TRANH ẢNH-VĂN THƠ NHẠC-DANH TÁC NGHỆ THUẬT – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sun, 18 Oct 2026 21:59:53 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.23 Hàn Mặc Tử -Nguyễn Trọng Trí, Hàn Mạc Tử https://thuonghylenien.org/luu-tru/7193 Sun, 18 Oct 2026 21:59:53 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7193 Hàn Mặc Tử – Nguyễn Trọng Trí, Hàn Mạc Tử.

Ảnh đính kèm

chân dung Hàn Mạc Tử

Hàn Mặc Tử (22/9/1912 – 11/11/1940) tên thật Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Phêrô Phanxicô, còn có các bút danh Lệ Thanh, Phong Trần, Minh Duệ Thị. Ông sinh ở làng Lệ Mỹ, huyện Đồng Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là Quảng Bình) trong một gia đình công giáo nghèo, cha mất sớm. Thuở nhỏ sống và học tiểu học ở Quy Nhơn, học trung học ở Huế, sau làm ở Sở Đạc Điền, bị thôi việc vì đau ốm. Năm 1934-1935, ông theo Thúc Tề vào Sài Gòn làm báo (viết báo Công luận, phụ trách trang văn báo Sài Gòn), về sau lại trở ra Quy Nhơn. Năm 1936, bị mắc bệnh phong, phải vào nhà thương Quy Nhơn và qua đời ở đó.

Hàn Mặc Tử làm thơ sớm, 14 tuổi đã làm thơ Đường luật đăng báo với bút danh Minh Duệ Thị. Năm 1930, ông đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ do một thi xã tổ chức. Cùng Chế Lan Viên lập Trường thơ…

TÁC PHẨM:

 Cẩm châu duyên

4

  

 Lệ Thanh thi tập

63

 

 Thượng thanh khí

12

  

 Xuân như ý

16

  

 Gái quê (1936)

34

  

 Đau thương (Thơ điên, 1937)

43

  

 Chơi giữa mùa trăng (1941)

10

  

Tuyển tập chung

24

 

 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)

  1. Đây thôn Vĩ Dạ Ở đây thôn Vĩ Giạ
    26

 Đôi hồn

  1. Đàn ngọc
    1
  2. Đôi ta
    2
  3. Lưu luyến
  4. Nhớ thương
    1
  5. Rượt trăng
  6. Sáng láng
  7. Thao thức
  8. Trường tương tư

 Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (1942)

  1. Bẽn lẽn
    12
  2. Đêm xuân cầu nguyện
  3. Mùa xuân chín
    18
  4. Ra đời
    1
  5. Thánh nữ đồng trinh Maria Ave Maria
    5
  6. Tình quê
    1
  7. Trường tương tư

 Thi nhân Việt Nam hiện đại – quyển thượng (1959)

  1. Buồn thu
    3
  2. Chùa hoang
  3. Đêm xuân cầu nguyện
  4. Mùa xuân chín
    18
  5. Ra đời
    1
  6. Thánh nữ đồng trinh Maria Ave Maria
    5
  7. Tình quê
    1
  8. Trường tương tư

Số bài tiêu biểu

Đây thôn Vĩ Dạ Ở đây thôn Vĩ Giạ

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Hàn Mặc Tử » Đau thương (Thơ điên, 1937) » Phần 1: Hương thơm

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?

Bài thơ này được Hàn Mặc Tử được làm vào thời gian cuối đời khi đang điều trị bệnh phong và sống trong cô đơn, tuyệt vọng. Bài thơ viết về mối tình đơn phương với Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ người Huế dịu dàng, kín đáo mà Hàn thầm yêu khi làm việc tại sở Đạc Điền ở Quy Nhơn, nhưng không dám thổ lộ, mà rào cản chính theo cô Hoàng Cúc là do lương giáo, khi nhà cô theo Phật mà Hàn theo Chúa. Một thời gian sau, cô Cúc trở về thôn Vĩ Dạ (hay Vĩ Giạ), Huế, biết tin Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng, đã gửi cho ông một bức bưu ảnh phong cảnh thôn Vĩ. Chính hình ảnh ấy, cùng với nỗi nhớ thương và khát vọng tình yêu, đã trở thành chất xúc tác để ông viết nên bài thơ.

Tiêu đề bài thơ ban đầu là Ở đây thôn Vĩ Giạ, một số sách in về sau đổi thành Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Thời gian vừa qua, bài thơ lãng mạn gây ra nhiều nhận định bất đồng, thậm chí đối lập nhất khi phân tích, bình giảng, hẳn là 12 câu Đây thôn Vĩ Giạ. Nguyên nhân sự hạn chế của một số bài viết có nhiều. Thứ nhất là thói quen xã hội học dung tục; như tác giả bài Tiếng thở dài. Chia sẻ với Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Tác phẩm nào, người phân tích cũng cố quy về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo (…). Cái hay của văn chương nhiều hình nhiều vẻ, đâu phải chỉ có vài ba giá trị được khuôn sẵn rồi cứ thế ép tác phẩm cổ kim đông tây vào những giá trị ấy.” (1) Thứ hai là do người nghiên cứu không thuộc phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; ví dụ: ai cũng rõ một trong mấy nét cơ bản của tiếng thơ Hàn Mặc Tử là hướng nội:

Hàn Mặc Tử luôn luôn có khuynh hướng quay vào nội tâm, ông rất ít tả, ít kể theo cái nhìn của con mắt” (2), nói như Trần Đăng Thao, Hàn Mặc Tử thường “nhìn thấy bằng tâm tưởng” (3); nhưng bởi không thuộc phong cách thi pháp bao trùm này trong thơ Hàn Mặc Tử, người viết những dòng phân tích Đây thôn Vĩ Giạ trong Soạn văn (tập I) chỉ hoàn toàn tập trung phân tích khách thể được tái hiện trong tác phẩm qua 3 đề mục: Đây thôn Vĩ Giạ, Dòng sông Hương, và Những cô gái Huế (4) – Lê Bảo đã nhận xét đúng rằng: Giảng văn như vậy thì mới chỉ chú ý đến “cái ý ở trong lời, ở trong lời, ở tầng thứ nhất của ý nghĩa”, mà thật ra “…cái mạch trữ tình vừa thắm đậm hồn người vừa thể hiện bằng một thiên bẩm tài hoa, chính đây mới là điều cần nói” (5) – Thứ ba là sự cảm thụ nghệ thuật thiếu nhạy bén. Mỹ phẩm hạn chế ấy kết hợp với nguyên nhân thứ tư. Thái độ tuỳ tiện thiếu nghiêm túc trong khâu xác định tư liệu khảo chứng… đã dẫn những ý kiến phân tích hoàn toàn sai lệch, như trường hợp Lê Đình Mai (6). Bài viết của tác giả Lê Đình Mai khiến không ít người, nhất là những ai gắn bó với Huế đẹp và thơ, không thể lên tiếng: “Lẽ ra tôi không viết bài này…Nhưng sao tôi thấy không đành! Không đành với Hàn Mặc Tử, không đành với bà Hoàng Cúc, không đành với bạn đồng nghiệp, với bạn đọc gần xa mến mộ Hàn Mặc Tử” (Mai Văn Hoan). Tác giả bài Nói thêm về bài thơ Thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử (7) cũng có phản ứng tương tự…

Để định hướng tiếp cận đúng đắn và có điều kiện cảm nhận chính xác những tứ thơ vừa xa cách nhau vừa mờ ảo của Đây thôn Vĩ Giạ; thì một khi biết rằng nội dung bài thơ liên quan đến Hoàng Cúc (một thiếu nữ trong trắng con nhà gia giáo lúc bấy giờ đang cư ngụ ở thôn Vĩ Giạ nên thơ nên hoạ, chứ không phải liên quan đến các cô gái “giang hồ” ở cái xóm bình khang Vĩ Giạ “dâm ô” theo một suy diễn tưởng tượng nào đó), ta không thể không nhắc lại đôi điều về mối quan hệ tình cảm giữa Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc – căn cứ vào những tài liệu đáng tin cậy của: Quách Tấn người bạn thơ gần gũi nhất của Hàn Mặc Tử) (8); Đào Quốc Toản (cán bộ giảng dạy Đại học ở Huế, trước đây khi hướng dẫn sinh viên làm khoá luận về thơ Hàn Mặc Tử đã từng gặp gỡ bà Hoàng Cúc) (9); và thầy giáo Mai Văn Hoan, người hiện dạy học ở đất núi Ngự sông Hương đã “có mặt trong đám tang” bà Hoàng Cúc: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết” (10).

