Lịch sử thường được dạy theo đường tuyến tính. Cách giảng dạy này thường bỏ qua các câu chuyện lịch sử lớn và tập trung chủ yếu ở thế giới phương Tây.
Tuy nhiên, con người cũng biết rằng để hiểu cái cách mà hiện tượng này dẫn đến hiện tượng khác, lịch sử có thể tạo ra một cái nhìn bao quát về những gì mà loài người đã tạo ra qua bao năm tháng. Trong lịch sử kiến trúc, thật thú vị khi hiểu về những phong trào trung tâm và những phong cách được thánh hóa xuất hiện theo thời gian như là một sự phản ứng thời đại, liên tục hoặc gián đoạn, trong mối liên hệ đến những gì đã được tạo ra cho đến nay. Vì thế, bài viết này trình bày một số phong cách kiến trúc và trào lưu có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, từ các đặc tính và những điểm đặc biệt của nó.

Kiến trúc cổ đại được xây dựng ở thời Hy Lạp cổ đại từ giữa thế kỉ VII đến thế kỉ IV trước Công nguyên. Nó được biết đến nhờ các ngôi đền thờ được xây bằng đá, được thiết kế từ các nguyên tắc của thức cột, đối xứng, hình học và luật xa gần. Một đặc điểm đáng chú ý của tính thể hiện của nó là các nguyên tắc của các “thức cột kiến trúc”: Doric, Ionic, Corinthian. Thành tựu lớn nhất của kiến trúc Cổ đại là đền thờ Parthenon, được xây dựng tại thành cổ Athens vào thế kỉ V trước Công nguyên, đền Parthenon thể hiện những đặc điểm nổi bật như: một khối tích được xây dựng trên một nền tảng chịu lực liên tục của các hàng cột và các đầu cột, lần lượt chịu lực cho đầu hồi tam giác của đền.

Được phát triển ở châu Âu giữa thế kỉ VI và thế kỉ IX, phong cách kiến trúc này có mối liên hệ chặt chẽ đến bối cảnh lịch sử của nó. Trong thời kì mà các quốc gia châu Âu đang có chiến tranh và lo lắng về việc bảo vệ chống lại các cuộc xâm lược, các công trình thời này được lấy cảm hứng bởi đế chế La Mã cổ đại, được nhận diện bởi những bức tường dày và nặng nề với những khoảng mở nhỏ từ những cung tròn. Những minh chứng chính của phong cách này là các nhà thờ được xây dựng suốt thời kì này, và một trong những thành tựu quan trọng nhất là Nhà thờ chánh tòa Santiago de Compostela ở Tây Ban Nha. Nó được xây dựng suốt thời thập tự chinh, và là sản phẩm tuyệt vời nhất của phong cách này.

Những gì mà chúng ta biết về kiến trúc Gothic ban đầu đã được đặt tên là Opus Francigenum, hay “công trình của người Pháp”, được ra đời vào những năm cuối thời kì trung đại, giữa những năm 900 và 1300. Chỉ trong thời kì Khai sáng, cái tên Gothic mới được đề cập đến như loại kiến trúc thẳng đứng và hùng vĩ được tạo ra trong thời kì này. Những công trình chính của Gothic liên quan đến công trình giáo hội, Nhà thờ và thánh đường với cung nhọn và vòm khung. Hầu hết công trình Gothic được xem là Di sản thế giới UNESCO, như Notre Dame Cathedral và Reims Cathedral.

Bắt đầu từ thế kỉ 16 dưới chế độ quân chủ ở châu Âu, kiến trúc Baroque có thể được tìm thấy trong các công trình tôn giáo. Việc sử dụng đồ trang trí và các yếu tố để mà tìm cách thiết lập cảm giác ấn tượng-đặc biệt bởi sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Kiến trúc Baroque nhìn vào các yếu tố kết cấu như những biểu mẫu cho trang trí. Một trong những hình mẫu cho phong cách này là Nhà thờ Gesu ở Rome, nơi tự hào thể hiện một mặt đứng đúng kiểu Baroque đầu tiên.

Từ thế kỉ XVIII trở đi, kiến trúc tân cổ điển đã tìm cách hồi sinh các công trình thời Hi Lạp, La Mã cổ đại. Biểu hiện của nó liên quan mật thiết đến bối cảnh kinh tế, xã hội. Cách mạng Công nghiệp ở châu Âu và thời kì mà các sinh viên thượng trung lưu bắt đầu truyền thống Grand Tour – đi vòng quanh thế giới và tiếp cận với các tác phẩm cổ xưa. Sự hồi sinh của cái nôi văn hóa châu Âu đã mang lại một kiến trúc hướng đến sự đối xứng hợp lí như một sự phản ứng với kiến trúc Baroque. Trào lưu này tiếp tục cho đến thế kỉ XIX và được thể hiện ở nhiều quốc gia khác nhau.

Phong cách học thuật này bắt nguồn từ trường Mỹ thuật ở Paris vào giữa những năm 1830. Nó đã thiết lập môt ngôn ngữ đề cập đến các thời kì khác, như Tân cổ điển Pháp, kiến trúc Gothic và Phục hung, tuy nhiên, nó cũng sử dụng các vật liệu đương đại như kính và sắt. Mặc dù nó xuất hiện ở Pháp, phong cách này đã ảnh hưởng kiến trúc Mỹ và được dùng như một tham chiếu đến các kiến trúc sư như Louis Sullivan, cha đẻ của các tòa nhà chọc trời. Các công trình từ trào lưu này thể hiện sự trang trí điêu khắc pha trộn với các đường nét hiện đại. Ở châu Âu, một ví dụ quan trọng là tòa nhà Grand Palais ở Paris và ở Hoa kì là Grand Central Terminal New York.

Art Nouveau ban đầu phục vụ như một hướng dẫn cho một số ngành từ kiến trúc đến hội họa và thiết kế nội thất cho đến viết chữ. Như là một phản ứng đến phong cách chiết trung chi phối châu Âu, phong cách này thể hiện chính nó trong kiến trúc trong các yếu tố trang trí: các công trình, đầy ắp những đường cong uốn lượn, những đồ trang hoàng được tiếp nhận lấy cảm hứng từ những hình dáng hữu cơ như cây cối, bông hoa và động vật, cả về mặt thiết kế lẫn sử dụng màu sắc. Công trình đầu tiên của phong cách này được thiết kế bởi kiến trúc sư người Bỉ Victor Horta, tuy nhiên, những hình mẫu tiêu biểu nhất được sáng tác bởi một người Pháp tên là Hector Guimard.

Art Deco xuất hiện ở Pháp ngay trước thế chiến thứ nhất và giống như Art Nouveau, nó đã ảnh hưởng đến một số lĩnh vực nghệ thuật và thiết kế. Pha trộn thiết kế hiện đại, các yếu tố thủ công và những vật liệu sang trọng, trào lưu này thể hiện một khoảnh khắc của niềm tin to lớn vào sự tiến bộ xã hội và công nghệ ở lục địa. Auguste Perret, một kiến trúc sư người Pháp và là người tiên phong trong việc sử dụng bê tông cốt thép, chịu trách thiết kế một trong những kết cấu Art Deco đầu tiên. Nhà hát Champs-Elysées của Perret (1913) đã kết hợp các đặc điểm của trào lưu và đánh dấu một sự khởi đầu từ ngôn ngữ được đề xuất trước đây của Art Nouveau.

Bauhaus được ra đời tại trường thiết kế đầu tiên trên thế giới vào đầu thế kỉ 20. Nó được lồng vào một bài diễn văn kéo dài từ thiết kế đồ nội thất đến nghệ thuật nhựa và cách tiếp cận tiên phong ở Đức. Mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp và thiết kế sản phẩm rất quan trọng với những đề nghị về kiến trúc của ngôi trường, áp dụng một quan điểm hợp lí hóa chặt chẽ trên quá trình thiết kế. Một trong số những người sáng lập, Walter Gropius, đã thực hiện phương pháp giảng dạy mang tính cách mạng và áp dụng những nguyên tắc này trong các công việc thực tiễn.

Chủ nghĩa hiện đại được ra đời ở nửa đầu thế kỉ XX. Có thể nói rằng nó bắt đầu ở Đức với Bauhaus, hay ở Pháp với Le Corbusier, hay Hoa Kỳ với Frank Lloyd Wright. Tuy nhiên, sư đóng góp của Le Corbusier vào sự hiểu biết về kiến trúc Hiện đại là đáng chú ý nhất, đặc biệt là khả năng của ông trong việc tổng hợp các luân lý mà ông áp dụng vào công việc, thiết kế và diễn ngôn. Một ví dụ là tuyên ngôn năm 1926 về “5 điểm trong kiến trúc mới”, còn gọi là 5 điểm của kiến trúc Hiện đại.

