TRANH ẢNH-VĂN THƠ NHẠC-DANH TÁC NGHỆ THUẬT – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sun, 04 Aug 2024 06:58:21 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 Khúc Thụy Du (Du Tử Lê – Anh Bằng) – Tuyệt khúc dành cho những ân tình dở dang https://thuonghylenien.org/luu-tru/6125 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6125#respond Sun, 04 Aug 2024 06:58:21 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6125 Khúc Thụy Du (Du Tử Lê – Anh Bằng) – Tuyệt khúc dành cho những ân tình dở dang

Khúc Thụy Du là một trong những ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng sau năm 1975, được ông phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của thi sĩ Du Tử Lê.

Đây là một tuyệt khúc mà hình ảnh, ca từ cũng như giai điệu đã chất chứa những nỗi buồn và tiếc nuối về một ân tình dĩ vãng, và những cảm xúc đó trong bài hát dường như là ai cũng đã một lần trải qua.

Có một điều là nguyên tác bài thơ của tác giả Du Tử Lê không chỉ viết về tình yêu, mà còn là những trăn trở về thời cuộc với những cảnh tượng hãi hùng của một thời binh lửa. Nhà thơ Du Tử Lê đã từng tâm sự về Khúc Thụy Du: “Thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên trường dược… Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ” Hãy nói về cuộc đời Khi tôi không còn nữa Sẽ lấy được những gì Về bên kia thế giới Ngoài trống vắng mà thôi Thụy ơi, và tình ơi!

Mở đầu bài hát của nhạc sĩ Anh Bằng là một lời ca vút cao lên như tiếng kêu trăn trở về thân phận nhân sinh trước đời người hữu hạn. Và chúng ai cũng có đôi lúc nghĩ sao mà định luật “sinh là ký tử là qui” ở trên đời buồn đến thế. Nhưng điều đó cũng không buồn và trống vắng bằng nghe câu nhạc mở đầu của bài hát, cảm như có làn gió lạnh buốt từ hư vô thổi về khi nghe người hát buông lơi câu hát: “Ngoài trống vắng mà thôi”.

Với cảm quan tinh nhạy của thi sĩ, hơn ai hết Du Tử Lê đã cảm thấy nỗi “trống vắng” hoang lạnh của cuộc đời khi ông chứng kiến sự mất mát đau thương của thời ly loạn. Ám ảnh bởi nỗi buồn này, bài thơ Khúc Thụy Du đã ra đời, và khi phổ thơ, nhạc sĩ Anh Bằng đã lọc hết nỗi tang thương chιến cuộc trong bài thơ gốc, để chọn và soạn lại thành một bản tình ca tình yêu đôi lứa, đã đi vào lòng muôn triệu người yêu nhạc. Và người nghe nhạc cảm được nỗi buồn kia vơi đi khi ở cuối khổ, lời ca dịu mát hẳn khi được tiếp bằng “Thụy ơi và tình ơi!”. Tiếng gọi tên người tình như chút nắng lên giữa ngày đông, sưởi ấm lòng tan đi nỗi sầu phiền trong tâm tưởng. “Thụy ơi và tình ơi!” không còn là câu chữ ca từ của tác giả nữa, mà đã trở thành tiếng kêu chung của công chúng nghe nhạc, của những ai đã từng gọi tên của người yêu của mình một lần như thế, để dàn trải tâm sự, để cảm thấy mình không còn cô đơn với nỗi buồn thân phận làm người.

Điều kỳ diệu là tình yêu luôn mang ngọn gió trong lành mát rượi thổi đến khi lòng ta nghĩ đến, nhớ đến bạn lòng. Như loài chim bói cá Trên cọc nhọn trăm năm Tôi tìm đời đánh mất Trong vũng nước cuộc đời Thụy ơi, và tình ơi! “Như loài chim bói cá. Trên cọc nhọn trăm năm” có lẽ là lời ca hay nhất, hình tượng nhất của bài hát. Chim bói cá là ẩn dụ hình ảnh của con người đi tìm lý tưởng hạnh phúc của mình trên đường đời. Lại thêm lần nữa, nghe như lạnh buốt tâm can trước lời hát đầy triết lý về cuộc nhân sinh trầm phù dâu bể trên cuộc đời, và chợt đau nhói lên như mình đang ở trên “cọc nhọn trăm năm” chịu vết đau vô hình. “Tôi tìm đời đánh mất” ở “Trong vũng nước cuộc đời” là những lời ca day dứt xót xa vương vấn chút gì thương tiếc. Tôi như loài chim bói cá đậu trên cọc nhọn, tìm kiếm những gì đã đánh mất “trong vũng nước cuộc đời”. Tuổi thơ ngày xưa thân ái, hạnh phúc tuổi trẻ của tôi đang ở nơi đâu trong mù mịt bụi đỏ cuộc đời này đây, hỡi Thụy ơi và tình ơi! Đừng bao giờ em hỏi Vì sao ta yêu nhau Vì sao môi anh nóng Vì sao tay anh lạnh Vì sao thân anh run Vì sao chân không vững Vì sao và vì sao… Những câu hỏi dồn dập nối tiếp nhau, nhưng “Đừng bao giờ em hỏi”, vì làm sao mà cắt nghĩa được tình yêu này. Cảm xúc biến đổi từ trạng thái khác nhau làm người nghe cảm được sức mãnh liệt của tình yêu từ “môi anh nóng”, đến “tay anh lạnh” và “thân anh run”. Một loạt câu hỏi không có câu trả lời và cũng một loạt ngọn lửa nồng cháy, đang đốt lửa đam mê trong trái tim người đang yêu đang bày tỏ tình yêu của mình. “Vì sao và vì sao” như là hỏi chính mình tại sao mình lại bị cuốn vào vòng “tình lụy” như thế. Những nốt nhạc như những dấu hỏi thảng thốt rồi lơ lửng rơi rơi… Cho người nghe nhạc liên tưởng đến ý tình thờ thẫn của câu hỏi “định nghĩa về tình yêu” mà từ xưa đến nay chưa ai trả lời được. Hãy nói về cuộc đời Tình yêu như lưỡi dao Tình yêu như mũi nhọn Êm ái và ngọt ngào Cắt đứt cuộc tình đầu Thụy bây giờ về đâu? Không trách móc giận buồn gì đến người yêu, chỉ biết đổ hết cho “Tình yêu” như lưỡi dao như mũi nhọn. Ở phần cuối bài này, người nghe nhạc không cảm nhận sự nhói đau như khi nghe “cọc nhọn trăm năm” ở phần trước đó, bởi vì vết thương này là vết “Êm ái và ngọt ngào”. Lưỡi dao êm ngọt đã “cắt đứt cuộc tình đầu” nên người tình ở lại ôm kỷ niệm đằm thắm này mãi trong lòng. Biết thuở nào quên…  “Thụy bây giờ về đâu?” nghe như có niềm ưu tư và nỗi cô đơn bủa vây. “Thụy bây giờ về đâu?” – Câu kết thúc của bài hát nhưng chưa chấm hết được cảm xúc của người nghe nhạc, thương cảm về một đường đời cô quạnh, có một người bơ vơ đi tìm Khúc Thụy Du ngày xưa…

Bài: Trương Đình Tuấn

Bản quyền bài viết của nhacxua.vn

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6125/feed 0
Câu chuyện chưa kể về nàng Diễm trong 2 ca khúc Diễm Xưa và Hạ Trắng (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) .nguồn :Nhạc xưa .vn https://thuonghylenien.org/luu-tru/6084 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6084#respond Thu, 25 Apr 2024 06:21:17 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6084 Câu chuyện chưa kể về nàng Diễm trong 2 ca khúc Diễm Xưa và Hạ Trắng (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

Mối tình của nhạc sĩ họ Trịnh với nàng thơ xứ Huế (thực ra là gốc Bắc) tên là Ngô Vũ Bích Diễm đã tạo cảm hứng cho nhạc phẩm “Diễm xưa” bất hủ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Câu chuyện chưa kể về nàng Diễm trong 2 ca khúc Diễm Xưa và Hạ Trắng (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

Thời ca khúc này nổi tiếng những năm thập niên 1960 cho tới vài chục năm sau đó, giới thanh niên mới lớn ở Sài Gòn có câu cửa miệng “xưa rồi Diễm”, điều đó phần nào thể hiện mức độ nổi tiếng và phổ quát của ca khúc này.

Theo bạn bè của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói lại sau này, dù mối tình Sơn – Diễm chỉ thoảng như làn gió vội, nhưng đã để lại một dư chấn lớn trong lòng chàng nhạc sĩ thời gian dài về sau, và có lẽ đây cũng chính là mối tình đầu của cả 2 người. Nhà văn, giáo sư Bửu Ý, một người bạn thân của nhạc sĩ, từng cho biết: “Sinh thời, Trịnh Công Sơn có đến hơn… 23 người tình. Tuy nhiên, do mối tình đầu với bà Bích Diễm quá sâu nặng cho nên những mối tình sau này, thật ra Trịnh Công Sơn chỉ là đi tìm hình bóng của bà Diễm trước đó mà thôi”.

Năm 1997, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cho đăng báo một bài tùy bút “Diễm của những ngày xưa”, cho chúng ta biết rõ về hoàn cảnh sáng tác ca khúc Diễm Xưa như sau:

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt… Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ. Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực. Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa. Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh. Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi. Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là “Diễm của những ngày xưa”. Ca khúc này được sáng tác vào năm 1960, khi nhạc sĩ 21 tuổi và vừa thi đậu tú tài (trễ như vậy là do ông nằm bệnh nặng lúc 18 tuổi), sau khi học trung học ở Huế, rồi vô Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn). Xong tú tài, ông về Huế, gặp Bích Diễm và sáng tác Diễm Xưa. Lúc này gia đình ông gặp khó khăn kinh tế, căn nhà ở đường Phan Bội Châu phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ nhỏ hơn ở tầng một dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ). Sau này, Bích Diễm cho biết bà quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua hoạ sĩ Đinh Cường, thời ấy là một học trò Pháp văn của cha của bà là ông Ngô Đốc Khánh. Nhà ông Khánh ở số 46 đường Phan Chu Trinh, bên kia sông An Cựu, đối diện với nhà của Trịnh Công Sơn ở đường Nguyễn Trường Tộ. Bạn của nhạc sĩ thời đó là Nguyễn Đắc Xuân, kể lại: “Hằng ngày Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Đồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm – con gái thầy Ngô Đốc Khánh – người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. Bích Diễm giống bố, người dong dõng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng. Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn. Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà “dài hun hút cho mắt thêm sâu”. Nhưng anh cũng biết gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ. Thầy Ngô Đốc Khánh – thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với các cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy họa sĩ Đinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì hai bạn liền “liều” mình qua thăm. Những lần liều đầy mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp và cũng có khi đang có bố ở nhà, Diễm tránh để cho khách ngồi chơi xơi nước rồi tự ý ra về. Khác với Ph.Th. (em ruột của ca sĩ Hà Thanh), Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt mi biết điều đó. Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm xưa như sau nầy Sơn đã kể lại nhiều lần…” Em rể của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là Hoàng Tá Thích cũng hồi tưởng: “…ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh người con gái thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi: Lụa áo em qua phủ mặt đường Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ có cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: “Chiều này còn mưa, sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau”. Rõ ràng, lời ca khúc trong câu này là NHỠ MAI, một từ rất Huế xưa, (lỡ – nói thành nhỡ), nhưng cho tới hiện tại, hầu hết ca sĩ đều hát thành Nhớ Mãi – cái chữ tương đối tầm thường, và đáng nói là nó làm sai hoàn toàn ý nghĩa câu hát nhẹ nhàng xen lẫn xót xa của nhạc sĩ: Nhỡ mai trong cơn đau vùi… Câu hát đó tuy ngắn ngủi nhưng thể hiện đầy đủ ý nghĩa về một tình yêu có phần vội vã và đầy sự lo âu. Một câu hát khác cũng trong ca khúc này đã từng có một vài sự tranh cãi, đó là chữ “tháp cổ” trong câu đầu tiên: Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ… Đây không phải là tháp chùa Thiên mụ hay đền đài miếu cổ nào, mà theo lời diễn giải của chính tác giả thì tháp cổ ở đây là ẩn dụ về những “tòa tháp” thiên nhiên, cổ của người thiếu nữ. Thuở đó người con gái Huế thường bận áo dài cổ thuyền, khoe tầng cổ cao trắng ngần. Có người lại nói rằng “tháp cổ” ở đây là viết về các tháp Chàm cổ ở Qui Nhơn, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn theo học trường sư phạm vào thời điểm sáng tác ca khúc này. Tuy nhiên điều đó không đúng, vì ông học trường Sư phạm Qui Nhơn vào khóa đầu tiên khai giảng ngày 22/4/1962, còn Diễm Xưa đã sáng tác từ năm 1960, và cảnh mưa vẫn mưa bay trong Diễm Xưa là viết về cảnh mưa buồn muốn thuở của Huế. Bởi thế mà bà Bích Diễm sau này có nói rằng: “Trong bài này anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về… tôi. Tôi nghĩ vậy. Ðó là bóng dáng của Thành nội cổ kính, của dòng sông Hương xanh mát và huyền hoặc, là không khí lãng đãng của thơ, của nhạc”. Một điều đặc biệt khác mà ít người nào ngờ tới, đó là Bích Diễm không chỉ là bóng hồng (một cách chính thức) trong ca khúc Diễm Xưa, mà cũng có liên quan tới một ca khúc rất nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đó là Hạ Trắng. Trong một lần về nước, Bích Diễm kể rằng trong thời gian hai người quen biết nhau, có lần bà tặng cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một nhánh dạ lý hương đầy hoa rất lớn bẻ từ nhà bà, và điều này đã trở thành một “cú sốc” tình cảm lớn đối với nhạc sĩ, theo như lời kể lại của em gái nhạc sĩ với bà sau này… Chùm dạ lý hương đã được Hoàng Tá Thích nhắc tới bên trên, cũng đã được Diễm thừa nhận như vậy, và nó đã xuất hiện một cách đặc biệt trong hoàn cảnh sáng tác ca khúc Hạ Trắng được chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kể lại như sau: “Ở Huế mùa hạ, ve kêu râm ran trên những tàn cây như một dàn hợp xướng và nắng nóng oi bức như địa ngục. Thêm vào đó lại còn có gió Lào. Vừa tắm xong là người đã ướt đẫm mồ hôi. Bao nhiêu nhiên liệu tích lũy trong cơ thể đều tan ra thành nước. Những đồ vật và quần áo sờ vào cũng có cảm giác như vừa rút trong lò lửa ra. Những mặt đường gần như bốc khói với nhiệt độ 42-43 độ C. Có một mùa hạ năm ấy, tôi bị một số cơn sốt nặng, nhiệt độ trong người và bên ngoài gần nhau. Tôi nằm sốt mê man trên giường không còn biết gì. Và bỗng có một lúc nào đó tôi cảm thấy có một hương thơm phủ ngập cả căn phòng và tôi chìm đắm vào một giấc mơ như một cơn mê sảng. Tôi thấy mình lạc vào một rừng hoa trắng thơm ngào ngạt, bay bổng trong không gian đó. Đến lúc tỉnh người ướt đẫm mồ hôi và tôi nhìn thấy bên cạnh giường có một người con gái nào đó đã đến cầm một bó hoa dạ lý hương trắng rất lớn. Chính cái mùi thơm của dạ lý hương đã đưa tôi vào giấc mơ kia. Giấc mơ trong một mùa hạ nóng bức. Trong vùng tôi ở đó, quanh đó chỉ có một nhà duy nhất trồng dạ lý hương nên tôi biết ngay người mang hoa đến là ai. Sau một tuần lễ tôi hết bệnh. Nghe tin bố người bạn đang hấp hối tôi vội vàng đến thăm. Ông chẳng có bệnh gì ngoài bệnh nhớ thương và buồn rầu. Câu chuyện rất đơn giản. Hai ông bà đã lớn tuổi thường nằm chung trên một sập gụ xưa. Cứ mỗi sáng bà cụ thức dậy và xuống bếp nấu nước sôi để pha trà cho ông cụ uống. Một buổi sáng nọ, cũng theo thường lệ, bà cụ xuống bếp bị gió ngã xuống bất tỉnh và chết. Mấy người con ở gần đó tình cờ phát hiện ra và đưa bà cụ về nhà một người để tẩn liệm. Sau đó chôn cất và giấu ông cụ. Khi ông cụ thức dậy hỏi con, mẹ các con đi đâu rồi, thì họ trả lời là mẹ sang nhà chúng con để chăm sóc mấy cháu vì chúng bị bệnh. Vài ngày sau vẫn chưa thấy bà về ông mới trầm ngâm hỏi các con có phải mẹ các con đã chết rồi phải không. Lúc ấy mọi người mới khóc òa lên. Từ đó, ông nằm trên sập gụ một mình cơm không ăn, trà không uống cho đến lúc kiệt sức và đi theo cụ bà luôn. Câu chuyện ám ảnh tôi một thời gian. Và sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như ‘áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau’ để viết nên bài Hạ Trắng.”

