

Ngày xưa mỗi độ Tết sắp về,
Cùng anh dạo khắp cả chợ quê.
Mua đào, mua quất, xin câu đối,
Ríu rít cùng nhau dọc lối về.
Rồi anh sang nhà em giúp mẹ,
Nhanh tay gói hết bánh chưng xanh.
Buổi tối thức cùng trông nồi bánh,
Xiếp cá thơm lừng trong mắt anh.
Đêm 30 Tết đi hái lộc,
Người người chen lấn khắp sân chùa.
Anh nắm tay em cho khỏi lạc,
Mưa xuân rơi nặng lúc Giao thừa…
Mùng một, mình cùng nhau đi lễ,
Cầu chúc cho năm mới an lành.
Rồi cùng bè bạn đi chơi Tết,
Xóm dưới, làng trên khắp quê mình.
Không gian ngập tràn trong tiếng pháo,
Người người nô nức đón xuân sang.
Ánh mắt long lanh niềm hy vọng,
Đón chào một năm mới an khang…

Thời gian thấm thoắt bao mùa cũ,
Cuộc đời đưa đẩy em với anh.
Bây giờ mỗi đứa về một ngả,
Anh có cùng ai dạo chợ xuân?
Ngày Tết bây giờ đơn giản lắm,
Bánh chưng dăm chiếc đặt là xong.
Biết tìm nơi đâu hương cá xiếp,
Câu đối có còn ai đợi mong?
Đào, quất có người mang tận cửa,
Giao thừa, Lộc bán khắp Bờ Hồ.
Đi lễ đầu năm cầu danh lợi,
Ngày Tết trôi qua bao hững hờ…
Bạn bè thường trách em nhiều lắm,
Ở phố quen rồi, không về thăm.
Đâu biết trong lòng em vẫn nhớ,
Nhớ Tết ngày xưa, và nhớ anh!
Hoàng Anh


Con nhìn vào mắt mẹ
Thấy mùa xuân đang về
Màu xanh mượt ven đê
Lúa đồng mình tốt quá!
Con nhìn trong sắc lá
Chỉ thấy màu xanh thôi
Nắng đọng ngang lưng trời
Chui vào hoa mới nở.
Nhìn vào từng trang vở
Con thấy đất trời hiền
Sóng xô bờ sông Diêm
Dẫn thuyền đi tìm biển.
Con chưa nhìn hết được
Biển xa xôi nhường nào
Con sóng về nơi nao
Có xa không hở mẹ?
Con nhìn vào mắt mẹ
Thấy biển trời bao la
Dòng sông và biển lúa
Mắt mẹ nhìn thiết tha.
Mẹ ơi ! Mẹ có thấy
Sóng cuộn ở trong lòng
Như con vẫn hằng mong
Xuân về từ mắt mẹ?
Bùi Thái Phúc


Tiếng chim kêu ríu rít
Người nói cười tươi vui
Một năm mới gần tới
Cành xuân hé lộc chồi
Tỉnh dậy trong một sớm
Hoa đào đã nở rồi
Gió lạnh vẫn còn chớm
Thoáng chốc thời gian trôi
Đông qua xuân lại tới
Đại Pháp truyền muôn nơi
Lòng người hướng Thiện niệm
Phật ân khắp cõi đời
Hy Vọng