Từ năm 1929 trở đi, với sự khởi đầu của cuộc Đại suy thoái, một chuỗi các chỉ trích về kiến trúc Hiện đại bắt đầu và tiếp diễn cho đến cuối những năm 1970. Kiến trúc hậu hiện đại xem xét một số nguyên tắc trung tâm của chủ nghĩa Hiện đại, từ góc độ lịch sử và sáng tác mơi. Cả trong diễn ngôn lẫn trong công trình xây dựng. Đối với điều này, những chiến lược khác nhau để hỏi được đặt ra, đôi khi bằng cách sử dụng sự mỉa mai, số khác bởi một mối quan tâm sâu sắc đến văn hóa đại chúng. Quyển sách “Learning from Las Vegas” là một trong những tác phẩm tinh túy của tư tưởng Hậu hiện đại.

Chủ nghĩa giải kết cấu bắt nguồn vào những năm 1980 và đặt câu hỏi về những giới hạn và quy trình thiết kế và kết hợp những đường nét phi tuyến tính mạnh mẽ vào thiết kế. Chủ nghĩa giải kết cấu liên quan đến hai khái niệm chính: giải cấu trúc, một phân tích văn học và triết học mà đòi hỏi suy nghĩ lại và loại bỏ các phương thức tư duy truyền thống; và kiến tạo, các phong trào nghệ thuật và kiến trúc Nga từ đầu thế kỷ XX. Một sự kiện mang tính bước ngoặt cho chủ nghĩa giải kết cấu là triển lãm MoMA năm 1988 do Phillip Johnson quản lý. Nó tập hợp các tác phẩm của Peter Eisenman, Frank Gehry, Zaha Hadid, Rem Koolhaas, Daniel Libeskind, Bernard Tschumi và Wolf Prix.
]]>Bạn yêu thích vẻ đẹp của sự truyền thống và muốn tìm một phong cách thiết kế nội thất gần gũi mang đậm bản sắc của người Việt thì phong cách Đông Dương là một trong những lựa chọn hoàn hảo dành cho bạn. Phong cách Đông Dương sẽ mang đến cho bạn những nét hoài cổ trong từng chi tiết thiết kế nhưng cùng với đó còn xen lẫn sự lãng mạn, hiện đại của phong cách kiến trúc Pháp.

Phong cách Đông Dương (Indochine Style) là phong cách thiết kế hòa quyện giữa 2 nền văn hóa phương Đông – đậm chất bản sắc dân tộc Việt Nam và phương Tây – phong cách kiến trúc Tân cổ điển của Pháp. Phong cách là sự kế thừa vẻ đẹp truyền thống và hơn nữa còn đan xen với những nét đẹp đơn giản, thanh lịch của hiện đại tạo nên một phong cách mới với quan điểm mỹ thuật, thể hiện được tinh hoa, bản sắc và bề dày lịch sử.

Những năm đầu, khi các kiến trúc sư mang các thiết kế từ Pháp sang đã gặp nhiều bất cập như không phù hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều cũng như tập quán sinh hoạt ở Việt Nam. Một số kiến trúc sư Pháp đã “nhiệt đới hóa” các thiết kế để phù hợp đặc trưng khí hậu cũng như tập quán sinh hoạt của người dân Việt Nam.


Màu sắc trung tính được sử dụng phổ biến cho toàn bộ nội thất của phong cách thiết kế Đông Dương, bao gồm các màu: vàng nhạt, vàng kem, trắng,nâu, đen – dựa trên màu sắc của các kiến trúc cung đình, đền, chùa trước đây tạo nên cảm giác thoải mái, thân thuộc phù hợp với thẩm mĩ cũng như khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam.

Ngày nay, màu sắc được sử dụng cho những bức tường indochine được kết rất đa dạng. Vừa phảng phất nét hiện đại, tinh tế vừa giữ được những chi tiết thuần Đông Dương. Tuy nhiên, cần điều tiết tỷ lệ hợp lý tránh làm mất đi sự hài hòa của tổng thể.


Đặc biệt, những màu sắc mang hơi hướng thiên nhiên như xanh dương, xanh ngọc hay xanh lá cây cũng là điểm nhấn thú vị cho ngôi nhà.
Bên cạnh yếu tố màu sắc thì chất liệu sử dụng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tính hoàn mỹ của tổng thể. Không sử dụng các chất liệu hiện đại như nhôm, kim loại, kính,… phong cách Đông Dương lại đem đến một không gian gần gũi với những chất liệu đến từ thiên nhiên và thuần chất phương Đông.
Chất liệu gỗ

Là vật liệu quen thuộc trong thiết kế nhà ở, có tính mộc mạc, tự nhiên. Với vẻ đẹp đến từ những đường vân gỗ mềm mại cùng độ bền, tuổi thọ cao gỗ tự nhiên chính là lựa chọn hàng đầu cho những ngôi nhà thiết kế theo phong cách Indochine. Mỗi loại gỗ tự nhiên sẽ có màu sắc, đường vân, hương thơm, tuổi thọ, độ bóng khác nhau.

Tùy theo sở thích, gu thẩm mỹ cũng như tạo sự đồng nhất với tổng thể gia chủ có thể linh hoạt chọn lựa loại gỗ phù hợp. Một số loại gỗ thông dụng mà bạn có thể cân nhắc như gỗ hương, gỗ óc chó,…

Trong phong cách thiết kế Đông Dương, gỗ sẽ được sơn thêm một lớp sơn màu đen, nhằm tạo ra sức hút hoài cổ khi kết hợp với đồ vật trang trí như giỏ mây, ghế mây. Các chất liệu gỗ được tận dụng để ốp sàn nhà, trần nhà, hay trong các đồ dùng nội thất như bàn, ghế, giường, tủ, cửa,…

Chất liệu tre
Do có khả năng chống mối mọt tốt, hợp với khí hậu cùng với độ bền chắc cao nên tre được sử dụng nhiều trong phong cách thiết kế Đông Dương để làm đồ trang trí, trang thiết bị, những tấm vách ngăn,…nhằm tạo nên những hình ảnh đẹp mắt, mềm mại.

Chất liệu gạch
Chúng ta thường bắt gặp những viên gạch bông kích thước nhỏ với hoa văn đa dạng được dùng lát sàn nhà phong cách Đông Dương. Không phải ngẫu nhiên gạch bông được chọn lựa mà đây chính là nét đặc trưng riêng biệt của phong cách này. Khi sử dụng gạch bông lót sàn gia chủ có thể linh hoạt bố trí theo mảng khối nhằm tạo điểm nhấn cho từng khu vực.

Ngoài chất liệu gạch bông cũng có thể sử dụng gạch đất nung để không gian thêm phần hoài cổ.
Vẻ đẹp giao thoa của hai nền văn hoá phương Tây và phương Đông thông qua các hoa văn trang trí từ thời Đông Sơn trong phong cách kiến trúc này. Hoạ tiết tứ linh, hoạ tiết kỷ hà, hoạ tiết mắc lưới, hoa sen, hoa lá cây,… được ứng dụng rộng rãi và trở thành điểm đặc trưng không thể thiếu trong phong cách thiết kế nội thất Đông Dương.
Họa tiết hình chữ nhật

Phần lớn những hoa văn họa tiết phong cách Indochine đều bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa. Họa tiết hình chữ nhật đúc kết từ các Hán tự: chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Thọ, chữ Hỷ. Tất cả các chữ này đều ngụ ý mang đến điều may mắn, như ý đến người sở hữu. Các họa tiết được cách điệu đơn giản đan xen đường nét gọn gàng, tinh tế và liền nét.

Họa tiết kỷ hà
Họa tiết kỷ hà được chia ra thành ba nhóm: họa tiết mắc lưới, họa tiết vòng tròn và họa tiết hồi văn.


Họa tiết mắc lưới có mắc lưới lục giác gọi là kim quy, nó giống vảy của con rùa vàng, mắc lưới không đều tựa như các hình đào cách điệu và mắc lưới tam giác hao hao chữ nhân (tiếng hán: 人). Những họa tiết có khi đứng một mình có khi đan xen, xếp chồng thành hình thoi nhỏ, hình sao,… Họa tiết vòng tròn là họa tiết đồng tiền vàng (đồng xu). Họa tiết hoa thị cách điệu từ họa tiết hình tròn.
Một loại họa tiết kỷ hà quan trọng trong phong cách Indochine là họa tiết hồi văn. Họa tiết gợi dáng nét chữ á (亞), chữ thập (卐) , chữ vạn (萬), chữ công (工). Một loại hồi văn không có tên riêng nhưng được sử dựng nhiều để thiết kế nội thất ở góc, đầu hồi, sống mái nhà, quai bình, chân bàn,…

Kiểu họa tiết này thường được dùng làm vách ngăn trang trí vì tạo được độ thông thoáng và mang một vẻ đẹp hài hòa nhưng vô cùng thu hút.


Họa tiết tĩnh vật

Bao gồm trái châu và bát bửu. Trái châu sẽ gắn liền với hình ảnh hai con rồng cách điệu ở hai đầu góc mái chùa chiền hoặc đền thờ. Còn bộ bát bửu thường thấy gồm có quyển sách, đàn, quạt, cây thương, bầu rượu, bông sen, thanh gươm, giỏ hoa.


Họa tiết hình thú
Nhắc đến họa tiết hình thú thì không thể không nhắc đến “Tứ Linh” – Long Lân Quy Phụng trong văn hóa truyền thống của người Châu Á, đây là những thần thú biểu trưng đậm sắc tín ngưỡng về tôn giáo và văn hóa. Bên cạnh đó còn những loài vật khác cũng được tin tưởng mang ý nghĩa tốt lành khác như hổ, ngựa, cò, cá chép….

