
Theo như tư liệu ghi chép lại: vào thời của Thành Cát Tư Hãn, quân đội kiểm soát nghiêm ngặt phần lớn tính mạng và cuộc sống của người dân Mông Cổ. Tất cả các bé trai tròn 14 tuổi đều phải gánh vác được chức vụ trong quân đội, chỉ ngoại trừ bác sĩ, ‘ngỗ tác’ – người khám nghiệm tử thi, và tăng sĩ…
Nhà quân sự kiệt xuất Thành Cát Tư Hãn từng xây dựng đế quốc Mông Cổ trên khắp địa lục Á – Âu, trong cuộc đời chinh chiến đầy màu sắc huyền thoại của mình, Thành Cát Tư Hãn đã tạo ra một đội quân thiết chiến bất khả chiến bại.
Đội quân Mông Cổ năm xưa tại sao được gọi là hình mẫu tiên phong để cho quân đội hiện đại sau này tham chiếu chiến thuật, hình thành nên tổ hợp từ pháo và xe tăng? Tác chiến nơi tiền tuyến mấy trăm cây số, các đội quân Mông Cổ độc lập riêng biệt làm sao có thể phối hợp xuất sắc đến như thế? Tại sao trong trang bị của mỗi một binh lính Mông Cổ đều phải có một cái áo lót lụa?
Trong cuốn sách “Cơn Bão Phương Đông: Từ Thành Cát Tư Hãn đến Hốt Tất Liệt, khuấy động lãnh thổ Á – Âu” có giới thiệu chi tiết về phương pháp đặc biệt của Thành Cát Tư Hãn trong việc xây dựng và quản lý quân đội như sau:
Theo như tư liệu ghi chép lại: vào thời của Thành Cát Tư Hãn, quân đội kiểm soát nghiêm ngặt phần lớn tính mạng và cuộc sống của người dân Mông Cổ. Tất cả các bé trai tròn 14 tuổi đều phải gánh vác được chức vụ trong quân đội, chỉ ngoại trừ bác sĩ, ‘ngỗ tác’ (người khám nghiệm tử thi) và tăng sĩ.
Sau khi được kêu gọi nhập ngũ, những binh lính trẻ tuổi rời khỏi gia tộc của mình, mang theo bốn năm con ngựa để thay dọc đường, đi đến đơn vị quân sự được xây dựng bất cứ lúc nào. Vợ và con cái đều đi theo quân đội, khi quân đội di dời, người nhà cũng mang theo gia súc để di dời cùng.
Lều của bác sĩ và địa điểm phân phối vũ khí đều được thiết lập riêng biệt bên ngoài khu vực bình thường, như vậy một khi có người mới cưỡi ngựa đến Oát Nhĩ Đóa (tức doanh trại quân đội) để gia nhập vào đội quân, họ sẽ ngay lập tức tìm được bác sĩ và nhận vũ khí được phân bổ. Sau đó lính mới sẽ gia nhập vào trong đơn vị quân sự của họ. Những đơn vị quân sự này được chia thành Yêm ban: tức là một đội mười người cơ bản nhất; Trát hồn: gồm 10 Yêm ban hoặc đội quân 100 người; Minh an: 10 Trát hồn hoặc đội quân một ngàn người; Thổ man: 10 Minh an hoặc đội quân mười ngàn người.
Oát Nhĩ Đóa sẽ do quan quân nhu hay còn gọi là vũ nhi dịch quản lý, họ phụ trách cung cấp và quyết định địa điểm di trú.
Binh lính cần phải đảm bảo trang bị của mình luôn hoạt động tốt, và tiếp nhận kiểm tra định kỳ của tướng lĩnh. Nếu như không giữ gìn tốt trang bị của mình, thông thường sẽ bị khai trừ khỏi quân đội, bị đưa trở về nhà. Trong trạng bị của mỗi một binh lính đầu tiên là có một chiếc áo lót bằng lụa, đây là một thứ rất thú vị được du nhập từ Trung Nguyên. Nếu như binh lính không may bị mũi tên bắn vào người, tuy là mũi tên đó có thể bắn xuyên qua áo giáp, nhưng không thể bắn thủng áo lót lụa. Miếng vải lụa sẽ theo đầu mũi tên cắm vào trong vết thương. Thông thường mà nói, muốn nhổ một mũi tên ra khỏi cơ thể, sẽ gây ra vết thương lớn hơn là bị một mũi tên bắn vào người, nhưng nếu như là một mũi tên bị vướng vải lụa bắn vào cơ thể, vậy thì việc nhổ mũi tên sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Bản thân người lính hoặc bác sĩ chỉ cần kéo nhẹ miếng vải xung quanh vết thương là có thể lấy được đầu mũi tên ra khỏi người, mà không gây ra vết rách lớn hơn.
