn không nên đặt nặng áp lực vào sự tiến bộ rõ rệt của con em trong một thời gian ngắn. Một trong những suy nghĩ sai lầm về võ thuật đó là trẻ em sẽ rất giỏi đánh nhau sau một thời gian học tập. Như một chuyên gia chỉ ra: “Võ thuật sẽ không khiến con cái bạn trở thành cỗ máy nịna. Ít nhất là sau một thời gian ngắn luyện tập. Phải mất rất nhiều thời gian luyện tập mới có thể giỏi võ. Võ thuật không phải là phép thuật, mà là sự kiên trì” Lý Tiểu Long không trở thành huyền thoại sau 1 đêm học võ, và chắc chắn con bạn cũng không. Võ thuật đòi hỏi một quá trình học tập dài và kiên nhẫn. Có thể sau 6 tháng hay một năm, bạn không nhận ra điều gì quá khác biệt ở con mình, nhưng kĩ năng của chúng thực ra đã thay đổi rất nhiều so với trước khi học.
Nhiều bậc phụ huynh gửi con học Karate hay Taewondo để con trở nên kỉ luật hơn trong các hoạt động học tập thường ngày. Tuy nhiên,con của bạn sẽ không hoàn toàn thay đổi tích cách hay suy nghĩ sau khi học võ thuật một vài tháng. Cũng đừng nóng lòng nếu không thấy sự thay đổi ở con. Đây không có nghĩa là võ thuật không khiến người học trở nên kỉ cương. Vĩ học võ là một quy trình dài và bạn cần cho con bạn và bộ môn này một thời gian nhất định để thấy kết quả.
Võ thuật là một bộ môn khó và đòi hỏi tính kiên trì, và trẻ con là trẻ con. Bạn đừng cảm thấy quá ngạc nhiên hay thất vọng khi đầu tư cho con học võ, và chúng bắt đầu than thở hay có thái đô chán nản khi đi học. Vì kể cả là hoạt động ngoại khoá, võ thuật vẫn đòi hỏi ngừoi học phải tập trung và chăm chỉ luyện tập. Chính vì thế, sẽ có những lúc trẻ thấy chán nản và lười biếng. Nếu chúng thực sự thích thú việc học võ, giai đoạn phàn nàn này sẽ sớm trôi qua. Đừng quá nóng lòng nếu con phàn nàn về học võ mà hãy cố gắng động viên và giúp chúng trở nên kiên trì hơn khi theo đuổi bộ môn này..
Một bậc phụ huynh có con 2 con đi học võ đã từng nói rằng: “Điều tôi trân trọng nhất khi cho 2 con đi học võ không chỉ là những buổi huấn luyện giúp chũng khoẻ mạnh hơn, mà còn là sự tự tin, kỉ luật và tôn trọng mà chúng học được.” Những kĩ năng trẻ học được từ võ thuật có ảnh hưởng rất tốt đến cách các chúng cư xử với mọi người xung quanh và thái độ của chúng với việc học hành ở trường. Võ thuật còn có khả năng rèn luyện trẻ trở thành những cá nhân có trách nhiệm hơn trong gia đình. Quan trọng nhất là khi trẻ thực sự thích thú với võ thuật, chũng sẽ học được nhiều hơn tất cả những gì bạn mong đợi.
Chính vì thế, nếu bạn đang tìm kiếm một hoạt động ngoại khoá ý nghĩa cho con em mình, võ thuật là một sự lựa chọn tuyệt vời. Hãy bắt đầu xác định mục tiêu của bạn và tìm hiểu một lớp học võ thật phù hợp cho con mình ngay nhé!

st
]]>
TaeKwondo và Karate từ lâu đã trở thành những môn võ gắn liền với cuộc sống của nhiều thế hệ người Việt Nam. Tuy nhiên, liệu bạn đã hiểu rõ sự khác biệt giữa TaeKwondo và Karate? Nếu bạn có đang phân vân lựa chọn giữa TaeKwondo và Karate để theo học, bài viết dưới đây sẽ giúp bạn phân biệt một vài sự khác nhau cơ bản giữa hai môn võ này và đưa ra quyết định phù hợp nhất.