Họa tiết này sẽ dùng những con vật mang lại sự may mắn theo quan niệm của người Việt, thông thường những họa tiết này không đứng một mình mà kết hợp với các họa tiết kỷ hà, hình chữ, hồi văn.

Họa tiết hoa lá

Giới thực vật cách điệu hóa hay dùng như các họa tiết hoa lá, dây leo, quả đơn giản được sử dụng chạy viền khổ. Một số kiểu họa tiết phong cách Indochine quen thuộc như liên đằng (dàn dây lá hoa sen), lan đằng (dàn dây lá hoa lan). Ngoài ra, còn nhiều mẫu họa tiết hoa lá biểu tượng Tứ Qúy là cây tùng, hoa cúc, cây trúc, hoa sen, cây mai,……


Tín ngưỡng thờ cúng của người Việt Nam rất đa dạng và phong phú vậy nên việc trưng bày hoặc trang trí đồ vật trong nhà có đôi lúc cũng phải mang một ý nghĩa nhất định về mặt tinh thần hoặc tôn nghiêm.

Trong phong cách thiết kế Đông Dương, các bức phù điêu chạm nổi và tượng tròn thường được sử dụng tinh tế để làm vật trang trí. Các biểu tượng thường được sử dụng như:
Đồ nội thất trong phong cách Đông Dương đảm bảo tính mộc mạc tái hiện nét truyền thống do đó nội thất gỗ tự nhiên hay đan lát từ mây, tre, nứa luôn được ưu tiên sử dụng.

Các nội thất như sập gụ, phản, bình phong, quạt trần,… là vật tượng trưng cho sự tác động của sắc thái và văn hóa bản địa lên phong cách sống của người Pháp.



Nhà ở theo phong cách Indochine không còn xa lạ với thị hiếu người Việt. Tuy nhiên, phong cách Indochine không chỉ xuất hiện ở những kiến trúc xưa lộng lẫy hay công trình thương mại như nhà hàng, khách sạn. Ngày nay các nhà thiết kế tài hoa đã biến tấu để đưa phong cách này vào nhà ở, hay cả những căn hộ vốn có diện tích khiêm tốn.
Phòng khách




Phòng bếp





Phòng ăn






Phòng ngủ





TỔNG HỢP/KIM HUE/DESIGNS.VN
]]>Đà Lạt – thành phố du lịch nổi tiếng, quanh năm mát mẻ, con người hiền hòa, thanh lịch, mến khách. Đà Lạt đang lưu giữ hơn 2.000 biệt thự cổ, ẩn mình giữa đại ngàn thông xanh, luôn làm ngất ngây người dân và du khách thập phương. Bởi, kiến trúc Đà Lạt mang đậm phong cách châu Âu thế kỷ XIX, là sự hoài niệm của người Pháp ở Đông Dương.

Trường Cao đẳng Đà Lạt
.jpg)
Phố núi Đà Lạt
Dọc hai bên đường Nguyễn Du, Quang Trung, Phan Chu Trinh, Hùng Vương, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Lai… còn có hàng ngàn biệt thự cổ khác, tuyệt mỹ hơn nhiều. Ban đầu, tôi ngỡ rằng Đà Lạt được xây dựng từ một “Cuộc thi kiến trúc châu Âu”. Bởi, hơn 2.000 biệt thự cổ (không thấy hai biệt thự giống hệt nhau), như 2.000 bông hoa khác nhau nở giữa rừng thông Đà Lạt. Tìm hiểu kỹ hơn mới biết, khi người Pháp sang Việt Nam, họ mang theo “Bản vẽ nhà mình” xây trên đất Đà Lạt, để đỡ nhớ quê hương. Đây là sự hoài niệm thật đáng yêu.
Theo giới chuyên môn, kiến trúc Đà Lạt ảnh hưởng đậm nét kiến trúc châu Âu thế kỷ XIX. Hệ thống biệt thự Đà Lạt, được xem là linh hồn làm nên nhan sắc Đà Lạt.

Với khí hậu ôn đới, từng biệt thự thường cải tiến chút ít về diện tích, mái nhà, ống khói, ban công cho phù hợp với Đà Lạt sáu tháng mưa, sáu tháng nắng. Loạt biệt thự đầu tiên (đầu thế kỷ XX) chủ yếu là nhà gỗ lợp ngói hoặc tôn, thường giữ nguyên kiến trúc nơi cố quốc. Nếu có thay đổi, chỉ là số ít khung sườn bằng gỗ tốt xây chèn gạch, sàn và trần nhà bằng gỗ ghép rất khéo, đó là kiến trúc Bắc Pháp. Phổ biến là các biệt thự quanh đường Trần Hưng Đạo, Pasteur, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Lai… Thời gian đầu, xi măng chưa được mang lên Đà Lạt, nên việc xây nhà toàn bằng gạch với vôi tôi, trộn nhớt từ lá cây giã ra.

Tường gạch xây chèn khung gỗ vẫn tốt, không nứt nẻ, mặc dù đã gần 100 năm. Ở độ cao 1.500m Đà Lạt ít có mối mọt, nếu thanh gỗ nào mục thì thay thanh đó, mà tường không nứt đổ. Giai đoạn 1900 – 1954, ở Đà Lạt gỗ nhiều, thép ít (thép phải nhập từ Pháp sang và đưa từ Sài Gòn lên), nên ít dùng thép trong xây cất nhà cửa. Người Pháp quy hoạch Đà Lạt là Trung tâm Nghỉ dưỡng châu Á, nên cần xây dựng thật đẹp, thơ mộng, thân thiện với môi trường.

Do vậy, mật độ xây dựng các biệt thự phải xa nhau từ 50 đến 100m (thậm chí xa hơn), mỗi biệt thự đều có vườn hoa, tầm nhìn đẹp và thông thoáng. Hệ thống biệt thự Đà Lạt phân bố theo chuỗi hồ nước, suối lớn và rừng thông. Chỉ được xây biệt thự không quá ba tầng, phải có ít nhất hai mái (nhiều mái càng đẹp), rất hài hòa với dáng thông cao gầy. Không được làm nhà mái bằng (dạng nhà hộp), trừ khu trung tâm do hiếm đất. Vì làm nhà cao tầng, sẽ phá vỡ cảnh quan và che khuất tầm nhìn thắng cảnh. Riêng hướng bắc hồ Xuân Hương không được xây nhà, sẽ che khuất núi mẹ Lang Biang – ngọn núi cao nhất, đẹp nhất, là linh hồn của Đà Lạt. Việc xây cất mọi công trình kiến trúc, đều do Kiến trúc sư thiết kế và phê duyệt của Sở Công chánh. Người Pháp tha phương luôn nhớ về quê hương. Kiểu biệt thự hai mái, có mái nhô tròn (chặt góc) là của miền Trung và Bắc Pháp. Mái nhọn nhô cao, có cửa kính lớn, đích thị của miền Nam Paris. Loại mái dài, mái ngắn dốc nhiều là vùng núi Alpes. Mái dốc, xây đá chẻ là ở vùng biển Normandie. Loại mái lợp ardoise (đá mài miếng mỏng) của miền Trung Pháp. Lò sưởi và ống khói rất đa dạng. Mái ít dốc ống khói thấp, mái dốc nhiều ống khói cao. Lò sưởi miền Bắc Pháp có từ 1- 3 ống khói tròn, trên đầu có chóp che mưa. Ống khói miền Trung và Nam Pháp cho khói tỏa ra bốn phía, có tấm che mưa phía trên. Lò sưởi trong nhà, vừa để trang trí, vừa để sưởi ấm. Chỉ cần đếm số lượng lò sưởi, cầu thang nhiều hay ít, là biết biệt thự ấy sang trọng cỡ nào. Những người sống lâu năm ở Đà Lạt, đã quen với khí hậu lạnh. Những ai từ xứ nóng đến, thì cái lạnh vô cùng thấm thía. Phổ biến, phòng khách các biệt thự thường nối liền với phòng ăn. Nơi đây, thường có một lò sưởi, để vài khúc gỗ trang trí và đốt lửa khi trời quá lạnh. Phòng ngủ cũng có lò sưởi, không bị ngợp thở, nhờ ống khói hút khí cacbonic ra ngoài.