Theo lời kể của Diễm sau này, lúc đó bà cũng có tình cảm với chàng nhạc sĩ. Nhưng vì sao mối tình này không thành? Thậm chí chưa kịp viên thành đã tan nhanh. Có lẽ là vì lúc đó chàng nhạc sĩ mặc cảm về hoàn cảnh của mình, việc học còn dở dang nên không tỏ lời yêu chính thức, chỉ dám thổ lộ tình cảm của mình qua nhạc, còn Diễm thì cũng không thể vượt qua được cản trở từ gia đình…

Đông Kha

nguồn nhacxua.vn

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6084/feed 0
CHINH PHỤ NGÂM – LÒNG CHÀNG Ý THIẾP AI SẦU HƠN AI? https://thuonghylenien.org/luu-tru/5967 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5967#respond Sat, 17 Feb 2024 01:56:58 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5967
CHINH PHỤ NGÂM – LÒNG CHÀNG Ý THIẾP AI SẦU HƠN AI?
******
Có thể là đồ họa về võ thuật, áp phích và văn bản
ĐẶNG TRẦN CÔN
Ông là tác giả của Chinh Phụ Ngâm, hay còn gọi là Chinh Phụ Ngâm Khúc, một kiệt tác của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán.
Cho đến nay, tiểu sử của ông vẫn còn mù mờ. Các nghiên cứu về ông cũng chỉ phỏng đoán, ông sinh khoảng đầu thế kỷ mười tám và mất vào khoảng giữa thế kỷ này.
Theo những dữ liệu nghiên cứu khác, thì Chinh Phụ Ngâm ra đời vào khoảng năm bốn mươi của thế kỷ mười tám. Lúc này, nội bộ Bắc Hà lủng củng trầm trọng, không khí chiến tranh bao trùm.
Bản Chinh Phụ Ngâm bằng tiếng Hán, ra đời giữa lúc chữ Nôm đang phát triển cực thịnh, thế nên rất nhiều người đã tham gia vào việc dịch thuật, phỏng dịch tác phẩm ra loại chữ đang được ưa chuộng ấy. Hiện nay, có cả thảy bảy bản dịch được lưu giữ, trong đó, có một bản dịch hay nhứt, được lưu hành rộng rãi, mà cho đến bây giờ, vẫn không sao đủ chứng cớ để có thể khẳng định một cách rõ ràng, bản dịch ấy là của bà Đoàn Thị Điểm hay của ông Phan Huy Ích.
Sinh ra trong một giai đoạn hết sức đặc biệt, phức tạp, với những tranh đấu quyền lực, giành đất chiếm đai liên miên của bọn vua chúa, Đặng Trần Côn cũng như hầu hết người dân nước Việt thời ấy, đã quá đỗi chán ngán và chán ghét chiến tranh.
Chinh Phụ Ngâm, là khúc ngâm của người vợ có chồng đi chinh chiến, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn khi phải xa chồng. Một khúc ngâm, mà, theo nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Xuân Hãn, từ quê đến thành thị, không mấy người không biết một vài câu.
Tác phẩm được viết theo hình thức độc thoại, lối tập cổ, nhạc phủ, trường đoản cú, nghĩa là có đủ các câu dài ngắn, có câu dài hơn mười chữ, lại có những câu chỉ ba, hoặc bốn chữ.
Tác phẩm mở đầu bằng khung cảnh của cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt. Đáp lời triều đình kêu gọi, những chàng trai trẻ lên đường hộ quốc. Chinh phụ chốn quê nhà, hình dung chồng trong cuộc chiến đấu, bà mơ ước chồng mình giành được hàng loạt thành trì, dâng lên vua, trở về với chiến công lớn lao, hùng dũng trong chiếc áo bào thắm đỏ cưỡi trên lưng con ngựa sắc trắng như tuyết. Ở giai đoạn đầu này, tâm trạng của người vợ còn đậm màu lý tưởng hóa cuộc chiến.
Sau cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, chinh phụ quay trở về khuê phòng, một mình. Những xúc cảm về hình ảnh oai phong, lẫm liệt ban đầu của người ra trận đã nhanh chóng qua đi, thay vào đó là nỗi sợ lo về sinh mệnh của chồng mình giữa chiến trường khốc liệt, nơi chứa đầy oan hồn, tử khí và nỗi buồn tủi khôn nguôi khi nghĩ về nỗi cô đơn, nỗi sầu lẻ bóng của mình, từ đây.
Phần độc thoại tiếp theo là tâm trạng bất an của chinh phụ, khi thấy đã quá thời hạn hẹn ước mà chồng vẫn bặt vô âm tín, vẫn chưa thấy về. Chinh phụ bắt đầu đếm thời gian bằng những chu kỳ lặp lại của tiếng quyên hót, của đào nở, của sen tàn.
Hết quanh quẩn trước hiên thì sau rèm, hết vò võ dưới đêm khuya vắng thì đối diện với hoa, với nguyệt, chinh phụ đành tìm chồng trong mộng nhưng khi thức dậy rồi lại thấy buồn hơn. Lần giở kỷ vật của chồng mong tìm chút an ủi nhưng an ủi ấy, như ngọn đèn dầu hao, chỉ le lói chút rồi tắt. Nàng ngẫm ra, mình không bằng cả đôi chim kia đương liền cánh, đôi hoa kia đương liền cành. Ngày nối ngày, niềm hy vọng hóa thành niềm tuyệt vọng, lòng chinh phụ tràn ngập khổ đau, tràn ngập sự ám ảnh về cái chết của binh sĩ nơi trận mạc, tự trách mình ham bã vinh hoa, nên đã không cản chàng ra tiền tuyến. Nghĩ đến đây, nàng chẳng còn thiết tha gì cuộc sống, chẳng còn thiết tha gì đến gương lược, chải chuốt, dặm phấn thoa son.
Rồi nàng ngày đêm khẩn cầu, xin cho chàng được bằng an, được chiến thắng quay trở về, được triều đình ban thưởng, được tiếp tục sống cùng chồng trong tháng ngày hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa những đau khổ có thực cùng sự ảo tưởng về cuộc sống vàng son, về tất thắng, về vinh quang, vẫn trở đi trở lại.
Chinh Phụ Ngâm ra đời trong bối cảnh các phong trào nông dân khởi nghĩa chống triều đình phong kiến nửa đầu thế kỷ mười tám đang dâng lên mạnh mẽ. Trai tráng, đàn ông đều ra trận, còn lại nhà chỉ cha mẹ già, vợ và con thơ. Cả người ra đi và người ở lại đều ngập tràn trong lòng một sự lo lắng, sợ hãi, vì không thể biết được gì về ngày mai của mình. Lý tưởng, công danh, được đặt ra, đối lập với những khát khao hạnh phúc, khát khao lứa đôi, ái ân, gần gụi, đối lập với cả những nhân quả báo ứng của nhà Phật.
Vì là thể thơ cổ, nên tác giả đã viết tác phẩm bằng bút pháp tượng trưng, ước lệ. Tác phẩm chứa đựng nhiều hình ảnh, giàu nhạc tính. Bản dịch với thể song thất lục bát cũng nhờ ưu điểm này của bản gốc mà trở nên xuất sắc, được ưa chuộng, dễ nhớ, dễ ngâm ngợi.
******
PHAN HUY ÍCH
Phan Huy Ích sinh năm một ngàn bảy trăm năm mươi và mất năm một ngàn tám trăm hai mươi hai. Mới hai mươi bốn tuổi, ông đã đỗ Tiến Sĩ. Ông là quan đại thần của ba triều liên tiếp, đồng thời là nhà ngoại giao xuất sắc của triều Tây Sơn.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời Tây Sơn, Người viết chính luận hay nhứt là Ngô Thì Nhậm, hay thứ nhì là ông Phan Huy Ích.
Bài tuyên cáo của vua Gia Long, đổi tên nước từ An Nam sang Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ mười chín, chính là do ông Phan Huy Ích viết.
Cũng vào đầu thế kỷ mười chín này, khi cáo quan về quê an dưỡng, ông đã dịch Chinh Phụ Ngâm sang tiếng Nôm. Tên đầy đủ của bản dịch này là Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca Tân Khúc. Ông cũng là tác giả của nhiều bài thơ thiền, đến hôm nay vẫn còn lưu lại.
Nhiều người làm công tác nghiên cứu văn học cho rằng, ông Phan Huy Ích, có điều kiện hơn hẳn bà Đoàn Thị Điểm khi phiên dịch tác phẩm Chinh Phụ Ngâm từ tiếng Hán sang tiếng Nôm, Lợi thế ở chỗ, ông sinh vào giữa thế kỷ mười tám và sống qua đến thế kỷ mười chín, là thế kỷ mà nền văn chương Nôm đã hoàn thiện, phát triển, và đã đạt được những thành tựu xuất sắc.
******
ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sinh năm một ngàn bảy trăm lẻ năm và mất năm một ngàn bảy trăm bốn mươi tám. Bà nổi tiếng thông minh, hay chữ, từng vào cung của chúa Trịnh để làm Giáo Thụ, dạy con của Chúa, từng vừa dạy học vừa làm nghề thầy thuốc khi từ quan về quê. Học trò khắp nơi theo học bà rất đông, và trong số các học trò của bà, có người sau này đỗ Tiến Sĩ.
Với nghi án, bà hay ông Phan Huy Ích, ai mới là tác giả đích thực của bản dịch đang lưu hành hiện nay, thì các nhà nghiên cứu cho rằng, thời kỳ ra đời và mất đi của Bà Đoàn Thị Điểm là thời kỳ mở đầu của nền văn học cổ điển Việt Nam, hẳn là bà Điểm khó lòng có điều kiện để dịch tác phẩm Chinh Phụ Ngâm thành một bản văn chữ Nôm chải chuốt và điêu luyện như vậy.
Tuy nhiên, bản diễn Nôm hiện nay, lại có tên gốc là Chinh Phụ Ngâm Khúc Diễn Ca, và cũng là tên đầu tiên mà bà Đoàn Thị Điểm đặt cho bản dịch của mình.
Tương truyền, so với bà Hồ Xuân Hương và bà huyện Thanh Quan của thế kỷ mười chín, thì bà Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ mười tám, ngoài sự thông minh, tài văn chương thơ phú, giỏi nữ công gia chánh, bà là người nổi trội nhứt về nhan sắc.
Đạo Cao Đài xem bà Đoàn Thị Điểm là kiếp giáng trần của Tứ Nương Diêu Trì Cung.
**
Bà Đoàn Thị Điểm cũng là người có nhiều giai thoại.
Đối Sách Đối Sử:
Năm sáu tuổi, bà đã biết đáp lại câu đối. Anh bà là Đoàn Doãn Luân lấy từ Sử Ký, ra vế: Rắn trắng giữa đường / Ông Quý (Lưu Bang) tuốt gươm mà chém. Bà cũng lấy từ Sử Ký ra, đối lạ: Rồng vàng đội thuyền / Ông Vũ (Hạ Vũ) ngửa mặt mà than.
Đối Chữ Đối Cảnh:
Bữa nọ, Đoàn Doãn Luân thấy bà ngồi soi gương, bèn ra vế: Soi gương vẽ mày / Một nét (điểm) hóa thành hai nét (điểm). Bà quay lại, ngó thấy anh bà đang ngồi rửa tay bên cầu ao, bà rằng: Ra ao ngắm trăng / Một vầng (luân) chuyển thành hai vầng (luân).
******
CHINH PHỤ NGÂM
1- Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
2- Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
3- Xanh kia thăm thẳm từng trên
4- Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
5- Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
6- Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
7- Chín tầng gươm báu trao tay
8- Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
9- Nước thanh bình ba trăm năm cũ
10- Áo nhung trao quan vũ từ đây
11- Sứ trời sớm giục đường mây
12- Phép công là trọng, niềm tây sá nào
13- Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn
14- Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
15- Bóng cờ tiếng trống xa xa
16- Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
17- Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
18- Xếp bút nghiên theo việc đao cung
19- Thành liền mong tiến bệ rồng
20- Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
21- Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
22- Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
23- Giã nhà đeo bức chiến bào
24- Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
25- Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
26- Đường bên cầu cỏ mọc còn non
27- Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
28- Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
29- Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
30- Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
31- Nhủ rồi tay lại trao liền
32- Bước đi một bước lại vin áo chàng
33- Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
34- Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
35- Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
36- Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
37- Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
38- Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
39- Áo chàng đỏ tựa ráng pha
40- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
41- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
42- Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
43- Hà Lương chia rẽ đường này
44- Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi
45- Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
46- Ngựa sau còn khuất nẻo Tràng Dương
47- Quân đưa chàng ruổi lên đường
48- Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
49- Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
50- Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
51- Dấu chàng theo lớp mây đưa
52- Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
53- Chàng thì đi cõi xưa mưa gió
54- Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
55- Đoái trông theo đã cách ngăn
56- Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
57- Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
58- Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
59- Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
60- Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
61- Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
62- Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
63- Ngàn dâu xanh ngắt một màu
64- Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
65- Chàng từ đi vào nơi gió cát
66- Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?
67- Xưa nay chiến địa dường bao
68- Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu
69- Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn
70- Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon
71- Ôm yên, gối trống đã chồn
72- Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh
73- Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
74- Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua
75- Hình khe thế núi gần xa
76- Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao
77- Sương đầu núi buổi chiều như gội
78- Nước lòng khe nẻo lội còn sâu
79- Não người áo giáp bấy lâu
80- Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây
81- Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ
82- Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
83- Tưởng chàng rong ruổi mấy niên
84- Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan
85- Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ
86- Lại lạnh lùng những chỗ sương phong
87- Lên cao trông thức mây lồng
88- Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?
89- Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo
90- Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
91- Những người chinh chiến bấy lâu
92- Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây
93- Nức hơi mạnh, ân dày từ trước
94- Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
95- Non Kì quạnh quẽ trăng treo
96- Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
97- Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
98- Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
99- Chinh phu tử sĩ mấy người
100- Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
101- Dấu binh lửa, nước non như cũ
102- Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
103- Phận trai già ruổi chiến trường
104- Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về
105- Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ
106- Ba thước gươm, một cỗ nhung yên
107- Xông pha gió bãi trăng ngàn
108- Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành
109- Áng công danh trăm đường rộn rã
110- Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi
111- Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
112- Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây
113- Trong cửa này đã đành phận thiếp
114- Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
115- Những mong cá nước sum vầy
116- Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời
117- Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
118- Chàng há từng học lũ vương tôn
119- Cớ sao cách trở nước non
120- Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu
121- Khách phong lưu đương chừng niên thiếu
122- Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
123- Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
124- Quan san để cách, hàn huyên bao đành
125- Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
126- Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca
127- Nay quyên đã giục, oanh già
128- Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
129- Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió
130- Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông
131- Nay đào đã quyến gió đông
132- Phù dung lại đã bên sông bơ sờ
133- Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy
134- Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?
135- Ngập ngừng, lá rụng cành trâm
136- Chiều hôm nghe dậy tiếng cầm lao xao
137- Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ
138- Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao ?
139- Ngập ngừng gió thổi chéo bào
140- Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông
141- Tin thường lại, người không thấy lại
142- Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh
143- Rêu xanh mấy lớp chung quanh
144- Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ
145- Thư thường tới, người không thấy tới
146- Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
147- Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
148- Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai
149- Thử tính lại diễn khơi ngày ấy
150- Tiền sen này đã nẩy là ba
151- Xót người lần lữa ải xa
152- Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài
153- Tình gia thất nào ai chẳng có
154- Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương
155- Mẹ già phơ phất mái sương
156- Con thơ măng sữa, vả đương phù trì
157- Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
158- Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm
159- Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
160- Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
161- Nay một thân nuôi già dạy trẻ
162- Nỗi quan hoài mang mể biết bao
163- Nhớ chàng trải mấy sương sao
164- Xuân từng đổi mới đông nào còn dư
165- Kể năm đã ba tư cách diễn
166- Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
167- Ước gì gần gũi tấc gang
168- Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay
169- Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá
170- Gương lầu Tần dấu đã soi chung
171- Cậy ai mà gửi tới cùng
172- Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư
173- Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía
174- Ngọc cài đầu thuở bé vui tươi
175- Cậy ai mà gửi tới nơi
176- Để chàng trân trọng dấu người tương thân?
177- Trải mấy thu, tin đi tin lại
178- Tới xuân này tin hãy vắng không
179- Thấy nhạn luống tưởng thư phong
180- Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng
181- Gió tây nổi không đường hồng tiện
182- Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa
183- Màn mưa trướng tuyết xông pha
184- Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài
185- Đề chữ gấm, phong thôi lại mở
186- Gieo bói tiền tin dở còn ngờ
187- Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
188- Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai
189- Há như ai hồn say bóng lẫn
190- Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không
191- Trâm cài xiêm giắt thẹn thùng
192- Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo
193- Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
194- Bức rèm thưa rủ thác đòi phen
195- Ngoài rèm thước chẳng mách tin
196- Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
197- Đèn có biết, dường bằng chẳng biết
198- Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
199- Buồn rầu nói chẳng nên lời
200- Hoa đèn kia với bóng người khá thương
201- Gà eo óc gáy sương năm trống
202- Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên
203- Khắc giờ đằng đẵng như niên
204- Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
205- Hương gượng đốt hồn đà mê mải
206- Gương gượng soi lệ lại chứa chan
207- Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
208- Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng
209- Lòng này gửi gió đông có tiện
210- Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
211- Non Yên dù chẳng tới miền
212- Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
213- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
214- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
215- Cảnh buồn người thiết tha lòng
216- Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
217- Sương như búa bổ mòn gốc liễu
218- Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
219- Giọt sương phủ bụi chim gù
220- Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi
221- Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc
222- Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
223- Lá màn lay ngọn gió xuyên
224- Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
225- Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm
226- Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
227- Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng
228- Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau
229- Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não
230- Từ nữ công phụ xảo đều nguôi
231- Biếng cầm kim biếng đưa thoi
232- Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa
233- Mặt biếng tô miệng càng biếng nói
234- Sớm lại chiều dòi dõi nương song
235- Nương song luống ngẩn ngơ lòng
236- Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
237- Biếng trang điểm lòng người sầu tủi
238- Xót nỗi chàng, ngoài cõi Giang Lăng
239- Khác gì ả Chức chị Hằng
240- Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng
241- Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
242- Buồn chứa đầy hãy thổi làm cơm
243- Mượn hoa mượn rượu giải buồn
244- Sầu làm rượu nhạt muộn làm hoa ôi
245- Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng
246- Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
247- Xót người hành dịch bấy nay
248- Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi
249- Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt
250- Trống tiều khua như đốt buồng gan
251- Võ vàng đổi khác dung nhan
252- Khuê ly mới biết tân toan dường này
253- Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ
254- Chua cay này há có vì ai?
255- Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
256- Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
257- Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng
258- Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
259- Duy còn hồn mộng được gần
260- Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người
261- Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ
262- Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
263- Sum vầy mấy lúc tình cờ
264- Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân
265- Giận thiếp thân lại không bằng mộng
266- Được gần chàng bến Lũng thành Quan
267- Khi mơ những tiếc khi tàn
268- Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không
269- Duy có một tấm lòng chẳng dứt
270- Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
271- Lòng theo song chửa thấy người
272- Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe
273- Trông bến nam bãi che mặt nước
274- Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh
275- Nhà thôn mấy xóm chông chênh
276- Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm
277- Trông đường bắc đôi chòm quán khách
278- Rườm rà cây xanh ngắt núi non
279- Lúa thành thoi thóp bên cồn
280- Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu
281- Non Đông thấy lá hầu chất đống
282- Trĩ xập xoè mai cũng bẻ bai
283- Khói mù nghi ngút ngàn khơi
284- Con chim bạt gió lạc loài kêu thương
285- Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc
286- Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu
287- Ngàn thông chen chúc khóm lau
288- Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về
289- Trông bốn bề chân trời mặt đất
290- Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen
291- Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
292- Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan ?
293- Dây rút đất dễ khôn học chước
294- Khăn gieo cầu nào được thấy tiên
295- Lòng này hóa đá cũng nên
296- E không lệ ngọc mà lên trông lầu
297- Lúc ngảnh lại ngắm màu dương liễu
298- Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
299- Chẳng hay muôn dặm ruổi rong
300- Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
301- Lòng chàng ví cũng bằng như thế
302- Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa
303- Hướng dương lòng thiếp như hoa
304- Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
305- Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
306- Hoa để vàng bởi tại bóng dương
307- Hoa vàng hoa rụng quanh tường
308- Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần
309- Chồi lan nọ trước sân đã hái
310- Ngọn tần kia bên bãi đưa hương
311- Sửa xiêm dạo bước tiền đường
312- Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ
313- Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ
314- Độ Khuê Triền buổi có buổi không
315- Thức mây đòi lúc nhạt hồng
316- Chuôi sao Bắc Đẩu thôi đông lại đoài
317- Mặt trăng tỏ thường soi bên gối
318- Bừng mắt trông sương gội cành khô
319- Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu
320- Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi
321- Một năm một nhạt mùi son phấn
322- Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
323- Xưa sao hình ảnh chẳng rời
324- Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?
325- Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ
326- Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in
327- Gió Xuân ngày một vắng tin
328- Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì
329- Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy
330- Trước gió xuân vàng tía sánh nhau
331- Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
332- Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông
333- Thương một kẻ phòng không luống giữ
334- Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau
335- Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
336- Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh
337- Xuân thu để giận quanh ở dạ
338- Hợp ly đành buồn quá khi vui
339- Oán sầu nhiều nỗi tơi bời
340- Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân
341- Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước
342- E đến khi đầu bạc mà thương
343- Mặt hoa nọ gã Phan Lang
344- Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
345- Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
346- Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
347- Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa
348- Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng
349- Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt
350- Lầu hoa kia phảng phất mùi hương
351- Trách trời sao để nhỡ nhàng
352- Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên
353- Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội
354- Cũng dập dìu chẳng vội phân trương
355- Chẳng xem chim yến trên rường
356- Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
357- Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh
358- Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
359- Liễu sen là thức cỏ cây
360- Đôi hoa cũng sánh đôi dây cũng liền
361- Ấy loài vật tình duyên còn thế
362- Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
363- Thiếp xin về kiếp sau này
364- Như chim liền cánh như cây liền cành
365- Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy
366- Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
367- Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
368- Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
369- Xin làm bóng theo cùng chàng vậy
370- Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên
371- Chàng nương vừng nhật phỉ nguyền
372- Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn
373- Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt
374- Sức tý dân dường sắt trơ trơ
375- Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi
376- Ấy thì bữa uống ấy thì bữa ăn
377- Mũi đòng vác đòi lần hăm hở
378- Đã lòng trời gìn giữ người trung
379- Hộ chàng trăm trận nên công
380- Buông tên ải bắc treo cung non đoài
381- Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải
382- Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh
383- Non Yên tạc đá đề danh
384- Triều thiên vào trước cung đình dâng công
385- Nước Ngân Hán vác đòng rửa sạch
386- Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen
387- Tài so Tần Hoắc vẹn tuyền
388- Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân
389- Nền huân tướng đai cân rạng vẻ
390- Chữ đồng hưu bia để nghìn đông
391- Ơn trên tử ấm thê phong
392- Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời
393- Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ
394- Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
395- Khi về đeo quả ấn vàng
396- Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao
397- Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
398- Xin vì chàng giũ lớp phong sương
399- Vì chàng tay chuốc chén vàng
400- Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng
401- Giở khăn lệ chàng trông từng tấm
402- Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu
403- Câu vui đối với câu sầu
404- Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời
405- Sẽ rót vơi lần lần từng chén
406- Sẽ ca dần ren rén từng thiên
407- Liên ngâm đối ẩm đòi phen
408- Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
409- Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ
410- Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình
411- Ngâm nga mong gửi chữ tình
412- Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.
******
Chinh Phụ Ngâm kể từ lúc ra đời cho đến nay, không biết thời thôi, chớ nếu biết, nếu có từng đọc qua, đều cảm thấy xúc động. Bởi vì, như Hoài Thanh từng khen, tác giả đã cảm được cái cảm của người xưa.
Thậm chí, khi Chinh Phụ Ngâm Khúc, “vượt biên” qua bên kia đất nước Trung Hoa, tác phẩm cũng đã được nhiều danh sĩ xứ ấy quý trọng và ca ngợi.
Dù vẫn chưa ngã ngũ, bản Chinh Phụ Ngâm đang dùng ngày nay, là của bà Đoàn Thị Điểm hay của ông Phan Huy Ích, thì cá nhân tôi, tôi vẫn cho rằng, đây là một bản dịch tuyệt tác.
Chinh Phụ Ngâm không chỉ mang tới sự rung động chân thành trong lòng người đọc mà nó còn làm người đọc thấy thêm yêu thơ ca, đặc biệt là thơ ca bằng chữ Nôm.
Chinh Phụ Ngâm đem lại lòng tự hào, rằng, người Việt mình, từ xưa, không chỉ đấng nam nhi mới thông minh, hiếu học mà ngay cả các bậc nữ lưu, mà người ta hay còn gọi một cách rất phân biệt là, nữ lưu thường tình (yếu đuối, ủy mị, không nhìn xa trông rộng, bịn rịn chồng con) cũng rất tài năng, tài hoa, rất xuất sắc trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực dạy học, viết văn, làm thơ và lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật.
******
Đầu thế kỷ hai mươi, năm một ngàn chín trăm mười chín, ở miền nam, tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã cho ra đời bản Dạ Cổ Hoài Lang, khi ông bị gia đình chia uyên rẽ thúy với người vợ đã ăn ở ba năm mà chưa có con – tam niên vô tự bất thành thê.
Mỗi khi đàn tấu lên khúc nhạc thiết tha, mỗi khi tiếng ca ai oán cất giọng trầm bổng, lúc tức tưởi lúc nghẹn ngào, là mỗi lần làm cho hàng triệu triệu con tim phải thổn thức theo, xót xa thương cảm cho tình cảnh không được gần nhau, không được bên nhau của đôi mái đầu xanh.
Mới thấy, bắc nam gì cũng vậy thôi, thời đại nào cũng vậy thôi, phải xa nhau, dù với bất cứ lý do gì, cũng đều là điều làm đau đớn hai kẻ yêu nhau, xé nát tim gan của người thương và người thương:
Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng quặn đau í a
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trông tin chàng
Sao nỡ phụ phàng
Chàng hỡi chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc cầm đừng lợt phai í a
Là nguyện cho chàng
Hai chữ an bình an
Mau trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi í a… .
Sài Gòn 15.02.2024
Phạm Hiền Mây
]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5967/feed 0
Sự vĩ đại của thiên tài âm nhạc J.S. Bach: Bach không phải là con suối, mà là đại dương https://thuonghylenien.org/luu-tru/5705 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5705#respond Sat, 30 Dec 2023 20:33:50 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5705 Sự vĩ đại của thiên tài âm nhạc J.S. Bach: Bach không phải là con suối, mà là đại dương

