![]()
Đặng Thùy Trâm (26 tháng 11 năm 1942 – 22 tháng 6 năm 1970) là một bác sĩ, liệt sĩ cho Việt Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Nhật ký thời chiến của bà, kể lại hai năm cuối đời, đã thu hút sự chú ý của quốc tế sau khi được xuất bản vào năm 2005.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh tại Huế[1] nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình giàu tri thức. Bố chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội.[1] Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn ba em gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người thân đều gọi Thùy Trâm là “Thùy” để phân biệt.
Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội. Bằng các ca khúc Bài ca hy vọng (của Văn Ký), Cây thùy dương (ca khúc Nga), Sullico…, chị đã đoạt hàng chục huy chương trong các cuộc đua tài văn nghệ quần chúng thủ đô. Bên cạnh việc say mê học tập, luôn giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn, Thùy Trâm còn tích cực tham gia câu lạc bộ thơ văn cùng khóa của trường Chu Văn An, gồm có các thành viên sau này trở thành các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhàn… Chị và các anh bạn cùng lớp Lê Văn Kiếm, Hoàng Ngọc Kim, Dương Đức Niệm kết thành nhóm phấn đấu vào Đảng. Nối nghiệp gia đình, Thùy Trâm thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội chuyên khoa Mắt và được nhà trường cho tốt nghiệp sớm một năm để đi chiến trường.
Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ưu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể, hoặc nhận lời ở lại trường làm cán bộ giảng dạy hoặc nhận công tác tại một bệnh viện hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín, có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhưng vì có người yêu vào chiến trường trước mấy năm nên sau khi tốt nghiệp chị xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.[2]
Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai táng tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn (NTLS TP. Hà Nội), Từ Liêm, Hà Nội [3](nay là phường Tây Tựu, Hà Nội)
Chị đồng thời là tác giả hai tập nhật ký được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, 2 ngày trước khi hy sinh. Hai tập nhật ký này được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ suốt 35 năm cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4 năm 2005. Nhật ký của cô sau đó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập thành quyển sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm và trở thành một hiện tượng văn học với hơn 400.000 bản được bán. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được báo chí nước ngoài bình luận như một “Nhật ký Anne Frank của Việt Nam”.[4]
Trong loạt bài phóng sự “Huyền thoại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển“, Nhà báo Nguyễn Thành Luân (Báo Đại Đoàn Kết) thuật lại cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử, trong đó có Thuyền phó con tàu đầu tiên ra miền Bắc – Nguyễn Văn Đức, kể lại về cuộc gặp của các thủy thủ trên con tàu “Không số” vận chuyển vũ khí đầu tiên ra Bắc với liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trên tuyến đường mòn nổi tiếng này vào năm 1968 mà đến nay ông vẫn còn nhiều ấn tượng tốt đối với Đặng Thùy Trâm.[5]
Trong nhật ký, Đặng Thùy Trâm viết về người mình yêu bằng chữ viết tắt “M” (Mộc). Tên thật của người chiến sĩ này là Khương Thế Hưng. Anh sinh ngày 18 tháng 9 năm 1934 tại thị xã Hội An, Quảng Nam, là con thứ ba của Nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng, sau Khương Thế Xương và Khương Băng Tâm. M. là chữ đầu của chữ Mộc. Nguyên Mộc tức Đỗ Mộc, là bút danh của Khương Thế Hưng ở chiến trường.
Năm 1966, Đặng Thùy Trâm vào chiến trường. Khương Thế Hưng gặp chị khi trong mình đã có hàng chục vết thương. Trong một lá thư, viết ngày 15 tháng 2 năm 1968, gửi cho bạn là Dương Đức Niệm, Thùy viết về M: “Anh bây giờ sống thật đơn giản, anh không mơ gì hơn là diệt được thật nhiều giặc Mỹ, anh không cần gì cho bản thân, kể cả tình yêu và sự nghiệp. Đối với Thùy, anh thương với tình thương rất đỗi chân thành, anh tôn trọng và cảm phục trước tình yêu thủy chung của Thùy, nhưng chỉ có thế thôi. Con tim anh không còn những rung cảm sâu xa, những vần thơ thắm đượm tình yêu, những lời ca bay bổng ước mơ nữa rồi”.
Anh rất cảm phục trước tình yêu chung thủy của Thùy nhưng trái tim anh đau đớn khi thấy miền Nam đau thương, khi đồng đội của anh từng ngày, từng giờ đã và đang ngã xuống để giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong một lá thư gửi cho em gái, anh Hưng viết:
Năm 1970, khi Thùy Trâm hi sinh, anh Hưng cũng bị thương nặng phải chuyển ra Bắc. Dòng nhật ký được viết sau ngày anh Hưng biết tin Đặng Thùy Trâm hi sinh:[6]
Ông Khương Thế Hưng mất ngày 13 tháng 11 năm 1999, sau nhiều năm dài vật lộn với thương tật và bệnh tật do di chứng chiến tranh, thọ 65 tuổi.[7]
Em gái ông là bà Khương Băng Kính đã giữ lại bức thư viết ngày 17–3–1969 của chị Thùy Trâm gửi anh Hưng, được anh kẹp trong cuốn nhật ký. Bức thư được gia đình tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cuối năm 2009 và đang được trưng bày trong triển lãm Những kỷ vật kháng chiến tại Bảo tàng Quân khu 4 (Nghệ An).