Dinh Bảo Đại Đà Lạt
Các biệt thự Đà Lạt, ở cửa lớn vào nhà thường có một khoảng lõm vào, hoặc nhô ra để treo áo mưa, dù, mũ. Vườn cảnh, cổng ra vào, tường rào cũng được thiết kế hợp lý, để tôn thêm vẻ đẹp ngôi nhà. Từ cổng vào nhà thường trồng hoa, nên phòng khách bố trí lùi về sau, để có tầm nhìn đẹp. Các biệt thự ít đất, thường có bồn hoa đúc trước các cửa sổ, quanh chân tường nhà, tạo sự lãng mạn, tươi mát. Biệt thự có vườn rộng, có xe ô tô thường làm cổng vào, cổng ra riêng biệt, không cần quay đầu xe. Đặc biệt, kiến trúc các dinh thự, khách sạn lớn, nhà thờ, chùa triền thường xây cất trên đỉnh đồi, ẩn mình giữa rừng thông, càng tăng thêm vẻ uy nghi, sang trọng. Theo Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính – cựu Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc Việt Nam, ở nước ta chỉ có Huế và Đà Lạt được gọi là đô thị di sản. Riêng ở Đà Lạt, bên cạnh các công trình kiến trúc Pháp, kiến trúc Đà Lạt còn trở nên đa dạng hơn nhờ những ngôi chùa, thiền viện, biệt thự đậm nét Á Đông do người Việt thiết kế. Dù chịu ảnh hưởng nhiều phong cách khác nhau, nhưng hầu hết các công trình nổi tiếng của Đà Lạt đều hòa hợp với thiên nhiên, tạo nét kiến trúc độc đáo và ấn tượng. Trải qua, 130 năm hình thành phát triển (kể từ ngày 21/6/1893 Yersin tìm ra Đà Lạt), thành phố này đang lưu giữ, bảo tồn và làm giầu thêm giá trị kiến trúc Đà Lạt. Từ nhiều năm nay, người Đà Lạt nhận thức rằng, nếu không còn biệt thự cổ, không còn rừng thông, sẽ không còn Đà Lạt. Đà Lạt sẽ biến mất trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới.

Cùng với con người, khí hậu, thắng cảnh và hoa, kiến trúc Đà Lạt đã làm nên giá trị và “Thương hiệu Đà Lạt”. Đà Lạt – Top 52 thành phố nổi tiếng thế giới, đang phấn đấu trở thành “Di sản Kiến trúc Quốc gia” và “Di sản Kiến trúc Thế giới”. Hãy chung tay, bảo vệ và tôn vinh kiến trúc Đà Lạt. Đà Lạt vì cả nước, là niềm tự hào của Việt Nam !
]]>Thời Trung cổ thường được coi là thời kỳ tăm tối trong lịch sử. Tuy nhiên, các lâu đài – những đại diện kiến trúc của thời kỳ đó – bên cạnh chức năng phòng thủ cũng có những vẻ đẹp riêng của nó.
Lâu đài thời Trung cổ là một trong những nét đặc trưng rõ rệt nhất của văn hóa dân gian châu Âu. Nhiều sách truyện hoặc bộ phim lấy bối cảnh từ những lâu đài, với các công chúa, hiệp sĩ, ngựa xe, hào nước và thậm chí là những con rồng. Vì thế một số người cảm thấy các lâu đài đẹp đẽ chủ yếu là sản phẩm của tiểu thuyết. Đúng là có một số tác phẩm đã tô vẽ thêm cho các lâu đài, nhưng không phải tất cả đều như vậy. Dưới đây là 15 trong số những lâu đài thời Trung cổ đẹp nhất trên thế giới, mà chắc chắn đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm văn hóa, nghệ thuật của con người hiện đại về thời Trung cổ.

Lâu đài Pierrefonds (ảnh: santelli / Pixabay).
Lâu đài Pierrefonds nằm ở Picardy – một khu vực ở miền bắc nước Pháp giữa Paris và Bỉ. Lâu đài này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12. Vào năm 1392, vua Charles VI đã thuê các kiến trúc sư sửa sang lại tòa lâu đài cho anh trai ông là Louis, Công tước xứ Orleans. Phần lớn lâu đài đã bị phá hủy vào đầu thế kỷ 17, nhưng Hoàng đế Napoleon trong triều đại của mình vào thế kỷ 19 đã hồi sinh cấu trúc kỳ diệu này thành một “di tích lãng mạn”.

Lâu đài này đã được đưa vào nhiều bộ phim và chương trình truyền hình, ví dụ: “The Messenger: The Story of Joan of Arc”, và gần đây nhất là “The Wizards of Waverly Place” trên kênh Disney Channel.

Thung lũng sông Loire Valley, Pháp (ảnh: travellight_Shutterstock).
Nằm ở thung lũng sông Loire, lâu đài Loches được xây dựng vào thế kỷ thứ 12. Lâu đài này nằm cách sông Indre 500 mét, với đặc điểm nổi bật nhất là tòa tháp hình vuông khổng lồ. Hiện nay lâu đài này đã trở thành một viện bảo tàng, lưu trữ một trong những bộ sưu tập áo giáp thời trung cổ tốt nhất ở Pháp.


Mont Saint Michel nằm trên một hòn đảo ở Normandy. Lâu đài này được xây dựng trên một hòn đảo để trở thành một khu vực chiến lược (vùng nước xung quanh khiến nó có khả năng cao hơn chống lại các cuộc tấn công) và địa điểm này đã được sử dụng cho các mục đích tương tự từ thời cổ đại. Để tăng cường phòng thủ cũng có những bức tường lớn bao quanh nội thất lâu đài. Vào thế kỷ thứ 9, lâu đài trở thành tu viện Saint Michel. Nó đã sống sót sau cuộc Chiến tranh 100 năm mà không bị phá hủy, và ngày nay nó là Di sản Thế giới UNESCO. Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của lâu đài này là ngọn tháp cao màu ngọc lam với một bức tượng Thánh Michel nhỏ bằng vàng ở trên đỉnh.


Lâu đài Windsor (ảnh: Diego Torres / Pixabay).
Chắc chắn đây là một trong những lâu đài nổi tiếng nhất thời Trung cổ, lâu đài Windsor được xây dựng vào thế kỷ 11 và giữ kỷ lục là lâu đài có người quản lý lâu nhất ở châu Âu. Nội thất hiện nay được thiết kế theo phong cách Georgia thế kỷ 19, và quần thể lâu đài được bảo tồn tốt là vô cùng đồ sộ.

Lâu đài Windsor (ảnh: Gate-Encircle Photos).
Hiện nay lâu đài là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất nước Anh. Mặc dù có vai trò trong du lịch, lâu đài Windsor vẫn hoạt động như một ngôi nhà cho Nữ hoàng Elizabeth II sử dụng những ngày nghỉ cuối tuần.



Được xây dựng từ thời Edo của thời phong kiến Nhật Bản, lâu đài Nagoya có nguồn gốc từ những năm 1520. Cấu trúc mà chúng ta thấy ngày nay đã được hoàn thành vào năm 1612. Ngay sau khi được xây dựng, một lãnh chúa đã chiếm quyền kiểm soát lâu đài ban đầu và đặt tên là Lâu đài Nagoya.

Lâu đài này được sử dụng cho các hoạt động quân sự của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, làm trụ sở chiến lược cũng như trại tù binh chiến tranh. Lâu đài Nagoya phải chịu thiệt hại đáng kể trong thời gian này, được cho là sự xuống cấp lớn nhất do chiến tranh trong lịch sử lâu đời của nó. Hiện nay, lâu đài màu trắng và xanh tuyệt đẹp này đã được khôi phục lại vẻ đẹp ban đầu.
9. Lâu đài Hirosaki

Lâu đài Hirosaki nằm ở phía bắc Nhật Bản, cũng được xây dựng trong thời kỳ Edo. Lâu đài Hirosaki có một số kiến trúc phòng thủ khác nhau, bao gồm hào nước, tháp pháo và cổng. Vào năm 1627, chỉ khoảng một thập kỷ rưỡi sau khi việc xây dựng lâu đài kết thúc, một tia sét đánh lớn vào cấu trúc 5 tầng này, khiến nó bị thiêu rụi. Lâu đài được xây dựng lại gần 200 năm sau, có hình thức như những gì chúng ta thấy ngày nay.

Lâu đài chỉ nằm trong số ít những lâu đài tương tự. Khu phức hợp của lâu đài nổi tiếng với 2.600 cây hoa anh đào nở rộ, thu hút du khách đến thăm mỗi mùa xuân.
10. Lâu đài Bojnice, Slovakia

Những gì bắt đầu chỉ từ một thành trì bằng gỗ đơn giản đã trở thành một trong những lâu đài tinh tế nhất ở Slovakia. Được xây dựng lần đầu vào thế kỷ 12, lâu đài Bojnice đã được thường xuyên nâng cấp để phù hợp với thị hiếu của những chủ nhân kế tiếp, đáng chú ý nhất là trong số đó là Bá tước János Ferenc Pálffy.

Vị Bá tước này đã lấy cảm hứng phần lớn từ các lâu đài của Pháp ở Thung lũng sông Loire. Ông ta đã lấp đầy nội thất với những bộ sưu tập nghệ thuật, đồ cổ và thảm trang trí khổng lồ. Giờ đây, lâu đài có cả nét đặc trưng của kiến trúc Gothic và Phục hưng, mang đến cho nó một diện mạo cổ tích. Ngày nay, lâu đài Bojnice là một bảo tàng và cũng là nơi diễn ra nhiều lễ hội văn hóa khác nhau.
11. Lâu đài Coca, Tây Ban nha

Lâu đài Coca nằm ở miền trung Tây Ban Nha, được xây dựng vào thế kỷ 15 dưới sự quản lý của nhà hoàng thân Castile, người có thiên hướng về sự sang trọng. Thật vậy, lâu đài được trang trí công phu này phục vụ chủ yếu như một nơi cư trú chứ không phải là một loại pháo đài quân sự. Bởi vì các khu vực xung quanh thiếu tài nguyên, lâu đài được xây dựng bằng gạch chứ không phải bằng đá. Phần lớn vì lí do này mà lâu đài xuất hiện màu đỏ. Bản thân cấu trúc lâu đài là đáng kinh ngạc về sự to lớn và tinh tế của nó. Điều lạ là, Castle of Coca hiện đang là trường lâm nghiệp, cho dù vẫn có du khách tới thăm.