Johann Sebastian Bach (1685-1750) là nhà soạn nhạc người Đức, được hậu thế coi là một thiên tài âm nhạc lớn lao nhất trong thời đại Baroque.

Trong các sáng tác âm nhạc, J.S. Bach đã đưa các kỹ thuật âm nhạc như đối điểm (counterpoint) và tẩu khúc (fugue) lên các trình độ cao nhất. Đối điểm là cách trình diễn hai hay nhiều tiết điệu (melodies) đồng thời với nhau còn tẩu khúc là cách sáng tác trong đó các nhạc cụ khác nhau lặp lại cùng một tiết điệu với một chút biến đổi (variations).

Không có một lĩnh vực nào của nghệ thuật sáng tác âm nhạc mà Bach lại không cống hiến tài năng của mình và bất cứ ở đâu ông cũng đều vĩ đại như nhau: Hoặc viết cho clavexanh hay Oocgan, cho dàn nhạc hay hợp xướng, những bản nhạc chính biên, phát triển, biến tấu, chuyển biên trên giai điệu của chính mình hoặc những người đương thời – tất cả đều là những mẫu mực, đều là những viên ngọc quý giá.

Con dấu của Bach, có chữ viết tắt các chữ cái đầu JSB - tên nhà soạn nhạc thiên tài (Johann Sebastian Bach)
Con dấu của Bach, có chữ viết tắt các chữ cái đầu JSB – tên nhà soạn nhạc thiên tài (Johann Sebastian Bach) – Ảnh internet.

Trong tác phẩm của mình, Bach là người biết tổng kết những thành tựu của nghệ thuật âm nhạc quá khứ và hiện tại, cả nhạc thế tục lẫn nhạc giáo hội, từ nhạc dân gian đến nhạc chuyên nghiệp. Vì thế toàn bộ tác phẩm âm nhạc của Bach là một cuốn từ điển sống về âm nhạc của Châu Âu các thế kỷ XVII – XVIII. Trong lĩnh vực nghệ thuật khi có một người biết tổng kết quá khứ thì đó cũng chính là người đặt cơ sở nền móng cho sự phát triển của nó về tương lai.

Chữ ký của Bach
Chữ ký của Bach. 

Bach là nhc sĩ ca trưng phái, ca ch nghĩa nào?

Sở dĩ có câu hỏi đó, là vì khi nghiên cứu lịch sử âm nhạc châu Âu hoặc bất cứ loại lịch sử nào ở châu Âu người ta đã quen với phương pháp chia gọn nó ra thành những thời đại, những chiều hướng dường như là thay thế dần cho nhau theo các bậc thang ngày càng cao hơn. Sự thật thì không phải hoàn toàn như vậy. Nếu cho Bach là tiền cổ điển với ý nghĩa là sự manh nha, là bước chập chững trước khi vào âm nhạc của các nhạc sĩ cổ điển thì dĩ nhiên là hoàn toàn sai lầm. Còn với ý nghĩa là đặt nền móng cho chủ nghĩa cổ điển thì lại chưa đầy đủ, vì thật không quá phóng đại khi nói Bach đặt nền móng cho mọi thứ trường phái, mọi loại chủ nghĩa trong âm nhạc.

Bach ngày nay được nhắc tới trong mọi lĩnh vực của âm nhạc, là tác giả của tác phẩm đầu tiên trong chương trình thi cử từ lớp nhạc của trẻ em tới phòng thi quốc tế của các nhạc sĩ biểu diễn tài ba khắp hoàn cầu, là danh hiệu của nhiều viện nghiên cứu, nhiều tổ chức âm nhạc, là đối tượng thảo luận của vô vàn sách báo và hội thảo, là sư tổ của các trường phái âm nhạc giọng điệu, phi giọng điệu, ấn tượng và hiện thực . .  là cha đẻ của nhạc hiện đại, là người sáng lập ra tất cả âm nhạc Châu Âu.

Bach và 3 cậu con trai
Bach và 3 cậu con trai. (Ảnh: Internet)

Beethoven nói: Bach không phải là con suối, Bach là đại dương…

Người đầu tiên biết đánh giá âm nhạc của Bach là Mozart. Tính chất sâu sắc trong âm nhạc của Bach đã ảnh hưởng tới những tác phẩm của Mozart và đặc biệt tác phẩm “Requiem” nổi tiếng của ông xứng đáng được coi như là sự kế tục của bản “Mass in B minor”.

Tiếp theo Mozart là Bethoven với câu nói nổi tiếng đã trở thành châm ngôn “Erist kei Bach – er ist sin ozean” có nghĩa là :”Bach không phải là con suối, Bach là đại dương”. Trong tiếng Đức chữ “Bach” có nghĩa là “con suối”, Bethoven đã chữa nghĩa của chữ đó để nói lên lòng hâm mộ vô bờ của mình đối với âm nhạc Bach.

Bach là nguồn cổ vũ lớn lao đối với các nhạc sĩ ngày nay…

Tuy nhiên, tất cả những cái tất cả ấy về Bach, trừ một vài nhạc sĩ lỗi lạc, còn thì mới được khám phá và đồng cảm từ đầu thế kỷ XIX, cụ thể hơn là từ năm 1829 (gần 100 năm sau khi Bach viết Mass in B minor và 80 năm sau khi Bach mất) nhờ Mendelson chạy vạy, trình diễn được Passio – “Khổ hạnh của Chúa theo Matvay kể”.

Chỉ có từ các nhạc sĩ thời lãng mạn mới bắt đầu biết tuyên truyền và nghiên cứu sâu sắc âm nhạc Bach. Hai tập “Bình quân” là những cuốn sách gối đầu giường của Sô-Panh (Chopin). Âm nhạc Bach là tiết mục không thể thiếu được trong chương trình biểu diễn của Su-man, của Liszt.
Ở thế kỷ của chúng ta âm nhạc Bach giữ một chỗ đứng chói lọi nhất. Bach là nguồn cổ vũ lớn lao đối với các nhạc sĩ, các nhà biểu diễn âm nhạc tiêu biểu nhất thời đại ngày nay.