Đến với Kiều như một mối duyên nợ học hành, chẳng ngờ bao nhiêu năm sau đó những tiếng lục bát gây thương nhớ vẫn ngấm ngầm theo chân tôi trên suốt những chặng đường đời. Ở đây, tôi chỉ muốn kể lại đôi ba câu chuyện vụn vặt, gọi là: “Mua vui cũng được một vài trống canh”…
Tôi yêu văn chương từ thuở nhỏ, lúc nào cũng mơ được đắm mình trong cái phong khí văn thơ, nghệ thuật. Những năm 15, 16 tuổi, rồi chính mình cũng thử tập tọe làm thơ, thử qua đủ thể loại cổ điển từ lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, luật Đường… Khi lớn đến tuổi biết được sự đời, tôi cứ dần dà từng bước một tiến vào thế giới thơ văn cổ kính ấy mà mê mẩn, mà tấm tắc, mà nhớ tiếc một cái gì thật mĩ miều đã lùi vào quá vãng.
Ngày ấy, chúng tôi được học khá nhiều Truyện Kiều, từ bài khóa đến bài đọc thêm. Thực ra, từ cấp 2 tôi đã được học về Nguyễn Du nhưng ở tuổi ấy vẫn là chưa cảm thấy khoan khoái lắm khi phải ngâm những câu Kiều trong giờ kiểm tra đầu giờ. Chỉ khi đã có một độ chín nhất định, vượt qua cái tuổi dậy thì bỗ bã, đọc lại Kiều tôi mới thấy được những vẻ đẹp ẩn tàng phía sau.
Nhưng ấn tượng đầu tiên trong tôi lại là Nguyễn Du, người viết nên Truyện Kiều. Cho đến bây giờ, tôi cũng chưa liễu giải được tình cảm đặc biệt ấy nhưng cứ thấy giữa tâm sự của Nguyễn Du và của mình có nhiều chỗ đồng điệu. Ấy là cái mà ông bà ta hay gọi là: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Chữ “Du” trong tên của thi hào thực sự gợi ra một điều gì đó mơ hồ, lãng mạn, chơi vơi, thanh thản, cũng gợi ra một chút gì phong trần, phiêu dạt. Mà quả thực cuộc đời ông cũng lại y như thế. Tài năng có thừa, cũng “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” như nhân vật chính của ông vậy. Nhưng số kiếp của Nguyễn Du thì long đong, gió bụi, đoạn trường.
Sinh ra trong khoảnh khắc lịch sử biến thiên, trong nỗi vô thường của guồng quay nhân thế, một Nguyễn Du tài năng trác tuyệt cũng phải chịu cảnh gió bụi dặm trường. Tôi yêu Nguyễn Du ở cái tài văn chương, càng yêu ông hơn ở nỗi đoạn trường tưởng như đến mức đất trời sụp đổ xuống đôi vai của chàng Nho sinh lớn lên trong gia đình trâm anh thế phiệt, chưa từng kinh qua khổ nhọc một ngày nào.
Ở đâu đó, tôi nghe người ta đoán rằng phải chăng Nguyễn Du đã mang cái nghiệp, cái nợ đời của mình mà thổi hồn vào Thúy Kiều, để dựng nên một hồng nhan bạc mệnh nổi tiếng nhất văn chương đất Việt. Nguyễn Du thấu cảm nỗi đau ly biệt, gập ghềnh của một số mệnh long đong, viết ra câu thơ thương Kiều đó mà lại chính như là thương mình vậy!:
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Phật gia cho rằng con người đến với thế gian này là đều mang theo nghiệp chướng. Mọi đớn đau, nước mắt, thống khổ của con người đều bởi kiếp trước đã gây ra nghiệp quả, kiếp này đành lấy thân mình mà trả duyên nợ, oán ân. Nguyễn Du đương nhiên hiểu điều ấy, mà trong tác phẩm của mình tôi cũng thấy Thúy Kiều chưa một lần oán trời, trách đất cho số kiếp luân lạc 15 năm của mình. Chỉ thấy những lời như thế này:
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.
Ngẫm hay muôn sự tại Trời – Trời kia đã bắt làm người có thân.
Cái phong trần, cái thanh cao ấy hóa ra lại là ở… Trời cho. Âu cũng là bởi thân mình mang nghiệp nợ từ hằng bao ức kiếp mà tạo nên phúc phận hay ân oán kiếp này. Ngẫm kĩ ra, cái danh xưng “Ông Trời” ấy cứ trở đi trở lại không biết là bao nhiêu lần trong Truyện Kiều. Nguyễn Du đã nhắc đến “Trời” trong suốt tác phẩm của mình. Hầu như những câu thơ hay nhất, thâm trầm, sâu sắc nhất đều có yếu tố “Ông Trời” ấy:
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Hay như:
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen
Lại như:
Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu
Có người nói Nguyễn Du ngán đời, chán chường, buông xuôi cho định mệnh, phó mặc cho số Trời, rồi ra vẽ nên một nàng Kiều cũng ủy khuất, đau buồn, trao phận mình hoàn toàn cho con Tạo. Nhưng tôi không tin điều đó lắm. Cách nhìn của cổ nhân khác với của chúng ta ngày nay, cớ chi cứ phải ép nhau nhìn theo một góc?
Người xưa vô cùng tôn trọng Tam tài: Thiên – Địa – Nhân. Ta không lạ gì những câu nói như: “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên”. Sinh mệnh con người là do Trời cấp cho, do Tạo hóa ban tặng, bởi vậy thuận theo Trời mới chính là con đường chân chính nhất. Thuận theo an bài của Trời cao không phải là chuyện phó mặc, buông xuôi, mà chính là có phúc thì hưởng phúc, có nạn phải chịu nạn, có nghiệp phải trả nghiệp vậy thôi.
Trời cao luôn công bằng, chẳng lấy đi của ai quá thứ gì, cũng chẳng cho ai thừa thãi cả. Như Thúy Kiều, Trời đã cho nàng một nhan sắc tuyệt trần, lại cho một tài năng trác tuyệt: “Thông minh vốn sẵn tính Trời/ Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”. Nhưng ông Trời cũng bắt Kiều phải mang lấy nghiệp của một hồng nhan bạc mệnh: “Rủi may âu cũng sự Trời/ Đoạn trường lại chọn một người vô duyên”.
Nói về đạo Trời, Nguyễn Du có lẽ là một trong những nhà thơ nhắc đến Trời nhiều nhất. Nỗi ám ảnh sinh mệnh vô thường dường như luôn song hành trong từng bước đời của Kiều. Ngẫm lại, có khi chính 15 năm lưu lạc đoạn trường, có nhà không về được của Kiều cũng là một sự an bài vô cùng chặt chẽ của Tạo hóa. Gió bụi 15 năm, ong chê bướm chán 15 năm, nuốt nước mắt vào lòng 15 năm ấy hóa ra là để “trả nghiệp”, là để bồi hoàn tội lỗi vậy.
Nhưng thôi, tôi không muốn bàn thêm quá sâu về câu chuyện phức tạp ấy nữa, hãy trở lại một chút với những cảm xúc nguyên sơ, trong trẻo hơn hồi mới tập đọc Kiều.
Tôi nhớ đây là những câu thơ đầu tiên mình biết được trong Truyện Kiều:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Thanh minh trong thơ Nguyễn Du thật đẹp, thật sống động.
Trong mắt cậu bé mười mấy tuổi ngày ấy, cả một bầu trời đẹp như mộng bỗng chợt hiện ra. Nó như là khung cảnh trong những câu chuyện cổ tích, lại như cảnh trong vài bức vẽ sơn dầu đậm đà màu sắc. Tiết Thanh minh của cả một miền đất Việt hiện lên thực là sống động, trong sáng, tươi tắn, có màu xanh của cỏ, màu xanh của trời, màu trắng của hoa lê, màu quần quần áo áo của những khách bộ hành du xuân.
Tôi còn cảm thấy có cái nao nức, khấp khởi thực sự rất hữu tình bên trong từng dòng thơ vô cùng phấn chấn ấy. Bao nhiêu năm sau, ngâm đi ngâm lại từng câu thơ, tôi lại cảm thấy như một trời kỉ niệm ấu thơ ùa về. Sau này, học nhiều hơn, đọc dày hơn mới thấy cái sáng tạo tuyệt vời của thi hào họ Nguyễn chỉ trong mấy dòng thơ ấy. Tôi chắc rằng trời Thanh minh ở Trung Quốc không có cái vẻ tươi tắn đầy hồn quê Việt này. Không tin bạn cứ thử đọc một bài thơ tả cảnh Thanh minh “đặc sệt” phương Bắc như bài “Thanh minh” này của Đỗ Mục mà xem:
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.
Tạm dịch: Tiết thanh minh mưa rơi lất phất. Người đi trên đường buồn tan nát cả tấm lòng. Ướm hỏi nơi nào có quán rượu. Trẻ chăn trâu chỉ xóm Hoa Hạnh ở đằng xa.
Cái tê tái, cô độc trong mưa phùn tiết xuân ấy quả thực khiến người ta phải rét run cầm cập. Trời xuân ở đất bắc đôi khi u ám, xám xịt đến vậy. Trời xuân ở phương nam có cỏ hoa đua chen đầy sức sống, chính là khác nhau một trời một vực. Đọc tiếp một bài thơ cũng tên là “Thanh minh” khác của Đỗ Phủ, lại càng cảm thấy dư vị khác hẳn mấy câu thơ của Nguyễn Du:
Lữ nhạn thượng vân quy tử tái,
Gia nhân toàn hoả dụng thanh phong.
Tần thành lâu các yên hoa lý,
Hán chủ sơn hà cẩm tú trung.
Tạm dịch: Nhạn xa trên mây bay về vùng quan ải bụi đỏ. Người nhà nhen lửa bằng lá phong xanh. Lầu gác trên thành xứ Tần lẩn trong vùng hoa khói. Giang sơn của vua Hán nổi trong chốn thanh lịch.
Không buồn tê tái, u ám như “Thanh Minh” của Đỗ Mục, nhưng cái tiết thu trong thơ Đỗ Phủ cũng nhuốm một màu u hoài. Những gam màu nóng của bụi đỏ, nhen lửa, hòa trộn theo tỉ lệ cực kì cân xứng với gam màu lạnh, trầm của mây, lá phong xanh, hoa khói. Nhưng sao đọc lên, ta vẫn có cảm giác tịch mịch lạ thường như vậy? Phong khí của phương bắc quả là khác biệt với phương nam.
Tôi chắc rằng trời Thanh minh ở Trung Quốc không có cái vẻ tươi tắn đầy hồn quê Việt như trong thơ Nguyễn Du.
Đọc Truyện Kiều, tôi cũng rất ấn tượng với lối tả cảnh ngụ tình xuất sắc của Nguyễn Du. Điểm này có lẽ nhiều người có cùng chung quan điểm. Những câu thơ như thế này, ai đọc mà chẳng xao xuyến, mà chẳng thổn thức đây:
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Mọi thứ hiện lên cứ nhỏ xíu, nhỏ xíu, dễ thương, đáng yêu vô cùng. Nào là: tiểu khê (suối nhỏ), nào là hàng loạt từ láy: thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, nào là những hành động thật khẽ khàng: bước dần, lần xem, uốn quanh… Cảnh vật thu nhỏ lại trong tầm mắt, mọi thứ bỗng nhiên thật gọn gàng mà cũng thật là tình tứ!
Lại như những câu thơ tả thực mà đọc lên nghe hữu tình quá. Tôi cứ thích ngâm ngợi mãi những câu như thế này:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân
Hơn 3000 câu Kiều, kể ra câu nào cũng đáng là chữ vàng, chữ ngọc cả. Nhưng tôi nhớ nhất là cái cảm giác man mác, ngậm ngùi, cảm giác chia phôi dâng đầy trong tim khi đọc đến đoạn Thúc Sinh giã biệt Thúy Kiều:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường
Tôi nhớ nhất là cái cảm giác man mác, ngậm ngùi, cảm giác chia phôi dâng đầy trong tim khi đọc đến đoạn Thúc Sinh giã biệt Thúy Kiều.
Trong từng câu thơ đã ẩn tình một nỗi buồn biệt ly, tất cả như được phân làm đôi, giữa một bên đi và một bên ở: lên ngựa – chia bào, rừng phong thu – dặm hồng bụi cuốn, người về – kẻ đi, chiếc bóng năm canh – muôn dặm một mình, nửa in gối chiếc – nửa soi dặm trường. Nguyễn Du đã chẻ đôi câu thơ, tứ thơ bằng cái tình lưu luyến, tình thương nhớ giữa giai nhân và tài tử, giữa những người có duyên mà chẳng có phận được ở cạnh nhau.
Bên trong nghe có ý vị xót xa, có cái tiếc nuối, có cái buồn rầu, cũng có cái tiên đoán trước được số kiếp biệt ly của hai người. Đêm Thúc Sinh từ giã Thúy Kiều chẳng ngờ cũng là lần cuối hai người được lưu luyến ân tình sâu đậm với nhau như vậy. Đọc đi đọc lại đến cả trăm lần, tôi vẫn cứ vương vấn vương vấn mãi chuyện tình buồn chẳng có hậu của tài tử giai nhân. Lại cũng đúng như một câu Kiều: “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” vậy!
Từ đọc Kiều, học Kiều, hiểu Kiều đến yêu Kiều hẳn không phải là một chặng đường giản đơn, chóng vánh. Bạn ắt là phải trải qua một quá trình chiêm nghiệm, suy ngẫm, thổn thức và tỉnh ngộ. Kiều gắn với tôi từ khi còn là một cậu bé tuổi 14, 15 đến tận lúc “tam thập nhi lập”, nghĩ lại cũng là một chặng đường đời đáng nhớ.
Như người ta vẫn nói, yêu nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc, cũng chẳng bao giờ cần biết lý do. Truyện Kiều và tiếng lòng khắc khoải của thi nhân họ Nguyễn, những vần thơ say sưa, mê hoặc, âm vang và đẹp đến nao lòng, những kỉ niệm tuổi học trò phấn khởi, say mê, yêu văn chương, mải miết truy tầm cái đẹp… hôm nay tất cả ùa về trong một khoảnh khắc này, khoảnh khắc tôi nhận ra rằng:
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời
Văn Nhược
]]>
‘Đóa hoa vô thường’ là một hiện tượng cực kỳ đặc biệt trong bộ sáng tác đồ sộ của Trịnh Công Sơn, vì ca khúc này đã hơi tách khỏi ba chủ đề chính thường thấy trong nhạc của ông là tình yêu, quê hương, và thân phận; hay nói đúng hơn đó là một sự hợp lưu và nâng cao khéo léo của cả ba dòng nhạc trên trong cùng một nhạc phẩm.
Dù cho nhận xét này có đúng hay không, ta hãy cứ xem bài hát như là lời tự sự của chính nhạc sĩ, và tạo cho mình một chút tự do đi vào khám phá cõi lòng bí ẩn của ông qua nhạc phẩm này, mà không phải băn khoăn quá nhiều về những câu hỏi đại loại như: Đó là ai? hay Đó là gì?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001) (Ảnh: Youtube)
Trước hết có thể gọi đây là một bản trường ca của tình yêu và niềm tin, thể hiện đỉnh cao của sự lãng mạn trong tình yêu và niềm tin của Trịnh Công Sơn, là một hành trình gian nan nhưng đầy cảm hứng, với với một tình yêu dường như đã hoàn toàn thoát tục.
Cũng như trong nhiều bản tình ca khác của Trịnh Công Sơn, hình bóng người con gái ông yêu được hiện lên chỉ qua các hành vi cử chỉ của người đó, chứ không phải là những đặc điểm nhân dạng cụ thể; trong bài này cũng thế, đó là: em đi, em về, em đứng, em ngồi, em hát, em cười, em buồn, em vui… Và cũng như trong nhiều bài tình ca khác, người con gái mang đến cho ông niềm vui tột đỉnh của tình yêu được thăng hoa trong thời gian ngắn ngủi, nhưng rồi để lại cho ông một nỗi buồn dài lâu của sự kết thúc và chia ly; đó cũng chính là nằm trong sự “vô thường” của đời sống, của tạo hóa; tình yêu trong tim ông cũng chính là một đóa hoa vô thường, khi nở bừng mãnh liệt, lúc tàn lụi bất ngờ..
Nhà nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn Thị Tâm Anh có nhận xét về bài Đóa hoa vô thường như sau trên trang tin của Hội nhạc sĩ Việt Nam:
“Trịnh Công Sơn luôn nhận ra cái lẽ vô thường trong trời đất. Vô thường bàng bạc trong âm nhạc của ông khiến người nghe cảm thấy bâng khuâng và không cần hiểu hết ý nghĩa cũng đã thấy hay lắm rồi. Và trong đó còn chứa đựng chiều sâu triết lý làm rung động đến sâu thẳm tâm hồn mỗi con người… Với “Đóa hoa vô thường”, Trịnh Công Sơn đã nhạc hóa lý thuyết và lý thuyết hóa nhạc. Toàn bài là một chuyện tình với ẩn chứa đâu đó hình ảnh một người phụ nữ đẹp, một “đóa hoa vô thường”.
Ta cũng như nhiều người khác cũng đồng ý rằng, khi nghe nhạc Trịnh dù chưa hiểu hoàn toàn những điều ông muốn nói nhưng vẫn thấy hay, thấy cảm. Nhưng bên cạnh đó, ta cũng nhận ra rằng mình luôn ước vọng, như một điều rất tự nhiên, hiểu được tường tận, tới chân tơ kẽ tóc những ý tứ của ông trong từng bài hát. Với bản trường ca này, chúng ta sẽ đi từ đầu đến cuối để tìm xem “Đóa hoa vô thường” này thực sự là gì.
Một cuộc tình như trong cõi mộng
Ca khúc bắt đầu với một hành trình miệt mài tìm kiếm một con người – tựa như một người con gái – hoàn hảo, ngây thơ trong trắng đến mức gần như tuyệt đối:
Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm, một hồn giấy mới

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai, tìm trên non ngàn một cành hoa khôi… (Ảnh: xuehua.us)
Ở đâu trên cuộc đời này sẽ có một con người như thế? Nhưng chàng trai đã không hề chùn bước, với cuộc tìm kiếm có thể nói là khắp chân trời góc bể, không bỏ sót nơi nào, hơn nữa là không ngừng nghỉ, không đếm kể thời gian, như cánh chim không bao giờ biết mỏi:
Tìm em tôi tìm, nhủ lòng tôi ơi
Tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi…
Rồi:
Tìm em xa gần, đất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận chưa từng tuyệt vọng đâu em
Ở đây ta như thấy được tâm trạng của chàng trai luôn khắc khoải mong chờ có được một tình yêu cao thượng, trong sáng.
Và rồi, tình huống chàng trai tìm được người con gái trong mơ thật bất ngờ và bí ẩn; đối với thính giả thông thường thì đây là ô chữ khó giải đáp nhất trong toàn bộ trường ca tình yêu này.
Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn
Đây rõ ràng không phải là một cuộc gặp gỡ bình thường như bao cuộc gặp gỡ khác trong cuộc đời; đây là một cuộc gặp gỡ giao duyên, trong bầu không khí vô cùng trịnh trọng:
Tôi mời em về đêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm
Chao ôi, đây là mơ hay là thực, chàng trai của chúng ta đã tìm ra ai vậy, là người hay là tiên nữ? Cảnh như trong mộng, có vẻ như cô gái không phải là một con người trần tục, hoặc là một người đã thoát tục..
Cuộc tình từ đây bắt đầu đi vào thời gian hạnh phúc nhất của nó với tình cảm thăng hoa và mừng vui tột độ. Chàng trai tìm được người yêu đúng như mong ước, như là một cô tiên giáng trần, tâm hồn chàng thăng hoa như một đóa hoa nở nơi tiên cảnh:
Trong vườn mưa tạnh, tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh
Rồi, tiếp đến là một sự hạnh phúc và mãn nguyện tràn trề khi có em luôn ở bên:
Từ nay tôi đã có người, có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình, có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa
Trong một điệp khúc dịu dàng, người chàng yêu được ví như bông sen hồng, thơm tho tinh khiết, cùng chàng chia sẻ những buồn vui, cao hứng, ngọt ngào của tình ái:
Sen hồng một nụ, em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau, có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao, đến đêm ngọt ngào
Ta thấy một sự hiến dâng cao cả của hai phía cho tình yêu, như để đền bù cho những ngày buồn trong quá khứ, khi tình chưa hội ngộ:
Sen hồng một độ, em hồng một thuở xuân xanh
Sen buồn một mình. Em buồn đền trọn mối tình

