QUÂN SỰ-CHIẾN TRANH-BINH PHÁP – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sat, 08 Aug 2026 08:35:47 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.19 Thập nhị binh thư và tinh hoa binh pháp https://thuonghylenien.org/luu-tru/6232 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6232#respond Sat, 08 Aug 2026 08:35:47 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6232 Thập nhị binh thư và tinh hoa binh pháp.

“Thập Nhị Binh Thư” là một áng văn hội tụ những tinh hoa kinh điển trong thuật dụng binh và cho đến nay vẫn là bửu văn tâm đắc của vô số chánh trị gia, lãnh đạo quân sự, chiến lược gia… từ Đông sang Tây.

Thập Nhị Binh Thư gồm 12 bộ binh thư được tập hợp và giới thiệu lần lượt là:
1. Lục thao (Thái Công Khương Tử Nha);
2. Tam lược (Thái Công Khương Tử Nha);
3. Tư Mã binh pháp (Tư Mã Điền Nhương Tư);
4. Tôn Tử binh pháp (Tôn Vũ Tử);
5. Ngô Tử binh pháp (Ngô Khởi);
6. Uất Liễu Tử (Uất Liễu);
7. Binh pháp Khổng Minh (Võ Hầu Gia Cát Lượng);
8. Tố thư (Hoàng Thạch Công);
9. Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối (Vệ Công Lý Tĩnh);
10. Binh thư yếu lược (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn);
11. Binh thư yếu lược (tu chỉnh)
12. Hổ trướng khu cơ (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ).
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là tập hợp tương đối đầy đủ nhất của cấp độ Mưu Thuật – Trí Thuật; để chuẩn bị cho một dân tộc vĩ đại, trung tâm, siêu việt; thì cấp độ đó cũng là chưa đủ mà dân tộc mình phải cùng đoàn kết luyện rèn lên mức độ của Trí Đạo – Tâm Đạo; là cấp độ có thể thấu ngộ được quy luật tạo hoá, hiểu được Ý Trời, cùng quy tụ Lòng Người với những động lực và cảm xúc cao cấp và cao quý nhất.
Người ta vẫn tin rằng Binh pháp Trung Hoa cổ là những nguyên tắc tiến hành chiến tranh được đúc kết rất chặt chẽ và xác đáng. Nhưng lịch sử Việt Nam luôn có những anh hùng dân tộc đã oanh liệt chiến thắng rất nhiều đạo quân phương Bắc hùng mạnh được dẫn đầu bởi những viên tướng làu thông binh pháp. Người Đại Việt ta cũng hấp thu binh pháp Trung Hoa cổ để sáng tạo nên một lý luận riêng, một nghệ thuật chiến tranh đặc sắc giúp dân tộc nhỏ bé trở nên quật cường, không bao giờ khuất phục ngoại xâm. Nói cho cùng thì các bậc tiền nhân lập nên những bộ Binh Thư, Binh Pháp cốt yếu nhằm hoàn thiện một lý luận quân sự tổng quát cùng với một số lối tác chiến trong từng hoàn cảnh. Chẳng hạn Binh Pháp Tôn Tử chép rằng, “Binh vô thường thế, thủy vô thường hình, năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi thần” – Quân binh cũng như nước, không hình không dạng cố định; nếu như có thể tùy theo tình hình biến hóa của địch mà biến đổi theo đó để giành thắng lợi, thì đó là “dụng binh như thần” vậy. Còn “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ tri kỉ giả, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỉ, mỗi chiến tất đãi” thường được tường ngôn ngắn gọn thành “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, đã từ lâu được truyền tụng trong khắp nhân gian. Đó chẳng phải là những tâm ngôn căn cốt để giành vị thế thống lãnh trên chiến trường ư! Còn thực tiễn chiến trường sẽ minh chứng người làm Tướng thấu hiểu tâm ngôn và vận dụng với sự Minh Triết đến mức nào.
Thư trung hữu bảo, trong kinh sách luôn hiện hữu điều quý báu, kẻ lược thao quân sự nhất thiết phải vững vàng về mưu lược, kế sách, tài nghệ kiếm cung. Vị lẽ ấy, bửu văn “Thập nhị binh thư” cũng đồng thời là bửu khí nhất định phải sở đắc và làu thông để mỗi binh sĩ đều có thể thành danh trên con đường binh nghiệp, để mỗi viên tướng đều là biểu tượng của một đạo quân bất khả chiến bại trên sa trường.
Thiết tưởng cũng cần phải diễn giải thêm rằng: đối với các bậc minh quân và những dũng tướng quả cảm, thượng võ nhất thì “Binh chinh thiên hạ” chỉ là một dạng phương tiện chứ không phải mục đích. Kỳ thực thì những bậc này đều thấu đạt một đạo lý rằng an dân, yên định xã tắc mới chính là mục đích tối cao của chiến chinh. Họ là những chủ tướng đầy Trắc ẩn – Yêu thương – Trách nhiệm nên được vinh danh trong sử sách, được cả người đời, đồng minh và luôn cả kẻ thù cũng phải kính trọng.
Cũng vì thế mà pho sách này không chỉ là bộ kiệt tác quân sự cổ xưa, mà còn ẩn chứa biết bao hàm ý triết học ưu tú của Đông Phương. Người đời nay ai ai đọc Binh Thư cũng đều thu hoạch được lợi ích. Người doanh nhân đọc Binh Thư thì thêm nhiều sáng kiến chốn thương trường. Người trí thức đọc vào để tỏ tường lịch sử. Người nghệ sỹ sẽ cảm thụ được cái hay cái đẹp trong câu chữ, văn phong… Hiểu ra thế nào là nghệ thuật mưu lược chiến tranh ngày trước vẫn giúp lợi cho mọi độc giả trong công việc và đời sống ngày nay. Bao người mê say Binh thư cổ ngàn năm cũng bởi những giá trị ẩn tàng, càng khai phá càng thấy dồi dào mãi chưa cạn kiệt.
Khương Thượng, tự Tử Nha (1156 - 1017 TCN) vốn thuộc dòng dõi quyền quý từng được phong đất Lã nên còn được gọi là Lã Thượng. Ông là công thần khai quốc triều Tây Chu tồn tại hơn 800 năm và là triều đại kéo dài nhất lịch sử Trung Quốc, đồng thời là người sáng lập ra văn hóa Tề. Ông là nhà quân sự và chánh trị đại tài nên cả Nho, Đạo, Pháp đều coi ông là nhân vật của gia phái mình, vậy nên ông được tôn là

Khương Thượng, tự Tử Nha (1156 – 1017 TCN) vốn thuộc dòng dõi quyền quý từng được phong đất Lã nên còn được gọi là Lã Thượng. Ông là công thần khai quốc triều Tây Chu tồn tại hơn 800 năm và là triều đại kéo dài nhất lịch sử Trung Quốc, đồng thời là người sáng lập ra văn hóa Tề. Ông là nhà quân sự và chánh trị đại tài nên cả Nho, Đạo, Pháp đều coi ông là nhân vật của gia phái mình, vậy nên ông được tôn là “Bách gia tông sư”