Dưới đây là minh họa tác phẩm “Air” vĩ đại của Johann Sebastian Bach.

Bach viết 4 bản Suite cho dàn nhạc, trong đó nổi tiếng nhất bản số 3 (D-dur BWV.1068) nhờ sự hùng vĩ, sức mạnh và đặc biệt là vẻ đẹp phi thường của chương II vẫn được biết đến với cái tên Air on G-string. Chương này được chuyển biên cho các loại nhạc cụ khác nhau độc tấu, nhưng không có bản nào có được âm thanh trọn vẹn đầy đặn bằng bản gốc cho dàn dây của chính tác giả:

Kim Cương

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5705/feed 0
Bach – ngọn núi Thái Sơn của âm nhạc cổ điển phương Tây https://thuonghylenien.org/luu-tru/5703 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5703#respond Sat, 30 Dec 2023 20:31:46 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5703 Bach – ngọn núi Thái Sơn của âm nhạc cổ điển phương Tây

Bach được mệnh danh là ngọn núi Thái Sơn, cha đẻ của nền âm nhạc phương Tây. Ông đã thiết lập mô hình âm nhạc cổ điển và khám phá tất cả các hình thức sáng tác có thể có. Hơn nữa, là một bậc thầy về nhạc fugue, âm nhạc của ông là thứ âm nhạc bác học, phức tạp, tinh tế và tráng lệ nhất trong lịch sử.

Là bậc tiền bối vĩ đại trong lịch sử âm nhạc phương Tây, Bach đã lưu lại một phép màu của Chúa cho nhân loại và vinh hiển Chúa cho các thế hệ mai sau.

Mendelssohn khai quật Bach từ cửa hàng bán thịt lợn

Một ngày nọ, Mendelssohn rất hứng chí và chủ động cùng vợ đi chợ. Sau khi đi dạo một vòng, hai người đã đến một cửa hàng thịt lợn. Ai cũng biết rằng người Đức thích ăn các sản phẩm từ thịt lợn, các loại xúc xích, giăm bông, thịt xông khói. Hai người mua rất nhiều; anh chàng bán thịt dùng giấy gói lại và đặt lên xe ngựa, họ vui vẻ trở về.

Về nhà, Mendelssohn hơi đói nên lấy xúc xích đã bọc ra, cắt một miếng nhỏ và nhai một cách ngon lành. Khi đang nhai xúc xích, ông vô tình nhìn xuống tờ giấy bọc xúc xích. Này, dường như có khuông nhạc được viết trên tờ giấy! Và Mendelssohn cầm tờ giấy đưa lại gần và chăm chú xem xét nó. Chúa ơi! nửa cây xúc xích trên tay ông suýt nữa rơi xuống đất vì sốc.

Trên mảnh giấy nhàu nhĩ này có viết một nhạc phổ vô cùng tinh diệu! Nó tinh tế đến mức nào? Tinh tế đến nỗi Mendelssohn cũng không thể đạt đến trình độ như vậy!

Mendelssohn là ai? Ông là một đại gia trong trường phái nhạc lãng mạn của Đức. Được mệnh danh là Mozart của Đức từ khi còn là một đứa trẻ, ông ấy đã tổ chức buổi hòa nhạc solo đầu tiên của mình vào năm 9 tuổi; vào Học viện Thanh nhạc Berlin năm 11 tuổi và bắt đầu sáng tác; Ở tuổi mười bảy, ông ấy đã viết danh khúc “Giấc mộng giữa đêm hạ”.

Mendelssohn được gọi là Mozart của Đức của thế kỷ 18. Tuy đây là để ca ngợi tài năng âm nhạc của ông, nhưng thực ra cái tên này đã mang lại cho ông số phận giống như Mozart – và ông chỉ sống đến 38 tuổi đã sớm về trời.

Lại kể tiếp về Mendelssohn, người trở về từ cửa hàng thịt lợn. Khi nhìn thấy những nốt nhạc tinh tế này, ông lập tức bị sốc! Nhạc phổ trên tờ giấy xoắn đầy dầu này có đối vị chính xác, khúc thức phức tạp, cách luật tinh diệu, khí thế hoành tráng và tầm vóc phi thường! Không ai trên thế giới này có thể viết ra một bản nhạc tuyệt vời như vậy! Một cái tên lóe lên trong đầu Mendelssohn như một tia lửa – chỉ có thể là ông ấy!

Nghĩ đến đây, ông liền vơ lấy áo khoác, lao ra khỏi nhà vội vã quay lại quán thịt lợn, muốn mua tất cả giấy bọc thịt lợn trong cửa hàng bán thịt. Người bán thịt bối rối, người đàn ông này có chuyện gì sao? Thịt lợn của tôi tươi thế này mà anh ta không muốn mua, mà lại mua một đống lớn giấy xoắn đầy dầu về!

Chính từ những tờ giấy bọc thịt lợn này, Mendelssohn đã biên soạn nên một tác phẩm âm nhạc vĩ đại: “Niềm đam mê của Matthew” của Bach. Hơn nữa, với tư cách là một nhạc sĩ, đóng góp lớn nhất của Mendelssohn thực ra không phải là các tác phẩm âm nhạc của ông, mà chính là ông đã khai quật được Bach, vị đại thần của âm nhạc cổ điển phương Tây. Mendelssohn đã tận lực dành giai đoạn giữa và sau của cuộc đời mình cho việc khai quật, chỉnh lý và quảng bá âm nhạc của Bach.

Không quá khoa trương khi nói rằng, nếu không có nỗ lực của Mendelssohn, địa vị của Bach trong lịch sử nghệ thuật khẳng định sẽ không được như ngày nay.

Bach – cha đẻ của nhạc cổ điển phương Tây, đệ nhất kim cổ nhân

Nhân vật chính của chúng ta hôm nay: Johann Sebastian Bach ra mắt! Bach được ghi nhận là cha đẻ của nhạc cổ điển phương Tây. Nếu Michelangelo là kim cổ đệ nhất nhân trong lịch sử nghệ thuật, thì Bach có thể được gọi là kim cổ đệ nhất nhân trong lịch sử âm nhạc phương Tây.

Ai đó có thể hỏi: Bach giỏi như vậy, tại sao tôi dường như không biết gì về các tác phẩm của ông ấy? Nào, chúng ta hãy nghe một vài bài hát! Tôi cá là bạn chắc hẳn đã nghe nó!

Aria on the G string scherzo của Bach

Brandenburg Concerto BWV 1046: https://www.youtube.com/watch?v=BOZEj8wyj-I

Và tiếp theo, tổ khúc ban tấu Cello Unaccompanied Suite:

Bạn thấy thế nào? Âm thanh tuyệt vời! Đây là một gợi ý, nếu có dịp đi du lịch Châu Âu lần sau, bạn cũng có thể thử dạo bước trên những con đường lát gạch cũ kỹ, xung quanh là mùi cà phê thơm lừng, và thấp thoáng ngọn tháp của nhà thờ phía xa. Lúc này, giai điệu da diết và sâu lắng của đàn Cello như đang khóc bên tai bạn.

Ngoài ra, đối với những người chơi cello hàng đầu thế giới, thử thách lục thủ độc tấu này là một trong những vinh dự hàng đầu của họ! Điều đáng nói là nhiều đại sư chỉ dám thu âm bản lục thủ độc tấu này khi đã có tuổi.

Ít nhất 1080 tác phẩm âm nhạc cổ điển của Bach

Chúng ta sẽ nghe tiếp một ca khúc khác của Bach, có tên: Ttoccata et fugur en re mineur, BWV 565.

Phải, bạn chắc đã nghe qua? Nó cũng thường được sử dụng trong nhiều bộ phim, phải không?! Bach được biết đến là cha đẻ của âm nhạc cổ điển phương Tây. Một ngườicó thể được gọi là cha đẻ của một cái gì đó, hẳn phải có một khả năng phi thường! Bach không chỉ đơn giản như vậy, ông ấy đơn giản tồn tại như một vị Thần âm nhạc! Điều này thể hiện ở hai phương diện, một là chất, và hai là lượng.

Trước hết hãy nói về lượng. Trước khi nói về điều này, hãy để tôi giới thiệu một chút kiến ​​thức. Chúng ta thường thấy tiêu đề của âm nhạc cổ điển: OP là bao nhiêu, tức là OP được theo sau bởi một dãy số, điều này có nghĩa là gì? Đó là việc đánh số các tác phẩm của họ bởi các nhà soạn nhạc để thuận tiện cho việc xuất bản. OP này là chữ viết tắt của opus trong tiếng Anh, nghĩa là tác phẩm. Ví dụ, số hiệu của “Bản sonate ánh trăng” của đại nhạc thánh Beethoven là Op.27.

Tuy nhiên, một số nhạc sĩ không có thói quen đánh số các tác phẩm của mình, nên để phân biệt, các thế hệ sau đã đánh số thứ tự. Đây là trường hợp đối với các tác phẩm của Bach. Lúc đó ngành xuất bản còn chưa phát đạt, bản thân ông cũng là một nhạc sư cung đình, chủ yếu phục vụ cung đình và giáo đường nên không cần đánh số và xuất bản các nhạc khúc do ông viết.

Bây giờ chúng ta thấy rằng việc đánh số các tác phẩm của Bach bắt đầu bằng BWV. Điều này là do có một người tên là Wolfgang Schmieder thuộc thế hệ sau, đã tổ chức và biên soạn danh mục tác phẩm của Bach, vì vậy nó được lấy hiệu là BWV. B là viết tắt của Bach, và WV là tên viết tắt của Wolf Schmid.

Các tác phẩm của Mozart cũng được biên soạn bởi một học giả âm nhạc sau này tên là KöCHEl (Ludvig Ritter Von Kocheil), vì vậy danh mục các tác phẩm của Mozart còn được gọi là danh mục KöCHEl và đánh số tác phẩm bắt đầu bằng K.

Vậy, tác phẩm của Bách đạt được bao nhiêu số? Trên Wikipedia, chúng ta thấy rằng việc đánh số tác phẩm của Bach lên đến BWV1080. Nói cách khác, có ít nhất 1080 tác phẩm của Bach đã được thu thập và phân loại cho đến nay! Hơn nữa, các nhà sử học âm nhạc khá chắc chắn rằng nhiều tác phẩm của Bach đã bị thất lạc. Chỉ cần nói về 1080 tác phẩm này. Lưu ý nhé, không phải là nhạc khúc đơn lẻ, mà là bộ – những đại tác hoàn chỉnh! Nó hoàn toàn không cùng một khái niệm với âm nhạc lưu hành hiện đại!

Các ca khúc lưu hành hiện nay của chúng ta chỉ dài 3 đến 5 phút mỗi bài, và kết cấu rất đơn giản. Một đoạn tiền tấu, rồi tùy tiện pha chế, sau đó nhập vào cao trào, sau đó thêm một đoạn điệp khúc, lặp lại hai lần và thế là xong! Một tác phẩm âm nhạc cổ điển hoàn toàn khác biệt, giống như một cuốn tiểu thuyết; đầu tiên là phần mở đầu, sau đó chia thành nhiều chương tiết, và cuối cùng là phần kết. Điều này cũng đúng đối với các tác phẩm âm nhạc cổ điển, được cấu tạo bởi các nhạc chương khác nhau, vì vậy thông thường mỗi tác phẩm diễn tấu sẽ được chơi trong 30 đến 40 phút.

Bất cứ ai đã nghe một buổi hòa nhạc cổ điển đều biết, mỗi buổi biểu diễn hơn 2 giờ đồng hồ chỉ diễn tấu được ba hoặc năm tác phẩm! Như tôi đã đề cập trước đó, Mendelssohn đã biên soạn tác phẩm “The Passion of Matthew” của Bach. Buổi biểu diễn toàn bộ tác phẩm kéo dài ba giờ.

Biết được những điều này, chúng ta hãy so sánh một lần nữa. Tác phẩm cuối cùng của Mozart là “Requiem in D minor”, số hiệu là K.626, tức là Mozart đã để lại tổng cộng 626 tác phẩm. Ông đã sống một cuộc đời ngắn ngủi và không để lại nhiều tác phẩm như Bach. Còn Beethoven, sống đến 57 tuổi và để lại 343 tác phẩm. Dù vậy, không ai trong các thế hệ nhạc sĩ sau này có thể bắt kịp Beethoven về số lượng.

Vì vậy, hãy cùng xem qua hơn một nghìn tác phẩm của Bach, chẳng đúng là không thể tưởng tượng nổi ư! Con số này chỉ đơn giản là vô tiền khoáng hậu! Hơn nữa, chất lượng cao của các tác phẩm của ông ấy cũng đáng kinh ngạc.

Mozart đã rất giỏi, ông đã viết hơn 600 tác phẩm khi mới 35 tuổi. Nhưng Mozart có rất nhiều tác phẩm chưa đạt – có thể do phải gấp rút làm xong, hoặc là chủ nhân có chút nóng lòng, cho nên đối đãi qua loa! Beethoven cũng vậy, vị đại nhạc thánh này cũng có một số tác phẩm mà chất lượng không cao lắm!

Tuy nhiên, Bach thì không – hầu như không có tác phẩm nào của Bach bị nghi ngờ là làm qua loa. Mỗi tác phẩm của ông đều duy trì một tiêu chuẩn rất cao và đặt nền tảng của âm nhạc cổ điển phương Tây, mỗi một tác phẩm đều rất vững chắc! Ông ấy không tùy tiện viết những tiểu đoạn. Tất cả các tác phẩm của ông đều là những đại tác; chúng là những tác phẩm có trường độ rất dài và rất nhiều nhạc chương; hơn nữa, chúng rất khó chơi. Khi đó, nhiều tác phẩm của Bach chỉ có thể do một mình ông diễn tấu. Ngay cả ngày nay, không có nhiều nghệ sĩ biểu diễn có thể hoàn thành xuất sắc các tác phẩm của Bach! Về điểm này, không một nhạc sĩ nào sau Bach làm được. Đây quả là một đỉnh núi Thái Sơn! Với một số lượng lớn và chất lượng cao như vậy, chỉ có một người duy nhất trong toàn bộ lịch sử nghệ thuật!

Nếu chỉ nói về số lượng và chất lượng thì chưa đủ để đưa Bach trở thành cha đẻ của âm nhạc phương Tây. Điều tuyệt vời nhất ở Bach là ông ấy đã phát triển một mô hình hoàn chỉnh và đặt nền móng cho âm nhạc cổ điển phương Tây.

Ông đã khai phát toàn bộ khả năng vốn có của âm nhạc cổ điển, vì vậy một số người hình dung ông như một người thợ đào vàng trong một kho tàng âm nhạc. Tuy nhiên, âm nhạc được viết bởi tất cả các nhà soạn nhạc ở các thế hệ sau, đều không vượt qua được phạm vi quy phạm của Bach.

Một ví dụ tiêu biểu nhất. Bach có một tuyển tập The Well-tempered Clavier,  gồm 48 nhạc khúc tương đối ngắn. Trong tác phẩm này, Bach đã diễn giải hoàn hảo tính ưu việt của luật bình quân, sự hoàn mỹ của chuyển điệu, kỹ xảo đối vị cao siêu, kỹ thuật phối khí fugue điêu luyện và kinh điển, và yêu cầu độ khó cao khi khống chế lực ngón tay, khiến tác phẩm này được gọi là “Cựu ước Thánh Kinh”, văn hiến của dương cầm.

Trên đàn dương cầm (piano), mỗi tổ có 12 nốt, 1, 2, 3 … 7, bảy âm nguyên cộng với năm bán âm. Mỗi cá âm lại làm thành chủ âm phân biệt biến hoán âm chính âm phụ, làm thành 24 âm. Bach đã diễn dịch tất cả các âm chính và âm phụ, và quán xuyến 24 âm từ đầu đến cuối, làm thành tổng cộng 48 âm! Trong bộ “Bình quân luật khúc tập” này, Bach đã điều thức đến cùng tận tất cả các chế độ hiện được biết đến. Tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả – cổ kim xưa nay chưa từng có ai làm được như vậy.