Hoàng Cúc khi là một thiếu nữ mới lớn, sống ở Qui Nhơn. Cô con nhà quan, có học, không đẹp nhưng có duyên và thuỳ mị nết na. Nhà cô đi chung một lối với nhà Hàn Mặc Tử (lúc ấy đang làm việc ở Sở Đạc điền). Giữa hai người hẳn có một mối giao tiếp rất đơn giản nhẹ nhàng kiểu những ai gần ngõ. Nhà thơ đã viết những vấn đề Hoàng Cúc (trong tập Gái quê) với tình cảm đơn phương vô vọng; vì không những Hoàng Cúc là một thiếu nữ mới lớn, con nhà nề nếp, tính tình kín đáo, mà hoàn cảnh hai gia đình có một hố sâu ngăn cách: thân phụ Hoàng Cúc là viên chức cao cấp, nhà theo đạo Phật…, còn Hàn Mặc Tử mồ côi cha từ thuở thiếu thời, gia đình theo đạo Thiên Chúa, đời sống khó khăn, thêm nữa lúc ấy Hàn Mặc Tử chỉ là viên chức nhỏ ở Sở Đạc điền, lại đang có nguy cơ thất nghiệp… Khoảng 1935, sau khi Hàn Mặc Tử từ giã Qui Nhơn vào Sài Gòn thì gia đình Hoàng Cúc cũng chuyển từ Qui Nhơn ra Huế (thôn Vĩ Giạ). Cuối năm 1936, lúc chớm có hiện tượng sức khoẻ không bình thường, tuy chưa khẳng định là bệnh phong, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Qui Nhơn thì: “Trước sau nào thấy bóng người…”; nhà thơ coi như Hoàng Cúc đã bước lên xe hoa chung thân vĩnh biệt (mặc dầu, không rõ đích xác vì lý do gì, từ sau đó về sau, Hoàng Cúc khước từ mọi đám cầu hôn, sống độc thân ở Vĩ Giạ và hoạt động ở Hội Phật tử miền Nam cho đến lúc mất). Khoảng năm 1937, nghe tin Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y, Hoàng Cúc đã “gửi vô Qui Nhơn cho Hàn Mặc Tử một tấm hình chụp hồi còn mặc áo dài trường Đồng Khánh (11) có kèm theo lời thăm hỏi sức khoẻ và “trách” Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm Vĩ Giạ? Không thăm lại đất cũ người xưa? (Hàn Mặc Tử đã từng học trung học ở Pellerin ở Huế)” (Đào Quốc Toản).

Nhận được những dòng tình cảm chân thành quý giá của người thiếu nữ vốn có nề nếp sống kín đáo ấy, Hàn Mặc Tử xúc động mạnh, và Đây thôn Vĩ Giạ đã ra đời (hẳn ngay trong năm 1937). Bài thơ được gửi ra Huế cho Hoàng Cúc. Thời gian lặng lẽ trôi, cô rồi bà Hoàng Cúc đã giữ gìn bài thơ kỷ vật này cho đến lúc từ trần.

Biết rõ nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời của Đây thôn Vĩ Giạ là như vậy, chúng ta có thể lướt qua vùng giải vũ chữ nghĩa mờ ảo mơ màng, đặng xâm nhập được hậu cung ý tứ sâu xa của tác phẩm.

Tứ thơ cơ bản đích thực của Đây thôn Vĩ Giạ phải chăng là nỗi niềm lo âu cho hạnh phúc, trong khát vọng cái Đẹp hoá giải trạng huống đau thương. Tứ thơ bao trùm này thể hiện tập trung trong hai câu thoảng ý nghi vấn: “Có chở trăng về kịp tối nay” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng, cái Đẹp của đất trời??), và: “Ai biết tình ai có đậm đà” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng cái Đẹp của tình người?).

Mở đầu bài thơ là câu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Lời thơ khơi dòng thi tứ tương tự sự biến tấu tình cảm trong lời thơ của người thôn Vĩ, như muốn khẳng định việc thăm hỏi ân cần ấy không phải trong mơ mà có thật, và như thế, đồng thời để bản thân được nhấm nháp thứ “tiên dược” không những đối với thân bệnh mà còn cả cho tâm bệnh nan y. Tiếp đó, lời thư đã từ từ gọi thức những hình bóng thôn Vĩ ngày xưa – thời người thơ còn là một cậu học trò Trung học Pellerin Huế:

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Tờ thư “tiên dược” của tấm lòng son thôn Vĩ quả đã có tác dụng nhiệm màu đối với người bệnh: sinh lực hồi sinh; do đó đất trời đã mở ra tràn đầy sức sống: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, và cảnh trí xuất hiện đẹp tươi như trước mắt trẻ thơ: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” (về tứ pháp mà nói, chữ “mướt” thật rất Hàn Mặc Tử, và khi so sánh “xanh như ngọc” thì rõ ràng “thi trung hữu ngọc”, mà đây là bút pháp của một danh hoạ trường phái ấn tượng nhân lực tinh tường và trái tim đa cảm). Rồi không rõ từ nơi đâu trong ký ức trở về một bức chân dung có bố cục hẳn hoi ở xóm thôn Vĩ Giạ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”… Một đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử là phong cách hiện ra trước một số bài rất đậm đà màu dân tộc. Không gắn bó máu thịt với quê hương xứ sở, khó có thể viết được những câu thơ trong khổ I Đây thôn Vĩ Giạ vừa rồi – và những câu hoặc ngọt lịm dân dã (Mùa xuân chín)…

Nhưng hỡi ôi! Niềm vui quá ngắn trước vẻ Đẹp của tình người (Sao anh không về…) và của cảnh đời (Vườn ai mướt quá…). Nghĩ đến cái hố ngăn cách giữa thân phận mình với người thôn Vĩ mà giờ đay hẳn càng sâu rộng hơn (chứng bệnh nan y như đã gọi án tử hình), thi tứ Hàn Mặc Tử vụt bay đến một cõi miền đau thương đối lập: “Gió theo lối gió, mây đường mây…” – có nghĩa: rồi đây thế tất sẽ không tránh khỏi chia lìa và vĩnh quyến. Cái lối chuyển từ rất nhanh, có khi rất xa, cũng là một đặc điểm của thơ Hàn Mặc Tử; và khi “Những đột xuất ấy lặp lại với tần số cao sẽ tạo nên sự khó hiểu” (Vũ Quần Phương). Càng ở những tác phẩm cuối đời (Xuân như ý, Thượng thanh khí), thơ Hàn Mặc Tử càng thể hiện rõ đặc điểm này. Chúng ta sẽ không lạ lùng điều ấy khi nhớ lại rằng: thơ Hàn Mặc Tử trong khoảng hơn 10 năm đã đi từ đời Đường đến chủ nghĩa tượng trưng. Ngay từ tập Thơ điên, trong có bài Đây thôn Vĩ Giạ, yếu tố tượng trưng đã thấp thoáng xuất hiện. Câu thơ thôn Vĩ phảng phất đôi nét bút pháp của trường phái ấy không khỏi gây thêm đôi chút rắc rối khó hiểu nữa (dẫn đến những cảm nhận phân tán) đối với độc giả.

Do trực cảm mối quan hệ giữa bản thân với Hoàng Cúc (có lẽ là với không ít những người thân thiết khác) trước sau sẽ là gió – mây đôi ngả; nên trước mắt nhà thơ: “nắng mới” thôn Vĩ phút chốc đã lụi tắt, thay vì hình ảnh “Dòng nước buồn thiu” của Tiêu kim thuỷ (nét “hoa bắp lay” lại cũng là một hình tượng thơ xuất hiện đột ngột theo kiểu quen thuộc trong thi pháp Hàn Mặc Tử – mặc dầu về phương diện luận lịch sử có thể cho rằng: nghĩ về Vĩ Giạ là nhớ đến Cồn Hến giữa sông Hương đối diện Vĩ Giạ, trên cồn trồng nhiều vạt bắp với vùng hoa ngút ngát lay động theo gió)… Mong lãng khuây phần nào mối sầu gió – mây đôi ngả, nhà thơ ngóng đợi một bạn cố tri vô cùng thân thiết ấy có “về kịp” không “…Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay” mà cứu rỗi linh hồn: bất hạnh này không? – Kết thúc khổ thơ II là một tín hiệu mong chờ cứu nạn; nhưng lời khẩn cầu đồng thời lại đã chứa đựng niềm hồ nghi hiệu quả.

Khổ thơ II xuất hiện tiếp theo cũng không hoàn toàn rõ mạch. Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều khi như xem tranh đồng hiện: sự vật, sự thể hiện ở những thời gian không gian xa cách nhau đồng loạt xuất hiện và xâm nhập lẫn nhau không quan tâm luận lý – tính luận lý ở đây chỉ tồn tại trong tinh thần toàn khối dòng tâm tưởng. Đọc Hàn Mặc Tử, người ta cũng dễ liên tưởng đến nhà thơ Lamactin: thứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc ngẫu phát: cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào một cõi mù sương, bởi vậy, cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn phản hưởng khi va chạm với sự vật – đó là kiểu thơ “phong cảnh nội tâm”…Tương tự như vậy: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” là ai mơ? Theo mạch thơ và dựa vào ý tư trong nội dung thư Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử, người mơ hẳn đang sống ở Vĩ Giạ, nhưng cũng không loại trừ ý nghĩa là chủ thể lãng mạn cùng mơ theo… Và rồi: “Áo em trắng quá” (màu áo trắng trong tấm ảnh Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử?), có nghĩa: tâm hồn em thánh thiện quá, hạnh phúc đến đột ngột quá…, ta say men sắc màu trinh trắng đến choáng váng “nhìn không ra”? hay chỉ hàm nghĩa là: những nét chữ từ thôn Vĩ gửi về Qui Nhơn đã làm thức dậy bóng hình xa xôi một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào… Đến câu tiếp theo, đôi cánh thơ với phong độ mơ màng quen thuộc vẫn như còn tiếp tục bay lượn tìm kiếm cái đẹp ở miền đất Thần kinh sương khói mịt mờ – miền đất có:

Dòng Tiêu kim thuỷ gà xao xác
Ngẩng thấy kinh kỳ khói vấn vương
(VĂN CAO – Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)

Cuối cùng, nếu ở khổ thơ II, nhà thơ vừa muốn nhờ Trăng Vàng Trăng Ngọc làm tan biến nỗi sầu thương, vừa âu lo ước nguyện không thành:

Có chở trăng về kịp tối nay

thì chấm dứt khổ thơ kết thúc toàn bài, khi muốn nương nhờ cái Đẹp của tình người làm liệu pháp cứu rỗi, người thi nhân hoạn nạn của trần giới và đất trời này cũng vẫn không khỏi ngậm ngùi nghi ngại:

Ai biết tình ai có đậm đà.