 

Trước khi phò tá Chu Văn Vương, cuộc sống của Khương Tử Nha vô cùng gập ghềnh gian nan. Là con cháu chi thứ nên ông dần trở thành dân thường, mất các đặc quyền của dòng quý tộc. Năm 32 tuổi, nhà Thương chiến tranh không dứt, để tránh tai họa mà ông lên núi tu Đạo. Trải qua 40 năm khổ tu, ông xuất sơn khi 72 tuổi. Cao niên mà lại không có sở trường về nghề nào, ông sống nhờ nhà bạn bè và mưu sinh bằng các việc lặt vặt, mà làm gì cũng chẳng thành. Tử Nha luôn bị chê cười, châm chọc. Tuổi trẻ ông lao đao, cho đến tận lúc đã già vẫn vậy.
Không rõ Tử Nha có từng làm chức quan nhỏ dưới thời Trụ Vương hay không mà chỉ biết rằng khi thấy Trụ Vương bạo ngược vô đạo, lao dịch bách tính, hoang đường vô độ nên ông biết ngày mạt vận sẽ không xa. Ông nói với vợ rằng: “Ta không nỡ thấy vạn dân chịu tai ương. Nàng và ta đi Tây Kỳ, tương lai ắt sẽ có ngày hiển đạt”. Nhưng vợ của ông chê ông không có tài cán gì, nên không muốn ở cùng ông nữa. Khương Tử Nha bất đắc dĩ đành một thân một mình trốn đến Tây Kỳ (sau này là nước Chu).
Chân núi Chung Nam tỉnh Thiểm Tây, Khương Tử Nha thường ngồi bên sông Vị Hà câu cá. Dùng lưỡi câu thẳng nên đã 3 năm mà ông không câu được bất kỳ con cá nào. Lúc này, Chu Văn Vương đến vùng đất ấy đi săn, tình cờ gặp Khương Tử Nha hơn 80 tuổi ngồi câu bên sông. Sau khi đàm luận, Văn Vương thấy ông chính là người hiền tài, võ có thể an bang, văn có thể trị quốc – đúng người lâu nay mong ngóng. Thế là Chu Văn Vương vui mừng nói: “Thái Công, ta mong ông đã lâu rồi”. Do đó Khương Tử Nha có biệt hiệu “Thái Công Vọng”, thường gọi là Khương Thái Công hay Lã Vọng. Ông phò tá Chu Võ Vương tiêu diệt nhà Thương của Trụ Vương Đế Tân, nhiều lần lập kỳ công, được phong đất Tề. Chí hướng xưng Vương của Khương Tử Nha khi tuổi ngoài 80 thật đáng ngưỡng vọng.
Chu Công là em trai của Chu Võ Vương. Sau khi Khương Tử Nha được phong đất Tề, chỉ vài tháng sau ông trở lại bẩm báo với Chu Công. Chu Công ngạc nhiên vì bình ổn nhanh chóng thì được Tử Nha trả lời: “Bỉ chức đơn giản hóa lễ tiết quân thần, tất cả đều thuận theo tình hình phong tục ở đó mà làm, do đó đất Tề đã bình ổn”. Khương Tử Nha đã thấu chân lý của việc cai trị sau khi thấy sự u mê của Trụ Vương. Trong khi con trai Chu Công là Bá Cầm được phong đất Lỗ. Ba năm sau Bá Cầm mới trở lại bẩm báo tình hình: “Thay đổi tập quán ở đó, cách tân phép tắc lễ nghi ở đó, ít nhất cũng phải 3 năm mới thấy có hiệu quả, do đó con về muộn”. Chu Công nghe xong than rằng: “Chính lệnh chỉ có bình hòa thì dễ thực hiện, bá tánh mới an cư lạc nghiệp, quốc gia mới thịnh trị yên ổn lâu dài”.
Khương Tử Nha đã viết trong trước tác “Lục Thao” rằng: “Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của người trong thiên hạ. Nếu như có thể cùng tất cả mọi người trong thiên hạ phân chia lợi ích thì có thể lấy được thiên hạ, độc chiếm lợi ích của thiên hạ ắt sẽ mất thiên hạ. Trời có tứ thời, đất có tài phú, có thể cùng tận hưởng với muôn dân đó chính là nhân ái. Có nhân ái, người trong thiên hạ ắt sẽ quy thuận, tránh khỏi việc con người bị diệt vong, tiêu trừ khổ nạn cho muôn dân, đó chính là ân đức.
Ân đức tồn tại, người trong thiên hạ sẽ quy thuận, cùng mọi người chia sẻ vui buồn, tốt xấu đó chính là đạo nghĩa. Đạo nghĩa tồn tại, thiên hạ ắt sẽ không có tương tranh tương đấu mà quy thuận. Con người ai cũng ghét cái chết, yêu sinh tồn, tiếp nhận ân đức mà truy cầu phúc lợi, có thể vì người trong thiên hạ mà mưu cầu phúc lợi thì chính là vương đạo. Vương đạo tồn tại, người trong thiên hạ ắt cũng sẽ quy thuận. Đồng thiên hạ chi lợi giả tắc đắc thiên hạ, thiện thiên hạ chi lợi giả tắc thất thiên hạ, (Người chung cái lợi của thiên hạ ắt có được thiên hạ, người chuyên quyền độc chiếm cái lợi của thiên hạ ắt mất thiên hạ)”.
Vậy nên bốn chữ “Thiên hạ quy tâm” chính là tinh hoa để Khương Tử Nha lập thuyết, với 4 cột trụ là Nhân – Đức – Nghĩa – Đạo để đạt được chính sự hòa thuận, nhân tâm hòa hợp. Ông chủ trương bắt đầu từ Vua: Vua phải thi hành nhân nghĩa, tu dưỡng đạo đức, không được vì mình mà tổn hại dân. Như vậy thì việc xưng Vương mới bền lâu, nhân dân mới chung sức đồng lòng với Quân Vương, quốc gia mới càng ngày càng cường thịnh.
Trước tác “Lục Thao” của Khương Tử Nha không chỉ là cuốn binh pháp chiến tranh cổ đại mà còn là khung mẫu thể chế chánh trị nghiêm cẩn cho nhà Chu. Trước tác này còn làm nền móng vững chắc cho bá nghiệp của Tề Hoàn Công và Quản Trọng sau này để “chín lần hợp chư hầu, thiên hạ quy về một mối”. Lục Thao gồm 6 quyển: Văn thao: cách trị nước dùng người; Võ thao: đấu tranh chánh trị với kẻ thù; Long thao: phép cầm quân của chiến tướng; Hổ thao: hình trận và các loại vũ khí khí tài; Báo thao: các lối tác chiến; Khuyển thao: tuyển mộ, rèn luyện và sử dụng binh sĩ.
Các chiến lược gia quân sự chánh trị nhiều đời sau như Tôn Vũ, Quỷ Cốc Tử, Hoàng Thạch Công, Gia Cát Lượng… đều hấp thu tinh hoa trong “Lục Thao” để rồi phát triển sâu rộng thêm, càng khiến cho trước tác này và tên tuổi của Khương Tử Nha trở thành bất hủ.
Còn “Tam Lược” lại là những ghi chép ngắn gọn về thuật làm chiến tướng. Nói cách khác đây là phần dành riêng cho những chỉ huy ngoài mặt trận. Bao gồm: Thượng lược: tư cách người làm tướng, cách đối xử với thường dân, với tướng dưới quyền và binh sĩ, và thái độ với kẻ địch; Trung lược: cách dàn xếp quan hệ giữa chiến tướng nơi sa trường và triều đình xa xôi; Hạ lược: các khía cạnh đạo đức, nghĩa lễ khi hành xử ở đời. Vậy nên người làm Tướng nhất thiết phải thông tường Lục Thao và Tam Lược, tức là phải “có tài thao lược”.
Theo sử sách ghi lại, Khương Tử Nha sống thọ đến 139 tuổi với trí huệ to lớn vì đã đạt đến cảnh giới cao của Lập thuyết. Sau hàng chục năm khổ tu rồi lại thêm hàng chục năm nữa luyện rèn gian khổ trong đời thực, cuối cùng Khương Tử Nha đã thành tựu sự nghiệp vĩ đại, công trạng lớn lao và để lại trước tác tinh thâm cho hậu thế. Cuộc đời ông phi phàm như vậy, ở thời đại ấy chỉ có Thần Tiên mới làm được. Do đó người đất Tề gọi ông là “Thiên Tề Chí Tôn”. Đạo gia lưu truyền rằng ông đã tu luyện viên mãn thành Tiên. Trong quyển “Phong Thần diễn nghĩa” đời Minh cũng đưa ông vào hàng ngũ Thần Tiên. Các triều đại Trung Hoa đều xây dựng đền thờ Khương Tử Nha để người đời sau chiêm bái.
]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6232/feed 0
Tôn Vũ và binh pháp của Tôn Tử https://thuonghylenien.org/luu-tru/6230 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6230#respond Sat, 08 Aug 2026 08:30:19 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6230 Tôn Vũ và binh pháp của Tôn Tử.