theo BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ.
……
![]()
“Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí.” Dòng chữ ấy không phải là lời thêu dệt từ một huyền thoại hư cấu, mà là tâm nguyện gan ruột của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, được viết bằng trái tim đầy nhiệt huyết và tinh thần dấn thân vào giữa khói bom ác liệt ở Đức Phổ, Quảng Ngãi năm 1968. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ngọn lửa ấy vẫn không tắt. Không phải vì bi kịch hay sự tận hiến của cái chết, mà bởi cuộc đời vỏn vẹn 27 năm của chị là câu chuyện về trách nhiệm sống, về văn hóa của dấn thân, về phẩm chất không thể phai mờ.
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, tại Huế, lớn lên giữa những năm khó khăn ở Hà Nội, nơi gian khổ giữa chiến tranh và đói rét trở thành nền tảng rèn giũa sức sống và lòng nhân hậu. Con gái của bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và giảng viên Dược khoa Doãn Ngọc Trâm, từ nhỏ chị đã chứng kiến cận cảnh khổ đau của đồng bào vùng sơ tán. Mười tuổi, chị đã thay người lớn cấy lúa, bắt ốc để cải thiện bữa ăn gia đình; đêm về, dưới ánh đèn dầu, đọc Balzac, Nam Cao như mở rộng tâm hồn, kết hợp giữa nghị lực và cảm thông. Bi kịch sống không khiến chị uất ức, mà giúp chị tỉnh táo nhận ra rằng: “Sự sống không chỉ đếm bằng từng ngày, mà bằng những gì mình cho đi và giữ lại cho người khác.”
Năm 1958, đỗ vào Trường Chu Văn An, Hà Nội, ngôi trường danh tiếng và nền tảng của nhiều tri thức Việt, chị vừa say mê văn chương, vừa nổi bật trong hoạt động văn nghệ với giọng hát Alto truyền cảm. Tuy nhiên, chị quyết định theo học Y, một lựa chọn rất dũng cảm với lý tưởng: “Phục vụ Tổ quốc bằng y đức hơn là dùng ngòi bút để tô đẹp đời.”
Khi đất nước bước vào giai đoạn khó khăn nhất, năm 1967, tốt nghiệp sớm, chị tình nguyện tham gia miền Nam, địa bàn ác liệt nhất và nhận nhiệm vụ tại Bệnh xá huyện Đức Phổ (T18). Ở đó, những điều kiện y tế thiếu thốn đến mức sơ khởi: phòng mổ là hầm chữ A, bàn mổ là tấm ván gỗ, dao mổ phải mài từ bu-ri xe, thuốc khan hiếm đến mức chị dùng lá kia lim thay thế. Song Đặng Thùy Trâm không than trách: nhật ký chị vẫn đầy ắp tình thương, niềm tin và lời hứa với chính mình: “Mình không được bỏ sót một bệnh nhân nào, dù là chiến sĩ hay người dân.”
Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, bệnh xá trở thành nơi cứu sinh cho hàng chục thương binh mỗi ngày. Khi máy bay B‑52 ném bom dày đặc, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội dời viện qua 15 điểm bằng cách đào hầm, xây dựng lán dã chiến; họ thức trắng đêm để tiếp tục cứu người, không một lần nghĩ đến bản thân mệt mỏi. Nổi bật nhất là câu chuyện 14 thủy thủ tàu không số 643: bị thương nặng, phải nhập viện, họ được chị nhường phần cơm gạo trắng, món ăn hiếm hoi giữa chiến dịch dài ngày; họ gọi chị là: “Thiên thần áo trắng.” Điều này nói lên một tinh thần sống không chỉ bằng cống hiến, mà bằng cả lòng trắc ẩn và sự chia sẻ từ trái tim trong túi thuốc.
Ảnh: Tư liệu về Bác sĩ Đặng Thùy Trâm
Ngày 22/7/1970, khi đang trên đường tới lán thăm dân, Đặng Thùy Trâm và y tá Kim Liên bất ngờ bị phục kích. Trong giây phút sinh tử, chị không chút do dự dùng thân mình che cho đồng đội, chịu đạn thay. Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị đã thể hiện khí chất của một người chiến sĩ mẫu mực, chiến đấu và hy sinh vì người khác. Chị ngã xuống lặng lẽ, nhưng đã cứu sống người còn lại. Hai cuốn nhật ký mà chị để lại tưởng chừng đã bị đốt khi rơi vào tay lính Mỹ. Thế nhưng, trung úy Frederic Whitehurst, xúc động trước dòng chữ đỏ trên bìa “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa,” đã giữ lại suốt hơn 35 năm, trước khi trao lại cho gia đình chị năm 2005. Ngay sau khi được công bố, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã tạo nên hiện tượng xuất bản với hơn 400.000 bản in, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ. Báo chí quốc tế gọi chị là “Anne Frank của Việt Nam,” như một cách thừa nhận sức lan tỏa từ trái tim quả cảm của chị. Ngọn lửa ấy, từ hầm chữ A Đức Phổ năm xưa, vẫn cháy trong trái tim nhiều thế hệ hôm nay.
Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ chạm tới hàng triệu trái tim trên khắp thế giới, mà còn trở thành biểu tượng sống động của khát vọng cống hiến, tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm. Đối với cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, câu chuyện ấy không dừng lại ở giá trị lịch sử, mà là lời mời gọi hành động; đó là: hành động bằng bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tác phong sư phạm và tinh thần cống hiến.
Trước hết, sống và học theo tấm gương Đặng Thùy Trâm là giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng. Nếu như Đặng Thùy Trâm đã kiên trung với lý tưởng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thì hôm nay, trong môi trường Quân Đội, cán bộ, giảng viên phải luôn vững vàng trước những thách thức tư tưởng, kiên định lập trường, sẵn sàng đấu tranh với cái sai, định hướng giá trị đúng đắn cho thế hệ học viên. Đó là cách thể hiện lòng trung thành với Đảng, với Quân đội và với sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới.
Tiếp đó, không ngừng tự học, đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới. Nếu ngày xưa, Đặng Thùy Trâm mài dao từ bu-ri, truyền dịch bằng ống tre, thì hôm nay, cán bộ, giảng viên phải chủ động tiếp cận công nghệ, phát triển bài giảng ứng dụng thực tế, xây dựng học liệu số, tổ chức mô phỏng, tọa đàm, chuyên đề… để nâng cao chất lượng giảng dạy. Đó là cách nối dài tinh thần vượt khó và sáng tạo mà Đặng Thùy Trâm từng thể hiện trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Quan trọng hơn, cần giữ gìn phẩm chất mẫu mực, nhân văn trong tác phong sư phạm. Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ giàu lòng nhân ái, là người chị, người đồng chí trầm tĩnh mà quyết đoán. Trong môi trường quân đội, người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là tấm gương về nhân cách: trung thực, khiêm nhường, tận tâm, truyền cảm hứng và trách nhiệm lâu dài với sự trưởng thành của học viên.
Hơn nữa, tinh thần cống hiến không vụ lợi, bền bỉ và âm thầm vì sự nghiệp lâu dài. Đặng Thùy Trâm không mang quân hàm lớn, không có chức vụ cao, nhưng lại để lại một di sản lớn bằng chính cuộc đời giản dị, đầy tận hiến. Cán bộ, giảng viên hôm nay có thể không đứng nơi trận tuyến, nhưng vẫn đang lặng thầm chiến đấu mỗi ngày: biên soạn tài liệu, đổi mới phương pháp, sát cánh cùng học viên trong học tập và rèn luyện.
Hơn 50 năm kể từ ngày Đặng Thùy Trâm ra đi, không chỉ trong mỗi dòng nhật ký, ngọn lửa từ Đức Phổ vẫn được thắp lên bằng những hành động hàng ngày, bằng từng người thầy, người chiến sĩ, người cán bộ đã và đang tiếp bước. Và chúng ta, với vai trò cán bộ, giảng viên Khoa Tin học – Ngoại ngữ, cũng là người giữ gìn và phát huy ngọn lửa ấy: ngọn lửa từng bùng lên trong hầm chữ A Đức Phổ không chỉ kể một câu chuyện đã qua; đó là, ngọn đèn thắp sáng từng giờ giảng, từng trang giáo án của chúng ta hôm nay. Giữ vững lý tưởng, làm giỏi chuyên môn, nuôi dưỡng tâm hồn và tận tụy với thế hệ học viên, chính là cách cán bộ, giảng viên Khoa Tin học - Ngoại ngữ tiếp mạch lửa ấy, viết tiếp: “Nhật ký thế kỷ XXI” bằng trí tuệ, trách nhiệm và nhân cách.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Thùy Trâm. (2005). Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Đặng Vương Hưng, biên soạn). Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
2. Đặng Vương Hưng. (2020). Ngọn lửa không bao giờ tắt – 50 năm nhìn lại Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Hà Nội: NXB Văn học.
3. Trần Đình Bá. (2010). Đặng Thùy Trâm – từ hiện tượng xuất bản đến giá trị văn hóa nhân văn Việt Nam. Tạp chí Văn hóa Quân sự, số 3.
4. Nguyễn Thị Thanh Thủy. (2015). Bản lĩnh người thầy trong thời đại mới nhìn từ tấm gương Đặng Thùy Trâm. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 215.

Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Ngã ba Đồng Lộc có tổng diện tích 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lǎn xuống đường làm cản trở giao thông.
Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc được coi như cổ họng, vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào nam. Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược nên trong chiến tranh phá hoại kẻ địch âm mưu ném bom huỷ diệt nhằm chặn đứt sự chi viện sức người, sức của, vũ khí, súng đạn, lương thực… của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968 không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại.
10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc là 10 nữ thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 Hà Tĩnh. Các chị đã anh dũng hy sinh vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 1968 trong một trận bom ác liệt khi đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom, mở đường chiến lược Bắc – Nam. Sự hy sinh của 10 cô gái ở độ tuổi mười tám, đôi mươi đã trở thành một biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của phụ nữ Việt Nam.
st
]]>
Jessica Hagy – một họa sĩ tranh minh họa đã mang lại tri thức uyên thâm cổ đại cho thế hệ mới qua cuốn sách của cô: “Hiện thực hóa binh pháp Tôn Tử”.
Chúng ta hãy cùng xem những bài học rút ra được cho các vấn đề hiện đại từ binh pháp trong bộ tranh minh họa dưới đây.

Chiến tranh là cách gọi ẩn dụ của sự mâu thuẫn – mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn trong tư tưởng của ta hay mâu thuẫn với người khác. Và chúng ta đều có thể nhận được lời khuyên từ Binh pháp Tôn Tử.
——————————————————————————–

Bất kỳ một nhóm làm việc chuyên nghiệp nào đều cần được hình thành và lãnh đạo bởi một thủ lĩnh. Những nhóm hình thành dựa vào biến cố nào đó chỉ tồn tại trong phim siêu anh hùng mà thôi.
——————————————————————————–

Tôn Tử có lẽ là người đầu tiên sử dụng mô hình phân tích SWOT gồm Strengths (điểm mạnh) – Weaknesses (điểm yếu) – Opportunities (cơ hội) – Threats (thách thức) trước khi hành động. Ngôn từ có thể khác, nhưng ý tưởng là tương đồng.
——————————————————————————–

Bất kể nhận thức khác nhau về văn hóa, môi trường, thời cơ – những điều trên không chỉ ảnh hưởng tới vị trí hiện tại của ta trong chiến tranh, mà còn quyết định tình thế hiện tại của ta trong công việc. Vì vậy hãy chú ý.
——————————————————————————–

Lời khuyên cần phải “tính toán kỹ lưỡng, quyết định dứt khoát và phải bắt kịp xu hướng mới nhất” trở thành “tiên đề” trong suốt 2.500 năm.
——————————————————————————–


Tất cả những câu hỏi liên quan đều là câu hỏi hay. Hãy đi tìm lời giải cho mọi ẩn số X mà bạn tìm được. Việc này sẽ giúp tìm ra những cơ hội mới và lấp đầy điểm yếu trong công việc.
——————————————————————————–
Câu nói này của Tôn Tử là một cách để nói rằng “Nếu anh không chú ý, anh sẽ không thể làm việc được. Nếu vậy anh đừng tiếp tục công việc này nữa mà hãy rời đi ngay lập tức.
——————————————————————————–

Kẻ tồn tại là kẻ thích nghi được với môi trường xung quanh. Tôn Tử dường như đã biết trước quy luật chọn lọc tự nhiên của Darwin.
——————————————————————————–

“Dối trá” là một từ đen tối và đầy ý đe dọa, nhưng nó cũng có nghĩa là tạo ra sự bất ngờ. Quá minh bạch và thành thật sẽ dễ gặp phải nguy hiểm, đặc biệt là khi ở nơi có sự cạnh tranh và kém thân thiện.
——————————————————————————–

Luôn luôn biết mình đang đối đầu với điều gì, “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”. Mọi điểm yếu của ta đều có thể bị khai thác, vì vậy hãy cẩn thận.
——————————————————————————–