Sen hồng một độ, em hồng một thuở xuân xanh, sen buồn một mình. Em buồn đền trọn mối tình… (Nguồn ảnh: dnvn.net)
Những bài hát của Việt Nam viết về cuộc tình mãn nguyện như thế này thật là quá hiếm, kể cả những bản tình ca của Trịnh Công Sơn. Đây là một ngoại lệ, ông đem đến cho ta một dòng suối tràn trề yêu thương huyền ảo, mở căng sức tưởng tượng cho thính giả, nghe trong đó như có tiếng reo mừng; có tiếng chim hót, tiếng suối chảy trong tâm; chàng cảm thấy vô cùng may mắn, ví tình yêu trong lòng mình đã hót líu lo những tiếng yêu thương.
Từ nay anh đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân
Nhớ lại những ngày trước miệt mài tìm kiếm, trong gần như vô vọng, trong khó khăn không tưởng, như tìm những dấu giày còn in lại trên mặt sông băng đã tan chảy, như tìm một hạt sương trong miệng chú chim đã bay đi theo đàn:
Tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông những dấu hài
Nhưng chàng đã gắng gỏi vượt qua mùa đông cô đơn lạnh giá, để đón nhận tình yêu bất ngờ đã đến thật tròn vành:
Mùa đông cho em nỗi buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Tàn đông con nước kéo lên, chút tình mới chớm đã viên thành
Đến đây ta chợt hoang mang và nảy ý nghi ngờ: đây có phải là một tình yêu nam nữ hay không? Vì con đường tình yêu trong ca khúc này rất giống với tâm cảnh của một người đi tầm đạo, bỏ ra rất nhiều công sức đi tìm cái đẹp đẽ trường tồn vĩnh cửu mà chưa gặp, chỉ gặp được những thứ vô thường, mặc dù đã có lúc rất gần với đạo rồi, đã có chút thăng hoa, ngỡ như đã tìm được đạo.
Trong bài hát này rõ ràng ông đã đưa vào sử dụng nhiều khái niệm trong văn hóa cổ và Phật giáo, như cành hoa mai, chim hạc, hoa sen, tiếng chuông chùa… Cành hoa mai tượng trưng cho sự thanh khiết và trường tồn qua bão tuyết, chim hạc tượng trưng cho sự đắc đạo (hình ảnh thường gặp trong văn hóa truyền thống là ông Tiên đắc đạo cưỡi hạc về trời); hoa sen là biểu tượng của sự cao quý và giác ngộ trong đạo Phật.
Một hành trình giác ngộ cao cả

Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang… (Ảnh: Youtube)
Mới nghe hoặc thoáng nghe thì hoàn toàn có cảm giác như bài hát này đơn thuần nói về một tình yêu nam nữ, hay rộng hơn một chút thì chỉ là tình yêu giữa người với người; nhưng khi chú ý đi sâu vào cấu trúc bài và ngữ nghĩa của các ca từ thì lại phát hiện rằng không phải như vậy; mà nó giống như quá trình và tâm thái của một người đi tìm đạo và rồi ngộ đạo.
Có chăng là ở đây Trịnh Công Sơn đã ví quá trình này giống hệt như một cuộc tình: có đầu có kết có cao trào, với các cung bậc cảm xúc tương tự với tình yêu trai gái. Tuy nhiên, trong cuộc tình này rõ ràng là các cảm xúc cao thượng đã được coi trọng hơn là một người yêu cụ thể bằng xương bằng thịt.
Ta biết rằng Trịnh Công Sơn sinh thời đọc rất nhiều, bao gồm cả các sách về văn hóa cổ, tôn giáo và triết học. Vì vậy trong âm nhạc của ông đầy khắp những ca từ triết lý nhân sinh và ngôn từ của văn hóa truyền thống và tu Phật tu Đạo. Trang “Thư viện hoa sen” có nhận xét về cách dùng từ ngữ của Trịnh Công Sơn trong ca khúc này như sau:
“Hình ảnh “Tìm em tôi tìm, mình hạc xương mai” trong Đóa Hoa Vô Thường cho chúng ta thấy con đường tầm đạo của Trịnh. Đường tìm về với bản tâm, cội nguồn tâm thức trong trắng, thanh khiết như “cành hoa khôi”, sáng như “bờ giấy mới”, thơm như “bờ môi thơm” trong chính mình. Bởi khó tìm, nên “nụ cười” ấy rất “mong manh”, không dễ thấy. Có thấy được chăng, cũng “yếu đuối”, rất khó để duy trì sự bền vững, lâu dài”.

“Hình ảnh “Tìm em tôi tìm, mình hạc xương mai” trong Đóa Hoa Vô Thường cho chúng ta thấy con đường tầm đạo của Trịnh…” (Ảnh: Youtube)
Đóa hoa vô thường được sáng tác vào khoảng năm 1972, khi đất nước đang chìm trong khói lửa chiến tranh; quá nhiều sự chết chóc vô nghĩa đã làm cho con dân miền Nam đất Việt phải chịu những khủng hoảng trầm trọng; niềm tin không biết phải đặt vào đâu.
Khi đó, đi tìm niềm tin trong tôn giáo tự nhiên đã trở thành một nhu cầu và là điểm tựa cuối cùng, dù có thể chưa vững chắc, cho tâm hồn; tìm về với sự che chở của các đấng Thần Phật, Chúa trời. Tìm được đạo chân chính sẽ giúp tâm hồn được thăng hoa, tạm quên đi những muộn phiền của thực tế cuộc sống. Trịnh Công Sơn khi đó cũng đã bước qua tuổi “Tam thập nhi lập”, đã đủ chín chắn để nhận thức được bản thân và nhân tình thế thái.
Đến đây, ta bắt đầu hiểu rõ hơn được ý nghĩa của đoạn bài hát đã được nhắc tới bên trên về tình huống chàng trai tìm ra được người tình trong mộng:
Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về đêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm

Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang, bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn… (Ảnh: Youtube)
Trang “Thư viện hoa sen” đã có lời giải khá thú vị về ý tứ của Trịnh trong đoạn bài hát này như sau:
“Trong biến thiên không ngừng thay đổi của vạn pháp hữu vi gọi là vô thường, tôi đã thấy được những lời kinh vang lên tiếng vọng sấm sét của người xưa. Giữa những lời kinh đó, tôi đã bất ngờ rung cảm được một đôi dòng chỉ thẳng về phía cội nguồn: “trực chỉ chân tâm”. Tôi thấy em, tôi đã thấy tôi chân thật của chính mình. Tôi trân trọng đảnh lễ cái suối nguồn xưa tinh khôi ấy, như nước mưa cam lồ gội rửa bụi trần, làm trong mát tâm tôi giữa mùi hương trầm bốn phương thơm ngát”.
Ôi, thì ra mối tình cao sang này chính là một sự ngộ đạo và kính ngưỡng đối với cái tâm chân thật, cũng là bản ngã, cái gốc chân chính của con người. Chàng trai và cô gái, cũng như thân xác với tâm hồn, tuy hai mà một, tuy một mà hai, đã tìm được sự đồng điệu và hòa hợp vô cùng, nên ông mới hát rằng:
Từ em tôi đã đắp bồi
Có tôi trong dáng em ngồi trước sân
Một sự ngờ vực và mất niềm tin vào sự cứu rỗi

Từ đó trong vườn khuya, ôi áo xưa em là một chút mây phù du,đã thoáng qua đời ta (Ảnh: Youtube)
Nhưng dù cho niềm tin đó có lớn lao đến mấy và thăng hoa cao đến đâu, con người lúc đó vẫn không thể tránh khỏi phải đối mặt với thực tế của những khủng hoảng tinh thần và xã hội nghiêm trọng liên tục xảy ra trong thời chiến. Niềm tin dù đã đặt vào đâu cũng đã theo sự hỗn loạn của xã hội thời đó mà bị mai một theo; có những người đành buông thả theo thời cuộc, có những người thu mình khép kín, tự cách ly khỏi những thị phi.
Khủng hoảng tinh thần như trượt trên sườn dốc, tới một ngày niềm tin bất chợt bỏ ta mà đi, như người yêu ra đi, như tình yêu chết, cũng nhanh chóng như khi nó đến vậy. Hơn nữa trong tâm thức của Trịnh Công Sơn, cõi trần là cõi tạm, đến một ngày nào đó, cái ta chân chính trong sâu thẳm cũng sẽ phải rời bỏ cái thân xác bề mặt này mà đi khỏi nơi trần thế, mối tình này, dù đẹp đẽ đến mấy, trong cái luật Vô thường của tạo hóa cũng không thể tồn tại mãi:
Một chiều em đứng cuối sông, gió mùa thu rất ân cần
Chở lời kinh đến núi non, những lời tình em trối trăn
Một thời yêu dấu đã qua gót hồng em muốn quay về
Dù trần gian có xót xa cũng đành về với quê nhà
Ca khúc này cũng đã phản ánh được không khí bao trùm đời sống tâm hồn của con người nơi xã hội miền Nam thời đó; có đủ các sắc thái buồn, vui, khao khát, tin tưởng, hy vọng rồi thất vọng; có những lúc tưởng chừng như đã yên tâm với con đường và tín ngưỡng của mình, nhưng rồi lại bị dòng đời bụi bặm vô tình ác nghiệt cuốn đi, niềm tin đã bị lung lay, thậm chí đã hoàn toàn mất niềm tin trong hiện thực nghiệt ngã. Khi chuyến xe đã tới bến cuối cùng, sự chia tay là tất yếu:
Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là một chút mây phù du
Đã thoáng qua đời ta
Từ đó trong hồn ta ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hí vang rừng xa vọng suốt đất trời kia
Từ đó ta ngồi mê để thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như vừa đến nơi chia lìa
Khi tình yêu đã rời xa, chỉ còn lại một mình ta bơ vơ ngơ ngác và đau khổ. Những giây phút thăng hoa tâm hồn đã trở nên quá hiếm hoi thiếu vắng. Khi niềm tin không còn, thì giọt sương trong vắt thuở nào cũng đã tan chảy, lòng người u tối, như đêm đen chỉ còn những đóa hoa muộn nở chóng tàn.
Từ đó ta nằm đau ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo từng phút cao giờ sâu
Từ đó hoa là em một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn đợi gió vô thường lên
Từ đó em là sương rụng mất trong bình minh
Từ đó ta là đêm nở đóa hoa vô thường

Từ đó em là sương rụng mất trong bình minh, từ đó ta là đêm nở đóa hoa vô thường (Nguồn ảnh: Youtube)
Ta vẫn nhớ rằng Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ dù có đời sống nội tâm sâu sắc nhưng rất nhạy cảm với các biến động ngoài xã hội; ca khúc của ông dù là theo chủ đề nào thì cũng sẽ bàng bạc một màu sắc của xã hội đương thời.
Vì sao nhạc của ông một thời bị coi là nhạc phản chiến? Đó là vì nó đi ngược lại không khí sôi sục và căng như dây đàn của xã hội miền Nam thời chiến; nếu Trịnh Công Sơn sinh ra trong thời hòa bình yên ổn thì liệu những bài ca của ông có còn màu sắc “phản chiến” như thế không? chiếc dây đàn căng sắp đứt, ông đã giúp hạ chùng nó xuống, cân bằng lại chiếc cầu sắp lật, nhưng vẫn bị các nhà cầm quyền đương thời phản đối, cho là không hợp thời. Nhưng nhân dân đã là người quyết định đâu mới là giá trị thực cho con người và xã hội; nhạc Trịnh như thế xứng đáng được trường tồn.
Giá trị chân thực của ca khúc