12. Lâu đài Ksiaz, Ba Lan

Lâu đài Ksiaz là một trong những lâu đài lớn nhất ở Ba Lan. Hoàn thành vào năm 1292, cấu trúc hùng vĩ này được biết đến với tông màu hồng và xanh. Ngoài ra còn có một hệ thống đường hầm phức tạp trải dài bên dưới lâu đài. Nó phục vụ hoàng gia Bohemian trong vài trăm năm đầu tồn tại. Trong Thế chiến II, Đức quốc xã đã chiếm hữu lâu đài từ gia đình Hochberg, người đang sở hữu nó vào thời điểm đó. Sau chiến tranh, Hồng quân đã phá hủy tất cả các cổ vật bên trong lâu đài. Lâu đài tinh tế tuyệt đẹp này đã được khôi phục lại như thời kỳ huy hoàng trước đây để trở thành tổ hợp của 3 khách sạn, 2 nhà hàng và một phòng trưng bày nghệ thuật.

13. Lâu đài Bran, Rumani

Lâu đài Bran được xây dựng vào năm 1388. Nó nằm ở biên giới giữa Wallachia và Transylvania, thường có biệt danh là Lâu đài Dracula, do mối liên hệ với truyền thuyết Dracula. Ít nhất, chúng ta có thể nói một cách an toàn rằng tiểu thuyết Dracula của Bram Stoker đã lấy cảm hứng từ Lâu đài Bran vì ngôi nhà của Bá tước Dracula trong câu chuyện rất phù hợp với mô tả về lâu đài. Ngày nay, lâu đài là một bảo tàng chứa đầy tác phẩm nghệ thuật và đồ nội thất được thu thập bởi Nữ hoàng Marie của Romania, người trị vì trong những năm 1920 và 1930.
14. Lâu đài Eilean Donan, Scotland

Lâu đài Eilean Donan nằm trên một hòn đảo nhỏ ở Scotland, nơi có ba hồ nước chạm nhau. Nó được xây dựng vào thế kỷ 13 để bảo vệ khu vực này khỏi người Viking. Không giống như các lâu đài khác trong danh sách này, mà được thiết kế chủ yếu cho mục đích thẩm mỹ, di tích lâu đài Eilean Donan cho thấy nhiều thiết kế dành cho các trận chiến. Trên thực tế, nó đã thay đổi quy mô và các công trình phòng thủ nhiều lần trong suốt lịch sử tồn tại của nó, tương xứng với một cấu trúc quân sự quan trọng. Lâu đài được sử dụng tốt vào thế kỷ 18. Người Anh đã bắn phá lâu đài vào năm 1719, và trong gần 200 năm sau đó, nó vẫn nằm trong đống đổ nát. Một vị trung tá tên là John Macrae-Gilstrap đã mua lại toàn bộ hòn đảo nơi có lâu đài và dành 2 thập kỷ sau đó để phục hồi. Ngày nay, lâu đài đã mở cửa cho công chúng vào thăm quan.

15. Lâu đài Edinburgh, Scotland

Nằm cao trên thành phố Edinburgh, pháo đài đồ sộ này rất thu hút du khách. Castle Rock, nơi tọa lạc lâu đài Edinburgh, đã được con người sử dụng ít nhất từ thế kỷ thứ 2, và các nhà sử học tin rằng bản thân tòa lâu đài này đã đứng ở đó dưới một hình thức nào đấy kể từ thế kỷ thứ 12. Ngày nay, lâu đài này được cho là một trong những nơi bị ma ám nhiều nhất ở Scotland. Có chuyện rằng, từ xa xưa một người thổi sáo đã biến mất một cách bí ẩn trong các đường hầm, và hiện giờ linh hồn của anh ta được cho là vẫn còn ở đó. Cho dù có những hoạt động huyền bí của ma quỷ hay không, lâu đài này vẫn là điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất Scotland, phục vụ như một bảo tàng và trung tâm giáo dục.

Lâu đài Edinburgh tọa lạc trên núi đá Castle Rock (ảnh: Robert Harding).
Theo Lily Cichanowicz / theculturetrip
]]>
Trái đất là một nơi tuyệt đẹp và đó cũng là nhà của chúng ta. Chính vì vậy chúng ta cần phải đối đãi với thiên nhiên bằng tình yêu và sự tôn trọng. Mặc dù điều này rất khó thực hiện đối với nhiều người nhưng chúng ta có thể bắt đầu bằng những việc nhỏ, ví như trồng một cái cây hoặc ít nhất là không phá hủy những gì đã có sẵn trong tự nhiên.
Dưới đây là 14 bức ảnh thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, cho thấy lòng quý trọng và sự quan tâm của con người đối với thế giới tự nhiên, chúng ta có thể cải biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết cách sống hòa hợp với thiên nhiên.
1. Một ô cửa tròn trên tường rào trổ ra như thế này, vẫn vô cùng duyên dáng…

2. Cây xanh khiến hiên nhà mát rượi, tạo duyên dáng cho bậc tam cấp, là sự trang trí trung tâm nhất, đẹp mắt nhất… Vậy là chỉ cần có tâm, ý tưởng sẽ nảy ra…

3. Sẽ không ai phản đối những cái cây này trong kiến trúc cảnh quan tổng thể hay kiến trúc nội thất của ngôi nhà…

4. Cột trụ trang trí giữa ngôi nhà trông cũng vô cùng hài hòa và ấn tượng

5. Vừa là nội thất, vừa là cảnh quan, và giếng trời…

6. Đẹp như bảo vật trong bảo tàng trưng bày…








Vậy là, miễn là chúng ta có tâm, chúng ta sẽ được đền đáp xứng đáng bởi Bà Mẹ Thiên Nhiên.
Hoàng Lâm
Không chỉ là công trình giao thông mà những cây cầu này còn mang giá trị văn hóa, lịch sử và cũng là minh chứng cho sự sáng tạo không ngừng nghỉ của mỗi thời đại.

Cầu Langkawi Sky, Malaysia
Cầu Sky Langkawi được xây dựng trên đỉnh núi Mat Chincang, nằm về phía bắc của Telaga Harbour, Pantai Kok.
Cây cầu cao 660 m so với mực nước biển và rộng 1,8 m.
Nhìn từ trên cao, chiếc cầu như vắt ngang qua cả một bầu trời, thế nên cây cầu có tên tên gọi khác là Sky bridge.
Sky bridge là một cây cầu nhờ vào cột trụ bằng thép và 8 dây cáp kiên cố bắc qua đỉnh núi Mat Chincang dành cho người đi bộ.
Cầu Đông Hải, Trung Quốc

Cầu Đông Hải là một trong những cây cầu vượt biển dài nhất thế giới cho đến khi cầu vịnh Hàng Châu khánh thành vào tháng 5/2008.
Hình chữ S duyên dáng của cây cầu không những đạt được vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn vì mục đích an toàn.
Không giống như những cầy cầu thẳng khác, tài xế trên đường cao tốc cong buộc phải tỉnh táo để tập trung lái.
Cầu treo Capilano, Canada

Cầu treo Capilano bắc qua một con sông có cùng tên, được bắt nguồn từ tên của lãnh tụ bộ lạc Ấn Độ Squamish.
Hai bên bờ sông là những hàng cây tuyết tùng thẳng tắp lên trời xanh.
Bên dưới cầu treo là dòng sông Capilano trong veo chảy uốn khúc và róc rách len qua các viên đá như một con suối.
Cây cầu chủ yếu được kết bằng sợi dây cáp mang đến cảm giác mới lạ mà không phải du khách nào cũng có vượt qua.
Cầu Rakotzbrücke Devil’s, Đức

Cầu Rakotzbrücke Devil’s nổi tiếng với vòng cung phản chiếu trong nước và tạo ra một vòng tròn hoàn hảo dù ở bất kỳ góc độ nào.
Nơi đây được bao quanh bởi ánh hào quang thần bí và bạn chỉ có thể ngắm nhìn chúng từ xa.
Lối vào cây cầu được đóng kín vì lý do an toàn và công trình được xây dựng không phục vụ cho mục đích đi lại mà chỉ mang tính thẩm mỹ.
Cầu Benson, Mỹ

Cầu Benson nổi tiếng đẹp như tranh vẽ bắc qua thác Multnomah thuộc bang Oregon của Mỹ.
Theo truyền thuyết Ấn Độ cổ đại, thác Multnomah xuất hiện sau khi con gái của một tộc trưởng nhảy lên từ vách đá hy sinh bản thân mình cho các linh hồn để cứu bộ tộc của cô khỏi căn bệnh khủng khiếp.
Cây cầu Puente Nuevo, Tây Ban Nha