TaeKwondo
TaeKwondo có nguồn gốc từ đất nước Triều Tiên. Theo tiếng Triều Tiên thì “Tae” có nghĩa là đá bằng chân, “Kwon” là đấm bằng tay, “Do” có nghĩa là nghệ thuật hoặc con đường. Như vậy tên gọi Taekwondo có thể hiểu là nghệ thuật thi đấu với sự kết hợp của chân và tay.Khi Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên trong những năm 1900, người Nhật ban lệnh cấm võ thuật trong quân sự Hàn Quốc, bao gồm cả Taekwondo. Tuy nhiên, vẫn có người tiếp tục luyện tập Taekwondo trong bí mật, trong khi những người khác đi học võ thuật Trung Quốc hay Nhật Bản. Bởi vì Judo, Karate và cả Kung-Fu đồng thời đổ bộ Hàn Quốc thời điểm ấy, còn Taekwondo tách ra thành phong cách khác biệt với những ảnh hưởng khác nhau đến văn hóa nước này. Khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, trường Taekwondo đầu tiên, được gọi là Kwan, đã được mở ra tại Hàn Quốc.
Bộ môn Taekwondo mà chúng ta biết ngày nay bắt đầu vào năm 1955, khi các Kwan hàng đầu cùng tham dự một hội nghị về võ thuật. Họ quyết định hợp nhất phong cách khác nhau về cùng một cách thống nhất trong việc giảng dạy, và gọi tên là Taekwondo. Ngày nay, Liên đoàn Taekwondo thế giới đã đặt ra rất nhiều những tiêu chuẩn chung vì sự cạnh tranh và phát triển của môn thể thao này.
Nói đến môn võ Karate nhiều người vẫn lầm tưởng đó là môn võ của Nhật Bản vì nó đã được phát triển và trở nên nổi tiếng ở Nhật Bản rồi từ đó mới được truyền bá ra khắp năm châu nhưng thực ra nguồn gốc xuất xứ của nó lại từ đảo Okinawa, một thuộc địa của Nhật trước đây. Okinawa có nghĩa là: “Sợi dây thừng ngoài biển khơi”, một tên gọi tượng hình đầy ý nghĩa vì đây là hòn đảo chính, hình thoi nằm trải dài trong quần đảo Ryukyu, có một đầu hướng về Trung quốc, còn đầu kia lại hướng về Nhật Bản. Chính do vị trí địa lý như vậy cho nên trong suốt một thời gian dài Okinawa đã trở thành nơi tranh chấp quyền lợi giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Chính vì xuất xứ đặc biệt này, Karate là sự giao thoa giữa cả võ thuật Nhật Bản và Thiếu Lâm của Trung Quốc. Trải qua một thời gian dài chiến tranh xâm lược, Karate đã phát triển rất nhanh ở Nhật và vào năm 1932 môn võ này đã được đưa vào giảng dạy ở các trường học. Tên gọi Karate-do cũng được chính thống tạo ra vào thời điểm này. Từ “Kara” đã được hiểu là “trống không”, chữ Te có nghĩa là “tay” và chữ Do là đạo. Như vậy người Nhật đã biến Karate thành môn võ của mình, và kể từ đó đã cải tiến môn võ này theo nguyên tắc khoa học, đơn giản và dễ tập với ba nội dung cơ bản là: Kara (quyền), Kumite (đối quyền) và Kihon (kỹ thuận căn bản).
Taekwondo được người xưa mệnh danh là nghệ thuật chiến đấu của bậc quân tử bởi họ không coi môn võ này như một cách để tấn công hay khiêu chiến đối phương, mà chỉ đơn thuần là để tự vệ. Với nền tảng “Không bao giờ tấn công trước”, người tập Taekwondo vạch rõ giới hạn của việc sử dụng môn võ này trong trường hợp phản ứng và tự vệ. Cũng vì thế, rèn luyện Taekwondo chính là rèn luyện một tinh thần bình tĩnh, vững vàng và thái độ vị tha của một người thượng võ trong mọi tình huống.
Tuy nhiên, không vì thế mà Taekwondo mất đi sức mạnh vốn có của nó. Chắc hẳn bạn đã từng xem qua hình ảnh của những võ sư Taekwondo đạp vỡ gỗ ván, gạch ngói,.. bằng đôi chân trần cùng những cú đá quyết liệt. Với nghệ thuật chiến đấu không hề dùng vũ khí, đôi tay và đôi chân của những ngừoi học Taekwondo được rèn luyện trở thành những thứ vũ khí nguy hiểm nhất. Để làm được điều đó, người học Taekwondo trải trải qua một quá trình luyện tập nghiêm túc với một sự tập trung cao độ và tinh thần cứng rắn.