Tôn Vũ (chưa rõ năm sinh) là nhà tư tưởng quân sự thời cổ, tướng nước Ngô cuối đời Xuân Thu (Trung Quốc), vốn là người nước Tề chạy loạn sang cư trú ở nước Ngô. Năm 512 trước công nguyên được Ngũ Tử Tư tiến cử, Tôn Vũ đã dâng lên vua Ngô 13 thiên binh pháp và được vua Ngô trọng dụng phong làm tướng quân. Ông đã cùng Ngũ Tử Tư phò tá vua Ngô, đề xuất mưu lược làm cho nước Ngô trở nên hùng mạnh. Năm 506 trước công nguyên, ông bày mưu cho vua Ngô đem 3 vạn quân đánh bại 20 vạn quân Sở bằng cách cho quân Ngô vu hồi kỳ tập vào vùng đông bắc nước Sở. Từ đó, nước Sở không còn khả năng tranh bá với nước Ngô nữa. Trong 30 năm phục vụ nước Ngô, Tôn Vũ đã làm cho nước Ngô từ một nước nhỏ, phá được nước Sỏ mạnh, uy hiếp các nước Tề, Tấn và bắt nước Việt phải thuần phục. Tác phẩm nổi tiếng “Binh pháp Tôn Tử” của ông được tôn là người thầy của binh gia trăm đời, là tác phẩm lý luận quân sự sâu sắc phản ánh tư tưởng quân sự thời cổ đại.

Binh pháp Tôn Tử

Bộ Binh pháp Tôn Tử được biên soạn thành sách vào khoảng năm 496 – 453 trước công nguyên. Khi yết kiến Hạp Lư, Tôn Vũ đã dâng cho vua Ngô 13 thiên binh pháp này. Mỗi thiên nhằm một chủ đề nhất định tạo thành một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh, được viết bằng cổ văn chữ Hán gồm hơn 5.900 chữ.

Giá trị to lớn của “Binh pháp Tôn Tử” trước hết chính là những quan điểm về chiến tranh, tác động của chiến tranh, bản chất của chiến tranh, mục đích của chiến tranh… ông khẳng định: “Chiến tranh là việc lớn của quốc gia, nó có quan hệ đến việc sống chết của nhân dân, việc mất còn của đất nước, không thể không suy xét một cách thận trọng”. Đây là sự đánh giá khá chính xác về vai trò chiến tranh trong đời sống xã hội loài người. Từ góc nhìn đó, “Binh pháp Tôn Tử” nêu mục đích chiến tranh là bảo tồn mình để giành chiến thắng. Người đánh trăm trận thắng cả trăm chưa thể kể là người tài giỏi nhất, không đánh mà buộc địch đầu hàng mới là người giỏi nhất. Để đạt mục đích đó, Tôn Tử đã chỉ ra năm nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh đó là: “Đạo, trời, đất, tướng, pháp”. “Đạo” là làm cho dân chúng thuận theo ýchí của quốc vương, sống chết vì quốc vương mà không sợ nguy hiểm. “Trời” là quy luật thay đổi về khí hậu, thời tiết như ngày đêm, mưa nắng, nóng lạnh. “Đất” là sự xa gần của vị trí địa lý, sự hiểm nguy, bằng phẳng của địa hình, sự rộng rãi hay chật hẹp, đâu là đất sống, đâu là đất chết. “Tướng” là những phẩm chất cần có của tướng soái, là sáng suốt, đáng tin cậy, nhân ái, dũng cảm, nghiêm túc. “Pháp” là các chế độ về biên chế quân đội, sắp xếp tướng soái và cung cấp hậu cần. Năm nhân tố này nói chung tướng soái đều biết, nhưng chỉ những người nhận thức sâu sắc những nhân tố này mới có thể đánh thắng. Cho nên, muốn so sánh nghiên cứu điều kiện của hai bên, tìm hiểu khả năng thắng bại, thì phải xem: Quốc vương bên nào được nhân dân ủng hộ nhiều hơn? Tài năng của tướng soái bên nào cao hơn? Quân đội bên nào thích ứng với thiên thời, địa lợi hơn? Pháp lệnh được quán triệt, chấp hành hơn? Thực lực quân sự bên nào mạnh hơn? Tố chất huấn luyện của quân lính bên nào tốt hơn? Thưởng phạt của bên nào nghiêm minh hơn? Căn cứ vào cách so sánh đó để phán đoán, thì sẽ dự kiến được ai thắng, ai thua.