Puente Nuevo được dịch từ tiếng Tây Ban Nha là “Cầu mới” nhưng thực ra nó được xây dựng vào thế kỷ XVIII.
Cây cầu một vòm cũ này được xây dựng trong 6 năm và nhanh chóng sụp đổ.
Sau đó, người ta phải mất 34 năm để xây dựng lại một cây cầu kiên cố và đến nay, cây cầu vẫn luôn thu hút đông đảo khách du lịch.
Hoài Phương
]]>Có thể nói đó là những dấu ấn lịch sử đã đặt định nên chuẩn mực giá trị nghệ thuật và nhân sinh vô cùng quý báu cho toàn thể nhân loại.
Trong câu chuyện này chúng ta cùng tìm hiểu về Gustave Eiffel và câu chuyện ra đời của Tượng nữ thần Tự Do

Thi rớt: Trong “cái rủi có cái may” của chàng trai thông minh kiệt xuất và lãng mạn đa tài
Vốn là một cậu nhỏ đặc biệt thông minh và tò mò, Gustave Eiffel không chuyên cần lắm ở trường Lycée Royal (Trung Học Hoàng Gia), vì cậu thấy các môn học là “nhàm chán, buồn tẻ, không khí nhà trường tù hãm…“, Gustave Eiffel chỉ thấy hứng thú ở hai năm cuối phổ thông với lịch sử và văn chương, chứ không phải kỹ thuật hay công nghệ mà ông thành danh sau này.
Sau khi tốt nghiệp trung học Eiffel lên Paris, theo học tại Collège Sainte Barbé để luyện thi vào École Polytechnique – trường Đại Học Bách Khoa nổi tiếng thế giới, nơi ông định theo đuổi chuyên ngành hóa học.
Nhưng chàng sinh viên bản tính lãng mạn không thể kìm nén được tình yêu say đắm đối với Paris hoa lệ.
Anh dành hầu hết thì giờ rỗi để bơi lội trên Sông Seine, thăm Bảo Tàng Louvre, đi xem kịch tại Nhà Hát Opera.


Kết quả là anh rớt Đại Học Bách Khoa. Tuy rớt, nhưng không hề lãng phí thì giờ vào việc buồn nản, mà lại thi ngay vào École Centrale des Arts et Manufactures, trường Nghệ Thuật & Sản Xuất, được đánh giá là một trong những trường đào tạo nghệ thuật, kỹ thuật và công nghệ hàng đầu Châu Âu thời bấy giờ.
Từ đó mở ra con đường của Gustave Eiffel tới với những công trình có kết cấu vĩ đại.
Tượng nữ thần Tự Do: Biểu tượng của nước Mỹ hùng mạnh được tạo nên như thế nào?

Tượng Nữ Thần Tự Do với tên đầy đủ là Tự Do Soi Sáng Thế Giới (La liberté éclairant le monde/Liberty Enlightening the World), là một món quà đặc biệt của nước Pháp dành tặng nước Mỹ nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày nước Mỹ tuyên bố độc lập.
Édouard René Lefèvre de Laboulaye, một nhà chính trị kiêm nhà văn chuyên viết về lịch sử Mỹ đã đề xuất ý tưởng tặng nước Mỹ một món quà để ca ngợi nền tự do.
Ý tưởng của ông lập tức được chính phủ Pháp ủng hộ, và việc thiết kế mỹ thuật được giao cho nhà tạc tượng trứ danh Frédéric-Auguste Bartholdi.
Bartholdi đã thiết kế nên hình ảnh
“Nữ thần cao lớn có nét đẹp kinh điển như những bức tượng Hy Lạp cổ đại với kích thước khổng lồ ở tư thế đứng thẳng, đầu đội vương miện với 7 tia hào quang toả ra tượng trưng cho 7 biển và lục địa trên trái đất, tay trái mang một phiến đá ghi dòng chữ “JULY IV MDCCLXXVI”, tức là “Tháng Bẩy, Ngày 4 Năm 1776” (ngày độc lập của Mỹ), tay phải giương cao bó đuốc của tự do, thân mặc tấm áo choàng phủ kín tới chân.”
Nữ thần Tự Do chính là hình ảnh nữ thần Hy Lạp dũng mãnh đầu đội vương miện tỏa ra 7 ánh hào quang tượng trưng cho 7 lục địa và biển
Bài toán nan giải: người giải được chỉ có Gustave Eiffel!
Nhưng ngay lập tức Bartholdi phải đối mặt với 2 bài toán nan giải:
Người thích hợp nhất có thể giúp Bartholdi giải 2 bài toán hóc búa đó không thể là ai khác Gustave Eiffel!
Vào thời điểm này, tuy công trình tháp Eiffel nổi tiếng chưa ra đời, nhưng tên tuổi kiến trúc sư Gustave Eiffel lừng danh đã được rất nhiều người biết tới như một công trình sư tài ba xây dựng nên những công trình khổng lồ với kết cấu phức tạp và chắc chắn.
Vì thế ông đã được mời giúp Bartholdi xây dựng Tượng Nữ Thần Tự Do.
Ngay lập tức Eiffel hưởng ứng và bắt tay vào việc: Xây dựng tượng Nữ Thần Tự Do trên Đảo Tự Do, Cảng New York, sau này trở thành biểu tượng của nước Mỹ.
Trước hết, bài toán thứ nhất được giải bằng cách “cắt rời thân thể” Nữ Thần Tự Do ra làm 350 mảnh rồi chất lên chiếc thuyền buồm mang tên Isère để chở sang Mỹ.
Tới Mỹ, nó được đưa lên một hòn đảo có tên là Đảo Tự Do (Liberty Island) ở cửa sông Hudson nhìn ra cảng New York (New York Harbour).
Những con số ấn tượng
Để giải bài toán thứ hai, Eiffel xây dựng một hệ thống cốt sắt làm cốt lõi bên trong để lắp ghép 350 mảnh đồng, tạo nên một bức tượng cao 46m, nặng tổng cộng 204 tấn, đứng trên một bệ cao 45,7m (bệ do người Mỹ xây dựng).

“Riêng cánh tay giơ bó đuốc đã dài tới 12m, ngón trỏ dài 2,4m, cái đầu tính từ cằm tới vuơng miện cao 5m, riêng cái miệng rộng 1m.”
Ngày nay du khách tới thăm bức tượng sẽ phải leo 354 bậc thang để lên tới vương miện.
Bản thân vương miện là một “gian phòng” rộng với 25 cửa sổ, trông từ xa như 25 viên đá quý cài trên vương miện.
Tổng cộng bức tượng bao gồm 31 tấn đồng và 125 tấn thép.
Các tấm đồng làm bề mặt bức tượng có chiều dày 2,37 mm, được ghép với nhau sao cho cách ly với khung thép bằng những tấm cách điện để tránh hiệu ứng pin kim loại làm rỉ chỗ ghép do hơi nước biển gây nên.
Mặc dù được hai tài năng xuất chúng là Bartholdi và Eiffel phối hợp thực hiện, dự án này vẫn không thể nào hoàn thành kịp thời hạn kỷ niệm 100 năm nước Mỹ độc lập (1876), mà phải đợi tới mười năm sau, tức 1886, Tượng Nữ Thần Tự Do mới được tổng thống Mỹ Groover Cleveland chính thức cắt băng khánh thành.
Trong bài báo “Gustave Eiffel: The Man Behind The Masterpiece” (Gustave Eiffel: Người đứng sau các kiệt tác), ký giả Karen Plumley viết: “Eiffel dựng một khung thép để gắn các tấm kim loại vào đó, và đặt nhiều chùm thép thẳng đứng cắm sâu vào trong bệ đá granite của nền móng để giữ cho bức tượng khổng lồ đứng vững.

Kết quả là có một bức tượng nhẹ hơn (so với tượng đặc) nhưng vẫn đảm bảo chắc chắn, có khả năng chịu đựng được một tải trọng khổng lồ và hàng loạt tác động khắc nghiệt khác.