“Nhạc của ông không đơn giản chỉ là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát….” (Nguồn ảnh: 500px.com)
Nói về thủ pháp nghệ thuật trong âm nhạc, Trịnh Công Sơn trong ca khúc này đã sử dụng các nhịp điệu khác nhau để mô tả các trạng thái cảm xúc khác nhau: từ thong dong khi trải lòng tâm sự tới tâm trạng hớn hở khi đưa tình về; từ hiu hắt khi phải chia tay tới mạnh mẽ dồn dập khi đau đớn, rồi êm dịu lại khi chấp nhận một kết cuộc không thể thay đổi.
Đây đúng là một bản trường ca tình yêu kết hợp với liên khúc, có cao trào có thoái trào, khiến người nghe như được đi trên một dòng sông nhạc, lúc thì êm ái hiền hòa, lúc thì lại đầy sóng gió dữ dội. Về tầm triết lý của ca khúc, nhà nghiên cứu âm nhạc Tâm Anh đã nhận xét:
“Nhạc của ông không đơn giản chỉ là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát. Mỗi bài, mỗi ca khúc là một khúc tâm sự, một câu chuyện dài chưa đoạn kết. Nguồn cảm hứng của nhạc Trịnh khơi nguồn từ những nỗi khổ đau trong đời người, nỗi thất vọng, sự chông chênh, những gì không vuông tròn, đối xứng. Cảm xúc của ông dường như luôn đi trước một bước. Trong nỗi sống hình thành nỗi nhớ và nỗi chết, mới gặp gỡ mà đã có dự cảm chia lìa, mất mát… Những cặp phạm trù buồn – vui, sống – chết, hạnh phúc – khổ đau, đắng – ngọt luôn tồn tại trong suy nghĩ, trong tâm tưởng và từ đó lặng lẽ đi vào từng ca khúc của ông”.
Toàn bài Đóa hoa vô thường như thể đang nói về một tình yêu, nhưng cũng giống như tâm thái của một người đi tầm đạo. Ta cũng có thể hiểu được điều này trong nhạc Trịnh Công Sơn vì biết rằng tâm hồn ông vốn phức tạp, luôn có sự pha trộn giữa các tư tưởng tình cảm yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu văn hóa tín ngưỡng, dễ rung động trước mọi đổi thay. Ông sáng tác trong một nỗ lực gắn đời với đạo, gắn cái tình của con người với cái giác ngộ của người đi đạo.
Trong một nỗ lực hòa trộn mọi thứ xung quanh ta và trước mắt ta, ông đã đưa ra một thông điệp còn đôi chút rụt rè: Niềm hạnh phúc và hân hoan thực sự ta không thể tìm thấy nơi cõi trần. Tình yêu thực sự được tìm thấy chính là nhận ra được cội nguồn chân chính của sinh mệnh bản thân, là quá trình mà người tu đạo gọi là “phản bổn quy chân”.
Về thể hiện ca khúc, giọng hát Quang Tuấn mạnh mẽ mà sâu lắng da diết đến không ngờ, truyền cảm xúc gần như tuyệt đối không tì vết, khó lòng mà nghĩ rằng anh đã hát bài này theo một khuôn mẫu có sẵn từ Khánh Ly hay ai đó; anh đã tạo được dấu ấn cho riêng mình.
Khánh Ly thì khỏi phải nói rồi – cô đã là nữ hoàng nhạc Trịnh ngay từ thuở ban đầu, giọng ca của cô là để dành riêng cho nhạc Trịnh.
Các diva nổi tiếng trong làng ca nhạc Việt cũng như Hồng Nhung và Mỹ Linh cũng không bỏ qua cơ hội thể hiện tuyệt phẩm âm nhạc này; và điều gây ngạc nhiên cho chúng ta là họ đã hát rất thành công, trên cả mong đợi.
Tài tử Ngọc Lân, cũng như mọi lần, cho ta biết thế nào là sự mô phạm và ngôn ngữ chuẩn xác của hát tình ca xưa, cùng sức mạnh của cây ghi ta đệm; ta chợt nhớ rằng Trịnh Công Sơn vẫn hay sáng tác cùng cây ghi ta.
Một lần nữa ta lại nhận thấy, nhạc sĩ họ Trịnh không bao giờ phụ lòng các ca sĩ tài năng; ông luôn mang vinh quang đến cho họ, chỉ cần họ cố gắng và hiểu được lòng ông, và mong ước dâng hiến, như thế là đã đủ.
Giờ cũng đã đến lúc chúng ta cần quên đi các lý lẽ dông dài rắc rối, để cho phép mình thưởng thức một ly “Cocktail nhạc Trịnh” đặc sắc tuyệt diệu mà ông đã dày công pha chế cho đời – đó chính là Đóa hoa vô thường.
Lý giải về âm nhạc của Trịnh Công Sơn sẽ không bao giờ là đủ; ông đã cấp cho chúng ta đặc ân được làm người thưởng thức; thì chúng ta hãy cứ thưởng thức thôi!
Hoài Ân
]]>![]()
Trong “Tây Du Ký”, ở những hồi đầu tiên, Tôn Ngộ Không hiện lên như một kẻ bất trị, đại náo long cung thủy tề, phá hội Bàn Đào, quậy phá thiên giới, thực không coi ai ra gì. Nhưng trước khi có được bản lĩnh chọc trời khuấy nước ấy, con khỉ đá Mỹ Hầu Vương thực sự là một kẻ khát khao tìm Đạo, có một trái tim hồn hậu và kiên cường.
Ngay cả sau khi đã quy y Phật gia, theo Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không cũng vẫn là con khỉ bản tính cao ngạo, nóng nảy, không chịu nổi dù chỉ một chút chèn ép, dù chỉ một chút xem thường của kẻ khác.
Còn nhớ hồi ấy, Ngộ Không lên Thiên Đình, được Ngọc Đế phong cho chức Bật Mã Ôn, sau khi biết được chức quan chỉ là chăn ngựa thì y lập tức đùng đùng tức giận bỏ đi. Vương Mẫu Nương Nương mở hội Bàn Đào, không hề mời y. Y liền quậy phá một phen tưng bừng đến long trời lở đất.
Nhưng liệu có phải Tôn Ngộ Không sinh ra bản tính đã cao ngạo như vậy rồi không?
Tôn Ngộ Không rời khỏi Hoa Quả sơn, vượt qua biển cả mênh mông tìm Tiên học Đạo, đã từng ở Nam Thiệm Bộ Châu, cũng chính là vùng đất đông thổ Đại Đường, lưu lại ở đó tám, chín năm. Trong nguyên tác “Tây Du Ký” viết rằng: “Hầu vương tìm học đạo tiên, không biết ở đâu cả. Ở Nam Thiệm Bộ Châu, sục sạo thành lớn, thấm thoắt đã tám, chín năm”.
Suốt mấy năm lưu lạc đó, Tôn Ngộ Không chỉ là một con khỉ bình thường, không chút pháp lực, ở Nam Thiệm Bộ Châu tám, chín năm, lẽ nào lại dám huênh hoang? Nếu là Ngộ Không của những năm sau này, ví như người khác trông thấy y, quát lớn một tiếng: “A, cái con khỉ hoang này!” chắc chắn y sẽ lập tức lao đến đánh nhau ngay.
Nhưng người Nam Thiệm Bộ Châu vốn không phải ai ai cũng là thiện nam tín nữ. Chưa kể có rất nhiều vị Thần lớn trấn giữ ở đây, chỉ riêng những tên ác bá cũng đã không đếm xuể. Nếu như Tôn Ngộ Không thật sự dám ngông cuồng như vậy, đừng nói tám, chín năm, e rằng chưa đến một năm thì đã bị người ta bắt đưa vào trong… sở thú!
Trên thực tế, thời Tôn hầu tử ở Nam Thiệm Bộ Châu bản tính đã sẵn hiền lành, không ai nghĩ được con khỉ đá đó ngày sau sẽ đại náo thiên cung, chọc trời khuấy nước, gây bao phiền nhiễu.