Bên ngoài áo lót lụa thông thường là một cái áo ngoài buộc lưng, nếu như là một trọng kỵ binh, còn có thêm một áo giáp và một áo yếm làm bằng da, bên ngoài miếng da có các miếng sắt hình vảy cá. Mỗi một binh lính đều có một cái khiên gỗ liễu, và một chiếc mũ giáp, có thể là mũ giáp da hoặc mũ giáp sắt, tùy theo cấp bậc của binh lính. Còn có hai cây cung phức hợp và một túi mũi tên không dưới 60 mũi. Khinh kỵ binh có một cây đoản kiếm và hai ba cây giáo, trọng kỵ binh thì sử dụng dao lưỡi cong, rìu chiến, chùy và một cây giáo dài khoảng 4 mét. Trang bị của binh lính còn bao gồm vật dụng lữ hành. Đương nhiên họ đều trang bị dụng cụ cho ngựa, dụng cụ nấu ăn, thịt khô, bình nước, dao dùng để mài mũi tên, kim chỉ và những vật dụng hữu ích khác. Túi yên ngựa thông thường là một cái dạ dày của bò, nó có thể chống nước, độ đàn hồi cũng rất tốt, ngoài ra khi lội qua sông còn có thể dùng nó để làm vật nổi.

Chân dung của Thành Cát Tư Hãn. Tranh vẽ trên lụa, trích album về dòng dõi Nhà Nguyên, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan.
Thành Cát Tư Hãn lập ra một chế độ vô cùng quan trọng, chính là biến hoạt động săn bắn mà người dân du mục yêu thích nhất thành các buổi huấn luyện quân sự. Bất luận con mồi săn được là sói, lợn rừng hay là nai, việc săn bắn đều biến thành một loại huấn luyện, trong quá trình huấn luyện sẽ tạo được niềm tin hợp tác hỗ trợ nhau cho các chiến sĩ. Loại huấn luyện bằng săn bắn này thông thường được tiến hành vào mùa đông, kéo dài trong ba tháng, tất cả binh lính đều phải tham gia. Căn cứ vào quy mô của đơn vị quân sự để sử dụng các loại chiến thuật khác nhau.
Một đội quân nhỏ có thể sẽ được ra lệnh giãn ra ở các điểm theo hình vòng cung. Con mồi sẽ bị một loạt những cuộc tấn công được lên kế hoạch tỉ mỉ dồn vào một nơi có lợi cho việc săn bắt nhất. Đôi lúc con mồi sẽ bị săn đuổi chạy theo một vài kỵ thủ, kỵ binh, khiến những con mồi ở phía sau bị rơi vào bẫy. Ngụy trang và đánh lừa là chiến thuật thường gặp ở người Mông Cổ, hơn nữa còn thành công hết lần này đến lần khác. Một khi con mồi chạy đến địa điểm được xác định từ trước, những kỵ binh mai phục sẵn ở xung quanh nơi đó sẽ lập tức chạy lên bao vây và bắt giết.
Còn có một thế trận thường được sử dụng là cho các binh lính của một đơn vị quân đội xếp thành hàng ngang – tại điểm xuất phát xếp thành hàng ngang như một con rắn dài, đôi lúc dài khoảng 130km. Khi có tín hiệu, đội quân với đầy đủ vũ trang giống như đang ở trong chiến trường, lập tức xông thẳng đến đích. Kiểu huấn luyện này cực kỳ có ích cho những trận đánh ở trên đồi núi, Đại Hãn và tùy tùng của ông có thể nhìn thấy toàn bộ quá trình tấn công. Tiếp theo binh đoàn được trang bị đầy đủ vũ trang không ngừng tiến về phía trước, quét sạch và đuổi theo tất cả những con mồi mà họ nhìn thấy trên đường đi.