“Một lần nữa, Eiffel đã chứng minh khả năng của ông trong việc giải quyết những bài toán kỹ thuật phức tạp và khó khăn nhất, trong đó sử dụng những kỹ thuật mà trước đó không ai dám làm.”
Bách khoa toàn thư Wikipedia cho rằng thiết kế kết cấu của Eiffel là điều kiện không thể thiếu để biến dự án Tượng Nữ Thần Tự Do khổng lồ thành hiện thực.
Kể từ 1886, kiệt tác văn hóa này nhanh chóng trở thành biểu tượng quốc gia của nền tự do ở Mỹ, đem lại niềm kiêu hãnh cho người Mỹ, trở thành một tâm điểm thu hút khách du lịch và di dân từ khắp thế giới đến Mỹ, thúc đẩy nền kinh tế ở đây phát triển mạnh mẽ chưa từng có.”
Vốn ban đầu là một màu vàng đồng diễm lệ, tuy nhiên ngày nay tượng trở nên xanh do đồng đã bị o xy hóa, đây là điều ít người biết đến
Một số người Mỹ sống ở Pháp đã hài lòng với món quà mà người Pháp đã dành tặng cho đất nước họ, đến nỗi họ trả ơn người Pháp bằng cách xây dựng một phiên bản Tượng Nữ Thần Tự Do ở Pháp.
Phiên bản này cũng bằng đồng, cao 11m (khoảng ¼ bức tượng ở New York) đã được dựng lên tại hòn đảo Thiên Nga cách Tháp Eiffel khoảng 2km về phía bắc.
Họa vô đơn chí

Bước sang năm 1887, chưa kịp nghỉ ngơi sau vinh quang do Tượng Nữ Thần tự Do mang lại, Eiffel đã gặp cảnh “họa vô đơn chí”: Vợ ông mắc bệnh nặng và ra đi vĩnh viễn.
Nỗi đau chia tay người vợ yêu thương chưa kịp hồi phục thì một tai họa thứ hai giáng lên đầu ông, liên quan đến việc làm ăn với Công Ty Kênh Đào Panama của Pháp do Ferdinand de Lesseps lãnh đạo.
Theo hợp đồng ký kết với công ty Lesseps, Công ty Eiffel tiến hành thiết kế và xây dựng những chốt khóa đóng mở cho kênh đào này.
Nhưng không may, do quản lý kém, công ty Lesseps bị vỡ nợ, làm trắng tay hàng trăm ngàn nhà đầu tư Pháp.
Một cuộc điều tra được mở ra, trong đó tất cả những ai dính líu đến việc sử dụng nguồn vốn đầu tư đều bị luật pháp hỏi thăm, Eiffel không phải là ngoại lệ…
Nếu bị kết án, ông có thể sẽ phải đối mặt với một bản án tù ít nhất 2 năm.
Nhưng sau 5 năm điều tra, Eiffel được chứng minh là vô can.
Tuy vậy, cuộc điều tra đã làm ông mệt mỏi, dẫn tới quyết định về hưu vào năm 1893, khi ông đương chức chủ tịch hội đồng quản trị công ty.
Hà Phương Linh
]]>Di Hòa Viên hay cung điện mùa hè, nằm ở vùng ngoại ô phía Tây Bắc thành Bắc Kinh.
Đây là lâm viên hoàn chỉnh duy nhất còn tồn tại đến ngày nay trong “tam cung ngũ viên” của vương triều phong kiến Trung Quốc.
Là một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng tây bắc.

Di Hòa Viên có ý nghĩa là ‘‘nơi nuôi dưỡng sự ôn hòa” với những dụng ý phong thủy thâm sâu…

Kiến trúc của Di Hòa Viên có rất nhiều nét độc đáo và dụng ý thâm sâu.
Nó được đánh giá là một kỳ quan thế giới bởi tính cổ xưa và đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc và phong thủy.
Sơn thủy hữu tình và dụng ý lựa chọn nơi xây dựng Di Hòa Viên
Di Hòa Viên được xây dựng trên diện tích 2.940 nghìn m2, bên núi Vạn Thọ và hồ Côn Minh xanh biếc.
Theo quan điểm về phong thủy, thì một công trình phải vững chắc như núi, mạnh mẽ như nước.
Nếu nhìn từ trên cao xuống, chúng ta sẽ thấy Di Hòa Viên nổi lên như một hòn ngọc, bao quanh là núi Vạn Thọ, biểu tượng cho ý nghĩa trường tồn.

Hồ Côn Minh
Hồ Côn Minh là một hồ lớn nhất, nước xanh biếc, là một phong cảnh hoang dã, tự nhiên nhất ở Di Hòa Viên.
Hồ có 2 con đập, 6 đảo, 9 cầu, với cảnh trí non nước hệt như danh thắng Tây Hồ bát ngát.
Sở dĩ hồ Côn Minh được bài trí cảnh sắc tựa như Tây Hồ là có ý nghĩa sâu xa, như một lời ca ngợi rằng cả giang sơn cẩm tú đều thu gọn trong bàn tay hoàng tộc.

Dù bất cứ phương hướng nào hồ Côn Minh vẫn toát lên một vẻ đẹp kiêu sa. Thời gian nào trong năm nước cũng xanh, khói sóng mịt mờ ở phía Nam.
Phía Tây thì nước lặng.
Phía Bắc từng lớp lầu, gác soi bóng xuống mặt hồ. Dòng kênh dẫn nước ở phía Tây thông với hồ.
Hồ Côn Minh nhìn trên cao xuống có hình dáng tựa như là một quả đào lớn, mà cuống của nó là con sông dẫn nước vào hồ qua cửa Tây.
Con đê hẹp mà dài ở phía chếch mặt hồ tạo ra vết rãnh trên quả đào rất hoàn chỉnh. Dãy hành lang dùng làm đường đi lại men theo hồ Côn Minh ngay sát chân Vạn Thọ sơn thì giống như đôi xương cánh của một con dơi đang dang ra.
Đường hành lang ở bờ bắc hồ Côn Minh thì rõ ràng là hình một cánh cung mà phần thâm nhập vào lòng hồ hình thành phần đầu của con dơi, phần nhô ra một cách đơn độc được dùng làm bến thuyền cho khách du ngoạn hồ Côn Minh chính là mõm của con dơi đó.

Đường hành lang vươn dài sang hai phía tả hữu chính là đôi cánh dơi đang vươn ra. Đoạn hành lang ở phía đông và mái hiên nhà Ngư Tảo thâm nhập vào mặt nước và bởi đoạn hành lang ở phía tây tạo thành đôi móng chân trước của con dơi, còn núi Vạn Thọ sơn và cái hồ phía sau núi tạo thành thân của con dơi.
Thập Thất Khổng Kiều
Thập Thất Khổng kiều ở phía đối diện Vạn Thọ sơn thì đúng là chiếc cổ của một con rùa đang vươn dài, mà đầu của nó chính là hòn đảo nhỏ giữa hồ Côn Minh.
Theo thuật phong thủy truyền thống Trung Hoa thì quả đào tượng trưng cho Lộc, con dơi tượng trưng cho Phúc, còn rùa tượng trưng cho Thọ. Như vậy cấu trúc tổng thể của Di Hòa viên ẩn trong nó cả ba điều mà Từ Hy mong muốn là Phúc Lộc Thọ đã được thể hiện bằng những hình tượng tuyệt vời.
Phải chăng chính cấu trúc này là điểm khác biệt cực kỳ đặc sắc mà không có ở bất cứ một công viên nào khác tại Trung Quốc cũng như trên thế giới.

Như vậy Di Hòa Viên sở hữu một vị trí đắc địa, ngọn núi tốt ắt sinh ra tịnh thủy. Hồ Côn Minh chính là mạch tịnh thủy nâng đỡ cho khuôn viên của Di Hòa Viên.
Một cách hiểu khác được lý giải cho việc lựa chọn xây dựng cung này chính là biểu thị cho sự gắn kết sức mạnh của vua và dân.
Vua tượng trưng cho sự bền vững cho sơn, dân mạnh mẽ như thủy, sự kết hợp hài hòa giữa vua-tôi, quan-dân, làm lên một sức mạnh trường tồn.
Kiệt tác về kiến trúc vườn cảnh: nét độc đáo ẩn ý thâm sâu trong Di Hòa Viên
Nghệ thuật vườn cảnh là một mặt của di sản văn hóa truyền thống ở Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho những ai yêu thiên nhiên, yêu nghệ thuật.
Khác với nghệ thuật vườn cảnh các nước Âu Tây được diễn đạt trên những không gian rộng, nghệ thuật vườn cảnh Trung Quốc khéo léo tận dụng mọi không gian to nhỏ, bài trí tinh tế, thâu tóm những cảnh trí đặc sắc của tạo vật để dựng nên những cảnh quan vừa thiên nhiên vừa nhân tạo hết sức đặc sắc.
Khu phong cảnh là khu vực có nhiều công trình kiến trúc nhất ở Di Hòa viên, những công trình này mang mục đích chủ yếu là tô đẹp cho khối quần thể kiến trúc chính, đồng thời nó còn là nơi thể hiện tương đối rõ ràng quan niệm, tư duy của người Trung Quốc thông qua cách xây dựng.

Khu phong cảnh bao gồm rất nhiều công trình kiến trúc nguy nga tráng lệ, có một không hai như Trường lang, Bài Vân điện, cụm kiến trúc Phật Hương các – Trí Tuệ Hải – Chuyển Luân Tàng, Bảo Vân các, Thính Ly quán…
Ý nghĩa Thập Thất Khổng Kiều
Trước hết là công trình Thập Thất Khổng Kiều, chiếc cầu bằng đá có 77 nhịp, thông qua công trình này có thể thấy được tư duy của người Trung Quốc về mối quan hệ giữa vua – tôi, cũng như là cách suy nghĩ của họ về con số 9.