Tôn Ngộ Không và Đường Tam Tạng (Nguồn: Wikipedia)
Tôn Ngộ Không chu du khắp bốn biển tìm Tiên cầu Đạo, cuối cùng cũng đến được nơi cần đến. Khỉ đá tìm được đến núi Linh Đài Phương Thốn, động Tà Nguyệt Tam Tinh, bái kiến Bồ Đề Tổ Sư làm thầy. Tổ sư Bồ Đề là ai, lai lịch như thế nào mà khiến Ngộ Không bái làm sư?. Ngay trong ngày đầu tương ngộ, Ngộ Không đã lấy được ấn tượng của Tổ Sư. Trong truyện “Tây Du Ký” miêu tả rất hay về đoạn này.
Hầu vương vừa nhìn thấy đã cúi người lạy liên tiếp và nói:
– Thưa sư phụ, thưa sư phụ, đệ tử con lòng thành chầu lễ.
Tổ sư nói:
– Nhà ngươi là người ở đâu, mau nói rõ quê quán họ tên rồi hãy lạy.
Hầu vương thưa:
– Đệ tử là người động Thủy Liêm, núi Hoa Quả, nước Ngạo Lai, thuộc Đông Thắng Thần Châu.
Tổ sư quát mắng ra lệnh:
– Tống cổ nó ra! Tên này là hạng dối trá quanh co, còn tu hành thành đạo quả sao được!
Hầu vương sợ hãi dập đầu thưa:
– Đệ tử nói thật mà, đâu dám nói dối.
Tổ sư nói:
– Ngươi nói thực thà, mà lại nói Đông Thắng Thần Châu à? Từ nơi ấy đến đây cách hai lần biển lớn, một tòa Nam Thiệm Bộ Châu, làm sao mà tới được?
Hầu vương cúi đầu thưa:
– Đệ tử lênh đênh vượt biển, lang thang trên bộ mười mấy năm trời, mới đến được đây.
Tổ sư nói:
– Ừ, đi mãi dần dà cũng đến nơi. Thế tính ngươi là gì?
Hầu vương đáp:
– Con không có tính. Người ta mắng con, con cũng không giận, đánh con, con cũng không tức, chỉ lạy họ mà thôi, cả đời con không có tính.
Tổ sư nói:
– Không phải là tính tình. Thế cha mẹ nhà ngươi vốn họ gì?
Hầu vương đáp:
– Con cũng không có bố mẹ.
Tổ sư nói:
– Không có bố mẹ thì đẻ ra ở lỗ nẻ chắc?
Hầu vương thưa:
– Con tuy không phải đẻ ra ở lỗ nẻ, nhưng lại từ trong tấm đá sinh ra. Con chỉ nhớ rằng trên núi Hoa Quả có một tảng đá tiên, năm ấy tảng đá vỡ ra và sinh ra con.
Tổ sư nghe nói, trong dạ mừng thầm, nói:
– Như thế là trời đất sinh thành ra ngươi. Nhà ngươi hãy đứng dậy, đi lại ta xem”.
Đoạn này nói lên nhiều điều. Thứ nhất, Tổ Sư hỏi tên tuổi, Ngộ Không lại hiểu sai, tưởng nói về tính tình, tính cách. Nhưng chính điều đó lại vô tình hé lộ khá nhiều về con người của y. Ở Nam Thiệm Bộ Châu, sau khi vượt qua muôn trùng biển lớn, Ngộ Không tìm được đến chốn văn minh, chịu nhiều thiệt thòi, uất ức, bị đánh bị mắng nhưng lại không chút để tâm, chỉ lạy đáp lễ. Rõ ràng, ngay từ ban đầu, con khỉ đá ấy đã có tâm tính rất tốt, tính khí hiền lành, thực đúng là giữ được cả mười phần bản tính tiên thiên, thuần thiện ban đầu.
Thứ hai, để tìm đến chỗ của Tổ Sư, Ngộ Không đã phải vượt qua “hai lần biển lớn, một tòa Nam Thiệm Bộ Châu”, đường đi xa xôi cách trở đến nỗi chính Tổ Sư cũng không thể nghĩ rằng hắn có thể đi xa đến vậy cầu Tiên học Đạo. Ở đây nói lên rằng ngộ tính của loài khỉ đá thực sự rất cao, không tiếc thời gian (8, 9 năm), công sức, không quản ngại xa xôi mà tìm Đạo trường sinh màu nhiệm.
Thứ ba, khi Tổ Sư hỏi đến cha mẹ, Ngộ Không nói rằng mình thác sinh từ một tảng đá thiêng. Đây chính là căn cơ do trời đất tạo thành vậy. Tổ Sư nghe thấy trong bụng cũng mừng thầm, sắp có được một đồ đệ do trời đất sinh thành. Như thế, Ngộ Không đã có đủ những điều kiện cần thiết nhất để trở thành một người tu Đạo: tâm tính tốt, có căn cơ và có ngộ tính.
Lão Tử giảng trong Đạo Đức Kinh: “Kẻ sĩ bậc thượng nghe Đạo thì chăm chú làm theo. Kẻ sĩ bậc trung nghe Đạo thì điều còn điều mất. Kẻ hạ sĩ nghe Đạo thì cười lớn, không cười thì sao tỏ rõ đó là Đạo được?” (Thượng sĩ văn Đạo, cần nhi hành chi. Trung sĩ văn Đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn Đạo đại tiếu chi, bất tiếu bất túc dĩ vi Đạo).
Cứ xét những biểu hiện ấy thì Tôn Ngộ Không quả thực là bậc “thượng sĩ” nghe Đạo vậy. Trong truyện cũng mô tả chi tiết này:
Tôn Ngộ Không ngồi nghe giảng, sướng quá đến nỗi xoa tai vuốt má, mặt mày hớn hở, khoa tay múa chân.
Bỗng bị tổ sư trông thấy, gọi lên bảo:
– Ngươi ngồi trong lớp, tại sao lại điên cuồng nhảy nhót, không nghe ta giảng?
Ngộ Không thưa:
– Con thành tâm nghe giảng, đến những chỗ sư phụ giảng nhiệm mầu quá, lòng vui mừng khôn xiết, không nhịn được, nên có những điệu bộ như vậy, mong sư phụ tha tội.
Có câu “Sáng nghe Đạo, chiều có thể chết được” (triêu văn Đạo, tịch khả tử). Đó chẳng phải là kẻ sĩ bậc thượng là gì?
Ở một đoạn khác, Ngộ Không tiếp tục chứng minh mình là một đồ đệ có căn cơ, xứng đáng trở thành đệ tử chân truyền. Vốn Tổ Sư muốn truyền Đạo cho Ngộ Không nhưng y năm lần, bảy lượt cự tuyệt hết các gia phái, đạo thuật. Điều đó khiến Tổ Sư nổi giận…
Tổ sư nghe đoạn, hừ một tiếng, từ trên đài cao nhảy xuống, tay cầm gậy giới xích, chỉ vào Ngộ Không nói:
– Loài khỉ già kia, đạo này không học, đạo kia không học, còn đòi học cái gì?
Rồi đi đến gõ đầu Ngộ Không ba cái, quay lưng giơ tay đi thẳng vào trong, đóng cửa giữa lại, bỏ mọi người ở ngoài. Cả lớp nghe giảng, ai cũng sợ hãi, đều oán Ngộ Không rằng:
– Đồ con khỉ, hỗn láo vô tích sự, sư phụ truyền đạo cho, tại sao không học, lại dám cãi sư phụ. Phen này làm phật ý sư phụ, biết bao giờ sư phụ mới lại ra?
Lúc ấy cả bọn đều oán ghét và khinh bỉ Ngộ Không. Nhưng Ngộ Không chẳng tức giận, chỉ vui cười. Nguyên do Ngộ Không vốn đã ngầm hiểu ý của sư phụ, nên không tranh cãi với chúng bạn, chỉ lặng thinh không nói. Tổ sư đánh ba cái, có nghĩa là bảo phải để ý đến canh ba, chắp tay sau lưng, đi vào bên trong, đóng cửa giữa lại, rồi đi vào lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho.
Đêm hôm Ngộ Không được Tổ Sư chân truyền được miêu tả bằng những dòng tuyệt bút.
Khi trời vừa hoàng hôn, Ngộ Không đã cùng các bạn vào phòng ngủ, giả vờ nhắm mắt, nín hơi định thần chờ đợi. Trong núi lại không có trống canh, không biết giờ giấc, chỉ tự mình điều hòa hơi thở ra vào qua lỗ mũi mà ước tính. Khoảng giờ tý, Ngộ Không rón rén trở dậy, mặc quần áo, sẽ mở trộm cửa trước, giấu mọi người đi ra ngoài, ngẩng đầu quan sát. Chính là lúc:
Trăng sáng sương trong vắt
Tám cõi sạch bụi trần
Cây cao chim rừng ngủ
Ngọn suối nước rì rầm
Đom đóm bay thấp thoáng
Cánh nhạn vẽ bầu không
Canh ba giờ đã điểm
Hỏi đạo, ôi thỏa lòng!
Thực là cái vui của kẻ đã tìm được chính Đạo tu hành vậy! Đến khi thấy Ngộ Không lẻn vào cửa sau xin truyền Đạo, chính Tổ Sư cũng vô cùng bất ngờ. Tổ Sư nghĩ thầm: “Thằng oắt con này quả là do trời đất sinh thành. Nếu không, làm sao đoán nổi ngầm ý của ta”. Đoạn bèn truyền hết khẩu quyết cho Ngộ Không, dạy cách thực hành đạo sống lâu màu nhiệm.
***
Tôn Ngộ Không vốn dĩ tính khí tốt như vậy, có thể nhẫn nhịn tốt như vậy, tại sao về sau lại trở thành một kẻ cao ngạo, không sợ trời không sợ đất?
Lý do là ở chỗ tính khí của Ngộ Không là thuận theo tài năng của bản thân mà biến đổi. Trước khi học Đạo cầu Tiên, Ngộ Không chỉ là một con khỉ đá, hình dung xấu xí, không hiểu phép tắc, khi ấy muốn cao ngạo liệu có được? Còn sau khi đã được Tổ Sư truyền cho 72 phép biến hóa, đã là thần thông quảng đại, có tài năng lại có thừa chí khí, lẽ nào có chuyện bị đánh mà không đáp trả, bị mắng mà không mắng trả sao?
Cho nên cũng có người nói, Ngộ Không tu Đạo rồi tính khí lại còn kém hơn lúc chưa tu là vì thế! “Có tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai một vần”, quả đúng như vậy. Ngộ Không có 72 phép biến hóa, xuống Địa phủ xóa tên sổ sinh tử, lên thiên cung quấy nhiễu hội Bàn Đào, lại còn tự xưng “Tề Thiên Đại Thánh”, muốn thay cả Ngọc Hoàng cai quản tam giới, sự ngông cuồng đúng là đã lên đỉnh điểm.
Đúng lúc ấy thì Phật Tổ Như Lai xuất hiện, dùng một bàn tay mà thu hàng Ngộ Không, ép chặt 500 năm dưới núi Ngũ Hành, coi như cấp cho một dịp tu luyện tâm tính lại từ đầu, uốn nắn lại con người. Người đọc truyện đến hồi này đều tiếc nuối cho con khỉ đá không còn tháng ngày tiêu dao tự tại, chọc trời khuấy nước, nghiêng sông lật bể nữa. Nhưng đối với riêng Ngộ Không thì đó lại là một điều may vậy. Đó cũng coi như là cơ hội để y “phản bổn quy chân”, trở lại con người tu Đạo đúng nghĩa, khiêm nhường, khoan dung, hành thiện tích đức…
Phi Long – Văn Nhược
]]>
Bé không vin cả gãy cành” (*)
Dạy con nhân đức Trời dành phúc cho
Người ta như thể cái kho
Chứa lời vàng ngọc thì cho là giầu
‘Chứa rơm chứa rạ’ trong đầu
Không nuôi mối mọt cũng sầu tối tăm…
Nhỏ thời dạy bảo khuyên răn
Lớn thời giữ đức tu thân mới bền
Thép do tôi luyện mà nên
Khánh chuông nhờ đúc mà thêm tiếng rền
Con người cũng có căn nguyên
Phải đâu vô cớ vô duyên giáng trần
Nhớ câu “Phản bổn quy chân” (**)
Biết: Chân-Thiện-Nhẫn muôn phần quý thay!…
(*) Thành ngữ: Cổ nhân thường nói: “Bé không vin cả gãy cành” ý tứ nhằm ví von việc dạy dỗ con trẻ giống như uốn một cái cây. Lúc cây còn non mới có thể uốn nắn, còn khi cây đã lớn rồi thì dù muốn uốn cũng không thể được nữa vì cành đã cứng, uốn ắt sẽ gãy. Tục ngữ Việt cũng có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ…” là vậy.
(**) “Phản bổn quy chân”: Câu này nguyên được giảng trong Phật Pháp.
Đăng tải dưới sự đồng ý của tác giả
]]>
Ở cuối con đường, mở ra con đường ?
Ở cuối đời người, một đời người khác?
Ở cuối nước mắt, chỉ còn cạn khô?
Ở cuối lời ca, bắt đầu khúc hát?
Ở cuối tai ương, có khi hạnh phúc?
Ở cuối vinh hoa, có khi tủi nhục ?

Ở cuối đời người, một đời người khác?Ở cuối nước mắt, chỉ còn cạn khô?
Ở cuối mù lòa, mở to mắt đọc?
Ở cuối chân trời, hoàng hôn chấp chới?
Ở cuối chờ đợi, ai đợi chờ ai?
Ở cuối một thời, con người nông nổi?
Ở cuối mông muội, phô ra lụi tàn ?
Ở cuối con nước, sóng trào biển khơi?

Ở cuối mông muội, phô ra lụi tàn? Ở cuối con nước, sóng trào biển khơi?
Ở giữa vũ trụ, pháp luân chuyển đổi
Ở giữa tâm người, xua tan bóng tối
Ở trên tầng mới, ta thành chính ta…

Hạt cát tiền thân ngủ bến Hằng
Nơi này chợt tỉnh: Hội hoa đăng!
Nghe sông núi ngát từ muôn thuở;
Đất Việt trời Nam, Hương quốc chăng?
Sông núi thơm lừng lẫy
Chùa lên ngôi thành tên;
Cùng Hương giang với Hương Sơn ấy,
Vạn thuở Chùa Hương dấu Phật truyền…

Nghe sông núi ngát từ muôn thuở; đất Việt trời Nam, Hương quốc chăng?
Ba nén thắp lên cùng nghi ngút cháy,
Mười tám trăm năm từ mở kỷ nguyên.
Bao nhiêu đời Tổ tiên hương lòng đã thắp,
Nào ta dâng lên cho khói chở niềm tin rộng khắp,
Lời nguyện xa bay. Nguyện cho trời đất cao dày
Núi kia sông nọ chùa này sáng danh.
Ôi Việt Nam Quốc Tự
Mười phương chứng minh!
Nén hương lòng nguyện chúng sinh
Tìm cho thấy Phật nơi mình, từ Tâm?