Hơn nữa, người điều âm và diễn tấu trong ngành dương cầm hiện đại sử dụng “12 bình quân luật – Twelve Equal Temperance” của Bach làm nền tảng để điều luật và định âm. Nó tạo ra thang âm tiêu chuẩn được sử dụng bởi các nhạc cụ hiện đại, sử dụng tính bình quân (equal temperament) này làm tiêu chuẩn để điều âm! Vì vậy, gọi Bach là “Cha đẻ của âm nhạc phương Tây” chắc chắn rất xứng đáng!

Tác phẩm kinh điển của Bach: “Gothenburg Variations”

Ở đây chúng tôi giới thiệu một tác phẩm kinh điển của Bach có tên là “Gothenburg Variations”. Có một câu chuyện rất thú vị về tác phẩm này. Có một bá tước bị mất ngủ trầm trọng và tinh thần đặc biệt tồi tệ. Một lần, sau khi nghe Bach trình diễn, ông ấy ngay lập tức cảm thấy tốt hơn nhiều. Ông đã tìm gặp Bach và mong rằng vị nhạc sĩ có thể viết một thủ khúc để giúp xoa dịu nỗi thống khổ do mất ngủ.

Vì vậy, Bach đã viết “Gothenburg Variations” này. Người ta nói rằng phải chơi nhạc hàng đêm thì vị bá tước mới có thể ngủ được. Tuy nhiên, chỉ cần nghe chủ đề của thủ khúc này là đã thôi miên rồi; sau đoạn biến tấu đầu tiên, có đầy sự biến hóa sắc thái! Đó là một bản nhạc rất nổi tiếng, vậy tại sao bạn không tìm và lắng nghe nó! Mời các bạn thưởng thức bản nhạc tại đây:

Âm nhạc của Bach quá thâm sâu và quá phức tạp, và bạn cần phải hết sức tập trung khi nghe, nếu không sẽ rất dễ bị phân tâm. Nghe nhạc của Bách không chỉ cần trái tim mà còn cần cả khối óc! Vì vậy, nếu bạn chỉ muốn thư giãn, tốt nhất không nên nghe Bach. Tuy nhiên, nếu một ngày bạn phát hiện ra mình đang yêu Bach thì xin chúc mừng – điều đó có nghĩa là tâm trí bạn đã bước sang một cảnh giới hoàn toàn mới!

Khi hiểu về Bach, chúng ta cũng sẽ thấy một thuật ngữ gọi là “âm nhạc phím đàn”. Đàn piano hiện tại của chúng tôi gồm có 88 phím; thời đó Bach chưa có đàn piano như ngày nay, thời đó một số cây đàn piano tiền thân được gọi là “harpsichord”. Nguyên lý phát âm của nó khác hoàn toàn so với các loại đàn piano hiện nay.

Đàn piano ngày nay về bản chất là một nhạc cụ thuộc bộ gõ, tức là sau khi nhấn phím, nó sẽ lái một chiếc búa nhỏ đập vào dây đàn, từ đó tạo ra âm thanh vui tai. Nhưng “harpsichord” thì không, nguyên lý âm thanh của nó về cơ bản giống như của guitar. Sau khi bạn nhấn một phím, nó sẽ lái một cái móc nhỏ bên trong để gảy dây. Do đó, hai cây đàn này trông bề ngoài giống nhau, nhưng âm sắc của chúng hoàn toàn khác nhau. Mãi cho đến những năm sau này của Bach, loại đàn này mới xuất hiện.

Lưu lại kỳ tích của Thần cho nhân loại, vì hậu thế mà chương hiển sự vinh hiển của Thần

Cùng thời với Bach, còn có một bậc thầy về âm nhạc tên là: Handel (George Frideric Handel). Hai người họ được các thế hệ sau gọi là “Song tinh Baroque”. Họ đều biết nhau, và họ đều hy vọng sẽ trao đổi sự hiểu biết về âm nhạc khi gặp nhau. Nhưng tạo hóa lộng nhân, họ đi ngang qua nhau mấy lần rồi cũng bỏ lỡ. Hai vị đại sư cuối cùng cũng chưa có duyên tao ngộ.

Bach đã phục vụ cung đình và giáo đường cả đời mình, và những người có thể nghe các tác phẩm của ông chỉ giới hạn ở những nhân sĩ thuộc tầng lớp trên của xã hội. Ngoài ra, các tác phẩm của ông rất khó diễn tấu; hầu như chỉ có ông mới có thể diễn tấu chúng, nên tất nhiên mức độ nổi tiếng của ông sau khi qua đời là không cao.

Hơn nữa, hơn trăm năm sau khi mất, ông đã gần như bị thiên hạ lãng quên! Bach sống ở Leipzig, Đức gần như cả cuộc đời, thành phố này không quá lớn, nhưng Lễ hội âm nhạc Leipzig ngày nay là một trong những lễ hội âm nhạc quy cách cao nhất ở châu Âu.

Cả đời Bach chìm đắm trong thế giới âm nhạc, cũng không có quá nhiều câu chuyện thăng trầm hay oanh liệt. May mắn thay, chúng ta đã được nghe rất nhiều giai điệu đẹp ngày hôm nay! Câu chuyện này chưa đủ, hãy lắng nghe âm nhạc của ông!

Bach có một niềm tin tín ngưỡng mạnh mẽ, ở cuối bản thảo âm nhạc của ông có viết ba chữ cái: S.D.G (Soli Deo Gloria), là chữ viết tắt tiếng Đức, nghĩa là: “All Glory to God – Mọi vinh diệu đều tôn vinh Chúa”. Bản thân Bach từng nói, tài năng âm nhạc của ông đến từ niềm tin tín ngưỡng kiên trinh.

Bach trung thành phụng sự Chúa suốt đời, chưa bao giờ chểnh mảng một chút nào! Ông giống như một người khổng lồ trên đỉnh núi, lặng lẽ nhìn xuống những thăng trầm của thế giới.

Vào cuối buổi trình diễn hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm một bản nhạc của Bach: Bộ Violin Acapella. Tổ nhạc khúc này có thể được coi là Thánh kinh cho violin, và nó là đỉnh cao của acapella violin. Đặc biệt ở bộ thứ hai (Partita No.2 in d minor, BWV 1004), Ciaccona có thể nói là viên ngọc lớn nhất trên chiếc vương miện này. Nào, hãy kết thúc buổi biểu diễn hôm nay với tiếng vĩ cầm tuyệt đẹp này!

Theo Epoch Times

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5703/feed 0
Tìm hiểu âm nhạc cổ điển phương Tây: Thế nào là một bản sonata kinh điển? https://thuonghylenien.org/luu-tru/5700 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5700#respond Sat, 30 Dec 2023 02:13:50 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5700 Tìm hiểu âm nhạc cổ điển phương Tây: Thế nào là một bản sonata kinh điển?

Khi thưởng thức âm nhạc kinh điển, ta thường được nghe giới thiệu về những bản sonata. Sonata là một cơ cấu nhạc dành cho một nhạc cụ độc tấu (thường là đàn phím) hoặc có khi là hai nhạc cụ cùng chơi (violon và piano), trong đó chứa đựng nhiều chủ đề, nhiều hình tượng âm nhạc tương phản.

Sonata có từ thời Baroque (tiền cổ điển 1600-1750) và càng về sau càng trở nên phong phú. Kế thừa các bậc tiền bối, Hayđơn, Mozart, Bethoven đã thể hiện một cách sáng tạo muôn hình muôn vẻ trong nhiều kiệt tác.

Thông thường hình thức Sonata gồm 3 phần:

  • Phần trình bày: gồm có Mở đầu – Chính – Nối – Phụ -Kết
  • Phần phát triển: Đây là trung tâm kịch tính của hình thức sonata, những hình tượng tương phản xung đột, sự xuất hiện các chủ đề của phần trình bày với một dạng khác.
  • Phần tái hiện: Nhắc lại những chủ đề nguyên dạng, trở về điệu tính chủ. Sau đó là Coda.

Song song với hình thức sonata, liên khúc sonata (cycle sonata) cũng được sử dụng. Hayđơn đã thành công trong việc áp dụng liên khúc sonata vào giao hưởng 4 chương, người ta gọi ông là “cha đẻ” của giao hưởng. Liên khúc sonata cũng làm cho một số thể loại khác phát triển như: song tấu, tam tấu, tứ tấu… và các bản concerto cho các loại đàn.

Liên khúc sonata là một hình thức âm nhạc gồm có nhiều chương (thường 3 hay 4 chương), mỗi chương thường có một sắc thái, một mầu sắc riêng biệt để mô tả một khía cạnh của chủ đề tư tưởng.

Cụ thể sơ đồ sau:

  • Chương I: Sonata – Diễn tả đấu tranh căng thẳng lý trí
  • Chương II: Tự do – Diễn tả nội tâm trữ tình hay bi thương
  • Chương III: Menute hay Skerzo – Nghỉ ngơi vui tươi hay châm biếm
  • Chương IV: Tổng hợp các chương – kết luận.

Với sự xuất hiện của liên khúc sonata, từ đây đã đánh dấu một bước vĩ đại trong khí nhạc, nhạc sĩ có thể đề cập tới những vấn đề mà trước đây trưởng như nhạc không lời chẳng thể biểu hiện được. Bethoven đã để lại cho thế hệ sau những tác phẩm bất hủ như bản Apaxionata, các bản giao hưởng ưu tú cùng nhiều bản nhạc thính phòng khác.

Một điều quan trọng làm cho các tác phẩm của các nhạc sỹ cổ điển Viên trở thành bất tử là do ấn tượng mạnh mẽ của những chủ đề. Khác với âm nhạc thế kỷ trước, các chủ đề thường triền miên vô tận, đôi khi còn trừu tượng, chủ đề của họ (nhạc sĩ cổ điển Viên) trong sáng, giản dị, có sức truyền cảm sâu sắc, chính vì thế đã đọng lại trong trí nhớ thính giả một cách lâu dài.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5700/feed 0
NGHỆ SỸ VỸ CẦM VĨ ĐẠI NHẤT… https://thuonghylenien.org/luu-tru/5698 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5698#respond Sat, 30 Dec 2023 02:10:41 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5698

 

Paganini (1782 – 1840) là nhà soạn nhạc và nghệ sỹ violin có khả năng thần kỳ: chơi 3 quãng tám trên 4 dây trong khoảng 1 gang tay, cho đến nay vẫn còn được giới cầm thủ xem như là bất khả thi. Chính vì thế, ông được đánh giá là người nghệ sỹ violin vĩ đại nhất lịch sử.

Tuổi niên thiếu sa ngã

Niccolò (hay Nicolò) Paganini là một nghệ sỹ chơi violin, viola, guitar và nhà soạn nhạc người Ý. Ông được coi là một trong những nghệ sỹ violin vĩ đại nhất trong lịch sử, dù rằng không thể xác thực điều này do không có được những băng ghi âm các tác phẩm ông trình diễn. Mặc dù thế kỷ 19 ở châu Âu có một số nghệ sỹ violon xuất chúng, nhưng Paganini là nghệ sỹ bậc thầy ở thế kỉ này.

Chân dung Paganini khi còn trẻ. (Ảnh: Public Domain)

Niccolò Paganini sinh tại Genova, Ý ngày 27/10/1782, con trai của Antonio và Teresa Paganini. Paganini học chơi mandolin với cha khi mới 5 tuổi, chuyển sang học violin lúc lên 7, và bắt đầu sáng tác vào năm 8 tuổi. Ông có buổi biểu diễn đầu tiên trước công chúng năm 11 tuổi. Ngay từ thời thơ ấu Paganini đã học nhạc với nhiều thầy giáo, trong đó có Giovanni Servetto và Alessandro Rolla.

Cậu thiếu niên Paganini đã không khỏi choáng ngợp trước những thành công và đến năm 16 tuổi sa vào cờ bạc và rượu chè. Một thiếu phụ vô danh đã cứu sự nghiệp của Paganini khi đưa ông về điền trang của mình. Ở đó ông từ bỏ khỏi các tật xấu, tiếp tục học violin trong 3 năm. Trong thời gian này, ông đồng thời học cả guitar.

Sau 3 năm này ông tiếp tục đi du lịch và biểu diễn violin, sau đó quay trở lại Genova năm 1804, bắt đầu sáng tác một số tác phẩm. Thời gian này ông để ý tài năng của một cô bé học trò 7 tuổi của mình Catarina Calcagno, cô bé sau này trở thành nhạc công violin dàn nhạc giao hưởng rất nổi tiếng.

Tái xuất trước công chúng năm 23 tuổi: là nhạc công đầu tiên đi lưu diễn với vai trò nghệ sỹ độc tấu

Ông tái xuất hiện trước công chúng vào năm 23 tuổi: năm 1805, vùng Lucca bị Napoleon kiểm soát, ông trở thành nhạc trưởng cho em gái của Napoleon, Elisa Baciocchi, Công nương Lucca mỗi khi ông không đi diễn. Ông trở nên nổi tiếng với vai trò nghệ sỹ violin, xuất hiện lần đầu trước công chúng Milano năm 1813, Viên năm 1828, London và Paris năm 1831. Paganini là một trong những nhạc công đầu tiên, nếu không nói là người đầu tiên đi lưu diễn với vai trò nghệ sỹ độc tấu không có những nghệ sĩ khác đi kèm. Ông có khả năng thu hút đông đảo khán giả và trở thành một siêu sao giàu có.

Chân dung Paganini, 1819 – được vẽ bởi hoạ sỹ Jean Auguste Dominique Ingres (1780–1867). (Ảnh: Public Domain)

Cây vĩ cầm nổi tiếng Il Cannone của Paganini được làm năm 1742 bởi Giuseppe Antonio Guarnieri del Gesùlãm – hiện trưng bày tại Palazzo Doria Tursi, Genova, Italy. (Ảnh: Wikipedia /Creative Commons Attribution-Share Alike 3.0 Unported)

Nhạc cụ ưa thích của ông là cây violin Il Cannone được làm năm 1742 bởi Giuseppe Antonio Guarnieri del Gesù, được ông đặt tên là “The Cannon” do với nó ông có thể tạo ra những âm hưởng mạnh mẽ. Các dây đàn gần như nằm trên một mặt phẳng, khác với phần lớn các loại violin khác đặt các dây theo hình vòng cung để tránh chạm phải các dây không mong muốn khi chơi đàn. Cách đặt dây của cây Il Cannone cho phép Paganini cùng lúc đánh 3 hoặc 4 dây cùng lúc. Cây Il Cannone bây giờ được trưng bày trong tòa thị chính thành phố Genova, mỗi tháng người trông giữ nó lấy ra chơi một lần, và cho các cầm thủ nổi tiếng thuê theo định kỳ.

Năm 1833 tại Paris, ông đặt Hector Berlioz viết một bản viola concerto. Berlioz viết Harold in Italy nhưng Paganini chẳng bao giờ chơi bản nhạc.

Sức khỏe ông suy giảm dần do ngộ độc thủy ngân có trong thuốc chữa bệnh thời đó. Bệnh tật làm ông mất khả năng chơi violin, ông ngừng diễn năm 1834.

Ngày 27/5/1840 ông mất tại Nice nước Pháp.

Paganini và sự phát triển của kỹ thuật violin: một hiện tượng kỳ lạ

Cầm thủ violin người Israel Ivry Gitlis nói: “Paganini là hiện tượng kỳ lạ chứ không là sự phát triển…đã có những vĩ cầm thủ (trước Paganini) và rồi là Paganini.” Dù rằng các kỹ thuật Paganini sử dụng đã có trước đó nhưng phần lớn các tay violin đương thời vẫn chú tâm vào âm điệu và kỹ thuật kéo vĩ (gọi là “kĩ thuật tay phải” cho cầm thủ bộ dây) là hai vấn đề cơ bản cho vĩ cầm thủ cho đến ngày nay.

(Ảnh: Public Domain)

Cụ thể: Arcangelo Corelli (1653-1713) được xem như là người cha của kỹ thuật violin, ông đã biến vai trò cây violin từ nhạc cụ chỉ ở trong dàn nhạc trở thành nhạc cụ đơn tấu. Khoảng trong thời gian đó khả năng biểu đạt phức điệu của cây violin được khẳng định bằng các tác phẩm như Sonatas and partitas dành cho violin đơn tấu BWV 1001-1006 của Johann Sebastian Bach (1685-1750).

Còn các tay violin nổi danh khác như Antonio Vivaldi (1678-1741) và Giuseppe Tartini (1692-1770). Mặc dù vậy tiến bộ của kỹ thuật violin vẫn chậm trong giai đoạn này. Kỹ thuật đòi hỏi sự nhanh nhẹn của ngón tay cũng như của cây vĩ vẫn không được thừa nhận và khuyến khích bởi những hội nghệ sỹ violin.