Nếu như bạn tính toán giống đối thủ của mình, cả hai sẽ có những chiến lược y hệt nhau. Vì thế hãy chuẩn bị trước công việc thật kỹ càng và tự mình nghiên cứu nó thật sâu theo một cách riêng, tạo ra điểm khác biệt trong chiến lược so với đối thủ.
st
]]>Chiến tranh (Tiếng Anh: war) là một mức độ xung đột vũ trang giữa các quốc gia, chính phủ, xã hội hoặc các nhóm bán quân sự như lính đánh thuê, quân nổi dậy và dân quân do sự mâu thuẫn về ý thức hệ, sắc tộc và tôn giáo nhằm tranh giành lợi ích về kinh tế và chính trị. Nó thường được đặc trưng bởi bạo lực cực đoan, xâm lược, phá hủy, bao gồm cả hành vi giết người Hàng loạt có tổ chức và tử vong, sử dụng lực lượng quân sự thường xuyên hoặc không thường xuyên. Chiến tranh đề cập đến các hoạt động và đặc điểm chung của các loại chiến tranh, hoặc của các cuộc chiến nói chung.[1] Chiến tranh toàn diện là chiến tranh không bị giới hạn trong các mục tiêu quân sự hợp pháp, và có thể dẫn đến những đau khổ và thương vong dân sự không chiến đấu khác.
Các nghiên cứu học thuật về chiến tranh đôi khi được gọi polemology trong tiếng Anh (/ˌpɒləˈmɒlədʒi/ POL-ə-MOL-ə-jee), từ tiếng Hy Lạp polemos, có nghĩa là “chiến tranh”, và -logy, ý nghĩa “việc nghiên cứu”.
Trong khi một số học giả coi chiến tranh là một khía cạnh phổ quát và tổ tiên của bản chất con người,[2] những người khác cho rằng đó là kết quả của hoàn cảnh văn hóa xã hội, kinh tế hoặc sinh thái cụ thể.[3]
Nguyên nhân của chiến tranh thường do mâu thuẫn giữa các giai cấp, dân tộc, tôn giáo phát triển đến mức gay gắt nhất hoặc do mâu thuẫn trong nội bộ một dân tộc, tôn giáo.
Nói tóm lại, chiến tranh là sự xung đột do từ mâu thuẫn ý thức giữa các tư tưởng khác nhau. Nguyên nhân của những mâu thuẫn này xuất phát từ tham vọng riêng của từng thực thể con người. Khi những tham vọng này đối chọi nhau đến mức độ căng thẳng cao độ thì chiến tranh xảy ra. Chỉ khi nào tồn tại 2 bên đối nghịch nhau thì chiến tranh mới bùng nổ. Những hình thức chiến tranh đi từ hình thức thô thiển như chiến tranh vũ trang đến thể loại chiến tranh vi tế như sử dụng văn hóa để công kích.
Tính chất đặc trưng của các ý thức hệ là tìm cách đồng hóa các ý thức hệ còn lại để còn lại một thể duy nhất. Chiến tranh có thể xem như quá trình đồng hóa các hệ ý tưởng của các bên đối lập nhau. Chiến tranh leo thang là do sự đồng hóa này chưa dừng lại.
Hậu quả của chiến tranh không chỉ có sự hoang tàn mà còn có cả sự tiến bộ. Chiến tranh là thành phần không thể thiếu trong quá trình tiến hóa của tất cả các sinh vật, đoàn thể, tổ chức hầu đạt được mục tiêu sống còn và phát triển.
Những người theo thuyết lịch sử chú ý đến khía cạnh bất khả kháng của chiến tranh, họ cho rằng nó ngẫu nhiên như là một tai nạn giao thông. Có thể có các điều kiện, tình huống giống như là sắp xảy ra chiến tranh nhưng người ta không thể tiên đoán được thời gian và địa điểm xảy ra chiến tranh. Các nhà xã hội học phê phán cách tiếp cận này, họ cho rằng sự bắt đầu của các cuộc chiến tranh là do một số nhà lãnh đạo đưa ra, đó không phải là tai nạn thuần túy. Vẫn còn có những bất đồng nhưng thực sự rất khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống tiên đoán về chiến tranh.
Theo thuyết này, chiến tranh xuất phát từ tâm lý của con người, cho rằng đó là “bản năng xâm lược” của con người, là “hành vi” của con người. Các đại diện của thuyết này như E.F.M. Durban và John Bowlby cho rằng loài người đặc biệt là đàn ông sinh ra đã có thói quen xung đột. Thông thường những loại xung đột này bị kìm nén bởi xã hội, nó cần một cơ hội để giải thoát các xung đột bằng chiến tranh.
Học thuyết nhân khẩu có 2 nhóm: những người theo thuyết Malthus và những người theo thuyết bùng nổ dân số trẻ.
Học giả người Anh Thomas Robert Malthus (1766–1834) cho rằng dân số luôn tăng dù chúng bị hạn chế bởi chiến tranh, bệnh tật và đói kém. Đây là lý thuyết được tính toán với xã hội trước đây khi mà nền sản xuất chưa phát triển và tỷ lệ tăng dân số không điều khiển được. Theo thuyết Malthus thì sự mất cân bằng giữa việc tăng dân số và tăng thức ăn là nguồn gốc của xung đột. Nghĩa là trong khi dân số tăng theo cấp số nhân thì nguồn tài nguyên, của cải lại tăng theo cấp số cộng tạo ra sự mất cân đối dẫn đến chiến tranh. Lý thuyết bùng nổ dân số trẻ lại quan niệm do sự mất cân đối giữa những lực lượng trẻ được đào tạo, đến tuổi trưởng thành, cần có việc làm và số lượng những vị trí có thể cho họ trong xã hội là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự nổi loạn trong xã hội (bao gồm cả chiến tranh). Theo các học thuyết này “con người cần thức ăn, cần vị trí nên họ bắn nhau”.
Chiến tranh là hiện tượng chính trị – xã hội mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh giữa các giai cấp, các nhà nước, các lực lượng chính trị có địa vị, lợi ích đối lập nhau trong một nước hoặc giữa các nước nhằm đạt được mục đích chính trị nhất định.
Chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp không thể điều hòa. Trong đó, chế độ chiếm hữu tư nhân là nguồn gốc kinh tế – nguồn gốc sâu xa; đối kháng giai cấp là nguồn gốc xã hội – nguồn gốc trực tiếp của chiến tranh.
Trong các nguyên nhân trên, nguyên nhân chung là cơ bản, xuyên suốt của mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử loài người.
Bản chất của chiến tranh thể hiện trên hai mặt cơ bản luôn có sự thống nhất với nhau: Mặt chính trị và mặt bạo lực vũ trang. Chính trị là mục đích, bạo lực vũ trang là phương thức, biện pháp để thực hiện mục đích chính trị. Mặt chính trị và mặt phương thức bạo lực vũ trang không tách rời nhau.
Giữa chiến tranh và chính trị có mối quan hệ khắng khít, biện chứng với nhau. Trong đó, chính trị quyết định chiến tranh và chiến tranh tác động to lớn trở lại đối với chính trị. Thực chất, đây là mối quan hệ giữa hai hiện tượng xã hội, mỗi hiện tượng bao gồm lực lượng vật chất và tinh thần, giữa tư tưởng và tổ chức. Đây là mối quan hệ đa chiều.
Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau:
+ Chính trị chỉ đạo, chi phối, quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, quy định mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang; sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra những nhiệm vụ,mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở những thắng lợi hay thất bại của chiến tranh.
+ Ngược lại chiến tranh là một bộ phận, một phương tiện của chính trị, là kết quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị.
Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương thức tác chiến, vũ khí, trang bị, song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay đổi, chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của nhà nước và giai cấp nhất định.
Đường lối chính trị của đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa đựng nguy cơ chiến tranh.
Chiến cuộc là hình thức tác chiến chiến lược bao gồm một số chiến dịch, chiến dịch chiến lược và các hình thức tác chiến khác diễn ra trong không gian rộng (một hoặc một số chiến trường trên bộ và có thể cả trên biển), trong một thời gian tương đối dài (mấy tháng, mấy mùa) nhằm đạt những mục đích quân sự – chính trị của chiến tranh. Chiến cuộc thường được gọi tên theo chiến trường (VD: Chiến cuộc Bắc Phi), theo thời gian – năm hay mùa diễn ra chiến cuộc (chẳng hạn Chiến cuộc Đông Xuân 1953–1954). Chiến cuộc là đối tượng nghiên cứu của chiến lược quân sự.
Chiến dịch là toàn bộ nói chung các trận chiến đấu diễn ra trên một chiến trường và trong một thời gian, tiến hành theo kế hoạch và ý định thống nhất, nhằm thực hiện mục đích chiến lược nhất định. Ví dụ: Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến dịch cũng là toàn bộ nói chung những việc làm tập trung và khẩn trương, tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Ví dụ:
Trận đánh là một cuộc đánh của cả hai phe địch và phe ta trong những khoảng thời gian lâu dài, nhiều người chết chóc.
Các vũ khí sử dụng trong chiến tranh thời xưa có:
Vũ khí là những phương tiện được con người sử dụng phục vụ cho chiến tranh, dùng để gây sát thương hay để tự vệ. Vũ khí cá nhân thường được binh sĩ mang bên người, thay đổi và cải tiến qua các thời kỳ. Từ thời tiền sử đến nay, vũ khí chiến tranh cá nhân đã được thay đổi và cải tiến rất nhiều. Đến nay, vũ khí cá nhân đã đạt đến tiến bộ và có hiệu quả cao và đang được cải tiến hiện đại hơn trong tương lai
Các loại phương tiện như xe thiết giáp, xe tăng,…
Xưa khinh khí cầu được dùng để do thám trận địa. Nay máy bay đã thay thế khí cầu, dùng để oanh tạc, do thám và là phương tiện quan trọng trong mỗi cuộc chiến tranh hiện đại.
Các loại phương tiện trên biển như thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm và đặc biệt là tàu ngầm. Việc sử dụng các phương tiện trên biển đã có từ rất lâu trong lịch sử chiến tranh.
Phương tiện vũ trụ
Các loại phương tiện hoạt động trong không gian vũ trụ như: vệ tinh do thám, vệ tinh mang vũ khí, trạm không gian, tàu chiến không gian, hành tinh hạm, việc sử dụng các phương tiện trong vũ trụ vẫn còn ở giai đoan sơ khai.
Đỉnh cao là Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô và Mỹ ở cuối thế kỷ XX.
Chiến tranh có thể gây nên sự thù địch hoặc hòa giải giữa các nước.
Nhiều cường quốc như Mỹ, Nga,…. dựa vào chiến tranh để làm giàu bằng việc buôn vũ khí. Nhưng hầu hết các cuộc chiến tranh đều gây tổn thất nặng nề về nền kinh tế các nước tham chiến.
Chiến tranh là niềm cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, thi ca và tiểu thuyết nổi tiếng trên thế giới như: Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, sử thi Iliad và Odyssey, Tam quốc diễn nghĩa,…Chiến tranh cũng đi vào nhiều truyền thuyết dân gian không kém phần vĩ đại và thu hút.
Chiến tranh tôn giáo là một phần của lịch sử loài người. Thời điểm từ thế kỷ X–XV xảy ra rất nhiều các cuộc chiến tranh tôn giáo. Nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến tranh này là sự xung khắc, mâu thuẫn giữa các phe phái tôn giáo khác nhau.
Chiến tranh xuất hiện trong nhiều video tuyên truyền cũng như các bộ phim, game hành động về đề tài này trên các mạng xã hội hiện nay.
Trích Wikipedia-Bách khoa toàn thư mở.
Do tư duy trên chiến trường cũng có nhiều điểm tương đồng với tư duy trên thị trường nên giới kinh tế có thể nghiên cứu vận dụng mưu lược trong Binh pháp Tôn Tử vào hoạt động quản trị kinh doanh.
Với lối tư duy tổng hợp biện chứng, Binh pháp Tôn Tử (BPTT) đáp ứng nhu cầu tự thân của quá tŕnh phát triển kinh tế và của phương pháp quản lí kinh tế thời hiện đại. BPTT dài khoảng 8.000 chữ, gồm 13 thiên bàn về chiến lược, mưu lược chỉ huy tác chiến, hình thức tấn công và phòng thủ; về địa lí quân sự, trinh sát, giám điệp, cách dụ địch, hậu cần quân sự… Xét dưới góc độ vận dụng BPTT vào kinh doanh, xin nêu lên một số vấn đề sau:
Cũng như trên chiến trường, quyết sách là nhân tố quan trọng hàng đầu trên thị trường. Để có một quyết sách trong kinh doanh, nhà doanh nghiệp phải có sự phân tích chiến lược chuẩn xác, thấy rơ chỗ mạnh, chỗ yếu của mình, tính toán cái lợi, cái hại khi tiến hành hoạt động kinh doanh, nắm vững lực lượng giữa mình với các đối thủ cạnh tranh. BPTT đề ra Ngũ sự và Thất kế là những nhân tố cần phân tích trước khi đi tới một quyết sách trên thị trường mà giới kinh tế có thể tham khảo vận dụng.
Sự tương đồng giữa Quyết sách trên chiến trường và trên thị trường
Bao gồm:
Là 7 tiêu chuẩn mà BPTT cho rằng căn cứ vào đó có thể dự đoán sự thắng lợi trong chiến tranh.
Đây cũng là những căn cứ để có thể dự đoán tiền đồ của một sự nghiệp kinh doanh. Điều quan trọng trong khi hạ quyết tâm một trận đánh, một cuộc chiến, theo BPTT phải “biết mình, biết người”; tức là căn cứ vào so sánh lực lượng trên chiến trường để có cách đánh phù hợp. Trong kinh doanh cũng vậy, có chấp nhận một cuộc hợp tác, cạnh tranh hay không? Hợp tác cạnh tranh theo phương thức nào đều phải tính đến so sánh lực lượng giữa doanh nghiệp mình với đối tác.
Trong chiến tranh, không những phải tạo lực mà còn phải tạo thế chủ động ứng biến mau lẹ theo diễn biến của chiến trường, vừa phải thận trọng, vừa phải táo bạo mới tránh được nguy cơ, tạo được thời cơ, giành được chiến thắng. BPTT đă từng viết rằng người chỉ huy tác chiến giỏi là người điều động được địch mà không để địch điều động ḿnh, làm cho địch không thể tấn công đúng chỗ mình mà mình có thể tấn công đúng chỗ địch, luôn luôn giành quyền chủ động trên chiến trường.
Trong quản trị kinh doanh hiện đại, vấn đề cốt lõi là nắm được quyền chủ động cạnh tranh trên thị trường. Trên cơ sở đó luôn tạo ra sản phẩm mới, thị trường mới, luôn trong tư thế tìm tòi phát hiện những kẽ hở trên thị trường đã bảo hòa để sản xuất mà đưa sản phẩm vào đó.
Theo BPTT, để giành lợi thế trên chiến trường, cần có 5 điều phải tránh:
Năm điều này có thể vận dụng trong kinh doanh:
BPTT chủ trương dùng binh phải thần tốc mới thắng được địch. “Thần tốc” được biểu hiện qua 5 mặt chủ yếu sau:
1) Tạo thế
2) Đánh vào chỗ yếu của đối phương
3) Thúc quân sĩ tiến nhanh
4) Gặp nguy cơ phải tìm ra lối thoát
5) Ra tay phải nhanh chóng