Các loại hình hoạt động tương tự cho đến ngày nay vẫn được cử hành trong lễ hội Naadam của người Mông Cổ. Naadam là một kiểu so tài trên lưng ngựa hiện đại, biểu diễn những kỹ năng truyền thống của Mông Cổ như bắn tên, đấu vật trên lưng ngựa và cưỡi ngựa. Lộ trình đua ngựa dài khoảng 30km hoặc hơn, số người tham gia thông thường lên đến 500 người, lúc đầu họ đều cưỡi rất bình thường, không nhanh không chậm, sau đó mới từ từ tăng tốc, cuối cùng khi sắp đến đích thì mới phi nước đại.
Trong săn bắn, thế trận rắn xếp hình ngang khi sắp chạy đến đích, hai bên cánh sẽ tăng tốc, vượt qua những kỵ binh ở chính giữa, toàn bộ thế trận biến thành một hình vòng cung cực lớn. Sau đó hai bên cánh sẽ bắt đầu chạy về phía đối phương, bao vây những con mồi đã bỏ chạy kiệt sức. Trong quá trình tiến lên từ điểm xuất phát đến đích, không được phép giết bất cứ con mồi nào, nhưng nếu như để con mồi thoát khỏi vòng vây thì càng xấu hổ hơn. Trong toàn bộ quá trình săn bắn tướng lĩnh sẽ đi ở phía sau binh lính để phát hiệu lệnh cho họ, chỉ huy toàn bộ hành động.
Người Mông Cổ cũng phát triển một hệ thống thông tin cực kỳ đáng tin cậy, thông qua cờ, ngọn đuốc hoặc kỵ binh tín sứ để truyền tín hiệu ở khoảng cách xa. Những cách làm này giúp họ đạt được hiệu quả tốt nhất trong lĩnh vực truyền tin: Đạt được hiệu quả thông tin cao mà lại đáng tin cậy. Thông qua hệ thống thông tin siêu việt này, giúp cho tất cả các đơn vị quân sự của Mông Cổ duy trì được sự liên hệ không gián đoạn, nhận được lệnh lập tức hành động, ngay ngắn chỉnh tề.
Một tiết mục biểu diễn cuối cùng trên sân khấu săn bắn được chuẩn bị kỹ lưỡng này chính là các binh lính sẽ biểu diễn kỹ thuật chiến đấu của mỗi người. Sau khi hai bên cánh hợp lại hình thành một vòng vây lớn, Đại Hãn sẽ từ vị trí của mình đi vào trong vòng vây, lựa chọn một con mồi cho mình. Đây thực sự là một chuyện mang tính thách thức rất cao, bởi vì Đại Hãn sẽ trình diễn khả năng chiến đấu của mình ở trước mặt mọi người. Khi Đại Hãn bắt được con mồi của mình và quay trở về trên núi, lúc đó mới đến lượt các binh lính. Mỗi người đều có cơ hội biểu diễn kỹ năng sử dụng kiếm, cung tên hoặc giáo dài trước mặt tướng lĩnh của mình. Cuối cùng, những người già và trẻ em sẽ cầu xin Đại Hãn phóng sinh những con dã thú vẫn còn sống, sau khi được phê chuẩn thì cuộc săn bắn sẽ chính thức kết thúc.
Thông qua kiểu huấn luyện này, người Mông Cổ phát triển thành một loại chế độ diễn tập quân sự, giúp cho họ mãi mãi duy trì được một đội quân chuyên nghiệp tràn đầy sức chiến đấu, điều này rất hiếm thấy trong thế kỷ 13. Ngoài kỹ năng cưỡi ngựa, bắn tên và dùng kiếm ra, mỗi một chiến sĩ Mông Cổ đều phải học cách tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật quân đội, phối hợp với nhau và phục tùng mệnh lệnh. Tuy rằng chiến thuật của người Mông Cổ so với chiến thuật của những bộ lạc du mục khác không có sự khác biệt về bản chất. Nhưng mưu lược của họ đầy đủ hơn và tính sáng tạo cũng táo bạo hơn. Đuổi bắt con mồi chính là đuổi bắt kẻ địch, chỉ trong chốc lát là các tướng lĩnh đã có thể đưa ra mưu lược khiến kẻ địch trở tay không kịp. Dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, người Mông Cổ đã tạo ra một quân đội hiện đại tuyệt thế vô song.
Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch

Đương thời, mỗi lần nghe thấy bốn từ “Thiết kỵ Mông Cổ”, cả đại lục Âu, Á, Phi đều không khỏi run sợ…
Họ được mệnh danh là bất khả chiến bại, vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu là chiến thắng vang dội đến đó. Điều gì đã tạo nên một đội quân dũng mãnh thiện chiến như vậy? Ở họ có điều gì khác biệt?…
Sở dĩ thiết kỵ Mông Cổ có thể đánh đâu thắng đó là do thói quen ăn uống đặc biệt của người Mông Cổ. Quân đội Mông Cổ “xuất nhập chỉ uống sữa ngựa hoặc giết thịt dê làm thức ăn”. Điều này quyết định việc khi hành quân đánh trận họ chỉ cần mang theo ngựa cái và các gia súc khác. Trên đường xuất chinh sẽ cung cấp cỏ và nước cho vật nuôi, quân đội Mông Cổ có thể tự cung cấp, như vậy giảm bớt rất nhiều gánh nặng cho đội ngũ khi hành quân.
Nếu nguồn cung cho gia súc không đủ, có thể tìm được nơi cỏ non nước trong để bù vào; nếu lương thực của binh sĩ thiếu hụt lại càng đơn giản, bởi sở trường của họ là cưỡi ngựa bắn tên, lúc nào cũng có thể giương cung bắn đại bàng, thỏ, sóc và muông thú… Không chỉ vậy còn một nguồn cung lớn khác khá đặc biệt chính là dũng mãnh công thành, mỗi khi công hạ một thành trì, việc đầu tiên họ sẽ không khách khí mà cướp, cướp đồ ăn, cướp vật tư, cướp phụ nữ. Nhờ vào việc săn bắt, cướp bóc họ chẳng cần băn khoăn nỗi lo thiếu hụt hậu cần.
Đội quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh chủ yếu là kỵ binh, họ là lực lượng nòng cốt của quân đội, hơn nữa “người Thát Đát lớn lên trên lưng ngựa, tự học cách chiến đấu từ mùa xuân đến mùa đông, ngày ngày săn bắn”. Binh sĩ Mông Cổ có tư chất rất cao, bởi Mông Cổ là một quốc gia tôn sùng vũ lực, mọi người dân từ trẻ tới già đều là binh lính. Sự dũng cảm của người Mông Cổ được hình thành từ những bài huấn luyện từ nhỏ trên lưng ngựa, đến khi trưởng thành mỗi người đã trở thành một người lính thực thụ với sức chiến đấu dũng mãnh. Tinh thần phục tùng, kiêu dũng, ngoan cường chính là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của đội kỵ binh Mông Cổ.
Kỵ binh Mông Cổ có kỷ luật rất nghiêm ngặt, khi đánh trận vô cùng dũng mãnh, tốc chiến, linh hoạt. So với kỵ binh Châu Âu, áo giáp của kỵ binh Mông Cổ phần lớn được làm từ da, nhẹ nhàng lại bền dai, tiết kiệm thể lực cho binh sĩ. Các binh sĩ thường lựa chọn vũ khí theo sở thích cá nhân, họ mang theo nào cung tên, đao, giáo, thậm chí cả dây chão bắt ngựa… rất nhiều loại binh khí bên mình có thể giúp họ hoàn thành những nhiệm vụ khác nhau, khiến kẻ địch trở tay không kịp.
Không chỉ người Mông Cổ mà ngựa Mông Cổ cũng có sức bền đáng kinh ngạc. Chúng có thể chạy 120 km một ngày, hơn nữa cả chặng đường chỉ cần nghỉ đúng một lần để uống nước và ăn cỏ. Chính những con ngựa thảo nguyên này càng làm tăng thêm ưu thế cho đội thiết kỵ Mông Cổ.