Pietro Locatelli (1693-1746) sáng tác 24 bản caprice mà tại thời điểm viết ra rất khó để chơi, được xem như là cuộc khám khá thấu đáo đầu tiên các kỹ năng của cây violin. August Duranowski đã sáng tác những tác phẩm sử dụng bước đầu cách hòa âm và cách móc dây bằng tay trái, cùng được xem như đã tìm ra những kỹ thuật trên.

Như vậy, có thể nghi ngờ rằng Paganini đã phát hiện ra những kỹ thuật tiên phong nhưng không nghi ngờ rằng ông là người đầu tiên phổ biến rộng rãi chúng ra trước công chúng và đưa vào những tác phẩm phổ thông.

“Paganini là hiện tượng kỳ lạ chứ không là sự phát triển…” (Tranh của hoạ sỹ Georg Friedrich Kersting (1785–1847)/Public Domain)

Paganini có khả năng chơi 3 quãng tám trên 4 dây trong khoảng 1 gang tay, cho đến nay vẫn còn xem như là bất khả thi.

Các ngón tay dẻo và dài khác thường của ông được cho là hậu quả của hội chứng Marfan hay hội chứng Ehlers-Danlos. Các kỹ thuật ngón được xem là của ông gồm: chơi 2 nốt trên 2 dây cùng lúc (double stops), chơi quãng đôi, kỹ thuật móc tay trái mà ngày nay được các cầm thủ violin tập luyện thường xuyên.

Sau đây chúng ta cùng thưởng thức tác phẩm kỳ diệu của ông, Caprice 24 và cảm nhận Paganini mạnh mẽ và điên cuồng đến cỡ nào khi biểu diễn. Những ai đã từng học qua violon thì có thể biết độ khó của nhạc cụ này là nhất thế giới.

 

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5698/feed 0
Vẻ đẹp của “Phụ nữ với đời sống” qua nhiếp ảnh hiện nay https://thuonghylenien.org/luu-tru/5411 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5411#respond Fri, 22 Dec 2023 08:12:03 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5411 Vẻ đẹp của “Phụ nữ với đời sống” qua nhiếp ảnh hiện nay

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Phụ nữ với cuộc sống” năm 2023 do Nhà Văn hóa Phụ nữ Thành phố HCM tổ chức vừa qua thêm một lần nữa tôn vinh những thế hệ con cháu Bà Trưng, bà Triệu, góp phần làm nổi bật phẩm chất cao quý của “đàn bà nước Nam”.

Suốt chiều dài bốn ngàn năm dựng xây đất nước, người phụ nữ Việt Nam đã hiện diện một cách cao quý trong dòng sinh mệnh dân tộc ngay tại cột mốc đầu tiên của lịch sử, khởi thuỷ cho máu thịt đồng bào, nòi giống Rồng Tiên. Hình tượng người phụ nữ là nguồn cảm hứng vô tận để mọi thế hệ văn nghệ sĩ con Lạc cháu Hồng xưng tụng, ngợi ca. Họ luôn đóng vai trò “lĩnh xướng” trong những tác phẩm, công trình VHNT nghệ thuật về thiên nhiên – đất nước – văn hoá Việt Nam.

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Phụ nữ với cuộc sống” năm 2023 do Nhà Văn hóa Phụ nữ Thành phố HCM tổ chức vừa qua thêm một lần nữa tôn vinh những thế hệ con cháu Bà Trưng, bà Triệu, góp phần làm nổi bật phẩm chất cao quý của “đàn bà nước Nam”. Qua tác phẩm ảnh nghệ thuật, người phụ nữ Việt Nam hiện lên trên mọi lĩnh vực của cuộc sống ở các khía cạnh khác nhau, với vai trò, trách nhiệm khác nhau, trong gia đình và ngoài xã hội… 7.365 tác phẩm tham gia cuộc thi là 7.365 “chân dung” người phụ nữ từ góc nhìn của 896 tác giả thuộc 61 tỉnh thành trên cả nước.

Những đoá hoa “tô điểm sơn hà”

gio-cao-diem-truong-vung-tt-hue-.jpg
Giờ cao điểm – Trương Vững (TT Huế)

Không rực rỡ phấn son, không áo quần lộng lẫy, người phụ nữ Việt Nam hiện lên qua lăng kính của các nghệ sĩ từ trong lam lũ, lặn lội bên bờ sông, lúc dưới ruộng đồng, khi trên nương rẫy, mang vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của sự hy sinh, của đức tính cần cù, chịu thương chịu khó. Họ sớm hôm cần mẫn với đất, với nghề, kiên trì gìn giữ nét đẹp văn hoá truyền thống quê hương (Làng gốm Phù Lãng – Lý Việt Dũng, Bắc Ninh; Nghề dệt chiếu Định Yên – Lê Minh Quát, Bình Thuận; Bánh tráng xứ Nẫu – Đào Duy Tân, TP.HCM). Người phụ nữ trong Làng nghề bó chổi – Trần Minh Đức, Tiền Giang) dẫu kém may mắn vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt của bản thân, lạc quan yêu đời, lao động hăng say, làm chủ cuộc đời. “Bông hồng vàng” điều tiết giao thông trên tuyến đường huyết mạch là hình ảnh đẹp về nữ cảnh sát được tác giả Trương Vững ghi lại trong “Giờ cao điểm”.

Người phụ nữ hôm nay đẹp rạng ngời với niềm vui tuổi già, trong tình nghĩa xóm làng gắn bó keo sơn (Hai chị em – Nguyễn Trọng Khanh – Lào Cai; Chuẩn bị đón xuân – Nguyễn Văn Tuấn, Hà Nội; Duyên quê – Đặng Kế Đức, Quảng Nam). Đâu cần “thước đo” tuổi trẻ hay dáng vóc thanh xuân, dù qua bao cuộc dâu bể điêu linh, họ vẫn bừng lên vẻ đẹp dịu dàng, giản dị của đoá sen thuần khiết thanh cao, ngay cả khi cánh gầy, sắc nhạt vẫn ngan ngát lưu hương. Họ gương mẫu, chuẩn mực, là tấm gương sáng cho gia đình, là niềm tự hào của toàn xã hội dẫu màu da đã kín đồi mồi, khuôn mặt phủ đầy bao vết chân chim. Không phấn son, họ thầm lặng “tô điểm sơn hà”. Như những đoá hoa, làm ta yêu hơn cuộc sống!

Làm rạng danh, “tỏ mặt đàn bà nước Nam”

khat-vong-hoa-binh-nguyen-trung-truc-tp.hcm-.jpg
Khát vọng hoà bình – Nguyễn Trung Trực (TP.HCM)

Từ thửa hồng hoang Rồng Tiên kết hợp, sông núi giao hoà, mẹ Âu Cơ trên hành trình cùng 50 người con khai sơn phá thạch, lập đất dựng nhà… cho đến hôm nay, người phụ nữ Việt Nam đã trở thành biểu tượng của lễ nghĩa, của sự chịu đựng và hy sinh.

Tại cuộc thi Phụ nữ với cuộc sống, các nghệ sĩ nhiếp ảnh đã đề cập đến một trong những di sản tinh thần kết tinh từ hơn bốn ngàn năm văn hiến được lưu giữ đến ngày hôm nay, trở thành phẩm chất tiêu biểu về Phụ nữ Việt Nam trong cảm nhận của bạn bè thế giới. Đó là sự hòa thuận, kính trên nhường dưới, tình cảm gia đình thiêng liêng trong mỗi mái nhà người dân đất Việt (Mẫu tử, Vũ Văn Lâm – Hải Phòng; Nắng yêu thương, Nguyễn Thế Hùng – Hà Nội). “Đàn bà nước Nam” cúc cung tận tụy, yêu chồng, thương con, như hình ảnh “con cò lặn lội bờ sông” (Vất vả mưu sinh, Nguyễn Thượng Toàn – Tiền Giang), sẵn sàng chia sẻ, gánh vác giang sơn với chồng, đồng lòng “tát cạn biển Đông” (Giao duyên, Phùng Đức Hiệp – Bắc Ninh).

cong-viec-cuoi-ngay-nguyen-van-dua-ben-tre-.jpg
Công việc cuối ngày – Nguyễn văn Dừa (Bến Tre)

Không chỉ ở gia đình, với thân nhân, họ luôn giang rộng vòng tay sẵn sàng nâng đỡ, chở che những mảnh đời bất hạnh (Lớp học vùng cao, Hữu Hùng – Đắk Lăk; Vì giấc ngủ trẻ thơ, Phạm Vũ Dũng – Hải Phòng; Cô y tá khe bản, Dương Phượng Đại – Quảng Ninh). Họ đề cao triết lý nhân sinh của người Việt, khơi dậy tình cảm tốt đẹp, sự đối đãi chân thành trên tinh thần nhân ái, bao dung, thân thiện, cởi mở với các dân tộc trên thế giới. (Du khách Tây trải nghiệm thêu thủ công tại làng thêu truyền thống Văn LâmNguyễn Văn Luận – Đồng Tháp).

Họ không quản ngại hiểm nguy, sẵn sàng gác lại tình cảm cá nhân, khoác lên mình một màu áo mới, góp mặt trong đoàn quân “mũ nồi xanh” của Bệnh viện dã chiến thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình nơi Phái bộ Nam Sudan (Khát vọng hoà bình, Nguyễn Trung Trực -TP.HCM). Họ không còn quanh quẩn trong gian bếp nội trợ mỗi ngày “đầu óc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa”, mà đã vượt qua được những rào cản tâm lý, tư tưởng về người phụ nữ khi xưa, dám nghĩ, dám làm, tin tưởng và phát huy hoàn hảo những điểm mạnh của bản thân, đóng góp không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế – văn hoá đất nước, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Thao trường nở hoa, Nguyễn Trung Trực – TP.HCM; Đòn quyết định môn đấu kiếm nữ SEA Game 31, Vũ Thị Thuý Hà – Hà Nội).

Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, người phụ nữ Việt Nam vẫn giữ phong tục tập quán làm nét đẹp văn hoá truyền thống cho mọi thời đại, lấy công dung ngôn hạnh làm khuôn vàng thước ngọc cho bản thân, nền tảng cho cuộc sống, đóng góp to lớn trong việc hình thành nhân cách của thế hệ sau, rộng hơn nữa là tinh thần, nếp sống của cả dân tộc. Dù ở bất cứ cương vị nào, ở bất cứ nơi đâu trên dải đất hình chữ S, họ vẫn đang liên tục góp phần làm thăng tiến xã hội, rạng danh giống nòi, vinh quang đất nước.

Hoa lục bình – Tôn vinh vẻ đẹp giản dị của người Phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống hiện đại

hoa-luc-binh-le-huu-thiet-dong-nai-.jpg
Hoa lục bình – Lê Hữu Thiết (Đồng Nai)

Đồng hành cùng “một nửa làm nên thế giới”, nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Hữu Thiết (Đồng Nai) luôn trân trọng, nâng niu bản năng thiên phú và đề cao vẻ đẹp tâm hồn xuất phát từ đức hạnh, đạo lý của phụ nữ Việt Nam. Anh xuất sắc đạt giải Nhất cuộc thi Phụ nữ với đời sống cùng tác phẩm Hoa lục bình.

Không lựa chọn môi trường quen thuộc, dáng điệu thuần tuý, đường nét cơ thể “đóng khung” theo “thước đo” chuẩn mực thông thường, tác giả Lê Hữu Thiết khai thác hình ảnh người phụ nữ trong công việc “tay chân”. Với góc chụp giới hạn có chủ đích, không ồn ào phóng đại, khoa trương, Lê Hữu Thiết lặng thầm quan sát, nhìn ngắm đôi tay ẩn giấu “phép màu” kì lạ. Những thân cây lục bình đơn sơ khô héo, to nhỏ khác biệt, buồn rầu, ủ rũ bỗng trở nên bóng bẩy, tươi vui, tràn trề sức sống… trong diện mạo, hình hài mới, đẹp đẽ lạ thường. Chỉ bằng các thao tác chuẩn xác, khéo léo, tỉ mỉ diễn ra đều đặn, liên tục của đôi tay. Không lạm dụng kỹ thuật, không cầu kỳ sắp đặt công phu, tác giả chỉ “tin dùng” một chất liệu duy nhất là Cảm xúc vào quá trình bấm máy.

va-luoi-chung-van-hoa-dong-thap-.jpg
Vá lưới – Chung Văn Hoá (Đồng Tháp)

Xuất phát từ tình cảm trân trọng, yêu thương, cùng sự thấu hiểu, sẻ chia của một người chồng, người cha đã đi qua những tháng ngày mưu sinh gian khó, Lê Hữu Thiết ghi lại hình ảnh mộc mạc của người phụ nữ làng nghề truyền thống một cách rực rỡ nhất. Khuôn mặt thấp thoáng sau lớp khẩu trang, dáng người khuất sau nguyên liệu, đồ đạc chuyên dùng… để cái đẹp bật ra từ sự cần mẫn, say sưa. Không phải nơi nghị trường, không ở ngoài phố thị, không trong giảng đường, cũng không trên sàn diễn, mà giữa dọc ngang sản phẩm từ hoa cỏ quê nhà. Lê Hữu Thiết khiến công chúng thêm yêu mến, trân trọng người phụ nữ Việt Nam trong lao động thủ công giản dị, bình thường giữa cuộc sống hiện đại, văn minh. Và ta càng thêm biết ơn “những người đàn bà bình thường không tên tuổi” (Xuân Quỳnh) đã mang sự sống và tình yêu đến với cuộc đời.

Huyền Quy

Ảnh và Đời sống

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5411/feed 0
Nghệ thuật Thời Phục Hưng https://thuonghylenien.org/luu-tru/5132 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5132#respond Sun, 17 Dec 2023 07:39:05 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5132 Nghệ thuật Thời Phục Hưng

The20Pity2C20statue20made20by20Michelangelo

Mark Cartwright/ Ancient History

1

Thánh Jerome trong Phòng Làm Việc của Antonello da Messina

Nghệ thuật thời Phục Hưng ở châu Âu (1400-1600 SCN) bao gồm một số họa phẩm và tác phẩm điêu khắc được yêu thích nhất và dễ nhận diện nhất. Các bậc thầy thường điêu luyện trong cả hai lãnh vực hoạ và điêu khắc, và bằng cách nghiên cứu nghệ thuật thời cổ đại, bổ sung kiến thức lý thuyết về phép phối cảnh có tính toán học và kỹ thuật vẽ mới, họ đã sáng tạo ra những tác phẩm thực sự độc đáo. Tính hiện thực, hoạ tiết, kịch tính, và những tầng lớp tinh tế về ý nghĩa trở thành những đặc điểm của nghệ thuật tôn giáo và thế tục. Giờ đây, các nghệ sĩ cuối cùng đã thoát ra khỏi vị thế cũ của một thợ vẽ và đạt được một vị trí mới như là những người đóng góp trọng yếu cho văn hóa và uy tín của xã hội trong đó họ sống.

Những đặc điểm xác định của nghệ thuật Phục Hưng bao gồm:

  • quan tâm trong việc nắm bắt những yếu tố tinh túy của nghệ thuật cổ điển, đặc biệt hình thể và tỉ lệ của cơ thể người.
  • quan tâm đến lịch sử nghệ thuật đương đại và rèn đúc nên con đường liên tục của sự phát triển.
  • pha trộn cách mô tả hình tượng tôn giáo và thế tục lấy tính nhân đạo làm tiêu điểm.
  • có khuynh hướng tiến đến sự đồ sộ và những tư thế ấn tượng.
  • quan tâm đến việc tạo ra một đáp ứng tình cảm về phía người thưởng ngoạn.
  • phát triển phép phối cảnh có tính toán học chính xác.
  • quan tâm đến những thể loại chân dung, phong cảnh và cảnh vật cực thực và chi tiết.
  • quan tâm trong việc sử dụng màu sắc rực rỡ, bóng râm và nắm bắt những hiệu quả của ánh sáng.
  • phát huy việc sử dụng sơn dầu và chữ in nhỏ.
  • sử dụng những hình thể tinh tế và những vật dụng hàng ngày để làm gia tăng ý nghĩa của họa phẩm.
  • gia tăng uy thế nghệ sĩ như là một nghệ nhân biết kết hợp những tri thức với kỹ năng thực hành.