Ngoài năm nhân tố cơ bản trên, “Binh pháp Tôn Tử” còn xác định: cần tạo thành một loại “thế” làm điều kiện bổ trợ để giành thắng lợi. Cái gọi là “thế” tức là hình thế được tạo thành dựa trên sự phán đoán tình huống, cơ biến linh hoạt, tránh điều hại, tìm điều lợi mà có. Dùng binh pháp tác chiến là một hành động đánh lừa đối phương, cho nên có năng lực tác chiến thì làm ra vẻ không có năng lực; muốn đánh thì làm ra vẻ không muốn đánh; muốn hành động ở gần thì làm ra vẻ hành động ở xa; muốn hành động ở xa thì làm ra vẻ muốn hành động ở gần. Dùng lợi nhỏ để nhử kẻ địch, nhân sinh hỗn loạn mà chiến thắng địch; kẻ thù có đầy đủ lực lượng thì phải phòng bị nó; kẻ địch có binh lực mạnh thì phải tránh xa nó; làm địch nổi giận để đánh bại nó; dùng lời lẽ nhún nhường để làm cho kẻ địch kiêu căng mà lơi lỏng; kẻ địch nhàn rỗi phải làm cho chúng mệt mỏi; kẻ địch đoàn kết phải tìm cách ly gián… Đánh vào nơi địch không chuẩn bị, ra quân lúc địch bất ngờ. Đó là bí quyết để giành thắng lợi của các nhà quân sự. Những điều đó chỉ có thể dùng ý mà hiểu, chứ không thể dùng lời mà truyền đạt được.

Bàn về tác chiến, “Binh pháp Tôn Tử” cho rằng: “Việc dụng binh quý thắng không quý lâu; người thiện chiến không gọi lính hai lần, không chở lương 3 lần” làm tiêu chuẩn và yêu cầu của thắng nhanh. Cuối cùng đề ra việc phải dùng lương thảo của địch, thắng địch mà mình ngày càng mạnh hơn là một thủ đoạn để giảm nhẹ chi phí nhân lực, vật lực, tài lực cho chiến tranh và để thực hiện được ý đồ “tốc chiến, tốc quyết”. Cho nên, tư tưởng quân sự của Tôn Tử khẳng định: Thượng sách của việc dụng binh là dùng mưu lược để thắng lợi, sau mới dùng đến ngoại giao đế giành thắng lợi, sau nữa mới dùng đến lực lượng quân sự để giành thắng lợi, hạ sách là đánh thành. Đánh thành là biện pháp bất đắc dĩ. Cho nên, người giỏi dùng binh tác chiến khuất phục quân đội địch mà không cần giao chiến, chiếm thành ốc của địch mà không cần cường công, hủy diệt đất nước địch mà không kéo dài ngày tháng, cần phải giỏi dùng mưu lược mà giành thắng lợi trong thiên hạ. Một quân đội như vậy không bị tổn thất đồng thời lại giành được thắng lợi to lớn, đó là nguyên tắc của “mưu công”. Để đạt được mục đích đó, cần phải biết được tình huống nào có thể tác chiến, tình huống nào không thể tác chiến: biết được cách căn cứ vào binh lực nhiều ít khác nhau mà vận dụng cách đánh khác nhau. Toàn quân trên dưới đoàn kết một lòng, dùng quân có chuẩn bị, ra quân đã sẵn sàng đế đối phó với địch không chuẩn bị. Cuối cùng, trong Thiên mưu công binh pháp, Tôn Tử rút ra một vấn đề có tính nguyên tắc cho mọi hoạt động tác chiến là muốn giành thắng lợi phải “biết mình, biết người trăm trận không nguy”.

“Binh pháp Tôn Tử” còn tiếp tục xác định những vấn đề có tính nguyên tắc trong chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, trong vận dụng nghệ thuật quân sự đó là những vấn đề: So sánh lực lượng để quyết định hình thức tác chiến cho phù hợp, khiến cho mình ở vào thế không thể bị đánh bại. Đồng thời, trên cơ sở đó phát huy tính năng động, chủ quan tạo thành một loại “thế hiểm, tiết đoạn” để đánh thắng kẻ địch. Phải thực hiện được việc điều động địch chứ không để địch điều động mình. Hiểu rõ tung tích địch mà không để lộ tung tích mình. Tạo thành thế ta “thực” địch “hư”, và dùng phép “tránh thức, đánh hư” đế đạt được mục đích. Người biết căn cứ vào sự thay đổi của tình hình địch, biết vận dụng khả năng sẵn có của mình mà giành thắng lợi là “người dùng binh như thần”. Trong “Binh pháp Tôn Tử”, một số nguyên tắc chỉ huy tác chiến được xác định rất cụ thể: với quân địch có thể đánh vào khí thế của nó, vái tướng lĩnh của địch có thể làm lung lay quyết tâm của nó. Người giỏi dùng binh cần tránh nhuệ khí của địch, khi địch uể oải, mệt mỏi thì tấn công chúng. Đó là phương pháp đối phó với khí thế của địch, hay quân nghiêm chỉnh của ta đối phó với quân hỗn loạn của địch, lấy quân trấn tĩnh của ta đối phó với quân ồn ào của địch, lấy quân nhàn nhã của ta đối phó với quán mệt mỏi của địch, dùng phương pháp tiếp cận chiến trường của ta để đối phó với sự di chuyển từ xa tới của địch, lấy quân no đủ của ta mà đối phó vối quân đói khát của địch. Đó là phương pháp hạn chế chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng để tăng cường sức mạnh chiến đấu của phía ta. Không nên đón đánh quân địch có đội hình chặt chẽ, không nên tiến công quân địch có thế trận nghiêm chỉnh. Đó là phương pháp tác chiến cơ động, linh hoạt. Khi địch chiếm điểm cao thì không nên đón đánh, địch dựa lưng vào đồi núi thì không nên tấn công chính diện, quân địch giả vờ thua thì không nên truy kích. Quân địch gồm lực lượng tinh nhuệ thì không nên tấn công ngay. Quân địch nhử mồi thì không mắc lừa. Quân địch đã rút về nước thì không nên chặn đánh. Bao vây quân địch nên chừa một chỗ hở, quân địch đến bước đường cùng thì không nên truy bức. Đó là nguyên tắc chỉ huy tác chiến mà “Binh pháp Tôn Tử” đã đề cập.

“Binh pháp Tôn Tử” còn đề cập đến một số thủ đoạn tác chiến như hỏa công, dụng gián, hành quân và một vấn đề quan trọng khác được “Binh pháp Tôn Tử” đề cập và bàn tương đối kỹ, đó chính là vai trò của tướng lĩnh chỉ huy. Trong thiên “cửu biến”, Tôn Tử có nhấn mạnh việc dùng binh phải luôn luôn biến hóa. Người tướng thông hiểu về cái lợi của cửu biến là người biết dùng binh một cách tài tình, sáng tạo. Cho nên, làm tướng phải biết xem xét vấn đề một cách toàn diện, phải biết cái lợi, cái hại để dùng binh. Cuối cùng, Binh pháp chỉ ra: “người tướng soái nếu cứ khư khư vào bản ý của mình mà không linh hoạt thì sẽ rất nguy hiểm, rất có thể sẽ làm cho toàn quân tan vỡ, tướng soái bị giết”.