Bên cạnh hương sắc quê xứ Việt, phải chăng tỷ trọng chủ yếu trong khối thi tứ Đây thôn Vĩ Giạ có ý nghĩa là những tín hiệu thẩm mỹ chứa đựng những ý nguyện được cứu nạn – Những tín hiệu tuy đứt nối mơ hồ mà thiết tha thấm thía của một tấm linh hồn bất hạnh – chuỗi tín hiệu cần cứu ấy gián tiếp khuyến thiện: cộng đồng con người hãy vị tha và chung thuỷ; nhất là đối với những thân phận bi kịch đã không nén nổi lời rên xiết:

Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng
(Lang thang)

 

Văn hoá và Đời sống (tháng 5-1991)

(1) Mai Văn Hoan (Sông Hương, số 2, tháng 2, 3-1990)
(2) Vẻ đẹp độc đáo trong thơ Hàn Mặc Tử – Vũ Quần Phương (Giáo viên nhân dân, số đặc biệt, tháng 7-1989)
(3) Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử (GVND, số đặc biệt, tháng 3-1990)
(4) Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội và Nxb Giáo dục (1989)
(5) Về bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử (Giáo viên nhân dân, số đặc biệt, tháng 11-1989)
(6) Đây thôn Vĩ Giạ – một tiếng thở dài đáng quý (GVND số đặc biệt; tháng 1/1990)
(7) Thuần Hoa (Văn Nghệ, số 26; ngày 30-6-1990)
(8) Thơ Hàn Mặc Tử (Sở VHTT Nghĩa Bình xuất bản – 1998).
(9) Góp thêm ý kiến về bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ (Tuổi trẻ chủ nhật số 1, ngày 7-1-1990).
(10) Bà Hoàng Cúc bị tai nạn giao thông ở Thành phố Hồ Chí Minh, đưa về Huế được mấy ngày thì mất, tang lễ tổ chức hôm 15 tháng 2 năm 1990.
(11) Theo Quách Tấn và Mai Văn Hoan, thì Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu ảnh phong cảnh chứ không phải ảnh chân dung của mình (V.T).

Thông tin cải chính từ thành viên Nguyên Thánh: “Tang lễ cô Hoàng Thị Kim Cúc vào ngày 15 tháng 2 năm 1989 chứ không phải 1990 (xem bài của Mai Văn Hoan, Sông Hương số 2, 1990). Hơn nữa sau khi bị tai nạn, cô Cúc hôn mê, nằm ở Bệnh viện Chợ Rẫy khá lâu, rồi đưa về Huế, 4 tháng nữa mới mất chứ không phải mấy ngày. Thời gian đó, gia đình Phật tử khắp cả nước về thăm viếng nhiều lắm. Vụ này tôi là người Huế nên biết rõ.”

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Mùa xuân chín

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”

 

Bài thơ này từng được sử dụng trong SGK Văn học 8 giai đoạn 1990-2002.

Khác với những bài thơ tả cảnh, kể về việc thông thường, Mùa xuân chín đến với người đọc chúng ta không giống với một cái gì đã hoàn thiện. Nhà thơ dường như tạo điều kiện cho người đọc thơ có mặt từ lúc hình tượng mới chỉ là mô hình, một phôi thai của ý đồ sáng tạo. Nét vẽ thứ nhất, cái đặt bút đầu tiên trên cái nền “khói mơ tan” và phơn phớt màu “nắng ửng” nghĩa là rất mơ hồ ấy là “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Đó là thứ gam màu đệm vẫn rất gần cái sắc màu hư ảo ở trên để trở thành một tổng thể nhạt nhoà chưa định hình rõ nét. Màu vàng ở đây là của rơm rạ, ruộng đồng, mà biết đâu không phải là mấy vùng trăng còn sót lại do bầu trời ngẩn ngơ cố tình lưu giữ? Cái thực và cái ảo cứ xen kẽ, xâm nhập, đan cài vào nhau mông lung, mơ màng để tự nó sẽ thức dậy theo con sóng thời gian chập chờn ở phía sau xô đẩy.

Sự đặc tả khối hình có ý nghĩa chiến lược ấy là khi nhà hoạ sĩ tài hoa và mơ mộng quyết định chấm vào đó một nét rờn xanh. Cái đốm xanh nõn nà mềm mượt vừa hiện ra đã cựa quậy; “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”. Đó là tín hiệu mùa xuân, cái chồi búp ngọt ngào lấp ló hiện ra trên cái tàn đông giá lạnh. Ỡm ờ và thú vị biết bao là cơn gió đầu mùa như đám trẻ con tinh nghịch. Chiếc áo mùa xuân đẹp thế đang muốn ẩn lánh đi vì nó quá rực rỡ, quá nổi bật, còn cô gái xuân lại dịu dàng e thẹn xiết bao! Song, càng e lệ giấu mình thì cơn gió thóc mách kia lại càng vô tâm biết mấy. Nó lang thang ở tít tận đâu đâu nay chững lại, dồn lại, túm tụm lại trước “tà áo biếc” để trêu chọc, phơi bày. Phải chăng cái “nắng ửng” trên kia đã dự báo cái phút ngỡ ngàng này, sẽ là cái màu thẹn, cái màu làm duyên trên đôi má tròn căng sức lực của nàng xuân đến tuổi dậy thì? Như vậy là cái cửa ngõ mùa xuân vốn đã khép kín trong mấy tháng lạnh lẽo, héo hon vì chờ đợi đã mở ra “Trên giàn thiên lý – bóng xuân sang”. Trên bức tranh lụa, cái bút lông của nhà hoạ sĩ đã có đà. Nó đã có hồn. Nó đã bắt đầu cất cánh. Người xem tranh khi đã nhập cuộc rồi, đến đây không khỏi bồn chồn: cái gì sẽ xuất hiện tiếp theo?

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi

Màu xanh, bằng cái nét chấm phá ở trên tưởng chừng đã đủ. Nhưng mà không. Chưa ai bạo tay như Hàn Mặc Tử. Dường nếu phải phá vỡ tất cả, nếu cần – cả sự cân đối thăng bằng, độ đậm nhạt vì sự thôi thúc nội tâm, ông vẫn sẵn sàng. Vì vậy mà một mảng xanh khác lại đột ngọt hiện ra bướng bỉnh. Và lần này không phải là một đốm, một nét mà lại là một mặt bằng mênh mông của cỏ. Ngồn ngộn một màu xanh thèm khất mà con người chỉ dám ước mơ đã tươi rói hiện ra, hào phóng, vô tư, vẫy gọi, chào mời. Xưa, Nguyễn Du đã từng viết: “Cỏ non xanh rợn chân trời”. Thảm cỏ ấy của Tiên Điền nay được đẩy lên một tầng nữa, mới mẻ hơn và đặc biệt còn in đậm bàn tay chưa khô mực của người hoạ sĩ đang tròn trịa tuổi xuân đời. Rõ ràng là con “sóng cỏ” đã bay lượn hơn, sống động hơn. Nó đang vỗ bờ từng nhịp bồi hồi từ một nửa trái tim mênh mông đa tình, đa cảm.

Thế là tiếng hát của đất trời, thiên nhiên, cây cỏ cất lên cùng một lúc với tiếng hát con người “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Cái sức xuân đã như một dàn đồng ca nhiều bè quấn quyện. Nhìn vào đâu cũng thấy sắc xuân, hướng về phía nào cũng thấm đẫm hương xuân. Nó đậm đặc như có thể múc lên được từng mảng như múc ánh trăng đêm vậy. Cái thăm thẳm của bức tranh xuân và chân dung thôn nữ trên đây còn có cả độ cao và độ sâu không cùng của nó:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi…

Diễn tả sức bay của Tiếng sáo Thiên Thai, trước Hàn Mặc Tử, Thế Lữ đã có những câu thơ xuất thần:

Khi cao vút tận mây mờ
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh

Về bút pháp, Hàn Mặc Tử không có gì mới. Song, đóng góp của nhà thơ trẻ này là đem vào những chữ, những câu máu thịt của cuộc đời. Không khí huyền thoại trong thơ Thế Lữ đến đây đã nhường chỗ cho ánh mắt, nụ cười cô gái. Một cái gì đó trần tục hơn, do đó cũng da diết, tan nát cõi lòng hơn. Bởi mùa xuân hiện ra chỉ trong chớp mắt. Phải chớp mắt đời người. Nó rung động đến tận đáy sâu trái tim người đọc. Bởi, cả cái “hổn hển” kia, cả cái “thầm thì” kia phải chăng là hai cung bậc hết mình của những trái tim đang hát và chỉ hát có một lần? Cái “chín” của mùa xuân chính là ở chỗ này. Như một thứ quả ngọt trên cây, chín từ vỏ, chín từ từ, đến lúc này có thể bóc ra mà ăn được.