Nén hương lòng nguyện chúng sinhTìm cho thấy Phật nơi mình, từ Tâm?
Chuông Chùa dội mãi dư âm
Đỉnh gươm đao, bến mê lầm sạch không!
Hoa Vô Ưu nở tươi cành Lạc Hồng;
Bánh xe nhật nguyệt thanh bình mở,
Phơi phới đường lên tự hướng Đông.
Hoàng Chương
]]>![]()
Thơ cổ của Trung Quốc xưa nay vẫn thấm nhuần vẻ đẹp hàm súc. Thơ là một phần quan trọng cấu thành thi từ cổ điển. Đặc trưng chủ yếu của nó là nguồn gốc đề tài rộng lớn và đa dạng, cùng sự hồng đại và tinh thâm trong thế giới đầy ý tưởng. Phía sau mỗi một bài thơ sơn thủy đều có một bức tranh độc đáo.
Cổ nhân leo lên núi ngắm thác nước đổ, ra sông bồng bềnh trên chiếc thuyền con, ngước đầu nhìn bầu trời, vũ trụ, cúi đầu ngắm núi sông, non cao, dòng nước cuồn cuộn, sông biển, vạn vật trong thế gian, cho tới từng nhành cây, ngọn cỏ bình thường nhất. Tất cả đều trở thành tải thể của tâm tình, ý chí của bậc thi nhân, đều mang vẻ đẹp tâm tưởng “ý tại ngôn ngoại”, “hình tượng tại ngoại tượng”, “ý tại vần ngoại”. Thi từ về sơn thủy truyền thống đã truyền tải nét đẹp tinh thần văn hóa truyền thống thông qua thanh âm trong trẻo của sơn thủy thiên nhiên. Vạn vật nảy nở, sinh sôi, hàm chứa vũ trụ quan và cái nhìn về tự nhiên rất đỗi sâu sắc, thâm trầm của cổ nhân. Dưới đây là một vài ví dụ như vậy.
Cổ nhân nói rằng: “Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn” (Kẻ trí vui với sông nước, người nhân vui với núi non), “Hà tất ty dữ trúc, Sơn thủy hữu thanh âm” (Hà tất chỉ có dây tơ và trúc, sơn thủy cũng có thanh âm). Núi hun đúc nhân cách, cốt cách, giúp con người có ý chí kiên cường, cung cấp nơi cư ngụ cho những người có tấm lòng khoáng đạt, chứa đựng vạn vật. Sự vĩnh viễn bất biến của núi là vật tham chiếu cho con người, khơi dậy sự thoát tục, giúp con người vượt qua danh lợi, truy cầu sự vĩnh hằng, khiến thân tâm con người đắm chìm trong khát vọng được tựa vào non xanh.
Đào Uyên Minh thời Tấn nói rõ rằng: “Thiểu vô thích tục vận, Tính bổn ái khâu sơn” (Bớt âm vận thế tục chẳng tương thích, Tính vốn yêu núi đồi.)
Trong bài “Sơn trung vấn đáp (Hỏi đáp trong núi)”, Lý Bạch cũng nói:
“Vấn dư hà ý thê bích sơn,
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.
Đào hoa lưu thuỷ diểu nhiên khứ,
Biệt hữu thiên địa tại nhân gian.”
Dịch thơ:
“Hỏi ta: ở núi làm chi ?
Thong dong chẳng nói, cười khì cho vui.
Hoa đào theo bẵng nước trôi,
Có riêng trời đất, cõi người đâu đây.” (Bản dịch của Tản Đà)

Sinh mệnh và tự nhiên, vũ trụ nơi đây được viên dung thành nhất thể với thế giới mỹ hảo, lý tưởng, không hề có sự phiền nhiễu của nơi thế tục, phản ánh khát vọng phản bổn quy chân của con người.
Trong dòng sông trường giang của lịch sử, dẫu người việc đến và đi, thành và bại, nở rồi lại tàn, nhưng sắc non xanh vẫn không đổi. Như bài “Lâm Giang Tiên” mở đầu cho “Tam Quốc Diễn Nghĩa” khơi dậy suy ngẫm của con người về sinh mệnh và tiến trình lịch sử:
“Thanh sơn y cựu tại,
Kỷ độ tịch dương hồng.”
Dịch thơ:
“Non xanh còn đứng đó,
Mấy độ bóng dương hồng.” (Bản dịch của Điệp Luyến Hoa)
Mọi người thường thích đặt hình tượng “non xanh” vào trong thơ, cũng như việc thích dùng chữ “xanh”.
Trong từ vựng biểu thị màu sắc của tiếng Hán, sắc “xanh” là một trong những màu biểu hiện cho sức sống của sinh mệnh. Ví như “Trường Ca Hành” của Hán Nhạc Phủ viết rằng:
“Thanh thanh viên trung quỳ,
Triêu lộ đãi nhật hi.
Dương xuân bố đức trạch,
Vạn vật sinh quang huy.”
Dịch nghĩa:
“Hoa quỳ trong vườn xanh xanh,
Giọt sương mai đợi mặt trời chiếu sáng.
Mặt trời xuân trải ân trạch,
Vạn vật sinh sôi trong huy hoàng.”
Trong “Ẩm mã trường thành quật hành” Hán Nhạc Phủ viết rằng: “Thanh thanh hà bạn thảo, Miên miên tư viễn đạo” (Cỏ bên bờ sông xanh xanh, Tâm tình vấn vương chốn đường xa.) Núi xanh trải dài bất tận gieo ấn tượng thị giác và không gian tưởng tượng vào lòng người.
“Thiên cổ từ khách tâm, Vạn cổ bằng lan ý.” (Lời thiên cổ tâm của khách, Vạn cổ bởi Lan ý.) Thân tại nơi non cao hoặc nơi đỉnh đài cao vút, trên thực tế cũng là đặt mình giữa giao điểm của thời gian và không gian. Đối diện với không gian vô hạn, con người sẽ thực sự cảm nhận được giữa đất trời, bản thân trở nên vô cùng bé nhỏ. Đối diện với cảnh xuân đi thu tới, đêm ngày đổi thay, con người sẽ cảm thấy cuộc đời người như quán trọ, thời gian như nước chảy mây trôi, khơi gợi ý nghĩa chân chính của đời người, cùng những khám phá những điều kỳ diệu của vũ trụ.
Trong bài “Vọng Nhạc” của Đỗ Phủ, nhà thơ đời Đường viết rằng:
“Ðãng hung sinh tằng vân,
Quyết tý nhập quy điểu.
Hội đương lăng tuyệt đính,
Nhất lãm chúng sơn tiểu.”
Dịch thơ:
“Mây trôi bâng khuâng dạ
Chim lạc mắt trừng nhìn
Có khi lên tận đỉnh
Vọng xuống đám núi xanh.” (Bản dịch của Trần Trọng San)
Trong bài “Vịnh Hoa Sơn” của Khấu Chuẩn thời nhà Tống nói:
“Chỉ hữu thiên thượng tại
Cánh vô sơn dữ tề
Cử đầu hồng nhật cận
Hồi thủ bạch vân đê.”
Dịch thơ:
“Chỉ có trời cao kia mới sánh cùng Hóa sơn
Các núi khác không có núi nào cao bằng
Đứng trên đỉnh núi, ngẩng đầu lên thấy mặt trời gần
Cuối nhìn xuống thấy mây trắng thấp lưng chừng núi.” (Bản dịch của Huỳnh Chương Hưng)
Đứng trên đỉnh, núi non điệp trùng, mây trắng đều ở dưới chân, tự thấy mình rất gần với đôi vầng nhật nguyệt. Đầu đội trời chân đạp đất, tiết trời ngàn vạn cảnh, cũng như ý chí của sinh mệnh luôn hướng về phía trước và không ngừng vươn lên trong không gian tinh thần.
Mây là ngôi nhà tinh thần của thi nhân, thi nhân mượn mây để xây dựng nên một khu vườn hạnh phúc khi lui về ở ẩn. Trong bài “Chiếu vấn sơn trung hà sở hữu phú thi dĩ đáp”(Làm thơ trả lời chiếu hỏi trong núi có gì), Đào Hằng Cảnh viết:
“Sơn trung hà sở hữu,
Lĩnh thượng đa bạch vân.
Chỉ khả tự di duyệt,
Bất kham trì ký quân.”
Dịch thơ:
“Trong núi có gì nhỉ,
Đỉnh non mây trắng dày.
Chỉ riêng mình thích thú,
Không thể tặng cho ai.” (Bản dịch của Cao Tự Thanh)
Hay bài “Tự Họa” của Vương Vi:
“Vọng thu vân thần phi dương, Lâm xuân phong tư hạo đãng.” (Nhìn mây thu bay lượn thần kỳ, Đón gió xuân nghĩ cảnh mênh mang.)
Trong thơ, “mây” thường được liên tưởng tới việc lui về ở ẩn và tu hành. Trong bài “Tầm ẩn giả bất ngộ” (Tìm ẩn sĩ không gặp), Giả Đảo viết:
“Tùng hạ vấn đồng tử,
Ngôn sư thái dược khứ.
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.”
Dịch thơ:
“Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng: thầy hái thuốc lò mò đi xa
Ở trong núi ấy thôi mà
Mây che mù mịt biết là đi đâu.” (Bản dịch của Tản Đà)
Vị ẩn sĩ mà nhà thơ tìm kiếm là một người tu đạo hái thuốc, cứu thế độ nhân. Bài thơ vấn đáp này, dùng mây trắng để ví với sự thanh cao, thánh khiết của ẩn sĩ, dùng cây tùng xanh tươi để ví với cốt cách của ẩn sĩ, nhằm biểu đạt sự kính phục của thi nhân với người tu đạo.