Nguồn gốc Trung Cổ

Người ta quen nghĩ rằng sự Phục Hưng nhảy vọt ra từ đâu đó biến thành một sự ra đời kỳ diệu những ý tưởng và tài năng. Nhưng những nghiên cứu gần đây của các sử gia hiện đại đã phát hiện ra rằng nhiều yếu tố trong nghệ thuật Phục Hưng đã từng được thực nghiệm trong thế kỷ 14. Những nghệ sĩ như Gotto (mất 1337) khao khát tạo ra những tác phẩm trông hiện thực hơn và vì thế họ sử dụng kỹ thuật thu ngắn những vật thể đưa ra trước mắt họa sĩ để tạo chiều sâu cho cảnh vật (chẳng hạn, cánh tay đưa ra trước về phía hoạ sĩ được vẽ ngắn lại so với cánh tay giang ngang: ND). Cách Giotto sử dụng kỹ thuật thu ngắn, ánh sáng và bóng tối, cảm xúc, và chọn lựa cảnh vật sống động có thể được minh chứng rõ nhất trong các bức tranh tường tôn giáo của ông ở Nhà Nguyện Scrovegni, Padua (k.1315). Những kỹ thuật này, và thành công của nghệ sĩ trong việc tạo hình nhân vật sống động, tạo ảnh hưởng rất lớn cho các nghệ sĩ sau này. Vì lý do này, Giotto thường được coi là “hoạ sĩ Phục Hưng đầu tiên” cho dù ông sống trước thời Phục Hưng.

2

Cái hôn của Judas, tác giả Giotto

Những nhà bảo trợ giàu có là lực đẩy đằng sau nền nghệ thuật Phục Hưng trong một thời kỳ khi đại bộ phận các công trình nghệ thuật đều được thực hiện qua việc ủy thác (đặt hàng). Nhà thờ là các mạnh thường quân quen thuộc nhất của hệ thống này trong giai đoạn đầu của thời Phục Hưng. Những tấm tranh pa-nô đặt sau bệ thờ và những tranh tường là hình thức trang trí nghệ thuật phổ biến nhất, thường mô tả cảnh sacra conversazione, đó là cảnh Đức Mẹ và Chúa Hài đồng vây quanh bởi các thánh và người chúc tụng. Những tranh ở bệ thờ đồ sộ có khi cao đến vài mét thường được đóng khung kỹ càng bắt chước sự phát triển đương đại trong kiến trúc. Bức tranh bệ thờ lừng danh nhất là bức 1432 Ghent do Jan văn Eyck (k.1390-1441) vẽ (hình dưới)

3

Những chủ đề trong thời kỳ đầu Phục Hưng rất giống với những chủ đề phổ biến trong suốt thời Trung Cổ.

SỰ TIẾN HÓA TRONG NGHỆ THUẬT TƯƠNG ĐỐI CHẬM, NHƯNG KHI MỘT SỐ NGHỆ SĨ ĐÃ TIẾNG TĂM LỪNG LẪY RỒI, HỌ CÓ THỂ PHÁT HUY NHỮNG Ý TƯỞNG MỚI MẺ, KHIẾN NGHỆ THUẬT TRỞ NÊN KHÁC BIỆT VỚI NHỮNG CÁCH ĐÃ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRƯỚC ĐÂY.

Những nhà bảo trợ tư nhân như các giáo hoàng, Hoàng đế La Mã Thần Thánh, các nhà vua, và công tước tất cả đều thấy lợi ích trong việc làm đẹp thành phố và lâu dài của mình, nhưng họ cũng rất quan tâm muốn được tiếng tăm là người mộ đạo và người am hiểu nghệ thuật và lịch sử. Một khi nhà bảo trợ tìm được những hoạ sĩ mình ưa thích, ông ta thường thuê họ dài hạn với tư cách nghệ sĩ tại gia chính thức, đặt họ làm đủ mọi thể loại từ tranh chân dung đến tranh phong cảnh sống động. Vì là người trả tiền nên các nhà bảo trợ thường đưa ra các yêu cầu đặc biệt về chi tiết cho một tác phẩm. Hơn nữa, dù nghệ sĩ có thể sử dụng kỹ năng và sức tưởng tượng của mình, anh ta cũng phải tuân theo một số ràng buộc về qui ước theo đó các nhân vật trong tác phẩm phải nhận diện được là ai. Chẳng hạn, một bức tranh tường vẽ đời một ông thánh sẽ coi là không đạt nếu không ai nhận ra ông thánh đó là ai. Vì lý do đó, sự tiến hóa trong nghệ thuật tương đối chậm, nhưng khi một số nghệ sĩ đã tiếng tăm lừng lẫy, họ có thể phát huy những ý tưởng mới mẻ, khiến nghệ thuật trở nên khác biệt với những cách đã được thể hiện trước đây.

Sự phục sinh cổ điển

Đặc điểm nổi bật của thời Phục Hưng là mối quan tâm trở lại đối với thế giới cổ đại Hy-La. Như một đặc điểm mà bây giờ chúng ta gọi là chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng, văn chương, kiến trúc, và nghệ thuật cổ điển tất cả đều được tham khảo nhằm trích xuất ra những ý tưởng có thể được biến đổi cho thế giới đương đại. Lorenzo de Medici (1449-1492), người đứng đầu gia tộc đầy thế lực ở Florentine, là một nhà bảo trợ tiếng tăm, và bộ sưu tập những tác phẩm cổ đại của ông là điểm nghiên cứu của nhiều nghệ sĩ. Những nghệ sĩ trẻ, học tập trong các xưởng vẽ của các nghệ sĩ bậc thầy tiếng tăm, cũng có cơ hội tiếp cận với nghệ thuật cổ đại ở đó hoặc ít ra là các bản sao chép.

Các nghệ sĩ bắt chước vẽ trực tiếp các tác phẩm cổ điển hoặc vẽ một phần của chúng trong tác phẩm của mình. Vào năm 1496, chẳng hạn, Michelangelo (1475-1564) điêu khắc tượng Cupid Đang Ngủ (giờ đã thất lạc) mà ông cố tình làm cho cũ đi để trông có vẻ là một tác phẩm cổ đại thật. Một chủ đề khác về thời cổ đại, lần này hoàn toàn tưởng tượng, là bức tranh tường Học Viện Athens  do Raphael (1483-1520) vẽ (hình dưới).

4

Hoàn thành vào năm 1511 và ở trong Vatican, bức tranh tường này thể hiện những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại. Những hình ảnh thông thường rút ra từ thần thoại cổ điển cũng đặc biệt phổ biến. Những hình ảnh này một lần nữa được tưởng tượng lại và, trong một số trường hợp, chúng thậm chí còn vượt qua nghệ thuật cổ đại để chiếm lĩnh tâm trí chúng ta mỗi khi chúng ta nghĩ về một chủ đề nào đó. Sự Ra Đời của Thần Vệ Nữ (k.1484) của danh họa Sandro  Botticelli (1445-1510) là một trường hợp như thế (hình dưới).

5

Cuối cùng, việc mô tả kiến trúc và tàn tích cổ đại là một đề tài ưa chuộng đặc biệt của nhiều nghệ sĩ Phục Hưng để đem lại không khí hậu cảnh cho những tác phẩm thần thoại lẫn tôn giáo của họ.

Vị Thế Gia Tăng của Người Nghệ Sĩ

Một nét phát triển mới là mối quan tâm trong việc tái dựng lại lịch sử nghệ thuật của thế giới và phân loại ai là nghệ sĩ lớn và tại sao. Học giả tiếng tăm nhất biên tập một bộ lịch sử như thế là Giorgio Vasari (1511-1574) trong tác phẩm Cuộc Đời các Kiến Trúc Sư, Hoạ Sĩ, và Điêu Khắc Gia Ý Kiệt Xuất (xuất bản 1550, chỉnh sửa 1568). Cuốn lịch sử là một công trình biên soạn đồ sộ các nghệ sĩ thời Phục Hưng, và những giai thoại liên quan đến họ, và nhờ thế Vasari được coi là một trong những nhà tiên phong về lịch sử nghệ thuật. Các nghệ sĩ cũng được lợi vì có tiểu sử đặc biệt viết về cuộc đời và tác phẩm của mình, cho dù họ vẫn còn sống như Cuộc Đời của Michelangelo (1553) của tác giả Ascanio Condivi (1525-1574). Nghệ sĩ cũng viết những tài liệu về kỹ thuật vì lợi ích của đồng nghiệp, ra đời sớm nhất là cuốn Bình Luận của Lorenzo Ghiberti (1378-1455 CE), được viết khoảng 1450. Vì Bình Luận cũng đề cập đến những chi tiết về cuộc đời và tác phẩm của chính Ghiberti, nên đây cũng là quyển tự thuật đầu tiên của một nghệ sĩ Âu châu.

 

Mối quan tâm này đối với các nghệ sĩ Phục Hưng, cuộc sống riêng tư của họ, và cách thức họ tìm tòi sáng tác ra những tuyệt tác phản ánh vị thế đang lên cao mà giờ đây họ đang có. Trước đây nghệ sĩ thường được coi như thợ vẽ giống như thợ sửa giày và thợ mộc, và họ buộc phải gia nhập phường nghề. Việc này bắt đầu thay đổi trong thời Phục Hưng. Các nghệ sĩ tất nhiên khác với thợ thủ công mỹ nghệ vì họ có thể tạo được tiếng tăm lan rộng qua những tác phẩm của mình và tạo ra được niềm tự hào nghề nghiệp từ đồng bào của mình. Tuy nhiên, chính nhờ những nỗ lực trí tuệ của những họa sĩ như Leonardo da Vinci (1452-1519) và Albrecht Dürer (1471-1528) mà các họa sĩ cuối cùng được nâng cao tầm vóc “nghệ sĩ”, một thuật ngữ trước đây chỉ giới hạn cho những người nghiên cứu những nghệ thuật truyền thống như tiếng Latinh và tu từ học. Các nghệ sĩ say mê nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, điều gì xảy ra trong thế giới nghệ thuật ở những nơi khác, viết những luận thuyết về nghề nghiệp mình, và tiến hành các thử nghiệm về phép phối cảnh có tính toán học. Tất cả những điều này nâng nghệ thuật lên tầm khoa học.

Một đặc điểm xác định khác của các nghệ sĩ Phục Hưng, nhất là những nghệ sĩ thuộc thời kỳ Phục Hưng Hưng Thịnh (1490-1527), là khả năng vượt trội trong nhiều loại hình. Những nhân vật như Michelangelo và Leonardo là những họa sĩ bậc thầy đồng thời cũng là các điêu khắc gia thượng thặng, và cả hai, như nhiều bậc thầy khác, cũng đặt tay lên ngành kiến trúc. Những bậc thầy ưu tú như thế mở ra những xưởng lớn, làm lò đào tạo cho các thế hệ nghệ sĩ tiếp sau.

Một mức độ tự tin lớn hơn của họ trong kỹ năng, kiến thức, và sức đóng góp cho văn hóa nói chung có thể được minh chứng trong số lượng gia tăng những nghệ sĩ thực hiện những bức chân dung tự họa. Một dấu hiệu khác là họ thường ký tên mình lên tác phẩm, đôi khi ở những vị trí rất nổi bật trong bức tranh (cho dù những phụ tá hay học trò trong xưởng vẽ của ông thầy thường là người hoàn tất bức tranh).

Những Kỹ Thuật Mới

Các họa sĩ Phục Hưng đa năng và hay thử nghiệm nhưng, nói chung, trong thời Phục Hưng, họ dùng kỹ thuật fresco cho tranh tường, màu tempera cho pa-nô, và sơn dầu cho pa-nô hoặc vải toan. Kỹ thuật fresco – vẽ trên mặt tường vừa mới quét vôi còn ướt – và tempera – sử dụng bột màu trộn với lòng trắng trứng – cả hai đều là những kỹ thuật được sử dụng rất lâu trước thời Phục Hưng. Trong thời Phục Hưng, các hoạ sĩ mới bắt đầu thử nghiệm sử dụng sơn dầu (phẩm màu được trộn với dầu hạt lanh hay óc chó). Sơn dầu cho màu sắc rực rỡ hơn, có dảy sắc độ rộng hơn, và có chiều sâu hơn màu truyền thống. Sơn dầu cho phép vẽ chi tiết hơn và làm nổi bật nét cọ như một hiệu ứng thị giác. Vào cuối thế kỷ 15, hầu hết nghệ sĩ đều vẽ sơn dầu, khi làm việc tại giá vẽ, chứ không phải dùng tempera. Sự bất tiện của sơn dầu là nó hư hỏng nhanh chóng nếu vẽ trên tường không như fresco.

Có những phong cách và kỹ thuật vẽ khác nhau phụ thuộc vào từng vùng miền. Chẳng hạn, kỹ thuật colorito thịnh hành ở Venice (nơi những màu sắc tương phản được sử dụng để tạo hiệu ứng và xác định một bố cục hài hòa) trong khi kỹ thuật disegno được ưa chuộng hơn ở Florence (nơi việc vẽ nét bao quanh hình thể chiếm ưu tiên). Những kỹ thuật khác được các họa sĩ Phục Hưng hoàn thiện bao gồm chiaroscuro (sử dụng tương phản giữa ánh sáng và bóng tối) và sfumato (chuyển tiếp những màu sáng hơn đến tối hơn).

Các chủ thể của bức tranh là một cơ hội khác để thực nghiệm. Vẽ người với các tư thế ấn tượng trở thành mốt Phục Hưng, được thấy rõ nhất trong tranh tường mà Michelangelo vẽ trên trần Nhà Nguyện Sistine ở La Mã khoảng năm 1512 (hình dưới).

Một cảm xúc về chuyển động dữ dội được tạo ra khi nghệ sĩ sử dụng contrapposto (đó là sự bất đối xứng giữa bộ phận phía trên và phía dưới của nhân vật, một kỹ thuật cũng được Leonardo và nhiều người khác sử dụng.

6

Chúa Tạo Ra Mặt Trời, Mặt Trăng và các Hành Tinh

Một ý tưởng khác là tạo ra những hình thể cho từng nhóm nhân vật trong một cảnh vật, nhất là những tam giác. Mục đích cho việc này tạo ra một bố cục hài hoà và thêm chiều sâu,  như có thể nhìn thấy trong bức tranh tường Bữa Ăn Tối Cuối Cùng (k.1498) của Leonardo hoặc Galatea (k.1513) của Raphael.

7

Bữa Ăn Tối Cuối Cùng

8

Galatea

Các nghệ sĩ nỗ lực vươn tới một ý thức thậm chí lớn hơn về thực tại trong tác phẩm của mình, và điều này có thể được thực hiện bằng cách tạo ra phối cảnh người ta mong đợi được nhìn thấy trong không gian ba chiều. Andrea Mantegna (k.1431-1506 ) sử dụng kỹ thuật thu ngắn phía trước tương tự như Giotto đã làm. Hãy xem hình dưới bức Nỗi Thống Khổ trong Khu Vườn (k.1460) của ông. Mantegna cũng thích hoạ những cảnh tượng như thể người ta đang nhìn chúng từ bên dưới, một mẹo khác tạo ra chiều sâu cho tác phẩm ông.

9

Đôi khi chiều sâu đạt được ở trung cảnh của bức tranh trong khi các nhân vật khống chế tiền cảnh, mang họ lại gần hơn với người xem tranh. Kỹ thuật này được Pietro Perugino (k.1450-1523) phát huy và có thể được minh họa rõ nhất trong bức Đám Cưới của Đức Mẹ (k.1504) do Raphael, từng là đệ tử của Perugino, vẽ (hình dưới).

10

Trong khi đó, các danh họa như Pietro Della Francesca (k.1420-1492) còn đi xa hơn và sử dụng những nguyên tắc toán học chính xác của phép phối cảnh, như có thể thấy rõ trong bức Christ Bị Phạt Roi (k.1455).

11

Một số nhà phê bình cảm thấy rằng một vài nghệ sĩ đi quá xa trong việc sử dụng phối cảnh khiến cho cảm xúc căn nguyên của họa phẩm bị đánh mất; Paolo Uccello (1397-1475) là một nạn nhân đặc biệt của lời phê phán này. Bức Chuyến Đi Săn (k.1460) (hình dưới) chắc chắn là một họa phẩm táo bạo với khổ tranh toàn cảnh mô tả một khu rừng đối xứng lùi ra xa vào một hậu cảnh tối đen trong khi tiền cảnh bị lấn át bởi những người đi săn và đàn chó săn, tất cả hội tụ về hướng một điểm trung tâm ở xa.