Dấu ấn của thơ Hàn Mặc Tử là một trái tim nồng nhiệt, cuồng si, khát khao yêu đương, khao khát sống, là một bút pháp tài hoa, táo bạo, bằng một vài vét vờn vẽ đơn sơ mà tái hiện cả một bầu trời. Sẽ là một thiếu sót nếu ta không nói thêm sự liên tưởng, sự mở rộng nhiều chiều của thời gian đồng hiện. Đang miêu tả bức tranh tươi như một nét cười, một nụ hôn đắm say thuần khiết, thì đột ngột cái man mác rình rập ở đâu đó hiện ra trong ý nghĩ đau đớn của nhà thơ:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi

Cái mầm ly biệt hiện ra như một tiền định. Có khác gì cơn ác mộng của Thuý Kiều sau lúc gặp Đạm Tiên cùng một lần hạnh phúc đắm say, dịu ngọt. Ta mới hiểu cái quy luật của lòng ham sống (chứ không phải là chủ nghĩa hưởng lạc!)

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
(Xuân Diệu)

Cái nỗi niềm đứt ruột này nói hộ một tình yêu, một thứ tình yêu đắm đuối không cùng với cuộc đời mà con người trước dòng chảy của thời gian đã không sao giữ lại nổi. Cái xốn xang, xao xuyến hướng về phía trước cũng một lúc với ngoái lại sau: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc…” Rõ ràng con đường xuân đã và đang đi sẽ hướng tới cái cuối cùng, đến chỗ hư vô. Nó không khỏi để lại trong khoảng trống vắng của cõi lòng nhà thơ nhiều bùi ngùi, ngẩn ngơ, luyến tiếc. Thì ra cái đẹp của cuộc đời dù hào phóng, dư thừa đến đâu cũng hạn hẹp. Cho nên phải biết quý nó từng phút, từng giây. Bởi nếu trái tim ta không dành trọn cho nó, nó sẽ vô tình đi qua như một cơn gió nhẹ. Cái tâm huyết của nhà thơ vừa chín với tuổi xuân đã sớm về với khe nước Ngọc Tuyền (1) có phải là ở chỗ đó hay chăng?

 

(1) “Thưa tôi không dám mê say, Một mai tôi chết bên khe Ngọc Tuyền” (Một miệng trăng – Hàn Mặc Tử).

Hàn Mặc Tử là nhà thơ tài hoa. Ông để lại cho đời không nhiều thi phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng đáng trân trọng, nâng niu như Mùa xuân chín.

Ngay tên bài thơ đã cho thấy tác giả là người dụng công với câu, chữ. Câu chữ của ông luôn được chắt lọc tìm tòi.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

Câu thơ thật gợi mở. Trên những mái nhà tranh vách đất của làng quê ngày xưa lấm tấm những nụ hoa thiên lý ùn nở vàng, xen giữa màu xanh tươi của lá. Lá và hoa thiên lý là niềm đặc sắc của hương vị quê hương:

Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen
(Ca dao)

Của quý như vậy, xanh tươi mơn mởn như vậy nên mới được gió trêu, gió đùa, gió mơn man. Làm bất chợt mùa xuân ào tới.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Mùa xuân từ trong nhà đã lan ra xa đồi núi, từ cây cảnh sang tới người. Con người của mùa xuân thật trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống. Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Hát rằng:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Ở lại làng chơi với các cô thật vui, song ai đó được đi lấy chồng cũng vui không kém, thậm chí đây còn là sự phát triển của mùa xuân.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…

Những từ vắt vẻo, hổn hển được tác giả dùng thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sự hồi hộp, đợi chờ trong lồng ngực của những cô gái đang căng tròn sức sống. Làm cho ai đó đang ngồi dưới trúc (trong bối cảnh này mà chịu ngồi yên dưới trúc thì chắc không còn ở tuổi thanh xuân nữa) cũng phải rộn ràng:

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín?
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Thấy mùa xuân ở quê người lại nhớ tới cảnh làng mình, một cảnh làng mùa hạ có nắng chói chang và bao nhiêu người thân đang oằn lưng lao động giữa nắng. Đây là nét rất nhân bản của con người luôn nặng tình với quê hương xứ sở. Nhớ làng trước hết là nhớ những gì cần phải suy nghĩ, sẻ chia.

– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Chị ấy là ai vậy? Rất có thể đây là người bạn gái ngày xưa của khách – đang là lao động chính ở quê nhà. Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nên được xem là câu thơ thần tình nhất của Hàn Mặc Tử. Ta hay nói sông xanh, sông đỏ, đây nhà thơ nói sông trắng. Nắng đến trắng cả sông thì phải biết nắng gay gắt như thế nào. Các cặp vần trắng – nắng, chang – chang kết hợp với năm phụ âm “ng” đứng cuối mỗi từ làm cho câu thơ được kéo dài và ngân nga mãi.

Đúng là Mùa xuân chín, một mùa xuân đầy đặn, nên thơ. 

Vương Thừa Việt
nguồn: Thi viên.net
st
]]>
Khúc ca bất tận về giá trị tinh thần của nghệ thuật. https://thuonghylenien.org/luu-tru/7153 Thu, 01 Oct 2026 21:32:48 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=7153 Khúc ca bất tận về giá trị tinh thần của nghệ thuật.

Nghệ thuật hiện hữu quanh ta, len lỏi vào từng ngóc ngách cuộc sống, ẩn chứa sức mạnh phi thường lay động tâm hồn con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng thấu hiểu những giá trị tinh thần của nghệ thuật. Bài viết này sẽ cùng bạn khám phá lý do tại sao nghệ thuật có thể khiến tâm hồn chúng ta tốt đẹp hơn.

Nghệ thuật – hai chữ tưởng chừng đơn giản nhưng lại ẩn chứa sức mạnh phi thường, len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn con người, khẽ khàng đánh thức những cung bậc cảm xúc diệu kỳ và vẽ nên bức tranh muôn màu về đời sống tinh thần.

Seven Liberal Arts _ Maarten de Vos (1590) - Giá trị tinh thần của nghệ thuật

Seven Liberal Arts – Maarten de Vos (1590)

Hãy sẵn sàng để bước vào thế giới đầy màu sắc và cảm xúc của “Khúc ca bất tận”, nơi nghệ thuật không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho cuộc sống.

Tượng Laocoon và các con trai

Tượng Laocoon và các con trai

#1 Giá trị tinh thần của nghệ thuật điêu khắc

Tạc vào không gian những hình khối vô tri, nghệ thuật điêu khắc như thổi hồn vào đá, gỗ, kim loại, vẽ nên bức tranh sinh động về đời sống tinh thần của con người. Từ những pho tượng đá thô sơ thời tiền sử đến những tác phẩm đương đại tinh xảo, điêu khắc ẩn chứa sức mạnh phi thường, lay động trái tim và khơi gợi những cung bậc cảm xúc sâu lắng trong tâm hồn mỗi người.

Như một người kể chuyện tài ba, nghệ thuật điêu khắc đưa ta du hành qua dòng chảy thời gian, lưu giữ những ký ức lịch sử và văn hóa của nhân loại. Những bức tượng Phật uy nghi, đền đài tráng lệ hay lăng tẩm nguy nga là minh chứng cho những nền văn minh rực rỡ đã qua, là sợi dây kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai, nhắc nhở ta về nguồn cội và trách nhiệm gìn giữ những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

Nghệ thuật điêu khắc còn là cầu nối tâm hồn, giúp con người xích lại gần nhau hơn. Khi cùng chiêm ngưỡng một tác phẩm điêu khắc, ta có thể chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ và ý tưởng của mình, từ đó tạo nên sự kết nối và hiểu biết lẫn nhau. Điêu khắc xóa nhòa ranh giới ngôn ngữ, văn hóa, gắn kết con người thành một cộng đồng chung, nơi mỗi người cùng hòa chung nhịp đập của trái tim, cùng trân trọng và yêu thương vẻ đẹp của cuộc sống.

Hơn cả một giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật điêu khắc còn là nguồn động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hướng đến cái đẹp, cái thiện. Những tác phẩm điêu khắc ca ngợi những giá trị nhân văn cao đẹp, khơi dậy lòng yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường, góp phần hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp.

Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven

#2 Giá trị tinh thần của nghệ thuật âm nhạc

Như một dòng chảy âm thanh du dương, len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn con người, nghệ thuật âm nhạc mang theo sức mạnh phi thường, khơi gợi những cung bậc cảm xúc đa dạng và vẽ nên bức tranh muôn màu về đời sống tinh thần. Vậy, điều gì khiến âm nhạc trở nên đặc biệt và có giá trị tinh thần to lớn đến vậy?