Qua những vấn đề cơ bản mà “Binh pháp Tôn Tử” trình bày có thể thấy đây là tác phẩm kinh điển, xuất sắc về quân sự, có ảnh hưởng rất sâu rộng tới quá trình phát triển lý luận quân sự sau này.

Trên nền tảng tư tưởng biện chứng chất phác, cái đáng trân trọng trong “Binh pháp Tôn Tử” là nắm toàn cục chiến tranh, chiến lược và chiến thuật để khái quát thành nguyênlý chung. Hệ thống các nguyên tắc trong “Binh pháp Tôn Tử” thống nhất trong một chỉnh thể và liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, muốn hiểu một cách cặn kẽ một nguyên tắc nào đó được đề cập không thể chỉ xem một đoạn, một chương mà phải xem toàn bộ tác phẩm mới có được nhận thức hoàn chỉnh và trọn vẹn. “Binh pháp Tôn Tử” có ảnh hưởng đối vối lịch sử tư tưởng quân sự, hoạt động quân sự. Nhiều nhà nghiên cứu lý luận quân sự sùng bái và ca ngợi Tôn Tử. Mao Nguyên Nhị, người Trung Quốc đời Minh đã từng nói: “Những người trước Tôn Tử, Tôn Tử không bỏ sót ai, những người sau Tôn Tử không ai bỏ qua được Tôn Tử”. Có thể nói, sự xuất hiện của “Binh pháp Tôn Tử” đã đem lại sự phát triển sâu rộng cho lý luận quân sự qua các thời đại. Ngay từ đời Đường, “Binh pháp Tôn Tử” đã du nhập vào Nhật Bản, Triều Tiên. Nhật Bản rất sùng bái “Binh pháp Tôn Tử” và gọi nó là “ông tổ của binh học phương Đông”, “binh thư số một của thời kỳ cổ đại”. Khoảng cuối thế kỷ XVII, “Binh pháp Tôn Tử” được truyền sang các nước châu Âu, châu Mỹ. Năm 1772, nó được dịch sang tiếng Pháp. Vào lúc đó, một tạp chí lý luận của Pháp đã viết: “Nếu các tướng lĩnh chỉ huy quân đội Pháp đều được đọc những tác phẩm ưu tú như cuốn “Binh pháp Tôn Tử” này thì là phúc cho nước Pháp. Người ta nói rằng Napôlêông khi bị đày ra đảo Xanhhêlen tình cờ được đọc “Binh pháp Tôn Tử” đã vỗ bàn khen và cảm thán nói: “Nếu ta sớm thấy được bộ binh pháp này thì ta không thể bị thất bại”.

Ở Việt Nam, “Binh pháp Tôn Tử” đã được trân trọng và đã được vận dụng sáng tạo trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Phép dùng binh của ông Tôn Tử tuy đã lâu đời nhưng những nguyên tắc của ông đến nay vẫn còn rất đúng. Những nguyên tắc dùng binh của Tôn Tử chẳng những đúng về quân sự, mà dùng về chính trị cũng rất hay”. Trong những năm chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền và những ngày đầu cách mạng mới thành công, Người đã viết 11 bài về cách dùng binh của Tôn Tử để huấn luyện cho dân chúng và bộ đội.

(Bách khoa Tri thức Quốc phòng toàn dân)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6230/feed 0
Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” mang ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại https://thuonghylenien.org/luu-tru/5836 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5836#respond Fri, 12 Jan 2024 04:24:16 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5836 Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” mang ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là biểu tượng chiến thắng của ý chí, bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Một chiến thắng có ý nghĩa lịch sử, tạo ra bước ngoặt chính trị, làm thay đổi căn bản cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, buộc chính quyền Mỹ phải ký hiệp định Paris “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, tạo ra thế và lực mới tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Quân ủy Trung ương, Quân chủng Phòng không-Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố miền Bắc.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm cách đánh máy bay B-52, các lực lượng vũ trang của ta mà nòng cốt là bộ đội Phòng không-Không quân và nhân dân miền Bắc đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân liên hoàn, hiểm hóc, vững chắc, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình chiến đấu. Do đó, ngay từ trận đầu ra quân, đêm ngày 18-12-1972, quân và dân ta đã bắn rơi tại chỗ “Siêu pháo đài bay B-52”, mở màn thắng lợi vang dội cho những trận đánh tiếp theo.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Bộ đội tên lửa chuẩn bị chiến đấu, năm 1972. Ảnh tư liệu.

Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng kẻ thù của quân và dân đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng.

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” làm thất bại toàn bộ các mục tiêu chiến lược mà phía Mỹ đã đặt ra; đặc biệt, không những không đè bẹp được ý chí chiến đấu mà còn làm tăng thêm tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cả dân tộc, làm sụp đổ “Thần tượng Không lực Hoa Kỳ”, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước. Sự thất bại toàn diện cả về chiến lược quân sự và chính trị của đế quốc Mỹ báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc mới. Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng, tạo ra cục diện thuận lợi để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là bản hùng ca mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa to lớn, là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó, quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Quân chủng Phòng không-Không quân; của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng, tạo ra cục diện thuận lợi để quân và dân ta quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong trận quyết chiến “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 đã tạo nên âm hưởng hào hùng của sự chiến thắng và đi vào lịch sử Việt Nam ta như một mốc son chói lọi, một kỳ tích của thế kỷ XX. Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là biểu hiện sức mạnh của dân tộc Việt Nam để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đó là: Công tác dự báo tình hình; chuẩn bị và tổ chức, sử dụng, bố trí lực lượng; xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế tạo nên sức mạnh tổng hợp cần được vận dụng và phát triển trong điều kiện mới.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực của Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị, tiếp thêm sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Quân chủng Phòng không- Không quân nói riêng luôn tin tưởng, tự hào về chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc ta trong đánh giặc giữ nước; càng tự hào hơn về Đảng ta có đường lối đúng đắn, sáng tạo, đã lãnh đạo toàn dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đó là cội nguồn của sức mạnh nội lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NGUYỄN HÀM KIÊN

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5836/feed 0
B52 không kích Hà Nội 12 ngày đêmTháng 12 -1972 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5409 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5409#respond Fri, 22 Dec 2023 08:03:09 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5409

52

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5409/feed 0
MÀN ĐẤU TRÍ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ NAVARRE TẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ | CHIẾN TRANH VIỆT NAM https://thuonghylenien.org/luu-tru/5407 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5407#respond Fri, 22 Dec 2023 07:58:25 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5407 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/5407/feed 0 Tóm tắt_ Thế Chiến 1, Thế Chiến 2 .mp4 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5296 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5296#respond Wed, 20 Dec 2023 04:01:24 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5296 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/5296/feed 0 Binh pháp Hồ Chí Minh về kết hợp đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước https://thuonghylenien.org/luu-tru/5292 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5292#respond Wed, 20 Dec 2023 03:27:13 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5292 Binh pháp Hồ Chí Minh về kết hợp đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Mưu lược của Người về kết hợp đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đạt tới trình độ nghệ thuật và có thể gọi là “binh pháp”.