12

Một bước khác hướng về một thực tại xúc cảm hơn là bảo đảm cảnh vật được chiếu sáng bằng một nguồn sáng duy nhất, cung cấp những vùng tối ăn khớp với tất cả phần tử của bức tranh. Hãy ngắm hình trên, chẳng hạn, bức Phút Xuất Thần của Thánh Francis (1480) của Giovanni Bellini (k.1430-1516).

Các nghệ sĩ thậm chí còn bắt đầu đùa với người xem tranh như tấm gương tròn trong bức Chân Dung Lễ Cưới Arnolfini (1434) của Jan van Eyck cho thấy cả những hình phản chiếu rất nhỏ của những người khách chứng kiến đôi vợ chồng mới cưới. Tất cả các kỹ thuật này có thêm lợi thế là tạo ra những tiếng “ồ” từ những người xem tranh không quen với những cách tân như thế.

13

Chân Dung Lễ Cưới Arnolfini của Jan van Eyck

Các họa sĩ Phục Hưng muốn bổ sung một tầng ý nghĩa vào tác phẩm của mình hơn là chỉ trình ra ấn tượng thị giác đầu tiên. Những cảnh truyện thần thoại thường đầy ứ tính biểu tượng, nhằm phân biệt những người thưởng ngoạn sành điệu với người xem bình dân. Titian (k.1487-1576) thậm chí thể hiện những họa phẩm thần thoại của mình như một dạng thi ca, mà ông gọi là poesia, chẳng hạn bằng những tham chiếu cổ điển hiện diện dày đặc trong tranh. Hãy ngắm hình dưới, chẳng hạn, bức Bacchus và Ariadne (k.1523).

14

Giải thích (trích wikipedia):  Công chúa Ariadne đã bị người yêu anh hùng Theseus bỏ lại trên đảo Naxos, một mình trở về quê nhà trên con thuyền ở phía trái xa của khung hình. Nàng được tửu thần Bacchus phát hiện đang nằm ngủ trên bãi biển. Vừa nhìn mặt, chàng đã đem lòng yêu nàng ngay lập tức.  Bacchus đang đứng trên xe do hai con báo đốm kéo, dẫn đầu một nhóm bạn nhậu. Bacchus, chàng trai tuấn tú, liền phóng lên không trung để bảo vệ nàng Ariadne khỏi bị thú dữ làm hại. Theo phiên bản của Ovid, thi sĩ của câu chuyện thần thoại này mà hoạ sĩ dựa theo để sáng tác, thì Bacchus giật chiếc vương miện của công chúa Ariadne ném lên trời, biến thành chòm sao Corona Borealis (Vương miện phương Bắc) được hoạ sĩ vẽ ở góc trái trên khung hình. Bố cục được chia theo đường chéo góc thành hai tam giác, một là bầu trời màu xanh và hai nhân vật chính đang chuyển động (Ariadne ắt hẳn giật mình vì sự xuất hiện bất ngờ của đám người lạ náo nhiệt), tam giác thứ hai là đám người đi theo náo loạn và chủ yếu được tô màu xanh lá/nâu. Người đàn ông quấn rắn quanh mình ắt hẳn chỉ để làm trò vui như một số bạn nhậu thường làm và khiến bọn đàn bà hoảng sợ. Còn con chó giống spaniel sủa vang một thần dê bé con là một mô-tip quen thuộc trong tác phẩm của Titian. Có thể con báo đốm, chó spaniel là thú cưng của người bảo trợ đã yêu cầu hoạ sĩ đưa vào bức tranh, như thói quen người đặt hàng.

15

Mona Lisa

Tranh chân dung là một lãnh vực khác mà các nghệ sĩ Phục Hưng vượt trội. Ví dụ nổi tiếng nhất là bức Mona Lisa của Leonardo (k.1506), thể hiện một phụ nữ vô danh. Leonardo không chỉ vẽ giống mà còn nắm bắt tâm trạng của người mẫu. Đường viền, phối cảnh, và đánh sắc độ cho màu sắc tất cả được phối hợp để mang sức sống cho tác phẩm. Hơn nữa, tư thế tự nhiên và góc nhìn ba phần tư là một gợi ý khác của chuyển động. Tác phẩm này tạo ảnh hưởng lớn lao cho những tranh chân dung về sau. Một hướng phát triển khác là việc sử dụng những vật dụng hàng ngày trong tranh chân dung nhằm gợi lên cá tính, tín ngưỡng, và sở thích của người mẫu. Các nghệ sĩ Hà Lan là những bậc thầy đặc biệt cho những chân dung hiện thực, và ý tưởng của họ lan truyền đến Ý, nơi chúng có thể được chiêm ngưỡng trong tác phẩm của Piero della Francesca, chẳng hạn, nổi bật nhất là bức chân dung của ông vẽ Federico da Montefeltro, Công tước vùng Urbino (k.1470) (hình dưới).

16

Điêu Khắc và Phá Vỡ Khuôn Mẫu Cổ Điển

Trong khi nhiều chủ đề tôn giáo vẫn còn phổ biến trong điêu khắc như tượng Pieta – Đức Mẹ than khóc bên thi thể Jesus Christ – hình tượng qui ước sẽ sớm nhường chỗ cho những cách thể hiện cách tân hơn. Donatello (k.1386-1466), chẳng hạn, thể nghiệm với việc hi sinh kỹ thuật và sự hoàn thiện để nắm bắt cảm xúc chân thật của một nhân vật, một phong cách có thể được minh họa rõ nhất qua tượng gỗ Mary Magdalene (k. 1446).

17

Mary Magdalene by Donatello

Những nhà điêu khắc làm sống lại những nhân vật cổ đại với những phiên bản của chính mình bằng chất liệu gỗ, đá, và đồng. Nổi tiếng nhất trong tất cả là tượng David của Michelangelo (1504). Thể hiện vị vua trong kinh thánh, người khi còn trẻ đã tiếng tăm lừng lẫy vì hạ gục được gã khổng lồ Goliath, bức tượng đá lớn hơn người thật nhiều, cao khoảng 5.2 mét. Tượng nhắc ta nhớ đến những bức tượng đồ sộ Hercules từ thời cổ đại, nhưng sự căng thẳng của nhân vật và gương mặt đầy quyết tâm là nét sáng tạo thời Phục Hưng (hình dưới).

18

19

Donatello làm ra một phiên bản David khác bằng đồng (thập niên 1420 hay 1430) và tác phẩm này là một cuộc chia tay đầy ấn tượng khác với nghệ thuật điêu khắc cổ đại. Tư thế bộc lộ một con người đầy quyến rũ không khi nào là sản phẩm của thời cổ đại. Cả David  của Michelangelo và Donatello đều nhắc đến mối liên kết chặt chẽ giữa nghệ thuật và chức năng trong thời Phục Hưng. David, một sát thủ của Goliath, có mặt trên dấu ấn chính thức của thành phố Florence, là một nhắc nhở bất tận về cuộc đấu tranh của dân Florence chống lại thành phố đối thủ Milan.

21

Một thể loại có liên quan đến điêu khắc là chạm khắc. Một lần nữa Donatello có mặt ở đây, làm ra những pa-nô bằng đồng chạm chìm xuất sắc cho tu viện Sienna và các nhà thờ ở Florence. Kỹ thuật chạm một cảnh với một độ chìm nông nhưng vẫn tạo được một xúc cảm về phối cảnh được gọi là rilievo schiacciato. Một kỹ thuật rất khác là chế tác những pa-nô kim loại với hình người quá nhô cao cao đến nỗi chúng gần như là tượng điêu khắc riêng biệt. Minh họa nổi tiếng nhất của kỹ thuật này là Cổng Thiên Đường của Lorenzo Ghiberti, cửa của Tu viện San Giovanni ở Florence (hoàn thành năm 1452). Pa-nô mạ bạc ép vào khung cửa thể hiện những cảnh trong kinh thánh và thậm chí có bức bán thân của chính Ghiberti (hình dưới).

2223

Từ 1420, in mộc bản rất phổ biến, nhưng chính sự phát triển bản in khắc đồng từ những thập niên 1470 mới thực sự cho ra những bản in đậm chất nghệ thuật. Bản khắc đồng cho độ chính xác cao hơn và nhiều họa tiết hơn. Mantegna và Durer là hai tay kiệt xuất về lãnh vực này, và những bản in hình khắc của họ được thị trường săn đón. Thợ in thành công nhất là Marcantonio Raimondi (1480-1534), và các bản in mỹ thuật của ông giúp truyền bá những ý tưởng đến miền bắc Âu và ngược lại.

24

Di Sản của Nghệ Thuật Phục Hưng

Sưu tập các tác phẩm nghệ thuật trở thành sở thích của người giàu có, nhưng khi tầng lớp trung lưu trở nên khấm khá hơn, họ cũng có thể tậu được những nghệ phẩm, cho dù không thật sự xuất sắc. Các xưởng vẽ như các xưởng do Ghiberti điều hành bắt đầu không phải sản xuất hàng loạt mà ít ra sử dụng những yếu tố được tiêu chuẩn hóa lấy từ danh sách có sẵn. Tóm lại, nghệ thuật không còn giới hạn cho tầng lớp giàu có, và đối với người không đủ tiền tậu bản gốc họ luôn  có thể mua những bản in. Các bản in giúp lan truyền tiếng tăm của các nghệ sĩ đi xa. Nhờ việc mở rộng thị trường nghệ thuật, các họa sĩ bậc thầy giờ có thể tự do sáng tạo theo ý muốn, không phải thỏa mãn yêu cầu của người bảo trợ.

Nghệ thuật Phục Hưng tiếp tục tiến hóa. Trường phái Mannerism (Kiểu Cách), chẳng hạn, là một thuật ngữ mơ hồ ban đầu để chỉ phong cách nghệ thuật khác lạ đến kỳ cục ra đời sau thời Phục Hưng Hưng Thịnh. Mannerism lúc đó mang một ý nghĩa tích cực – tính phong cách, tính đa nghĩa của thông điệp, tính tương phản, và nói chung đùa cợt với những kỹ thuật và những tiêu chuẩn hóa mà trước đây các nghệ sĩ Phục Hưng đã đặt ra. Chẳng hạn, hãy xem bức họa Thánh Mark Làm Phép Giải Cứu một Nô Lệ (1548) do Tintoretto (k.1518-1594) vẽ (hình dưới). Từ Mannerism sẽ đến phong cách chủ yếu tiếp sau trong nghệ thuật Âu châu, trường phái Ba-rốc đậm chất trang trí, chuyên sử dụng màu sắc rực rỡ, hoạ tiết đẹp, và những tư thế sống động, đưa nghệ thuật Phục Hưng lên một mức độ cao tột mới của xúc cảm và tính trang trí bao trùm.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5132/feed 0
50 Hình ảnh bảo vệ môi trường và lan tỏa sự yêu thương https://thuonghylenien.org/luu-tru/5013 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5013#respond Tue, 12 Dec 2023 04:53:27 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5013

50 Hình ảnh bảo vệ môi trường và lan tỏa sự yêu thương

Khi cuộc sống ngày càng phát triển và hiện đại hóa thì chất lượng môi trường sống của con người ngày càng giảm sút do việc khai thác tài nguyên quá mức. Trong thời gian qua, ngành truyền thông liên tục kêu gọi, tuyên truyền bảo vệ môi trường đến người dân để họ được sống trong môi trường không ô nhiễm và trong sạch. Tuy nhiên, kêu gọi thôi chưa đủ, cần phải có những hành động cụ thể hơn nữa để mọi người cùng thấy. Dưới đây là bộ sưu tập hình ảnh bảo vệ môi trường của Tapchinhiepanh.net, hi vọng sau xem những hình ảnh này mọi người sẽ ý thức hơn về việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Tất tần tật những hình ảnh bảo vệ môi trường

Trái tim của mỗi chúng ta đều ẩn chứa một tình yêu sâu sắc và sự quan tâm đến môi trường tự nhiên xung quanh. Trong thế giới ngày nay, khi nhân loại đang đối mặt với những thách thức môi trường ngày càng lớn, việc bảo vệ và gìn giữ hành tinh của chúng ta trở nên càng quan trọng hơn bao giờ hết. Và một trong những cách mà chúng ta có thể lan tỏa sự yêu thương đó là thông qua hình ảnh, hãy cùng chúng tôi thưởng thức bộ sưu tập ảnh dưới đây nhé!

Hình ảnh môi trường được bảo vệ
Hình ảnh môi trường được bảo vệ
Hình ảnh đẹp về bảo vệ môi trường của các chị em
Hình ảnh đẹp về bảo vệ môi trường của các chị em
Hình ảnh chung tay bảo vệ môi trường của các bé
Hình ảnh chung tay bảo vệ môi trường của các bé
Hãy bảo vệ môi trường
Hãy bảo vệ môi trường
Chỉ cần hành động nhỏ đã có thể bảo vệ môi trường chúng ta đang sống
Chỉ cần hành động nhỏ đã có thể bảo vệ môi trường chúng ta đang sống
Những hình ảnh người lính cùng nhau bảo vệ môi trường biển
Những hình ảnh người lính cùng nhau bảo vệ môi trường biển
Hình ảnh tuyên truyền bảo vệ môi trường đơn giản
Hình ảnh tuyên truyền bảo vệ môi trường đơn giản
Hình ảnh bảo vệ môi trường đẹp
Hình ảnh bảo vệ môi trường đẹp
Hình ảnh các em nhỏ chung tay bảo vệ môi trường
Hình ảnh các em nhỏ chung tay bảo vệ môi trường
Hãy bảo vệ môi trường sạch của chúng ta
Hãy bảo vệ môi trường sạch của chúng ta
Những thanh niên chung tay bảo vệ môi trường sạch
Những thanh niên chung tay bảo vệ môi trường sạch
Những hình ảnh bảo vệ môi trương
Những hình ảnh bảo vệ môi trương
Hình ảnh cậu bé dễ thương bảo vệ môi trường
Hình ảnh cậu bé dễ thương bảo vệ môi trường
Các em nhỏ chung tay bảo vệ môi trường
Các em nhỏ chung tay bảo vệ môi trường
Hình ảnh bảo vệ môi trường của các em nhỏ
Hình ảnh bảo vệ môi trường của các em nhỏ
Trồng cây xanh giúp môi trường sạch
Trồng cây xanh giúp môi trường sạch
Hình ảnh đẹp về việc bảo vệ môi trường
Hình ảnh đẹp về việc bảo vệ môi trường
Hình ảnh bảo vệ môi trường sạch đẹp
Hình ảnh bảo vệ môi trường sạch đẹp
Hình ảnh cùng chung tay phát triển cây xanh
Hình ảnh cùng chung tay phát triển cây xanh
Hình ảnh bảo vệ môi trường bằng cách tăng trưởng cây xanh
Hình ảnh bảo vệ môi trường bằng cách tăng trưởng cây xanh
Hình ảnh đẹp về bảo vệ môi trường
Hình ảnh đẹp về bảo vệ môi trường
Hình ảnh môi trường
Hình ảnh môi trường
Ảnh bảo vệ môi trường
Ảnh bảo vệ môi trường
Hình ảnh bảo vệ môi trường
Hình ảnh bảo vệ môi trường
Hình ảnh bảo vệ môi trường của mọi người
Hình ảnh bảo vệ môi trường của mọi người
Ảnh vệ môi trường biển
Ảnh vệ môi trường biển
Hình ảnh về bảo vệ môi trường
Hình ảnh về bảo vệ môi trường

Trong bộ sưu tập 50 hình ảnh bảo vệ môi trường này, Tạp Chí Nhiếp Ảnh đã cho đọc giả được chứng kiến sự tuyệt vời của tự nhiên, sự đa dạng của các sinh vật và vẻ đẹp của trái đất. Những hình ảnh này không chỉ gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ, mà còn khơi dậy sự nhận thức và hành động. Chúng nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường, và cũng truyền tải thông điệp rằng sự yêu thương và sự chăm sóc đối với hành tinh chúng ta là điều cần thiết.

Hãy cùng nhau truyền đi thông điệp yêu thương này, từ những hình ảnh ý nghĩa, để chúng ta có thể lan tỏa những giá trị về bảo vệ môi trường đến với mọi người. Chỉ cần một hành động nhỏ, một lời nói chân thành, hay một hình ảnh đẹp, chúng ta đã đóng góp vào sự tôn trọng và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta – trái đất.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5013/feed 0