Âm nhạc là ngôn ngữ chung của cảm xúc, nơi tiếng hát và giai điệu hòa quyện, chạm đến những rung cảm sâu thẳm nhất trong tâm hồn mỗi người. Niềm vui sướng hân hoan được thể hiện qua những bản nhạc rộn ràng, sôi động; nỗi buồn bã, u sầu được cất lên trong những giai điệu da diết; hay sự phẫn nộ, bức xúc được bùng cháy qua những bản nhạc rock đầy mạnh mẽ. 

Khi thưởng thức âm nhạc, ta như được đồng cảm với những cảm xúc được thể hiện, từ đó bồi đắp tâm hồn và trở nên phong phú hơn về mặt tinh thần. Âm nhạc cũng có thể truyền tải những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, về con người, giúp ta suy ngẫm và trưởng thành hơn.

Âm nhạc là sản phẩm của trí tưởng tượng và sự sáng tạo phi thường của con người. Khi tiếp xúc với âm nhạc, ta được khơi gợi nguồn cảm hứng và khả năng sáng tạo của bản thân. Những giai điệu du dương có thể đưa ta đến những miền đất xa xăm, những câu chuyện kỳ ảo, hay những cảm xúc mới mẻ, độc đáo. Âm nhạc cũng giúp ta nhìn thế giới bằng con mắt mới, từ đó có những ý tưởng sáng tạo và đột phá hơn.

Âm nhạc là nhịp cầu nối những tâm hồn, giúp con người xích lại gần nhau hơn. Khi cùng nhau thưởng thức một tác phẩm âm nhạc, ta có thể chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ và ý tưởng của mình với nhau, từ đó tạo nên sự kết nối và hiểu biết lẫn nhau. 

Âm nhạc xóa nhòa ranh giới ngôn ngữ, văn hóa, gắn kết con người thành một cộng đồng chung, nơi mọi người cùng hòa chung nhịp đập của trái tim, cùng trân trọng và yêu thương vẻ đẹp của cuộc sống. Âm nhạc cũng là tiếng nói chung của tình yêu thương, lòng nhân ái, giúp con người xích lại gần nhau, đồng cảm và chia sẻ những khó khăn, niềm vui trong cuộc sống.

Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai (Girl with a Pearl Earring) – Tranh của Johannes Vermeer

Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai (Girl with a Pearl Earring) – Tranh của Johannes Vermeer

#3 Giá trị tinh thần của nghệ thuật hội họa

Nghệ thuật hội họa, vượt xa những nét vẽ và màu sắc, là một cánh cửa mở ra thế giới tinh thần phong phú và sâu sắc của con người. Qua mỗi bức tranh, người nghệ sĩ không chỉ tái hiện hiện thực mà còn gửi gắm vào đó những cảm xúc, suy tư, và quan niệm về cuộc sống. Chính giá trị tinh thần này đã khiến hội họa trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của nhân loại.

Hội họa có khả năng đánh thức những cung bậc cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn người xem. Một bức tranh đẹp có thể mang lại niềm vui, sự an yên, hay khơi dậy những ký ức xa xưa. Ngược lại, một tác phẩm với gam màu u tối và hình ảnh mạnh mẽ có thể thể hiện nỗi đau, sự phẫn nộ hoặc những προβληματισμοί về thân phận con người. Sự đồng cảm và sẻ chia cảm xúc này giúp con người cảm thấy được kết nối và thấu hiểu, từ đó xoa dịu những nỗi cô đơn và lạc lõng trong cuộc sống hiện đại.

Hội họa còn là một phương tiện để thể hiện và khám phá bản sắc văn hóa. Qua những tác phẩm hội họa truyền thống, chúng ta có thể hiểu thêm về lịch sử, phong tục tập quán, và những giá trị tinh thần của dân tộc. Đồng thời, hội họa đương đại với những phong cách đa dạng và sáng tạo cũng phản ánh những biến đổi trong xã hội và tư tưởng của con người. Nhờ đó, hội họa không chỉ là một di sản văn hóa mà còn là một chứng nhân lịch sử sống động.

Cuối cùng, hội họa mang đến cho con người một không gian tự do để tưởng tượng và sáng tạo. Khi chiêm ngưỡng một bức tranh, người xem không chỉ bị động tiếp nhận thông điệp của tác giả mà còn có thể tự tạo ra những câu chuyện và ý nghĩa riêng. Quá trình tương tác này kích thích trí tưởng tượng và tư duy phản biện, giúp con người phát triển khả năng sáng tạo và nhìn nhận thế giới theo nhiều góc độ khác nhau.

Friar Laurence cầu xin sự tha thứ sau cái chết của Romeo và Juliet trong buổi biểu diễn "Romeo & Juliet" của Đoàn kịch Chautauqua

Friar Laurence cầu xin sự tha thứ sau cái chết của Romeo và Juliet trong buổi biểu diễn “Romeo & Juliet” của Đoàn kịch Chautauqua

#4 Giá trị tinh thần của nghệ thuật kịch

Nghệ thuật kịch, với sự kết hợp giữa ngôn ngữ, diễn xuất và âm nhạc, mang đến một không gian tinh thần phong phú và sâu sắc cho khán giả. Thông qua những câu chuyện được kể trên sân khấu, kịch không chỉ giải trí mà còn khơi gợi những cung bậc cảm xúc đa dạng, từ niềm vui, hạnh phúc đến nỗi buồn, đau khổ.

Kịch còn là tấm gương phản chiếu xã hội, phản ánh những vấn đề cuộc sống, những xung đột, mâu thuẫn giữa các cá nhân, tầng lớp. Qua đó, người xem có thể nhìn nhận, suy ngẫm về bản thân, về mối quan hệ với những người xung quanh và với xã hội. Kịch cũng là nơi truyền tải những giá trị đạo đức, nhân văn, khơi dậy lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và tình yêu thương giữa con người với con người.

Hơn nữa, kịch còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp người xem hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc. Những vở kịch lịch sử tái hiện lại những sự kiện trọng đại, những nhân vật anh hùng, góp phần nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc.

Tu viện Westminster - Kiểu kiến trúc Gothic

Tu viện Westminster – Kiểu kiến trúc Gothic

#5 Giá trị tinh thần của nghệ thuật kiến trúc

Nghệ thuật kiến trúc, vượt xa khỏi những công trình xây dựng đơn thuần, mang trong mình giá trị tinh thần sâu sắc, ảnh hưởng đến tâm hồn và đời sống con người. Qua những hình khối, đường nét và không gian, kiến trúc không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn khơi gợi cảm xúc, truyền tải thông điệp văn hóa và lịch sử, đồng thời tạo dựng môi trường sống có ý nghĩa cho cộng đồng.

Một công trình kiến trúc đẹp có khả năng đánh thức những cung bậc cảm xúc khác nhau trong lòng người thưởng lãm. Từ sự choáng ngợp trước những công trình đồ sộ, hoành tráng đến sự bình yên, thư thái trong những không gian gần gũi, thân thuộc, kiến trúc khơi gợi những rung cảm thẩm mỹ, mang lại niềm vui, sự hài lòng và cảm giác được kết nối với thế giới xung quanh.

Kiến trúc còn là tiếng nói của thời đại, phản ánh những giá trị văn hóa, tư tưởng và lối sống của một cộng đồng. Những công trình kiến trúc cổ kính lưu giữ dấu ấn của lịch sử, truyền thống và bản sắc dân tộc, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về quá khứ và nguồn cội của mình. Trong khi đó, kiến trúc hiện đại thể hiện sự phát triển, đổi mới và khát vọng vươn lên của con người.

Không chỉ là nơi trú ngụ, kiến trúc còn tạo dựng môi trường sống có ý nghĩa, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tinh thần của con người. Một không gian sống hài hòa, thân thiện và đầy cảm hứng có thể khơi dậy sự sáng tạo, thúc đẩy giao tiếp và gắn kết cộng đồng. Ngược lại, những công trình kiến trúc thiếu thẩm mỹ, chật hẹp và lộn xộn có thể gây ra sự căng thẳng, mệt mỏi và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần.

Jack London là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã, Gót sắt, Martin Eden, Tình yêu cuộc sống, Nanh trắng và hơn 50 tác phẩm khác..

Jack London là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã, Gót sắt, Martin Eden, Tình yêu cuộc sống, Nanh trắng và hơn 50 tác phẩm khác..

#6 Giá trị tinh thần của nghệ thuật văn học

Nghệ thuật văn học, vượt xa những con chữ và câu chuyện, là một kho tàng tinh thần vô giá của nhân loại. Qua những trang sách, văn học không chỉ mang đến cho người đọc những giây phút giải trí mà còn khơi gợi những cảm xúc sâu sắc, mở rộng hiểu biết về thế giới và con người, đồng thời nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao nhận thức về cuộc sống.