Binh pháp được coi là sách gối đầu giường, bí kíp quân sự không thể thiếu của rất nhiều vị vua chúa, các chuyên gia trong các lĩnh vực ứng dụng để nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Theo như từ điển Tiếng Việt định nghĩa của từ Binh pháp chính là hệ thống kiến thức về vấn đề lí luận quân sự nói chung và phương pháp tác chiến nói riêng.
Binh pháp là nguồn tri thức dồi dào mà những nhà lãnh đạo xa xưa đã để lại với mong muốn giúp cho những thế sau đọc được và từ đó có được tri thức áp dụng vào thực tế, bớt được phần nào sai phạm mà họ đã từng gặp phải.

Nhắc đến binh pháp chắc hẳn ai cũng nghĩ ngay đến binh pháp Tôn Tử.
Tôn Tử có tên gọi là Tôn Vũ ở cuối thời xuân thu, nhờ cuốn binh thư của mình là được tôn làm “Tử” (Thầy).
Cuốn “Binh pháp Tôn Tử” như một lời giải thích và phân tích chi tiết về quân đội Trung Quốc, từ vũ khí và chiến lược. Tôn Tử cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhà hoạt động tình báo và gián điệp đối với nỗ lực chiến tranh.
Bởi vì Tôn Tử từ lâu đã được coi là một trong những nhà chiến thuật và phân tích quân sự giỏi nhất trong lịch sử, những lời dạy và chiến lược của ông đã hình thành nên nền tảng của huấn luyện quân sự tiên tiến trong nhiều thế kỷ. Chiến lược của ông được ví như cái nôi, nền tảng cho rất nhiều những trận chiến nổi danh sau này.
Bộ “Thập nhị binh thư” gồm 9 bộ binh pháp của Trung Hoa và 3 bộ binh pháp của Việt Nam bao gồm Lục thao, Tam lược của Thái Công Khương Tử Nha, binh pháp Tư Mã của Tư Mã Điền Nhương Tư, binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ Tử, binh pháp Ngô Tử của Ngô Khởi, Uất Liễu tử của Uất Liễu, Tố thư của Hoàng Thạch Công, Binh pháp Khổng Minh của Vũ Hầu Gia Cát Lượng, Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối của Vệ Công Lý Tĩnh, Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Binh thư yếu lược (tu chỉnh) và Hổ trướng khu cơ của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ.
“Thập nhị binh thư” chính là cuốn sách tổng hợp các loại binh pháp để mọi người cùng nghiên cứu và so sánh, từ đó, chiêm nghiệm được những bài học đáng giá.
Cuốn Hàn Phi Tử được xem là “cuốn sách giáo khoa dạy làm vua” độc đáo, mang đậm dấu ấn của chế độ phong kiến Phương Đông. Qua tác phẩm, tác giả đã chính thức khai sinh học thuyết Pháp trị, đề cao pháp luật với tư cách là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội.
Trong quyển Tôn Tử Binh Pháp ông Dương Hồ có nói: “Đời Hoàng Đế thì có Lý – Pháp, đời nhà Châu thì có Tư mã Pháp, có ông Khương Thái Công làm ra Lục Thao. Trong Bắc Đường Thư Sao cũng chỉ dẫn về Tôn Tử Binh Pháp có luận rằng: Không có văn hóa thì không thể bình được Thiên-hạ, người dùng binh giỏi phải xem Tam Lược.”
Thượng Lược thì lấy Trí mà chinh phạt
Trung lược thì lấy Nghĩa mà chinh phạt
Hạ lược thì lấy Thế mà chinh phạt.
“Tam lược” là những ghi chép ngắn gọn về thuật làm chiến tướng.

Sau một loạt các binh pháp cổ Trung hóa thì một trong số binh thư nổi danh của Việt Nam phải kể đến “Binh thư yếu lược”.
“Ngô Tiên Chúa cả phá quân Lưu Hoằng Tháo, Trần Hưng Đạo bắt sống Ô-mã-nhi, đều là ở sông Bạch Đằng và đều là những chiến công lừng lẫy nhất của nước ta. Danh tiếng các vị hào kiệt ấy đời đời còn mãi với ngàn thu sông núi.” Binh Thư Yếu Lược là một tác phẩm của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn về nghệ thuật quân sự.
Và cùng rất nhiều các cuốn binh pháp và ứng dụng của binh pháp hay đang chờ bạn.
Binh pháp được coi là cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều thành phần trong xã hội, từ chính trị gia tới, tới chuyên gia trong các lĩnh vực thậm chí cả với những người làm công ăn lương bình thường. Một kho tàng kiến thức về dụng người, dụng hoàn cảnh để giúp cuộc sống suôn sẻ và thành công hơn.
Trong binh pháp của mình, Tôn Tử cho rằng chúng ta chỉ chắc chắn giành phần thắng trên chiến trường nếu chỉ cho binh lính tấn công vào những vị trí không được phòng thủ.
Trong cuộc sống cũng vậy, chúng ta chỉ có thể hình thành những thói quen tốt nếu đó là những thói quen bạn có thể duy trì. Việc tập trung hình thành thói quen khó duy trì sẽ khiến chúng ta khó có thể thay đổi để đáp ứng được, mang đến nhiều ảnh hưởng cho bản thân và thường không đạt được mục đích đề ra khiến bản thân nhụt chí.
Khi gặp khó khăn thì “chuồn” là thượng sách.
Theo quan điểm của Tôn Tử, một vị tướng tài giỏi là người biết tránh khi quân địch đang mạnh cả về lực lượng cũng như nhuệ khí nhưng sẽ tấn công tức thì khi quân địch rệu rã.
Trong cuộc sống cũng vậy, một người thông minh thì cần tránh những nơi có thể khuếch đại thói quen xấu. Thay vào đó, cần loại bỏ những thói quen này ngay khi có cơ hội.
Binh pháp còn được coi như giáo trình giải dạy kinh doanh tại nhiều quốc gia, học binh pháp là học mưu lược chiến đấu không chỉ trong kháng chiến mà còn môi trường cạnh tranh khốc liệt trong kinh doanh. Một nhà lãnh đạo giỏi cũng chính là một vị tướng tài, để xây dựng cho mình 1 đế chế kinh doanh thì cũng như 1 vị tướng lãnh binh đẩy lùi kẻ địch, tấn công chiếm đóng.
Binh pháp là bài học đắt giá, được đúc kết từ những vị cổ nhân tài ba, kiến thức uyên bác.
Binh pháp không chỉ dùng cho chiến đấu mà từ kiến thức nó đem lại, còn cho ra đời rất nhiều tựa sách nói đến ứng dụng của binh pháp trong rất nhiều các linh vực.
]]>Người ta nói “Binh pháp Tôn Tử” là cuốn sách ai đọc vào cũng có được thu hoạch. Người làm quan đọc vào thì biết được thuật chính trị, tiến thoái chốn quan trường, kẻ làm giàu đọc vào thì biết quy luật thị trường, kinh doanh.
Người trí thức đọc để thấy cái hay trong câu chữ, văn phong, đến ngay người ít học đọc cuốn sách ấy cũng hiểu được thế nào là mưu lược, là nghệ thuật chiến tranh, binh chinh thiên hạ.