Đối với karate, “nhẫn” lầ nền tảng cao nhất hun đúc nên tinh thần thượng võ. Một câu nói các võ sư Karate thường nhắc nhở môn trò của mình là:“Dụng ý bất dụng lực”.Người đạt đến đỉnh cao nhất của Karate không phải là người có thể đưa ra những đòn đánh mạnh mẽ nhất, mà là người có sự thấu hiểu cao nhất về sự nhẫn nại trong môn phái này. Ngộ được chữ “NHẪN” còn hơn mọi đòn thế. Mục đích lớn nhất của võ chính là vừa giúp mình, vừa cứu cả đối thủ, trong khi tránh được bao rắc rối nảy sinh sau đó. Cao hơn nữa đó là sự khuất phục đối thủ, chứ không chỉ dừng lại ở việc thắng người.
Giống như Taekwondo, Karate cũng xuất phát từ tư tưởng phòng vệ bản thân với một tư thế không được trang bị gì khi bị tấn công. Các môn sinh Karate sẽ được học cách ra đòn và chặn đòn đánh từ đối thủ sử dụng sự linh hoạt của tất cả các bộ phận trên cơ thể. Trải qua quá trình luyện tập lâu dài, người học Karate sẽ phát triển sức mạnh dẻo dai cũng như sự kiên trì, nhẫn nại trong chiến đấu.

Trong Taekwondo, tay và chân được phối hợp hài hoà như một nghệ thuật để tạo ra những đòn công phá và phòng thủ hiệu quả nhất. Tuy nhiên, các đòn chân luôn được coi là vũ khí lợi hại nhất của Taekwondo. So với các đòn tay, đòn chân trong Taekwondo đòi hỏi phải được thực hiện với một tốc độ, sư khéo léo và độ chính xác cao hơn hết từ người học, điều chỉ có thể thực hiện được sau một quá trình luyện tập gian khổ. Một trong những điểm khó nhất để tạo ra những đòn đá Taekwondo đặc biệt này là khả nhăng duy trì thăng bằng khi thực hiện.
Cho dù tương đối phức tạp khi thực hiện, các đòn đá trong Taekwondo luôn thể hiện rõ tính ưu việt của mình. Trong mọi trường hợp, đòn đá được chứng minh có khả năng tạo ra một sức công phá và lực đánh mạnh hơn bất kì ký thuật tấn công nào khác. Đồng thời, nếu sử dụng triệt để, nó có thể được hạ gục đối thủ trong bất kì khoảng cách nào. Một trong những điều mà nguời học Taekwondo cần ghi nhớ để thực hiện thành công những cú đá này là: Tốc độc càng lớn, hiệu quả càng cao.

Với Karate, những kỹ thuật Karate cơ bản chính là Tấn, Đòn, Đá, Đánh, Đấm và Đỡ. Người tập Karate cần khai thác và sử dụng hiệu quả nhất phần thân trên. Đó là các bộ phận vai , lưng, bàn tay, khuỷu tay để đỡ và gạt các đòn tấn công của đối thủ
Điều đầu tiên khi học Karate là bạn cần bắt đầu với cách đặt chân đúng trên mặt đất. Đây chính là tạo ra một cái gốc vững vàng khi bạn bắt đầu với Karate. Bạn cần sưe dụng mắt cá chân, đầu gối và phần cẳng chân kết hợp với hông để tạo ra một thế tấn chắc chắn.
Đòn tay là một đòn cơ bản và quan trọng nhất trong Karate. Nếu như đòn tấn cho bạn sự ổn định thì đòn tay sẽ là một đòn tấn công. Những khớp lớn của cánh tay và bàn tay có thể được luyện tập để trở thành những bề mặt dùng để tấn công rất hiệu quả. Các đòn tay tạo thành từ : mặt trước, sau, cạnh ngoài của nắm đấm; từ các đầu ngón tay; khớp ngón tay. Cùng với đó là phía trong, ngoài cạnh tay, lòng bàn tay. Cuối cùng là khủy tay, mặt phẳng trước và sau khuỷu tay. Đòn tay là đòn cơ bản và linh hoạt nhất. Mục tiêu của các đòn tay là những vùng có cơ mềm như bụng dưới, cổ, háng.
Hy vọng rằng với bài viết trên đây, bạn sẽ lựa chọn được một môn võ phù hợp nhất với mục tiêu và khả năng của mình.

ST
]]>