Văn học có khả năng đánh thức những cung bậc cảm xúc đa dạng trong lòng người đọc. Từ niềm vui, hạnh phúc đến nỗi buồn, đau khổ, từ sự đồng cảm, sẻ chia đến lòng căm phẫn, phẫn nộ, văn học chạm đến những ngõ ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn, giúp con người nhận ra và đối diện với những cảm xúc chân thật của chính mình. Qua đó, văn học giúp con người trưởng thành hơn về mặt cảm xúc, biết yêu thương, trân trọng và đồng cảm với những người xung quanh.

Văn học còn là cánh cửa mở ra thế giới rộng lớn, giúp con người khám phá những vùng đất mới, những nền văn hóa khác biệt và những số phận con người đa dạng. Qua những trang sách, người đọc có thể du hành vượt thời gian và không gian, trải nghiệm những cuộc phiêu lưu kỳ thú, chứng kiến những biến cố lịch sử trọng đại và đồng hành cùng những nhân vật với những số phận khác nhau. Từ đó, văn học mở rộng tầm nhìn, khơi dậy trí tò mò và nuôi dưỡng tinh thần ham học hỏi.

Hơn thế nữa, văn học còn là nguồn cảm hứng vô tận cho sự sáng tạo và tư duy phản biện. Những tác phẩm văn học kinh điển với những giá trị nhân văn sâu sắc, những câu chuyện đầy tính triết lý và những hình tượng nghệ thuật độc đáo không chỉ mang đến cho người đọc những bài học quý giá về cuộc sống mà còn kích thích khả năng tư duy, phân tích và sáng tạo.

James Francis Cameron thực hiện các phim điện ảnh khoa học viễn tưởng và sử thi

James Francis Cameron thực hiện các phim điện ảnh khoa học viễn tưởng và sử thi

#7 Giá trị tinh thần của nghệ thuật điện ảnh

Nghệ thuật điện ảnh, với sự kết hợp hoàn hảo giữa hình ảnh, âm thanh và câu chuyện, đã vượt xa khỏi khuôn khổ giải trí đơn thuần để trở thành một phương tiện truyền tải những giá trị tinh thần sâu sắc, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm hồn và nhận thức của khán giả.

Điện ảnh có khả năng đánh thức những cung bậc cảm xúc đa dạng trong lòng người xem. Từ niềm vui, hạnh phúc, sự đồng cảm, sẻ chia đến nỗi buồn, đau khổ, phẫn nộ, điện ảnh chạm đến những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn, giúp con người nhận ra và đối diện với những cảm xúc chân thật của chính mình. Thông qua những câu chuyện cảm động, những nhân vật sống động và những tình huống kịch tính, điện ảnh mang đến cho khán giả những trải nghiệm cảm xúc phong phú, giúp họ trưởng thành hơn về mặt cảm xúc và thấu hiểu hơn về bản chất con người.

Điện ảnh còn là tấm gương phản chiếu xã hội, phản ánh những vấn đề cuộc sống, những xung đột, mâu thuẫn giữa các cá nhân, tầng lớp. Qua đó, người xem có thể nhìn nhận, suy ngẫm về bản thân, về mối quan hệ với những người xung quanh và với xã hội. Điện ảnh cũng là nơi truyền tải những giá trị đạo đức, nhân văn, khơi dậy lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và tình yêu thương giữa con người với con người.

Hơn nữa, điện ảnh còn là cầu nối giữa các nền văn hóa, giúp người xem hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của các quốc gia, dân tộc khác nhau. Những bộ phim về đề tài lịch sử, văn hóa không chỉ mang đến kiến thức mà còn góp phần nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy sự giao lưu, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn hóa.

Cuối cùng, điện ảnh còn là nguồn cảm hứng vô tận cho sự sáng tạo và tư duy phản biện. Những tác phẩm điện ảnh kinh điển với những giá trị nghệ thuật cao, những câu chuyện đầy tính triết lý và những hình tượng nhân vật sâu sắc không chỉ mang đến cho người xem những bài học quý giá về cuộc sống mà còn kích thích khả năng tư duy, phân tích và sáng tạo.

Lời kết

Trong xã hội hiện đại, nơi guồng quay công việc bộn bề và chủ nghĩa vật chất có xu hướng lấn át, 7 môn nghệ thuật như những ngọn hải đăng soi rọi tâm hồn, nhắc nhở chúng ta về những giá trị tinh thần đích thực. 

Hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, văn học, sân khấu và điện ảnh không chỉ mang đến những phút giây thư giãn, giải trí mà còn khơi gợi cảm xúc, mở rộng hiểu biết, nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao nhận thức về cuộc sống. 

Giữa những lo toan thường nhật, nghệ thuật là liều thuốc tinh thần giúp con người cân bằng, tìm lại sự bình yên và cảm hứng sáng tạo. Chính vì vậy, hãy để nghệ thuật trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống, để tâm hồn luôn được nuôi dưỡng và thăng hoa, để  chúng ta luôn tự hào về một đời sống tinh thần phong phú và ý nghĩa.

Tác giả: Đặng Hoàng Trâm Anh

st

]]>
Nửa…Thơ Thường Hỷ Lê Niên. Nhạc ai. https://thuonghylenien.org/luu-tru/6989 Fri, 25 Sep 2026 04:58:34 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6989 ]]> Thương-Quá-Việt-Nam-Tuyển-Tập-_-Duy-Khánh-Tac-Gia-Tac-Pham-Official.mp3 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6985 Thu, 24 Sep 2026 09:25:22 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6985 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/09/Thuong-Qua-Viet-Nam-Tuyen-Tap-_-Duy-Khanh-Tac-Gia-Tac-Pham-Official.mp3 ]]> Mai-Hương-Và-Những-Tuyệt-Phẩm-Đoàn-Chuẩn-Từ-Linh-Album-_-Nhac-Tien-Chien-Bat-Hu.mp3 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6969 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6969#comments Thu, 17 Sep 2026 09:37:07 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6969 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/09/Mai-Huong-Va-Nhung-Tuyet-Pham-Doan-Chuan-Tu-Linh-Album-_-Nhac-Tien-Chien-Bat-Hu.mp3 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/6969/feed 1 Tuyển tập những bài ngâm thơ hay nhất. https://thuonghylenien.org/luu-tru/6961 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6961#respond Thu, 17 Sep 2026 05:54:24 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6961 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/6961/feed 0 Xóm Rẫy Hà Tiên với bài thơ độc vận của nhà thơ Nguyễn Bính https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947#respond Sun, 13 Sep 2026 06:56:57 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6947 Xóm Rẫy Hà Tiên với bài thơ độc vận của nhà thơ Nguyễn Bính.

Gia đình ông Đông Hồ (người thứ hai từ trái qua) chụp với nhà thơ Nguyễn Bính (bìa trái) và nữ sĩ Mộng Tuyết (bìa phải). Hai cô gái ngồi ở giữa là hai người con gái của Đông Hồ: Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm

Trần Văn Mãnh

Trong bài viết « Đêm du ca Liêu Trai » đăng trong tạp chí Bách Khoa vào năm 1971, nữ sĩ Mộng Tuyết có nhắc đến con đường về xóm Rẫy xa xưa ở Hà Tiên của bà, con đường đất gồ ghề với hai bên bờ đầy cỏ dại và ngập nước với ánh sáng đom đóm lập lòe, con đường đi đầy kỷ niệm vì bà đã cùng người bạn đồng hành từng so bước :

Ao tràn mưa ngọt bờ hoang dại
Bèo nở xinh xinh cánh nở tròn
……..
Đường về xóm ấy nhiều đom đóm
Lấp lánh ngân hà ngập bước sao
Ngở lạc tiền thân vào xứ mộng
Hồn tiên nghe tiếng gọi nao nao…
Trinh Trắng (Đông Hồ 1961)

Con đường ấy ắt hẳn là con đường Mạc Cửu, Hà Tiên và xóm Rẫy xa xưa đó ắt cũng chính là xóm nhà nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Mạc Tử Hoàng, phía sau chùa Tam Bảo ra tới ao sen giữa và trên.