“Binh pháp Tôn Tử” còn là một tác phẩm văn học ưu tú với nhiều câu nói nổi tiếng, được hậu thế nghìn năm nằm lòng.
Không chỉ bó hẹp trong phạm vi là một cuốn binh thư phục vụ chiến tranh, “Binh pháp Tôn Tử” khiến người ta say mê hàng nghìn năm qua bởi những giá trị tiềm ẩn, khai phá mãi không hết. Dưới đây là 8 câu trích dẫn kinh điển nhất, cũng là 8 chiến thuật lợi hại nhất trong tác phẩm, có thể làm cẩm nang ứng xử tuyệt vời cho con người thời hiện đại.
Nguyên văn: Binh vô thường thế, thủy vô thường hình, năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi thần (Tôn Tử binh pháp – Hư thực thiên).
Tôn Tử cho rằng, tình thế trên chiến trường thay đổi khôn lường, không nên câu nệ vào bất kỳ một hình thức tác chiến nào, cũng giống như nước vốn không có hình thái cố định, rót vào bình tròn thì nước hình tròn, vào bình vuông thì nước hình vuông.
Có thể căn cứ vào quân số định nhiều hay ít, trang bị tốt hay kém, sỹ khí cao hay thấp, tố chất của viên chỉ huy như thế nào, cung ứng quân nhu ra sao mà lựa chọn đối sách cơ động, linh hoạt, vậy mới có thể giành thắng lợi.
Mấy câu này, hẹp có thể dụng binh tất thắng, rộng có thể dùng để xét đoán sự việc, cân nhắc thời thế, tìm ra sách lược chu toàn nhất. Trong cuộc sống, kỳ thực nhiều khi tình thế còn nguy hiểm, gian nan hơn cả trên chiến địa. Người cơ trí, linh hoạt, chủ động ứng phó, không máy móc giáo điều, rập khuôn cách cũ mới có thể thành công.
Nguyên văn: Tri khả dĩ chiến dữ bất khả dĩ chiến giả, thắng (Tôn tử binh pháp – Mưu công thiên)
Tướng lĩnh có thể xem xét thời, cân nhắc thế, biết địch biết ta, trong chiến tranh giỏi áp dụng các chiến thuật cơ động, linh hoạt, có thể đánh thắng được thì mới đánh, không thể đánh thắng được thì không đánh, không bị tình cảm chi phối, không hành động mù quáng, như vậy sẽ tự khắc sẽ đánh thắng.
Trong cuộc sống, người biết tiến biết lùi, biết nhanh biết chậm, hiểu rõ thực hư, xét việc rõ ràng, tỉnh táo minh bạch, không cố chấp bảo thủ, mới đương đầu được với những tình thế hiểm hóc; nguy khốn nhất, mới có thể định tâm vững vàng trước thử thách, phong ba.
Nguyên văn: Thiện dụng binh giả, tị kỳ nhuệ khí, kích kỳ đọa quy (Tôn tử binh pháp – Quân tranh thiên)
Tướng lĩnh giỏi chỉ huy tác chiến, phải biết tránh nhuệ khí của địch, đợi đến khi kẻ địch sa sút, mệt mỏi thì mới tấn công. Về nguyên tắc, điều đó giống với sách lược “Tị thực tựu hư” (Tránh chỗ địch mạnh, tập trung binh lực, đánh chỗ sơ hở, binh lực mỏng).
Cả hai đều nói rõ rằng, khi ta và địch thế lực tương đương, có thể nhượng bộ tạm thời để bảo toàn nhuệ khí, làm cho địch mệt mỏi chán nản, làm giảm ưu thế của địch, đợi khi thời cơ chín muồi, thì đánh địch đòn chí mạng.
Nguyên văn: Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý (Tôn Tử binh pháp – Kế thiên)
Nhân lúc kẻ địch không phòng bị mà tấn công, dùng phương thức kẻ địch không ngờ tới để tiến đánh. Tác chiến đánh địch, nên chọn nơi địch phòng bị mỏng nhất, lúc địch lơ là không để ý nhất. Khi địch không phòng bị, đột nhiên xuất kích, thì sẽ bất ngờ giành chiến thắng.
Cổ kim Đông Tây đã có rất nhiều trường hợp như vậy. Nhật Bản tập kích Trân Châu cảng thành công là một ví dụ. Hiện nay chiến thuật này đã áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác.