Trong nền văn hóa Trung Quốc, họ quan niệm rằng số 10 là con số cao nhất, tượng trưng cho Thiên – Trời, còn số 9 là con số gần với số 10 nhất nên tượng trưng cho vua, vì vua là Thiên tử tức con Trời.
Ngoài ra, số 9 trong tiếng Trung Quốc là “Cửu” lại đồng âm với từ “Cửu” trong “Trường cửu”, do vậy số 9 còn mang ý nghĩa là đem đến sự trường cửu, lâu dài, bền vững.
Số 9 được thể hiện trong Di Hòa viên thông qua công trình “Thập Thất Khổng kiều”, đây là cây cầu dài nhất trong toàn bộ khuôn viên của Di Hòa viên, cầu bao gồm 17 vòm cầu và vòm cầu thứ 9 là vòm cầu lớn nhất.
Tượng trâu đồng ở bờ Tây đê: thuật trị thủy
Công trình thứ hai phần nào cũng phản ánh được tư duy của người Trung Quốc về nông nghiệp chính là sự xuất hiện của tượng trâu đồng trên bờ Tây đê.

Trung Quốc là một quốc gia nông nghiệp, bao gồm cả nông nghiệp khô ở miền Bắc và nông nghiệp lúa nước ở miền Nam, do đó trải qua bao đời vua với các triều đại phong kiến khác nhau thì vấn đề trị thủy vẫn được đề cao và đưa lên hàng đầu.
Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Hạ vua Đại Vũ đã đi chống lũ ở Cửu Hà để cho dân chúng có cuộc sống ấm no, ông trị thủy bằng cách thả một con trâu sắt xuống lòng sông.
Càn Long là một vị vua anh minh, ông đã sử dụng cách trị thủy năm xưa của vua Đại Vũ mà làm.
Sau khi đúc xong trâu đồng, Càn Long đã cho khắc một bài thơ bằng chữ triện lên mình trâu mà đến giờ vẫn còn, bài thơ mang tên “Kim ngưuminh”:
“Hạ Vũ trị hà, thiếc ngưu truyền tụng.
Nghĩa trọng an lan, hậu nhân cảnh tùng.
Chế ngụ cương mậu, tượng thủ hậu khôn.
Giao long viễn tị, cự số đà ngoan.
Tần thử Côn Minh, trư lưu vạn khoảnh.
Kim tả thần ngưu, dụng trấn du vĩnh.
Ba Khưu Hoài Thủy, cộng quán đồng điều.
Nhân xưng Hán Vũ, ngã mộ Đường Nghiêu.
Thụy ứng chi phù, đãi vu tây hải.
Kính tư gián tường, Càn Long Ất Hợi.”

Người xưa chọn trâu làm vật trấn thủy vì trâu là loại động vật thông thuộc tính nước, ngoài ra ở các nước có nền nông nghiệp lúa nước như Trung Quốc, Việt Nam… thì chủ yếu sử dụng sức trâu để cày cấy, tăng gia sản xuất.
Do đó hình thành việc đúc tượng trâu bằng sắt hoặc đồng để trấn thủy, trị lũ.
Ngày xưa, trong dân gian thường đúc trâu bằng sắt và thả xuống lòng sông, nhưng trở về sau thì không thả xuống lòng sông nữa mà dựng bên cạnh bờ sông, vừa tô đẹp vừa trấn được nước, Càn Long đúc trâu đồng cũng vì ý đó.
Thanh Yến Phảng: Thuyền đá, tư tưởng trị quốc yên dân giúp giang sơn bền vững, không lo sóng to gió lớn
Một công trình kiến trúc rất độc đáo có mặt trong Di Hòa viên mà bất cứ một ai khi đến đây đều phải đến chiêm ngưỡng chính là Thanh Yến Phảng – Thuyền đá.

Chiếc thuyền đá này được làm vào năm thứ 20 đời vua Càn Long (1755) được chế tác từ hán bạch ngọc thạch, tạo hình theo mô hình thuyền truyền thống của Trung Quốc với chiều dài 36 m, toàn thân thuyền được điêu khắc tinh xảo với những hoa văn hình rồng.
Vì sao vua Càn Long cho chế tạo một chiếc thuyền đá trong khuôn viên khu nghỉ dưỡng của mình?
Ngoài ý nghĩa dùng để du ngoạn cảnh đẹp trên hồ Côn Minh ra thì nó còn mang một ý nghĩ nhắc nhở nhà vua.
Tương truyền rằng, quan Tả Quang Lộc Đại phu Ngụy Chinh đời Đường đã từng khuyên vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân rằng: “Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền”.

Càn Long đã lấy ý nghĩa của lời khuyên bảo trên để hình tượng hóa vào chiếc thuyền đá, nhằm nhắc nhở bản thân phải tích cực lo trị nước yên dân, mong giang sơn Đại Thanh vững bền như thuyền đá, không sợ sóng to gió lớn, mãi mãi không lo bị thuyền lật, đề cao tư tưởng trị quốc trong Nho giáo.
Cung điện mùa hè Di Hoà Viên tại Bắc Kinh không ấn tượng không chỉ về kiến trúc cảnh quan tuyệt đẹp mà còn mạng nội hàm văn hóa sâu sắc, xứng đáng một trong những biểu tượng của 5000 năm văn hóa Trung Hoa huy hoàng.
Tịnh Tâm – Hà Phương
]]>Ông xã vừa tiếp bạn bè hết một chai rượu xịn, còn lại cái vỏ chai tuyệt đẹp, là một người phụ nữ tinh tế, rất có gu thẩm mỹ, bạn thích giữ lại vỏ chai làm kỷ niệm, quyết tâm tạo cho nó một dáng vẻ mới để cắm hoa, cắm nến, hay chỉ đơn giản là làm ống bút đặt trong phòng đọc sách…
Hãy thử cách mà một người đàn ông tên Roman UrsHack hướng dẫn trong video dưới đây, xem cắt thủy tinh có thực sự khó như chúng ta nghĩ không nhé!

Cách 1:
Bạn cần chuẩn bị dầu hỏa và nước, thật quá đơn giản và dễ thực hiện nếu bạn làm theo các bước sau:

Nguyên tắc thật hết sức đơn giản – Nhiệt được chuyền dẫn rất nhanh từ mảnh dao đã bị đốt nóng tiếp xúc với dầu, làm nóng toàn bộ mặt nước.
Khi dầu nóng tiếp xúc với nước lạnh, thủy tinh sẽ nở ra ở mặt trên và co lại ở mặt duới, và hai phần đó sẽ tự tách nhau ra một cách hết sức tự nhiên.
Sử dụng cách này, mặt cắt thủy tinh trông rất mịn và tự nhiên đúng không?
Hãy thử ngay nhé.
Cách 2:
Chuẩn bị:
– Chai thủy tinh, dây dù, bật lửa.
– Cồn 90 độ hoặc acetone (acetone hay dùng để tẩy sơn móng tay).
– Chậu nước đá.
Các bước thực hiện:

Đầu tiên, bạn dùng buộc dây dù quanh thân chai, tại vị trí bạn muốn cắt, nên buộc ít nhất 3 vòng. Sau đó thút nút chặt lại.

Tiếp theo, bạn lấy dây ra, theo chiều từ trên xuống hoặc từ dưới lên đều được, sao cho 3 vòng dây vừa buộc không bị tuột.

Dùng cồn hoặc aceton tẩm đoạn dây dù vừa bộc vào ngâm cho ướt đoạn dây.

Bạn lấy dây ra và lại lồng vào thân chai, tại để vị trí mà bạn muốn cắt ban nãy.

Tiếp theo, bạn dùng bật lửa châm đốt dây, vừa đốt vừa xoay chai để hơi nóng được toả đều.

Bạn sẽ đốt cho tới khi lửa tắt thì những ngay chai vào chậu nước đá lạnh.
Khi gặp lạnh đột ngột lập tức chai bị tách ra thành 2 phần như mong muốn.
Sau đó bạn dùng miếng nhám để mài ở vị trí chai mới được cắt.
Cách 3:
Chuẩn bị:
– Dụng cụ đánh dấu
– Nến
– Đá lạnh
– Chai thủy tinh
– Miếng nhám

Bạn có thể tự làm một bàn tựa bằng gỗ hoặc kim loại có ba chân xoay và một chân gắn chiếc đinh hoặc một vật bằng kim loại nhọn để đánh dấu xung quanh phần chai mà bạn định cắt (như hình trên).
Sau đó chọn vị trí bạn muốn cắt trên chai, vừa xoay vừa tì sao cho trên thân chai tạo thành một đường cắt mờ.

Tiếp theo, bạn hơ lửa vòng theo đường vừa đánh dấu. Vừa hơ vừa xoay liên tục sao cho lượng nhiệt toả đều quanh vết cắt.

Khi vết cắt đủ nóng bạn dùng 1 viên đá lạnh rồi bôi lên xung quanh phần vết cắt vừa hơ.

Sau khi làm lạnh xong bạn thử bẻ nhẹ hai phần vỏ chai là đã có thể tách chúng ra một cách đơn giản. Nhưng nếu như vỏ chai vẫn chưa thể tách ra thì có thể do quá trình hơ trên lửa của bạn chưa đủ nóng, bạn hãy kiên nhẫn làm lại các bước trên một lần nữa nhé.

Cuối cùng, bạn hãy dùng miếng giấy nhám chà vết cắt của chai sao cho thẳng đều và không bị sắc là hoàn thành rồi.
Qua 3 cách vừa giới thiệu ở trên, việc cắt một cái chai cũng không còn quá khó nữa phải không các bạn?
Hãy thử làm ngay nhé!
An Nhiên tổng hợp
]]>