Trong bài “Tầm ẩn giả bất ngộ”, Ngụy Dã thời Tống nói:
“Thái chi hà xứ vị quy lai, Bạch vân mãn địa vô nhân tảo” (Hái cỏ nơi nao chưa trở về, Mây trắng đầy nhà không người quét.)
Ngôi nhà cỏ chất đầy mây trắng được mô tả trong thơ, khiến con người có cảm giác như đang bước vào cảnh tiên, cảnh đẹp thoát tục say đắm lòng người! Từ đó có thể thấy tấm lòng siêu xuất khỏi cõi hồng trần của người tu luyện.
Nước trong thơ ca cũng có muôn hình vạn trạng: Nước xuân, nước thu, nước sông, nước phẳng lặng như gương, nước ào ạt băng băng ngàn dặm… Nước khơi gợi trí huệ tâm linh của con người, khiến con người có tầm nhìn sâu sắc hơn.
Trong bài “Vãn đăng Tam Sơn hoàn vọng kinh ấp” (Chiều tối lên núi Tam Sơn ngắm kinh đô), Tạ Diễu thời Nam Bắc Triều đã miêu tả sự tĩnh lặng của nước:
“Dư hà tản thành ỷ,
Trừng giang tĩnh như luyện.”
Dịch thơ:
“Ráng tàn rải như the
Sông trong phẳng ngỡ lụa.” (Bản dịch của Hoàng Tạo)
Trong bài “Đào Nguyên Hành”, Vương Duy thời Đường miêu tả cội tiên của nước:
“Xuân lai biến thị Đào hoa thủy
Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm?”
Dịch thơ:
“Xuân về đây đó hoa và suối
Nhưng suối tiên đâu tìm chốn nào?” (Bản dịch của Vũ Thế Ngọc)
Trong bài “Dạ Phiếm Tây Hồ”, Tô Thức miêu tả khung cảnh lồng nơi bóng nước:
“Cô bồ vô biên thủy mang mang,
Hà hoa dạ khai phong lộ hương.”
Dịch nghĩa:
“Sông hồ vô biên nước mênh mang,
Sen nở đêm về gió lay hương.”
Trong bài “Thanh dạ ngâm”, Thiệu Ung viết:
“Nguyệt đáo thiên tâm xứ,
Phong lai thủy diện thời,
Nhất ban thanh ý vị,
Liệu đắc thiểu nhân tri.”
Dịch nghĩa:
“Trăng tới giữa trời,
Gió lay mặt nước,
Ý vị thanh cao thường thấy,
E rằng ít người hay”
Bài thơ tả cảnh trăng lơ lửng giữa trời, gió nhè nhẹ lay động mặt nước. Cảm giác thánh khiết, mỹ hảo đó, cảnh giới hân hoan đó, có bao người có thể cảm nhận được đây!
Những vần thơ về thác đổ cũng rất nhiều, như bài “Bộc bố liên cú” của Lý Thầm nhà Đường miêu tả kỳ quan hùng vĩ thác đổ, một sức mạnh lao thẳng về phía trước, xung phá mọi trở ngại, thoát khỏi mọi sự ước thúc:
“Thiên nham vạn hác bất từ lao,
Viễn khán phương tri xuất xứ cao.
Khê giản khởi năng lưu đắc trụ,
Chung quy đại hải tác ba đào.”
Dịch nghĩa:
“Nghìn vạn núi non không ngại khó,
Nhìn xa mới biết xuất nơi cao.
Khe suối há sao giữ nổi,
Cuối cùng về biển rộng làm ngọn sóng.”
Gió bay lượn giữa trời không, không nơi nào không tới, khiến vạn vật trên thế gian trở nên sống động, khẽ khàng lay động. “Đông phong dạ phóng hoa thiên thụ” (Gió đông thổi về đêm làm nở ngàn cây hoa), “Đông phong xuy thủy lục tham si” (Gió đông thổi nước biếc dập dềnh). Đây chính là sinh cơ và sức sống của gió xuân. Bạch Cư Dị thời Đường từng viết: “Xuân phong tiên phát uyển trung mai, Anh hạnh đào lê thứ đệ khai” (Gió xuân trước tới lay đóa mai trong vườn, Anh đào hoa hạnh đào lê lần lượt nở). Ông đã miêu tả gió xuân trước tiên tới thức tỉnh những tiên tử trong đóa hoa, để thổi bùng lên cả ngàn sắc hoa tươi: “Ngàn bông vạn bông đè trĩu cành” (Thiên đóa vạn đóa áp chi đê), cùng chào đón thế giới muôn màu, vạn tía ngàn hồng. Đỗ Phủ miêu tả khung cảnh đầy sức sống khi làn gió mang tới hơi thở ấm áp, khiến cá lội tung tăng, chim én bay lượn: “Tế vũ ngư nhi xuất, Vi phong yến tử tà” (Mưa nhỏ cá con ra, Gió hiu én lượn nghiêng).
Mưa tưới tắm, tẩy tịnh gột rửa vạn vật, có thể rửa sạch những huyên náo cõi hồng trần. Vương Duy thời nhà Đường viết:
“Sơn trung nhất dạ vũ,
Thụ sao bách tròng tuyền.”
Dịch thơ:
“Một đêm mưa núi đổ
Trăm suối ngọn cây xuyên.” (Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu)
Ông miêu tả cảnh đêm trong núi sau cơn mưa, hàng trăm con suối bay lượn, nhìn từ phía xa xăm như thể đang treo lơ lửng trên ngọn cây.
Ông Quyển thời Tống viết: “Lục biến sơn nguyên bạch mãn xuyên, Tử quy thanh lí vũ như yên” (Sắc xanh khắp núi, trắng trải đầy sông, Trong tiếng Đỗ quyên mưa như khói mây), miêu tả cỏ cây hoang dã trên sườn núi xanh biếc, um tùm, sông ngòi đan xen chằng chịt, chim Đỗ Quyên thánh thót líu lo, mưa bay trong làn gió nhẹ mờ ảo như sương như khói, khiến con người cảm nhận được vẻ đẹp hài hòa của tự nhiên và phong thái thong dong, tĩnh tại của bậc thi nhân.
Những cảnh đẹp nơi núi cao hay khung cảnh chốn điền viên đều hàm chứa ý tứ và sức sống trong đó. Như hoa lan ở nơi hẻm sâu, không vì không ai biết tới mà chẳng tỏa hương. Trong bài thơ “Cổ ý”, Hạ Lan Tấn Minh thời nhà Đường viết rằng: “Sùng lan sinh giản để, hương khí mãn u lâm” (Lan thanh cao sinh dưới hẻm núi sâu, hương thơm tỏa ngát khắp khu rừng u tịch).
Còn những đóa Sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, cũng chẳng thể tách rời với Phật Đạo. Trong bài “Túc Long Hưng tự” (Ngủ trọ chùa Long Hưng), Kỳ Vô Tiềm thời Đường viết:
“Bạch nhật truyền tâm tĩnh,
Thanh liên dụ pháp vi.
Thiên hoa lạc bất tận,
Xứ xứ điểu hàm phi.”
Dịch thơ:
“Trời tỏ – tâm thành đạo,
Sen xanh – pháp diệu vi.
Hoa trời rơi chẳng dứt,
Chim ngậm, bay bốn bề.” (Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn)

Cúc là loài hoa ngậm sương. Trong bài “Vịnh cúc” Bạch Cư Dị thời Đường viết: “Nại hàn duy hữu đông ly cúc, Kim túc sơ khai hiểu canh thanh” (Chịu được lạnh chỉ có Cúc Đông Ly, Kim Túc chớm nở buổi sớm càng trong xanh). Hoa mai là sứ giả báo hiệu Xuân về. Trong bài “Tuyết trung tầm mai”, Lục Du thời nhà Tống viết: “U hương đạm đạm ảnh sơ sơ, Tuyết ngược phong thao chỉ tự như” (Hương trầm mặc phảng phất bóng thơ lơ, Tuyết vùi gió dập vẫn điềm nhiên). Nhà thơ ca ngợi phẩm cách và khí chất của hoa, cũng là sự lột tả giấc mơ theo đuổi một nhân cách lý tưởng của thi nhân, hàm chứa giá trị đạo đức tinh thần và giữ gìn phẩm cách. Hơn nữa, cổ nhân còn miêu tả sự kiên trinh của tùng bách như “Tiết tháo lăng lăng hoàn tự trì” (Tiết tháo oai phong lại biết giữ mình), dùng hình ảnh “Thiên nhai hà xứ vô phương thảo” (Chân trời nơi nào là không có cỏ thơm) để miêu tả sự tốt tươi của cỏ xuân. Những điều này khiến con người cảm nhận được sức sống bất diệt của tạo vật tự nhiên giữa non nước trong trẻo, tĩnh mịch nhưng tràn trề nhựa sống. Tâm linh như được tẩy tịnh, khiến tâm cảnh trở nên thuần tịnh, hòa thành nhất thể trong vẻ đẹp tự nhiên thuần phác.
Hình tượng sơn thủy trong thơ cổ đầy màu sắc, ý vị sâu xa, là vẻ đẹp tự nhiên kỳ diệu của sinh mệnh trong vũ trụ, là tiết tấu xinh xắn của núi sông, cỏ cây, nhật nguyệt gió mây, được thoát ra từ ngòi bút kỳ diệu của bậc thi nhân. “Ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” (Ngôn từ có hạn mà ý tứ lại vô cùng) trong thơ cổ khiến những hình tượng hữu hạn nhưng lại mang ý tứ vô hạn. Thưởng thức ý vị thẩm mỹ độc đáo của những vần thơ ấy, cảm ngộ những đạo lý sâu sắc chất chứa trong thơ, khiến con người cảm nhận được vẻ đẹp bao la, thăm thẳm của văn hóa truyền thống. Nhờ vậy, con người đắc được những nhận thức lý tính về vũ trụ, kiếp nhân sinh, cũng như khích lệ phẩm hạnh nhân văn của sinh mệnh.
Theo Trí Chân / Minh Huệ Net
]]>

Chụp ảnh trong môi trường rừng có độ khó lớn, đặc biệt là đối với ảnh phong cảnh nghệ thuật, chủ yếu là do điều kiện ánh sáng yếu và không đồng nhất. Hiểu rõ cách xử lý ánh sáng và có một chút hiểu biết về cây rừng là bạn đã có cơ sở để chụp được những bức ảnh đẹp.
Rừng là một phần không thể thiếu của nhiều cảnh quan. Mặc dù chúng thường có thể làm nổi bật những ngọn núi trong một bức ảnh phong cảnh, bản thân chúng cũng là những chủ đề tuyệt vời với yếu tố chính là những thân cây. Chụp cảnh trong rừng chỉ cần một số điều chỉnh nhỏ trong suy nghĩ so với nhiếp ảnh phong cảnh truyền thống.
Dưới đây là những gợi ý để chụp được những hình ảnh phong cảnh rừng tuyệt đẹp?

Các mùa khác nhau sẽ cung cấp gì cho nhiếp ảnh gia?
Rừng không phải là thực thể tĩnh. Chúng sẽ thay đổi thành phần loài cây và hình dạng tán lá khi chuyển mùa. Một cảnh mùa đông khắc nghiệt vào tháng Giêng có thể được thay bằng một khung cảnh mùa hè ấm áp vào tháng Sáu hoặc một xứ sở thần tiên của mùa thu rực rỡ, đầy màu sắc vào tháng Mười. Vì vậy, những khu rừng không chỉ đáng để khám phá với người nhiếp ảnh, mà còn đáng khám phá nhiều lần trong năm. Tuyết mùa đông tan chảy vào mùa xuân cũng có thể dẫn đến những dòng suối làm tăng cảnh đẹp cho khu rừng. Và lá mùa thu màu cam nổi bồng bềnh trên một dòng suối cũng tạo ra những cơ hội chụp ảnh mà những mùa khác không thể có.

Cần có độ sâu trường ảnh và độ phơi sáng tốt
Khi chụp phong cảnh rừng, nên sử dụng khẩu độ hẹp hơn để đảm bảo có độ sâu trường ảnh lớn. Độ sâu của trường ảnh sẽ quyết định bao nhiêu phần cây rừng được lấy nét; nên khi độ sâu trường ảnh được để nông, chỉ một phần nhỏ của cây rừng được lấy nét. Bối cảnh sẽ có xu hướng bị mờ nếu có nhiều khoảng trống xung quanh chủ thể chính. Với độ sâu trường ảnh lớn hơn, chúng ta có thể giữ cả tiền cảnh và hậu cảnh sắc nét và tập trung. Những người chuyên chụp cảnh rừng hầu như luôn muốn sử dụng độ sâu trường ảnh lớn. Nhưng điều đó đòi hỏi sử dụng một khẩu độ hẹp, dẫn đến lượng ánh sáng chiếu vào cảm biến máy ảnh sẽ ít hơn.

Thêm vào đó, mức độ ánh sáng trong nhiều khu rừng thường thấp, điều này có nghĩa là người chụp cần đặc biệt lưu ý kiểm soát độ phơi sáng. Một chân máy là cần thiết cho các nhiếp ảnh gia phong cảnh nói chung, nhưng khi chụp ảnh trong rừng thì càng không thể thiếu nó.
Các nhiếp ảnh gia phong cảnh rừng đôi khi muốn sử dụng tốc độ màn trập chậm hơn các nhiếp ảnh gia phong cảnh khác vì họ thường chụp trong điều kiện có ít ánh sáng hơn. Điều này làm cho việc chụp khi cầm máy ảnh trên tay trở nên khó khăn, đặc biệt là nếu máy ảnh của bạn không có chức năng ổn định hình ảnh tích hợp sẵn trong máy hoặc ống kính. Nếu không muốn sử dụng tốc độ màn trập chậm, bạn cũng có thể tăng trị số ISO. Tuy nhiên, việc tăng ISO có thể tạo ra lượng nhiễu hình ảnh không thể chấp nhận được, tùy thuộc vào loại máy ảnh và mức độ tăng của nó.

TÌm những nơi có ánh sáng trong rừng
Một cảnh mà bây giờ không có nhiều người quan tâm có thể trở nên đẹp hơn vào lúc khác hoặc thậm chí vào ngày hôm sau. Khi mặt trời thay đổi vị trí trên bầu trời, ánh sáng trong một khu rừng sẽ theo đó mà thay đổi đáng kể. Buổi sáng sớm có thể mang theo một màn sương mù mờ ảo, với ánh sáng mặt trời khó khăn lắm mới chạm tới được nền rừng. Mặt trời buổi chiều có lẽ lại tạo ra một quang cảnh rừng rực rỡ. Vào buổi chiều tối có thể có những tia sáng màu đỏ của hoàng hôn xuyên qua kẽ lá hoặc có thể là một bóng tối do ánh trăng bị cành lá chặn lại.

Có một số thời điểm tốt nhất cho hình ảnh rừng kịch tính, là khi mặt trời xuống thấp hơn trên đường chân trời. Điều kiện này cho chúng ta cơ hội để chụp các tia sáng xuyên qua cây cối dễ dàng hơn, cũng như sử dụng cây cối che khuất để chụp mặt trời như ngôi sao lấp lánh. Trong ánh sáng yếu cũng có thể tạo nên những bức ảnh rừng cây mạnh mẽ khi chụp bóng đen của cây cối tương phản với các tia sáng xuyên qua tán cây.