Ngày xưa đây là xóm nhà có vườn tược và cây ăn trái rất nhiều, vì thế có tên là xóm Rẫy, ở đây có căn nhà của gia đình nữ sĩ Mộng Tuyết với các thành phần được mang nhiều cái tên rất thơ mộng, đượm màu văn chương như: Khu vườn chung quanh nhà được Đông Hồ đặt tên là Bách Phương Viên, sau đó là Úc Viên, mái hiên trên căn gác của Mộng Tuyết được gọi là Tân Nguyệt Hiên (tức Mái Trăng Non)…, quanh năm bốn mùa mái nhà và góc vườn vào những đêm có trăng được ngập ánh trăng chiếu sáng, ngôi vườn thì luôn thoang thoảng mùi hương kỳ lạ như mùi hương của những cây vị thuốc bạch đàn hương, thanh hải hương, ngọc quế hương…

Cũng chính ở xóm Rẫy nầy vì gần cạnh ao sen miếu Lịnh nên thường xuyên Mộng Tuyết lúc đó chỉ là một cô bé theo các chị ra ao sen lấy nước và gặp chàng thư sinh thanh nhã đang thong thả ngắm hoa sen, lòng cảm thấy có chút mộng mơ, rồi đến lúc tuổi đi học nhiều năm sau mới biết ra người đó chính là thầy giáo Lâm Tấn Phác và hai người có một định mệnh gắn bó cả đời…

Cũng tại xóm Rẫy đó, nhà thơ Nguyễn Bính (1) sau nhiều tháng đi ngao du hải hồ ở Huế, Sài Gòn, cũng lần mò đến tận Hà Tiên và để hồn mình hòa vào cái xóm thơ mộng của bà chị Mộng Tuyết rồi con tim cũng có chút rung động trước cô cháu gái của Mộng Tuyết…

Lúc đó vào khoảng năm 1944, người vợ thứ hai của Đông Hồ là Thái Nhàn Liên (Thái Thị Thân) cũng là người chị thứ năm của Mộng Tuyết (Thái Thị Sửu), đang bị bệnh, có lúc được đưa lên Sài Gòn để chửa trị, rồi lại phải đưa về nhà ông Đông Hồ ở Hà Tiên, bà Mộng Tuyết phải lo cho chị và các cháu nhỏ (2). Ngoài chợ Hà Tiên (3) Mộng Tuyết có một tiệm may đặt tên là Yiễm Yiễm thương điếm và cũng là tiệm sách tên Yiễm Yiễm thư trang (4), đúng lúc nầy nhà thơ Nguyễn Bính xách va ly xuất hiện tại tiệm may để tìm gặp Mộng Tuyết, thực ra thì từ trước, khi Đông Hồ, Mộng Tuyết thường giao lưu văn hóa với các nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc, Đông Hồ có viết thư mời Nguyễn Bính đi Hà Tiên một chuyến để bạn thơ văn được gặp nhau.

Sau buổi gặp mặt, Nguyễn Bính rất mừng và được đưa về nhà Đông Hồ để trú ngụ, vì thời gian ở cũng kéo dài nên Đông Hồ nhường căn gác mang tên Nam Phong tiểu các cho Nguyễn Bính (hay Gác Nam Phong, nơi Đông Hồ viết văn, làm thơ và tàng trữ các số báo Nam Phong). Vì Nguyễn Bính nhỏ tuổi hơn Mộng Tuyết nên ông xem nữ sĩ như một người chị tinh thần, đối lại, Mộng Tuyết cũng chăm sóc Nguyễn Bính rất chu đáo như là một chú em trong nhà, nữ sĩ đã may cho ông một bộ quần áo bà ba bằng lụa Hà Đông, còn Đông Hồ thì dành cho ông những ngọn nến hồng lạp quý giá để đêm đêm ông chong đèn làm thơ trên gác.

Thường ngày, sau khi ăn sáng ở nhà Đông Hồ, Nguyễn Bính ra tiệm may Yiễm Yiễm thương điếm của Mộng Tuyết để trông tiệm giúp và nhất là lãnh công đi bỏ thư cho nữ sĩ ở bưu điện, vì đi bỏ thư rất nhiều lần đến nổi Nguyễn Bính thuộc lòng các địa chỉ người nhận thư và có lần cũng muốn ghen tức vì thấy thư gởi cho một tên người rất nhiều lần…

Những buổi sáng như thế, nữ sĩ đi chợ và thường mua trà và bánh ngọt cho ông thưởng thức, Nguyễn Bính rất thích chiếc bánh qui của Hà Tiên, chiếc bánh làm bằng nếp dẻo màu trắng, hình nửa trái cầu trên đỉnh có một vòng đỏ như có đóng triện son, bên trong có nhân dừa ngào đường hoặc đậu xanh ăn rất ngon.

Theo hồi ký trong bài « Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên » đăng trên tạp chí Văn số 60, năm 1966, Mộng Tuyết kể lại là Nguyễn Bính thường đưa Mộng Tuyết về nhà ở xóm Rẫy sau khi đóng cửa tiệm ở chợ, vì ông còn chưa biết đi xe đạp nên nữ sĩ phải dắt xe đi bộ cùng ông, điều nầy làm cho Nguyễn Bính thấy hơi xấu hổ nên ông cố gắng lén tập chạy xe đạp để rồi có những buổi chiều ông đã đưa được MộngTuyết về nhà trên chiếc xe đạp… Nữ sĩ còn kể rằng bà và Đông Hồ thường bàn chuyện về bộ Tam Quốc Chí cho Nguyễn Bính nghe, nghe mà không thể góp ý được vì ông chưa từng biết chuyện nầy, đó lại là một điều làm ông cũng thấy xấu hổ vì Mộng Tuyết và Đông Hồ rất ngạc nhiên vì sao ông lại chưa đọc Tam Quốc Chí…

Đến khi Nguyễn Bính quyết tâm đọc bộ Tam Quốc suốt nhiều đêm thì ông lại thấy rất thích bộ truyện Tàu nầy và đã đưa vào truyện dài bằng thơ do ông viết trong thời gian nầy nhiều điển tích từ Tam Quốc Chí.

Nguyễn Bính thường rủ Đông Hồ vào Rẫy chơi sau khi ăn tối xong. Có đêm Đông Hồ không đi thì Nguyễn Bính cũng đi một mình…Rồi vì nhà ở Rẫy thì đầu hôm thường đóng cửa, bên trong sinh hoạt trong nhà, cô cháu của Mộng Tuyết, tên Ngọc (5), đọc Tam Quốc cho thân mẫu của nữ sĩ nghe, Nguyễn Bính đến trể nhìn cửa đã cài then, không dám kêu cửa, chỉ ngồi ở mái hiên gần tới khuya và nghe trộm tiếng cô gái Ngọc đọc sách, cách một cánh cửa, ông nói có một điều thú vị riêng….

Trong bài viết « Bóng giai nhân và Nguyễn Bính » đăng trên tạp chí Văn số 189, năm 1971, Mộng Tuyết có kể lại khi ở gác Nam Phong nhà Đông Hồ, ông tình cờ tìm gặp lại tấm thiệp do Mộng Tuyết còn giữ kỹ lại từ năm 1942 khi bà được mời xem vở kịch « Bóng Giai Nhân » được tổ chức ở Nhà Hát Tây Hà Nội, ông rất ngạc nhiên và cũng rất thích thú, vì một điều là vở kịch thơ đầy màu sắc Xuân Thu Chiến Quốc nầy do một người bạn thời ở Huế là Xuân Khai (hiệu Yến Lan) viết với sự hợp tác của ông, một điều nữa là ông thấy Mộng Tuyết cũng đã xem và biết vở kịch thơ nầy…Kỷ niệm chợt hiện về và nhà thơ lại cao hứng đẽo gỗ làm gươm thiêng để độc diễn lại vở kịch cho Đông Hồ và Mộng Tuyết xem. Một công trình tay chân của Nguyễn Bính nữa là ông đã dùng một đoạn tre già và dây đồng để chế ra cái điếu có chân để hút thuốc lào, vì thời đó ở Hà Tiên không tìm ra đâu được cái điếu thuốc lào. Hai công trình thủ công nầy khiến ông rất hảnh diện.

Ở Hà Tiên thời xưa, vào dịp Tiết Đoan Ngọ (ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), có tục nấu nước lá Thạch Xương Bồ để tắm gội, xông hơi, lá có tinh dầu, tác dụng tẩy uế. Thấy Mộng Tuyết nấu nước lá Thạch Xương Bồ, Nguyễn Bính thích cái tên đó nên sẳn lúc đang viết một trường thiên truyện thơ dài dạng lục bát, nên lấy ba chữ Thạch Xương Bồ đặt tên cho tác phẩm mà ông nói là sẽ dài hơn cả truyện Kiều.

Thời gian dần dà trôi đi, nhà thơ chân quê Nguyễn Bính ở Hà Tiên đã được nhiều tháng, cuộc sống có vẻ ngăn nắp, yêu đời, lành mạnh, mẫu mực, đằm thắm với hai nhà thơ đất Hà và đặc biệt là ông luôn mộng mơ và nghĩ nhiều đến cô cháu của Mộng Tuyết. (6)

Cuối cùng không biết có phải máu giang hồ, lãng du nổi lên hay có một quyết định nào đó đúng đắn hơn, mặc dù trường thiên truyện dài bằng thơ lục bát mới viết chưa được bằng nửa truyện Kiều mà Nguyễn Bính nhất định rời Hà Tiên mặc dù đôi thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết hết sức níu giữ lại…

Nguyễn Bính không hoàn thành truyện thơ lục bát Thạch Xương Bồ trong lúc ở Hà Tiên, tuy nhiên sau khi ra đi về Rạch Giá, rồi mãi một thời gian sau không có tin tức, sau nầy mới biết là ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến. Không biết ông đã bắt đầu viết từ lúc nào nhưng sau đó ông đã có một tác phẩm đặc biệt mà ông xem như là Trường ca người xóm Rẫy, viết để tặng người chị Mộng Tuyết và em… Ngọc, người mà khi ông vừa có bộ áo bà ba may bằng lụa, đã thêu trên vạt áo cho ông bốn chữ Hán « Khả Thủy Sơn Nhơn », Mộng Tuyết không đoán ra nghĩa gì nhưng ông Đông Hồ giải thích đó là do cách chiết tự hai chữ Hà Tiên, Khả Thủy là Hà và Sơn Nhơn là Tiên.