Binh Pháp Tôn Tử
5. Biết địch và biết mình, trăm trận bất bại. Không biết địch chỉ biết mình, một thắng một thua. Không biết địch cũng không biết mình, đánh đâu thua đó
Nguyên văn: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (Tôn Tử binh pháp – Mưu công thiên)
Đây là một trong những câu nói kinh điển nhất, được nhiều người biết đến nhất trong “Binh pháp Tôn Tử”. Khi đã hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu quân địch cũng như quân mình thì trăm trận trăm thắng, mãi mãi bất bại.
Đây là nguyên tắc chiến tranh nổi tiếng Đông Tây. Khi lâm chiến ắt phải hiểu rõ so sánh tương quan lực lượng giữa ta và đối phương, lấy cái mạnh của mình đánh cái yếu của địch. Khi chắc thắng thì đánh, không chắc thì không đánh.
Dựa theo tình hình quân địch thay đổi mà lựa chọn phương thức thích hợp nhất, thời cơ thích hợp nhất để tấn công. Vì vậy, tự nhiên sẽ đánh đâu thắng đó. Đồng thời nguyên tắc này vượt xa khỏi phạm vi chiến tranh, nó thích hợp áp dụng với tất cả các công việc khác.
Trong các lĩnh vực khác, việc “biết mình biết người” cũng vô cùng quan trọng. Khi đã hiểu rõ đối phương, đặc biệt hiểu rõ mình, thì mưu kế sáng tỏ, sách lược cũng rõ ràng. Không biết người, chỉ biết mình thì hoá thành tự phụ, biết người mà không biết mình lại hoá thành tự ti, chẳng biết người cũng chẳng biết mình thì chính là ngu tối vậy.
6. Phép dụng binh, hơn 10 lần thì bao vây, hơn 5 lần thì đánh, hơn 2 lần thì chia nhỏ ra đánh, ngang nhau thì có thể đánh, ít hơn thì có thể chạy trốn, không bằng thì có thể tránh
Nguyên văn: Dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi, địch tắc năng chiến chi, thiểu tắc năng đào chi, bất nhược tắc năng tị chi (Tôn Tử binh pháp – Mưu công thiên)
Phép dụng binh căn bản là căn cứ vào tình hình ta và địch mạnh yếu khác nhau mà lựa chọn phương châm khác nhau. Khi ta mạnh địch yếu thì tập trung ưu thế binh lực, bao vây, tấn công, tiêu diệt địch. Khi ta và địch xấp xỉ nhau, nên tìm cách phân tán lực lượng địch, tấn công quyết đoán, đánh bại địch.
Khi địch mạnh ta yếu, thì tránh giao chiến, có thể chạy được thì chạy, lựa chọn chiến thuật cơ động linh hoạt. Nếu không, hoặc là ngồi để tuột mất thời cơ, hoặc là mạo hiểm giao chiến, dẫn đến thất bại. Là nguyên tắc trong chiến tranh, câu này đến nay vẫn còn nguyên giá trị học tập theo.
Trước tình thế khó khăn, gian nan, khi bị đặt vào nơi hiểm địa, sống chết gang tấc cần phải tỉnh táo đánh giá tình hình, có thể tiến được thì tiến, nên lùi thì hãy lùi. “Địch” mà binh pháp nói cũng chính là thử thách khó khăn, chướng ngại cản đường người ta. Nếu có thể vượt qua thì ráng sức, nếu không vượt qua được thì tạm hoà hoãn, chờ thời, ấy cũng là biết rõ tình thế, liệu sức mình vậy.
7. Đưa vào nơi mất để mà còn, rơi vào chỗ chết để mà sống
Nguyên văn: Đầu chi vong địa nhiên hậu tồn, hạm chi tử địa nhi hậu sinh (Tôn Tử binh pháp – Cửu địa thiên)
Đưa quân vào chỗ chắc chắn chết, vào tình cảnh tuyệt vọng, thì trái lại có thể chuyển nguy thành an, giữ lại được, giành chiến thắng. Đây cũng là một phương pháp thần kì để giành chiến thắng.
Khi gặp tình huống nguy cấp, khi đã chỗ hiểm không còn đường rút, có thể đưa quân đến ranh giới sống chết, quân sĩ như con tốt sang sông, chỉ có thể tiến chứ không thể lùi. Để tìm được sinh tồn của bản thân, tất sẽ liều chết chiến đấu, như vậy trái lại có thể chuyển bại thành thắng.
Đây là chiến thuật là Hàn Tín đã sử dụng năm xưa để đánh bại 20 vạn quân Triệu trong trận Bối Thuỷ. Khi ấy, Hàn Tín chỉ có vỏn vẹn 3 vạn quân mã, lại phải chinh chiến xa nhà, hiện đã vượt sông, khó thể lùi lại.
Hàn Tín bày trận “bối thuỷ” (quay lưng ra sông), thách đánh quân Triệu, sau đó giả thua, toàn quân rút về bờ sông. Khi đến bờ sông, rơi vào đường cùng, quân sĩ hăng hái, chiến đấu liều chết. Đánh nhau nửa ngày, Quân Triệu dù đông vẫn không sao thắng được, bèn rút lui về.
Trước đó, Hàn Tín đã mật sai 2 nghìn quân kỵ lẻn đến trại Triệu, đổi hết cờ xí thành cờ quân Hán. Quân Triệu về trại, tưởng trại đã mất, tinh thần hoảng loạn, lòng quân hoang mang, không đánh tự vỡ.
Khi ấy, Hàn Tín hợp binh, hai mặt giáp công, quân Triệu đại bại, 20 vạn quân như ong vỡ tổ. Đó là trận chiến lưu danh tên tuổi Hàn Tín vào lịch sử, là ví dụ kinh điển nhất cho chiến thuật “Đưa vào nơi mất để còn, rơi vào chỗ chết để sống“.
8. Trăm trận trăm thắng, không phải là tướng giỏi nhất trong những tướng giỏi. Không đánh mà khuất phục được địch, đó mới là tướng giỏi nhất trong những tướng giỏi.
Bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã; bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã (Tôn Tử binh pháp – Mưu công)
Câu này phản ánh nội dung quan trọng nhất trong quan niệm chiến tranh của Tôn Vũ. Ông cho rằng, mục đích của chiến tranh là “có thể giữ mình không tổn hại mà toàn thắng”.
Trăm trận trăm thắng thực ra đã rất khó làm được, cho dù toàn thắng đi chăng nữa, giết địch 1 vạn thì mình cũng phải mất 3 nghìn, chịu tổn thất rất lớn. Nếu có thể vận dụng mưu lược và các biện pháp ngoại giao giành thắng lợi, tức là “Không đánh mà khuất phục quân địch” mới là thượng sách.
Do đó ông nói: “Đánh địch tốt nhất là đánh bằng mưu kế, tiếp đến là đánh bằng ngoại giao, kế tiếp là đánh vào quân địch, thấp nhất là đánh vào thành trì địch“. (Thượng binh phạt mưu, kỳ thứ phạt giao, kỳ thứ phạt binh, kỳ thứ công thành).
Dù là một binh gia nổi tiếng, sáng tác nên bộ kinh điển về binh pháp nhưng Tôn Vũ thực chất không phải là người cuồng tín chiến tranh. Ông trái lại chỉ coi chiến tranh là biện pháp hạ sách nhất, động binh là chiến lược bất đắc dĩ phải dùng.
Binh chinh thiên hạ chỉ là một loại phương tiện chứ không phải mục đích. Trái lại, an dân, yên định xã tắc mới chính là mục đích cao cả nhất của chiến tranh.
Cũng như vậy, đấu tranh, giành giật không phải là phương tiện chủ đạo để duy trì sự sống. Nhiều người cho rằng cuộc sống này là một cuộc đấu tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.
Thử suy nghĩ một chút, nếu xã hội loài người chỉ toàn là tranh đấu hơn thua như thế chẳng phải cũng chẳng khác là mấy so với thế giới của động vật sao?
Con người sinh ra là có thiện tính, vốn đã mang sẵn trong mình những điều nhân nghĩa, thuần thiện. Quan hệ giữa người với người không phải xây dựng nên từ những cuộc chiến tranh mà chính từ sự bao dung, nhân ái, không phải từ gươm đao mà là từ những bông hồng, không phải từ khói lửa mà là từ những cánh chim bồ câu hoà bình.
Nguyệt Hoà
st
]]>