Mang theo một cuốn sách về cây
Điều này có vẻ như là một nội dung không chính thống cho một bài viết về nhiếp ảnh nhưng một ít kiến thức trong sách sẽ cùng đi một chặng đường rất dài trong việc giúp bạn tìm đối tượng để chụp ảnh. Ví dụ, có một hiện tượng ít được biết đến trong số các cây được gọi là sự “xấu hổ”. Bằng cách nào đó chúng có thể cảm nhận được khi các “vị hàng xóm” của chúng đến gần. Những cây này sẽ để lại những khoảng trống trông gần giống như những hoa văn dạng nhánh khi được chiếu sáng tốt. Hiện tượng đó cực kỳ rõ ràng nhưng không phải tất cả các loài cây đều thể hiện điều này. Và nó có thể làm cho bức ảnh tuyệt đẹp trong ánh sáng phù hợp. Có thể xác định loài cây cũng có nghĩa là bạn có thể chọn ra những loài cây được quan tâm đặc biệt trong một khu vực nhất định.

Hãy sáng tạo khi chọn bố cục
Cảnh rừng có khả năng cung cấp một loạt các đường dẫn đáng kinh ngạc, dẫn dắt con mắt người xem tới chủ đề bức ảnh một cách tự nhiên. Trong thành phố và kiến trúc, hình ảnh đường giao thông, đường dây điện và các cạnh của tòa nhà đều có thể được sử dụng để hướng mắt người xem về các phần của hình ảnh hoặc chủ đề chính. Tương tự trong rừng, chúng ta có thể sử dụng các đường dẫn tự nhiên để lần theo các con đường, hướng lên bầu trời hoặc thêm điểm nhấn vào núi và các yếu tố khác của cảnh quan.

Chẳng hạn sử dụng một thân cây làm tiền cảnh và để chiếc cây đó chỉ thẳng lên trời, hoặc thậm chí đứng giữa một lùm cây và nhìn xem cảnh tượng khác nhau như thế nào qua kính ngắm, thay vì chỉ nhìn quang cảnh bằng mắt của bạn.
Kết luận
Rừng là một nơi tuyệt vời để chụp ảnh với chân máy và ống kính góc rộng – hai công cụ thiết yếu của nhiếp ảnh gia phong cảnh. Chỉ cần nhớ đặt phơi sáng đúng cách trong điều kiện ánh sáng thấp thì bạn chắc chắn sẽ chụp được hình ảnh tuyệt đẹp. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, một hướng dẫn hoặc cẩm nang về thiên nhiên sẽ rất hữu ích nếu bạn muốn xác định đúng mục tiêu của mình hoặc đúng địa điểm có những loài cây được đặc biệt quan tâm. Chúc chuyến phiêu du chụp ảnh của bạn trong rừng có được niềm vui trọn vẹn!
Theo Earl Goodson / Loaded Landscapes
]]>
Chụp ảnh trong điều kiện ánh nắng chói chang là một thách thức, nhưng cũng kèm theo những phần thưởng thú vị. Các gợi ý từ chuyên gia sẽ giúp việc này trở nên dễ dàng hơn.
Mặc dù mặt trời gay gắt vào lúc giữa trưa là thứ mà hầu hết các nhiếp ảnh gia đều muốn chạy trốn, nhưng sự thật là bạn cũng không phải đóng gói đồ nghề và coi đó là đã hết cơ hội chụp ảnh khi mặt trời chiếm thế thượng phong!
Cùng với việc nhiều ý kiến đánh giá thấp việc chụp ảnh dưới ánh nắng mặt trời chói chang, cũng có nhiều cách để giải quyết các thách thức trong điều kiện đó để tạo ra một số bức ảnh tuyệt vời. Trong khi ánh sáng mặt trời toàn phần tạo ra các điều kiện bất lợi, như độ tương phản cao, bóng tối sẫm và ảnh bị phơi sáng quá mức; tin tốt là có một vẻ đẹp lớn được phát hiện trong điều kiện ánh sáng toàn phần: Mặt trời có thể làm nổi bật các chi tiết thú vị. Khi được chụp cẩn thận, hình ảnh trong ánh mặt trời trực tiếp có thể tràn đầy sức sống và có sự ấm áp tuyệt đẹp; ví dụ có thể gợi lên niềm vui của một ngày hè!

Một số cơ hội chụp ảnh sẽ chỉ xuất hiện khi mặt trời ở góc cao trên bầu trời. Nếu bạn thấy mình đã vào vị trí và sẵn sàng chụp khi mặt trời lên đến đỉnh điểm, thì dưới đây là các gợi ý để có thể chụp với ánh sáng mạnh và thậm chí sử dụng nó làm lợi thế để có được một số hình ảnh tuyệt vời.
• Bắt đầu với “Sunny 16”
“Sunny 16” là quy tắc nổi tiếng, nói rằng chụp với khẩu độ f/16 trong điều kiện nắng mặt trời chói chang. Theo hướng dẫn này, bạn cũng nên sử dụng tốc độ màn trập ở khoảng 1/100 và giữ ISO ở mức 100. Nếu ISO của bạn đặt ở 200, hãy đặt tốc độ màn trập tương ứng của bạn vào khoảng 1/200. Mặc dù quy tắc này là một điểm khởi đầu tốt nếu bạn chụp trong ánh mặt trời mạnh, hãy nhớ rằng, tùy thuộc vào mức độ cao của mặt trời trên bầu trời và có bất kỳ đám mây nào hiện diện hay không mà bạn sẽ phải tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp. Tùy theo góc của mặt trời, bạn có thể thấy rằng bạn phải cần tốc độ màn trập nhanh hơn nhiều. Đừng ngại khi phải nâng tốc độ lên tới 1/1000 hoặc 1/1500 nếu mặt trời đặc biệt sáng chói.

• Sử dụng bóng đổ như lợi thế của bạn
Bóng đổ thường là những yếu tố bổ sung khó coi và không mong muốn cho hình ảnh của bạn. Tuy nhiên nếu được sử dụng đúng cách, chúng có thể thêm một số chi tiết thú vị vào ảnh của bạn. Câu nói, “nếu bạn không thể đánh bại họ, hãy tham gia cùng họ”, phù hợp để áp dụng tại đây. Thay vì cố gắng hoàn toàn lẩn tránh bóng tối, hãy cân nhắc việc tận dụng chúng và đưa chúng vào các tác phẩm của bạn. Ví dụ, sử dụng các bóng đổ làm đường dẫn hướng có thể giúp bạn tạo ra một bức ảnh có độ cân bằng tốt. Hoặc để bóng đổ chiếm vị trí trung tâm. Hãy suy xét việc chụp chủ đề chính trong ảnh của bạn, ví như chụp một chiếc cây đơn độc trên một cánh đồng, cùng với bóng đổ của nó là một cách thú vị và sáng tạo để tận dụng tối đa bóng đổ.

• Định vị lại chính mình
Trong khi bạn không thể định vị lại cảnh quan, bạn có thể định vị lại cho chính mình và điều chỉnh góc chụp. Hãy suy xét hạ máy xuống thấp hơn và bao gồm một số tiền cảnh vào hình ảnh của bạn. Một góc chụp thấp hơn có thể giúp hạn chế lượng ánh sáng chiếu tới cảm biến của máy ảnh. Bạn thậm chí có thể tìm thứ gì đó để che bớt mặt trời phía sau; như một cái cây hoặc tảng đá lớn, để giúp khuếch tán ánh sáng mặt trời nhiều hơn nữa. Hoặc, hãy đi sâu vào rừng cây. Ánh sáng, khi được lọc nhẹ nhàng qua cây cối có thể tạo nên một hình ảnh đẹp!

• Trông chừng những đám mây
Khi có những đám mây vào một ngày nắng, bạn sẽ được ở trong một hoàn cảnh đáng mừng! Chỉ cần đợi những đám mây trôi qua che lấp mặt trời, bạn sẽ được ban thưởng với một chiếc “dù che” lớn nhất thế giới. Các đám mây che khuất mặt trời có thể cho bạn ánh sáng dịu hơn và khuếch tán tốt hơn, dẫn đến sẽ dễ dàng hơn cho việc chụp ảnh trong điều kiện này.

• Thêm ánh sáng lóe của mặt trời vào ảnh
Mặc dù không có gì hoàn toàn khó coi như ánh sáng lóe không mong muốn từ mặt trời rơi vào tấm ảnh, nhưng với ánh sáng lóe có chủ ý, được thực hiện với phong cách và chiến thuật tốt có thể là một sự bổ sung thú vị, giúp hình ảnh của bạn nổi bật. Để thêm ánh sáng lóe của mặt trời, hãy cẩn thận để mặt trời khuất sau một vật cản nào đó, đồng thời vẫn để một phần ánh sáng tỏa ra xung quanh từ các cạnh của vật cản đó. Hãy nhớ rằng ánh sáng lóe của mặt trời thường hoạt động tốt nhất khi bạn đặt khẩu độ từ f/16 trở lên. Chỉ cần nhớ bỏ bộ phận loa chống lóa ra khỏi ống kính của bạn, nếu không nó có thể chặn bớt ánh sáng mà máy ảnh có thể hiển thị dưới dạng lóe.

• Tạo bóng đen
Chụp ảnh trong một tình huống ánh sáng mạnh là một cơ hội tuyệt vời để tạo bóng đen. Hãy thử định vị một chủ đề có đường viền dễ nhận biết ở trước mặt trời, sau đó sử dụng tốc độ màn trập nhanh để giảm ánh sáng vào máy, sẽ tạo được hình ảnh với chủ đề tối hơn (bóng đen).

• Lựa chọn dùng kính lọc phân cực hoặc kính lọc mật độ trung tính
Khi chụp dưới ánh mặt trời sáng chói, nên cân nhắc sử dụng kính lọc phân cực (Polarizer). Nó sẽ làm cho bầu trời có màu xanh đậm hơn, và giúp tăng thêm độ tương phản cho các đám mây trắng mịn, kéo bật chúng ra khỏi nền trời. Phải nhớ rằng các kính lọc phân cực có hiệu quả nhất khi được sử dụng ở góc 90° so với góc của mặt trời. Tương tự, các bộ lọc mật độ trung tính (ND) cũng có thể hiệu quả khi chụp dưới ánh mặt trời giữa trưa, giúp lọc đi một số tia nắng chói mắt.

• Xem xét lựa chọn chụp ảnh đen-trắng
Mặc dù bạn có thể chụp ảnh đen-trắng vào bất cứ lúc nào trong ngày, độ tương phản cao trong thời gian mặt trời chói chang là điều kiện lý tưởng để chụp ảnh đen-trắng. Vì các chi tiết trong ảnh của bạn sẽ mạnh mẽ, táo bạo hơn. Việc chuyển đổi hình ảnh của bạn thành ảnh đen-trắng cũng sẽ giúp hiển thị các chi tiết rõ ràng hơn.
![]()
Một lời cảnh báo rất hữu ích trước khi bạn đi chụp dưới ánh nắng gắt của mặt trời:
Chú ý không bao giờ nhìn mặt trời trực tiếp qua kính ngắm máy ảnh của bạn. Nhìn như vậy sẽ làm tăng cường độ sáng, có thể gây hại cho mắt của bạn.
Mặc dù chụp ảnh dưới ánh mặt trời chói chang có thể là thách thức không nhỏ, nhưng điều đó rất đáng làm. Bằng cách cải thiện các kỹ năng, bạn sẽ có thể tận dụng lợi thế của các tình huống ánh sáng khác nhau; cho phép bạn tạo ra một số tác phẩm đẹp và thực sự độc đáo riêng có của bạn.
Theo Christina Harman / Loaded Landscapes
]]>