Một thời gian sau, Mộng Tuyết nhận được một bài thơ vận « Rẫy », bài thơ Hà Tiên, người xóm Rẫy…(sẽ sao chép lại phần cuối bài).

Có thể là xóm Rẫy của Hà Tiên qua trường ca Người xóm Rẫy của nhà thơ lãng du Nguyễn Bính viết làm cho cái xóm yên bình xinh đẹp nầy thêm nhiều người biết và trở thành nổi tiếng chăng? Ngày nay chúng ta chỉ còn biết xóm Rẫy qua thơ văn và hồi ký của người nữ sĩ quê xóm Rẫy. Bây giờ dấu vết xưa hình như biến mất cả, nhà cửa quá xưa vì thời gian, chiến cuộc đã sụp đổ, hư hao, vườn tược, nương rẫy mất dần nhường chỗ cho nhà gạch, nhà ngói, nhà lầu, nhà đúc mọc lên, không còn hoa xinh, cỏ lạ với mùi hương thoang thoảng như mùi các cây vị thuốc,… Trước miếu Lịnh và ao sen cũng đã thay đổi bộ mặt, mé ao sáng sủa, ngăn nắp hơn, bệ gạch xi măng thẳng tấp không còn cây cỏ hoang dại quanh bờ ao như ngày xưa, cảnh vật có vẻ hiện đại hơn tuy xinh đẹp nhưng mất dần đi tính thơ mộng…, ngay cả con đường dẫn về xóm Rẫy ngày xưa ngập nước dưới ánh sáng đom đóm lập lòe đã thay đi lớp đất ghồ ghề bằng một mặt đường tráng nhựa trơn láng…

Dưới đây là bài thơ theo một vần là vần « Rẫy », bài thơ rất dài, có nhiều chương (I, II, …), được trích ra ở đây một vài phần để chúng ta thưởng thức :

Bài thơ vần Rẫy
Gởi người chị « Dưới Mái Trăng Non »

Phần mở đầu :
Một mình làm khách gác Nam Phong
Giở Tam Quốc Chí đọc mê mải
Mơ xanh uống rượu luận anh hùng
Tóc bạc, ném nghiên tỏ khí khái
Mê gái, cửa thành giết bố nuôi
Thương người, đường hẻm thả giặc chạy…
……….
Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy
Đường mòn, bóng nhạt soi tà tà
Biển khơi, gió mặn thổi hây hẩy
Giậu thưa, rau muống loe màu xanh
Bờ vắng, chim cu ồn tiếng gáy
Thân cau thương nhớ ai gầy mòn
Tay chuối đợi chờ ai ve vẩy…
Hoa tươi gặp gió tha hồ rung
Trái chín gần tay tự do hái
Đời người đã thong thả thế ru?
Đời người đã sung sướng đến vậy:
Vườn cây, gió thổi lộng muôn cành
Nhà cỏ, trăng soi vàng nửa mái.
Thềm trăng, trải chiếu ngồi song song
Bàn chuyện Tam Quốc cười sảng khoái.
Khương Duy mật to như trứng gà
Mã Siêu mặt đẹp như con gái
Mê gái cửa thành giết bố nuôi
Vì nước qua thuyền giành chúa dại
Xót anh, may áo tang ba ngày
Nhớ nghĩa, đường cùng thả giặc chạy
Vận trời thế đất đang chông chênh
Thiên hạ chia ba, ai thắng bại?
Ai ngờ ông trời làm trò đùa
Cả ba chân vạc theo nhau gẫy.
…..
Dần dà nói đến chuyện nhân duyên
Chị có cô cháu tuổi mười bảy
Tóc dài chấm gót má hồng tươi
Mi vòng cánh cung mắt đen láy
Chị ơi! trôi nổi là thân tôi
Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải
Than ôi! không có giá liên thành
Để đổi cho tròn viên ngọc ấy!
Xứ người lần lữa gót phiêu linh
Quê cũ cha anh hết trông cậy.
Tấm thân bảy thước chửa ngang tàng
Khói lửa bốn trời đã bốc dậy.
Con thuyền dầu lạc hướng phương nào
Vẫn nhớ ai người nơi tuyệt tái!
Chừng nào mới lại vào Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy?
Chắc chẳng bao giờ nữa, chị ơi:
“Hoa lưu động khẩu ưng trường tại…” (7)

Chú thích :

(1): Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, có lúc vì thời cuộc ông đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết, người Nam Định. Ông được xem là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng và cũng là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc. Một vài tác phẩm nổi tiếng đặc trưng của ông như: Lỡ bước sang ngang, Cô hái mơ, Cô lái đò…

(2) : Thời gian nầy Đông Hồ có hai người con gái còn nhỏ tuổi : Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm.

(3) : Ngôi chợ Hà Tiên trong thời điểm nầy có thể không phải là ngôi chợ ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh như ở thời điểm những năm 50, 60, 70. Ngôi chợ trong bài viết nầy có thể tọa lạc ngay phía trước khách sạn Đại Tân (hay sau đó tên Đông Hồ), sát ngay bến đò qua xóm Tô Châu. Đến những năm cuối thập niên 40 người ta mới bắt đầu cất ngôi chợ mới ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng Sanh, bây giờ ngôi chợ mới nầy cũng đã bị phá hủy và nơi đây trở thành một công viên rộng lớn.
(4) : Đó là một cách viết của ông Đông Hồ : Viết là Yiễm Yiễm nhưng vẫn đọc là Diễm Diễm.

(5) : Nhân vật « Ngọc » ở đây chính là cô cháu gái tên Hồng Tú Ngọc, cháu nữ sĩ Mộng Tuyết. Bà Hồng Tú Ngọc không có gia đình, mất khoảng hơn 70 tuổi, thân mẫu của bà là người chị thứ hai của Mộng Tuyết.

(6) : Theo nhà văn Sơn Nam trong bài “Vài kỷ niệm về nhà thơ Nguyễn Bính » đăng trên tạp chí Văn số 60, năm 1966, Nguyễn Bính thừa lúc ở Hà Tiên để xa lánh nàng tiên nâu, ả Phù Dung (bỏ tật hút thuốc phiện), trong thời gian đó ông không hút điếu nào cả.

(7) : Câu thơ “Hoa lưu động khẩu ưng trường tại” trích trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động” của Tào Đường, một thi nhân đời Vãn Đường, năm sinh và năm mất không rõ. Ông tên chữ là Nghiêu Tân, hiệu Tố Quá đạo sĩ, người Quế Châu, ông có hơn 140 bài thơ được lưu lại. Câu thơ chữ Hán trên có nghĩa là Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi.

Tài liệu tham khảo :

*/ Tạp chí Bách Khoa số 344, 1971.

*/ Tạp chí Văn các số 60 (1966), 145 (1970) và 189 (1971).

*/ Tiểu luận « Nguyễn Bính và Tỉnh giấc chiêm bao », tác giả Nguyễn Ước, Văn Chương Việt, 2/2010.

*/ « Theo dấu văn thơ – Kỳ 10: Về nơi núi Mộng gương Hồ », tác giả Thanh Dũng, báo Thanh Niên, 8/2013.

*/ « Nguyễn Bính hành phương Nam – Bài 3: Từ gác Nam Phong đến thơ Người xóm Rẫy », tác giả Hà Đình Nguyên, báo Thanh Niên, 3/2010.

*/ « Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội với tùy bút Dưới Mái Trăng Non », tác giả Hồ Trường An, Văn Tuyển, 5/2014.


Paris, ngày 11 tháng 6 năm 2026, Trần Văn Mãnh.

Vị trí Xóm Rẫy ở Hà Tiên (Khung màu xanh lá cây)

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ khoảng năm 1944 tại Hà Tiên. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên.

Nguyễn Bính (đứng bìa trái) chụp hình chung với gia đình Đông Hồ khoảng năm 1944 tại Hà Tiên. Hình tư liệu Nhà Lưu Niệm Đông Hồ, Hà Tiên.

st

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6947/feed 0
N ư ớ c m ắ t m ù a t h u — JULIE hát nhạc PHẠM DUY.mp3 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6894 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6894#respond Thu, 10 Sep 2026 07:42:26 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6894 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/09/N-u-o-c-m-a-t-m-u-a-t-h-u-JULIE-hat-nhac-PHAM-DUY.mp3 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/6894/feed 0 Hai vì sao lạc-Nhớ nhau hoài. QUỲNH NHƯ https://thuonghylenien.org/luu-tru/6837 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6837#comments Thu, 03 Sep 2026 08:01:19 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6837 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/09/Lien-Khuc-HAI-VI-SAO-LAC-NHO-NHAU-HOAI-Quynh-Nhu-Bolero-Nhac-Vang-Xua-Sieu-Cuon-Hut-Ai-Cung-Me.mp3 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/6837/feed 1 3 cô …cô hàng nước,cô hàng cà phê,cô hàng xóm. https://thuonghylenien.org/luu-tru/6834 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6834#respond Thu, 03 Sep 2026 06:27:07 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6834 https://thuonghylenien.org/wp-content/uploads/2026/09/LIEN-KHUC-CO-HANG-NUOC-CO-HANG-CA-PHE-CO-HANG-XOM.mp3 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/6834/feed 0