Tầm nhìn trong lựa chọn và bố trí cán bộ chiến lược

Với tầm nhìn chiến lược sắc sảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo: “Đối với Mỹ, ta có cách chủ động để đi tới cho nó rút ra, vì rất phức tạp. Một tay đánh, một tay mở cho nó ra, trước cửa cần có rèm chống”. Sau khi có quyết sách chiến lược, để kết hợp đánh với đàm, Bác Hồ đã cùng Bộ Chính trị đi trước một bước trong lựa chọn và bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở chiến trường và mặt trận ngoại giao sau này.

Một là, 3 tháng sau khi có Nghị quyết Trung ương 15 khóa II, ngày 31-8-1959 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Ngay sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8-1964), ngày 25 và 26-9-1964, Bác Hồ đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị bàn về cách mạng miền Nam và chỉ đạo: “Miền Nam phải… xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn, nhanh. Hai năm qua chưa tăng cường Ủy viên Bộ Chính trị cho miền Nam, nay tình hình cấp bách không đi không được”. Tháng 10-1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được cử vào làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Vào chiến trường lần này còn có một số cán bộ cao cấp Quân đội có quyết tâm chiến lược và kinh nghiệm chỉ huy là các đồng chí: Lê Trọng Tấn, Nguyễn Hòa, Hoàng Cầm, Trần Văn Phác… Đoàn cán bộ chiến lược đã kịp thời tới chiến trường trước khi Mỹ đưa quân vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965.

Hai là, năm 1962, đồng chí Nguyễn Thị Bình được điều trở lại miền Nam giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia các hoạt động đối ngoại và tới năm 1969 là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris. Tháng 4-1963, đồng chí Xuân Thủy được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (tới tháng 3-1965) và từ năm 1968 là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại cuộc đàm phán ở Paris. Đồng chí Phùng Thế Tài được cử giữ chức Tư lệnh Bộ tư lệnh Phòng không năm 1962 và Tư lệnh đầu tiên của Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân (PK-KQ) mới được thành lập năm 1963.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trung đoàn 921 ngày 9-11-1964. Ảnh: TTXVN

Ba là, ngày 1-4-1965, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh đã được cử kiêm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và từ năm 1968 là Thường trực của “Tiểu ban Việt Nam-CP.50” do Bộ Chính trị quyết định thành lập và trực tiếp lãnh đạo. CP.50 làm công tác nghiên cứu các phương án đấu tranh giúp Bộ Chính trị chỉ đạo đàm phán.

Bốn là, tháng 8-1965, nhận lời mời của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Lê Đức Thọ đã được cử dẫn đầu đoàn đại biểu sang thăm Pháp. Trong đoàn có các đồng chí: Lưu Văn Lợi và Mai Văn Bộ sau này tham gia hai đoàn đàm phán của ta ở Paris. Mục đích chuyến thăm của đoàn là vận động dư luận Pháp và dư luận quốc tế lên án Mỹ xâm lược và ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Một sự trùng hợp, đồng chí Lê Đức Thọ và hai đồng chí Lưu Văn Lợi, Mai Văn Bộ đã được tới Paris “tiền trạm” trước khi ta mở mặt trận ngoại giao. Đối ngoại Đảng đã đi trước một bước. Tháng 2-1968, đồng chí Lê Đức Thọ được cử vào làm Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam (đồng chí đã làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam từ 1952-1954). Tháng 5-1968, Bác Hồ đã viết thư đề nghị Bộ Chính trị điều đồng chí Lê Đức Thọ ra Hà Nội và cuối tháng 6 sang Paris làm Cố vấn đặc biệt của Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đồng chí Lê Đức Thọ “là đại diện toàn quyền của lãnh đạo Việt Nam đối với tất cả các cơ quan và các phái đoàn chính thức của ta, cũng như các tổ chức thuộc lực lượng kháng chiến hai miền Nam-Bắc Việt Nam tham gia đấu tranh ngoại giao tại Paris”.

Mở đầu cài thế chiến lược đánh và đàm

“Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó”. Nhìn lại các dấu mốc thời gian lịch sử kháng chiến, có thể nhận diện được thiết kế chiến lược-“Binh pháp Hồ Chí Minh” mở các mặt trận liên hoàn trong triển khai chiến lược kết hợp đánh và đàm của một nước nhỏ tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống lại một đế quốc xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong cục diện Chiến tranh Lạnh đối đầu Mỹ-Xô và từ năm 1972 xuất hiện tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung.

Thứ nhất, “mở mặt trận trên không” trước ở miền Bắc.

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5-8-1964, ngày 9-11-1964, Bác Hồ tới thăm Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 mới được thành lập. Người căn dặn: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết là của các chú”.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ Phùng Thế Tài đã trực tiếp cùng Đảng ủy Quân chủng, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 921 khẩn trương nghiên cứu các phương án tác chiến và cách đánh để hoàn thành trách nhiệm lịch sử mà Bác Hồ đã giao phó. Trong trận chiến đầu tiên ngày 3-4-1965, Không quân ta đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-8 của Hải quân Mỹ. Ngày 4-4-1965, Không quân ta tiếp tục bắn rơi tại chỗ 2 “Thần sấm” F-105 Mỹ.

Ngày 19-7-1965, trong chuyến thăm đơn vị súng máy tự hành thuộc Trung đoàn Pháo Phòng không 234 tại sân bay Bạch Mai, trước ngày đơn vị lên đường chiến đấu bảo vệ các đơn vị tên lửa phòng không lần đầu xuất trận, Bác Hồ khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Như vậy, theo chỉ đạo của Bác Hồ, “mặt trận trên không” đã được triển khai trước ở miền Bắc và giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược ngay sau khi Mỹ đưa quân vào miền Nam (3-1965).

Thứ hai, mở mặt trận đánh Mỹ ở miền Nam- “nắm thắt lưng địch mà đánh”.

Trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam (3-1965), Hội nghị lần thứ ba Trung ương Cục miền Nam tháng 1-1965 dưới sự chủ trì của Bí thư Nguyễn Chí Thanh đã dự báo đúng tình hình, khẳng định lập trường tư tưởng và xác định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược mà Bác Hồ đã căn dặn: “Cần chuẩn bị tư tưởng thật vững vàng trong tình thế quyết thắng giặc Mỹ. Chống các loại tư tưởng ngán Mỹ, sợ Mỹ và sợ lâu dài ác liệt, ảo tưởng hòa bình”.

Thứ ba, “Hội nghị Diên Hồng” quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Những chiến thắng giặc Mỹ xâm lược ở “mặt trận trên không” tại miền Bắc và ở chiến trường miền Nam trong năm 1965 là cơ sở thực tiễn quyết định để Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 12 khóa III từ ngày 21 đến 27-12-1965 thông qua chủ trương, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trong phiên họp bế mạc hội nghị, Bác Hồ đã khẳng định: “…Qua những ý kiến của các đồng chí đã phát biểu ở hội nghị, thấy nổi bật hai điểm quan trọng: Ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; Ta nhất định thắng”.

Thứ tư, mở mặt trận ngoại giao

Những thắng lợi to lớn tiếp theo ở chiến trường miền Nam và trên “mặt trận trên không” ở miền Bắc trong năm 1966 là căn cứ thực tiễn xác thực để Hội nghị Trung ương 13 tháng 1-1967 ra Nghị quyết “Về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”. Nhưng để mở mặt trận ngoại giao thì cần phải có thực lực đủ mạnh. Đáp lại thông điệp thương lượng “kẻ cả” của Mỹ, trong “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Johnson” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 22-3-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe dọa của bom đạn”.

Thứ năm, ngoại giao thực lực-“Chiêng có to, tiếng mới lớn”.

Để tạo thực lực cho ngoại giao, Người cùng Bộ Chính trị xúc tiến kế hoạch mở một cuộc tiến công chiến lược ở chiến trường miền Nam nhằm “giáng cho chúng những đòn tiến công sấm sét làm thay đổi cục diện chiến tranh, làm lung lay hơn nữa ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, phải xuống thang chiến tranh”. Ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị đã họp ra Nghị quyết về “Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam”, quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trong cuộc họp lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho chỉ huy các chiến trường: “Kế hoạch phải thật tỉ mỉ; hợp đồng phải thật ăn khớp; bí mật phải thật tuyệt đối; hành động phải thật kiên quyết; cán bộ phải thật gương mẫu”. Nghị quyết này của Bộ Chính trị sau đó được Hội nghị Trung ương 14 thông qua thành nghị quyết của hội nghị.

Thứ sáu, đánh để buộc Mỹ phải chấp nhận đàm phán vô điều kiện

Thắng lợi to lớn của đợt 1 Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 đã đánh nhụt ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế chiến lược của chúng trên chiến trường. Đêm 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Johnson đã buộc phải đơn phương tuyên bố Mỹ sẽ chấm dứt vai trò chiến đấu trực tiếp của quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam, trao trách nhiệm cho quân ngụy, ngừng mọi hành động không quân và hải quân chống Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và sẵn sàng cử đại diện đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Đợt 2 được bắt đầu vào đêm 4 rạng sáng 5-5-1968 và 8 ngày sau, ngày 13-5-1968, phiên họp công khai đầu tiên giữa đoàn Mỹ với đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã được khai mạc tại Hội trường Kléber, Paris.

Trong thư “Gửi chú Ba Duẩn” ngày 10-3-1968 từ Bắc Kinh, Bác Hồ đã đề nghị tổ chức chuyến thăm miền Nam: “Thăm khi anh em trỏng đang chuẩn bị mở màn thứ ba. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em…”. Như vậy “màn thứ ba” đã được Người dự liệu từ trước và đợt 3 của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân mở màn ngày 17-8-1968. Bốn ngày sau khi ta mở “màn thứ ba”-ngày 21-8-1968, tại Paris phía Mỹ đã ngỏ ý tiếp xúc cấp cao. Ta chấp nhận. Tới thời điểm này, hai bên đã có 18 phiên họp công khai và 4 cuộc tiếp xúc riêng cấp phó đoàn. Từ đây, đàm phán ở Paris bước vào giai đoạn mới.

Trong thiết kế chiến lược về kết hợp đánh với đàm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chủ động mở mặt trận đánh và đàm theo một trình tự logic mà còn dự liệu từ trước lộ trình chiến lược kết thúc đàm và đánh.

Một là, ngoại giao là mặt trận có ý nghĩa chiến lược.

Thành công đầu tiên của đoàn đàm phán ở Paris là đã chủ động kiến nghị Bộ Chính trị điều chỉnh yêu cầu đối với đối phương, nhờ vậy đã tranh thủ thời gian để kịp đi tới thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện vào ngày 31-10-1968 và sau đó tiến hành họp 4 bên vào ngày 25-1-1969. Thắng lợi này có tác động hỗ trợ lớn cho chiến trường miền Nam khi đó đang gặp khó khăn sau “màn 3” của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đồng thời, “ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”, được khẳng định trong Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 4-1969. Sau khi Bác Hồ mất, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn gánh vác trách nhiệm lãnh đạo kết hợp đánh với đàm.

Tiểu ban Việt Nam-CP.50 tinh hoa đã làm việc không kể thời gian. Ở Paris, “binh chủng” ngoại giao và đối ngoại đã đoàn kết keo sơn gắn bó, phát huy tối đa trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân phụ trách. “Bộ ba” Lê Đức Thọ-Xuân Thủy-Nguyễn Thị Bình và “bộ ba” Lê Đức Thọ-Xuân Thủy-Nguyễn Cơ Thạch đã phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả. Hai đoàn của ta “tuy hai mà một, tuy một mà hai”.

Hai là, “Mỹ phải ra, quân ta ở lại”.

Trong gần 3 năm đàm phán, phía Mỹ khăng khăng đòi hai bên phải cùng rút quân. Quán triệt lời dạy của Bác Hồ “dĩ bất biến ứng vạn biến”, ta luôn giữ vững nguyên tắc, nhưng sáng tạo và có sách lược mềm dẻo. Ngay từ ngày 8-5-1969, đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra “Giải pháp toàn bộ 10 điểm”, trong đó điểm 3 nêu rõ: “Vấn đề các LLVT Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”. Sau đó, ta luôn kiên trì sách lược này trong đấu tranh với Mỹ và Mỹ không có lý nào để bác lại (nội dung này đã được ghi ở Điều 13 của Hiệp định). Tới ngày 11-10-1971, trong đề nghị chuyển cho đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mỹ mới không còn nêu vấn đề quân miền Bắc. Trong giai đoạn này, để hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao, ta đã đẩy mạnh tiến công quân sự, làm thất bại cuộc tấn công của địch ở Mỏ Vẹt, Campuchia (tháng 4-1970) và làm phá sản cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang Đường 9-Nam Lào (tháng 2-1971).

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với nụ cười thắng lợi tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Ba là, độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế

Tinh thần và bản lĩnh độc lập tự chủ của tổ tiên được kế thừa, hun đúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” luôn được các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình cùng tập thể đoàn đàm phán quán triệt và thực hiện một cách khéo léo, triệt để trong suốt quá trình đàm phán ở Paris.

Sau thất bại quân sự ở Campuchia và Lào, Mỹ bắt đầu giở trò “đi đêm” với Trung Quốc và Liên Xô để ép ta. Sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, ngày 22-3-1972, Mỹ đã tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô điều kiện với hy vọng dùng tác động bên ngoài để ép ta.

Để hỗ trợ và thúc đẩy đàm phán tới lúc có thể ngả bài, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 30-3-1972, Quân Giải phóng miền Nam mở Chiến dịch Xuân-Hè tấn công địch từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngày 6-4-1972, Mỹ ném bom lại miền Bắc Việt Nam.

Tháng 5-1972, Tổng thống Nixon thăm Moscow. Hai lần Mỹ gợi ý Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ có thể tới Bắc Kinh và Moscow để “thảo luận nghiêm chỉnh” với Henry Kissinger tháp tùng các chuyến thăm của tổng thống, ta đều nhã nhặn từ chối và buộc Mỹ phải tiếp tục đàm phán trực tiếp với ta ở Paris. Khi gặp riêng được nối lại ngày 28-6-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Cố vấn Kissinger: “Trong một ván cờ, quyết định thắng-bại phải là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết vấn đề của chúng tôi”.

Những lần qua Liên Xô và Trung Quốc, đồng chí Lê Đức Thọ đã gặp và thông báo cho lãnh đạo hai nước về tiến trình đàm phán ở Paris nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cả hai nước. Trong quá trình đàm phán ở Paris, đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân đã cùng chủ động và phối hợp chặt chẽ nhằm kết hợp tối ưu sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng được “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Sau khi ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh, Bộ Chính trị quyết định đã tới thời cơ đi vào giải pháp trong đàm phán Paris trước bầu cử ở Mỹ. Ngày 8-10-1972, trong cuộc gặp riêng, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã trao cho Kissinger bản “Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Trong thông điệp ngày 20-10-1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31-10-1972 tại Paris.

Bốn là, “Mỹ chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

“Hòa bình trong tầm tay” đã cuốn theo chiều gió khi Mỹ lật lọng và tiến hành Chiến dịch Linebacker II không kích Hà Nội bằng B-52 từ tối 18-12 đến 30-12-1972 nhằm ép ta ký Hiệp định theo sửa đổi của Mỹ. Nhưng Mỹ đã thất bại vì từ 10 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu và chỉ đạo chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược này khi Mỹ chưa đánh phá miền Bắc và chưa đưa quân vào miền Nam. Năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho đồng chí Phùng Thế Tài, Người căn dặn: “Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B-52 chưa? Nói thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao trên 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52 này”.

Ngày 24-3-1966, Bác Hồ tới thăm Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), xem xác máy bay không người lái tầng cao BQM-34A bị máy bay MiG-21 của ta bắn rơi ở độ cao 18km và căn dặn: Mỹ đã đưa máy bay B-52 vào chiến trường Việt Nam, liên tiếp gây tội ác với đồng bào ta ở miền Nam. Tên lửa của ta có thể bắn tới máy bay B-52, nhưng đánh thế nào để thắng thì cần nghiên cứu. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú PK-KQ. Chúng ta phải quyết tâm bắn rơi máy bay B-52, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Ngay từ bây giờ, các chú phải chuẩn bị đối phó vì sớm hay muộn, Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh phá miền Bắc…

Tháng 6-1966, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ tọa của Bác Hồ đã thống nhất chủ trương: Sớm đưa tên lửa phòng không vào Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B-52. Người đã chỉ thị cho Bộ đội PK-KQ: Muốn thắng địch thì phải hiểu địch, nắm chắc địch, muốn bắt cọp phải vào tận hang. Tháng 8-1966, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bác, Quân chủng PK-KQ bí mật đưa lực lượng tên lửa và radar vào chiến trường Vĩnh Linh, trực tiếp tìm hiểu tính năng kỹ-chiến thuật, nghiên cứu quy luật hoạt động, cách đánh phá của B-52, từ đó tìm ra cách đánh B-52 thích hợp. Trên tuyến đầu Vĩnh Linh, ngày 17-9-1967, ta bắn hạ 2 máy bay B-52 của Mỹ. Đây là chiến công lớn có ý nghĩa chiến lược, khẳng định tên lửa của ta có thể quật ngã “siêu pháo đài bay”.

Cuối năm 1967, sau khi nghe báo cáo của đồng chí Phùng Thế Tài (lúc này là Phó tổng Tham mưu trưởng), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng; ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Nhờ dự báo tài tình cùng sự chỉ đạo sát sao của Bác Hồ, ta đã chuẩn bị chu đáo từ trước với sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô và cuối cùng đã làm nên kỳ tích “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử không chiến thế giới. “Mặt trận trên không” đã được mở đầu và kết thúc đúng như dự liệu thiên tài của Bác. Sau thảm bại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc và quay lại bàn đàm phán. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký tắt ngày 23-1-1973 và được ký chính thức ngày 27-1-1973, với nội dung cơ bản như dự thảo của ta đưa ra hồi tháng 10-1972. Với thắng lợi ngoại giao này, thiết kế chiến lược của Bác Hồ về “đánh cho Mỹ cút” đã được thực hiện.

Năm là, “đánh cho ngụy nhào”.

Sau khi ký Hiệp định Paris, quán triệt sâu sắc thiết kế chiến lược của Bác Hồ trong Thơ chúc Tết Kỷ Dậu 1969, ta đã chủ động chuẩn bị các phương án có thể diễn ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 ngày 13-10-1973 nêu rõ: “Ta phải rất cảnh giác, kiên quyết, bền bỉ, khôn khéo, nắm vững phương hướng chung là ta phải mạnh trên cả 3 mặt trận (chính trị, quân sự, ngoại giao) để thắng địch, buộc địch thi hành Hiệp định, đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn”.

Do ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ hỗ trợ phá hoại Hiệp định Paris, tiến hành các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ” nhằm bình định, lấn chiếm vùng giải phóng, ta không còn lựa chọn nào khác ngoài con đường bạo lực cách mạng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Ôn cố nhi tri tân”, tiếp tục nghiên cứu thiết kế chiến lược-“binh pháp Hồ Chí Minh” về kết hợp đánh với đàm ở tầm cao của thời đại trong thế kỷ 20 sẽ giúp ta rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích, thiết thực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ 21. Đó là dự báo chiến lược đúng đắn đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đúng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ngang tầm trọng trách; thiết kế chiến lược và triển khai thế trận kết hợp chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao và văn hóa linh hoạt, phù hợp với từng thời điểm và ngang tầm thời đại; kết hợp tối ưu sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế nhằm tạo lực và thế mạnh hơn như Bác Hồ đã dạy kế sách tạo “thế thắng lực”: “Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực”… Có như vậy mới có thể giữ nước từ sớm, từ xa và đạt được mục tiêu chiến lược của dân tộc trong từng bối cảnh thế giới và khu vực cụ thể luôn thay đổi.

TS NGUYỄN ĐÌNH LUÂN, nguyên Thư ký Hội đồng khoa học, Bộ Ngoại giao

Nguồn:báo QĐND

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5292/feed 0
KHỞI NGHĨA LAM SƠN- LÊ LỢI https://thuonghylenien.org/luu-tru/5194 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5194#respond Tue, 19 Dec 2023 03:42:53 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5194 ]]> https://thuonghylenien.org/luu-tru/5194/feed 0 NHỮNG TRẬN DANH NỔI TIẾNG THỜI PHONG KIẾN VIỆT NAM https://thuonghylenien.org/luu-tru/5189 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5189#respond Mon, 18 Dec 2023 10:30:40 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5189