Quân đội Mông Cổ khi đánh trận rất chú trọng sách lược. Họ được tổ chức cực kỳ nghiêm ngặt, khi điều động cũng rất nhanh chóng linh hoạt. Mười nghìn binh sĩ được phân thành 10 đội mỗi đội 1000 người, mỗi đội lại được phân thành 10 nhóm nhỏ mỗi nhóm 100 người. 10.000 binh sĩ này do thân tín hoặc họ hàng của Đại Hãn chỉ huy. Ở cấp độ lớn hơn, cứ hai vạn người làm thành một đội quân, ngoài ra còn có một vạn người có thể chất mạnh mẽ và kỹ năng tốt được đích thân Đại Hãn lựa chọn lập thành “đội quân hộ vệ” tinh nhuệ gọi là Khiếp tiết quân. Đội quân này trong thời bình được phân thành 4 ban hộ vệ, khi xảy ra chiến tranh sẽ theo Đại Hãn xuất chinh. Thành Cát Tư Hãn đã chinh chiến cả cuộc đời mình, hầu hết các trận chiến đều là công thành, thường dùng chiến thuật tấn công táo bạo, đột kích bất ngờ, đánh cấp tốc, bởi ông luôn chủ trương dùng binh thần tốc, tiến công mạo hiểm, tiến nhanh đánh mạnh, tốc chiến tốc thắng.
Các cá nhân tướng lĩnh được quyền tự chủ cực lớn trong khi tác chiến, thông tin liên lạc luôn được thông suốt trong quân đội. Phía trước đại quân luôn có đội ngũ trinh sát gửi về thông tin về tình hình quân địch bất cứ lúc nào. Người Mông Cổ đặc biệt thích kết giao với thương nhân và chiêu mộ họ làm công việc tình báo. Thành Cát Tư Hãn từng thành lập một tổ chức tham mưu kiện toàn có hiệu quả cực cao. Tổ chức này có cả người Hán, người Khiết Đan, người Ả Rập… nhiệm vụ của họ là thu thập thông tin tình báo từ các nước để vạch ra kế hoạch tác chiến. Thành Cát Tư Hãn rất coi trọng việc đánh bại kẻ thù về mặt chiến lược, trước mỗi cuộc chiến ông luôn cử người thu thập thông tin tình báo chi tiết và dựa vào đó lên kế hoạch cẩn thận chu toàn, giành chiến thắng bất ngờ trước kẻ địch.
Kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn có một đội quân tiên phong hoàn chỉnh với hệ thống tác chiến tiên tiến nhất lúc bấy giờ. Từ cung cấp hậu cần đến khả năng cơ động linh hoạt, rồi đến chiến lược quân sự thậm chí là thông tin tình báo, tất cả tập hợp thành một hệ thống quân sự hoàn chỉnh, đạt đến trình độ cao nhất của kỵ binh thời đó, bởi vậy chẳng phải khoa trương khi nói đó là đội quân bất khả chiến bại, nhất là khi đội quân toàn diện đó được lãnh đạo bởi một nhân tài quân sự kiệt xuất – Thành Cát Tư Hãn. Trên khắp đại lục Á, Phi, cái tên “Thiết kỵ Mông Cổ” sẽ còn vang mãi khiến người ta khiếp sợ.
Theo Aboluowang
Quỳnh Chi biên dịch

Nếu Hà Nội nổi tiếng với cốm làng Vòng thì lên Yên Bái thực khách sẽ được thưởng thức cốm Tú Lệ – món quà mùa thu từ những thửa ruộng bậc thang vùng Tây Bắc. Cùng thời điểm mùa vàng rực rỡ nơi Mù Cang Chải, La Pán Tẩn, Chế Cu Nha… cũng là lúc mùa cốm non Tú Lệ bắt đầu.
Cứ mỗi độ thu về, khoảng tháng 9, tháng 10 hàng năm chỉ cần đi qua hai bên đường dọc Tú Lệ, bạn có thể ngửi thấy hương thơm dịu với những tiếng chày đập nhịp nhàng khắp thôn bản. Vì cốm được làm từ lúa non, nên chỉ có mùa thu người dân Tú Lệ mới làm cốm. Từ già trẻ, gái trai ai cũng háo hứng, nô nức đón mùa cốm mới, không khí lúc nào cũng vui như Tết.
Là vùng núi phía Bắc với khí hậu mát mẻ, chênh lệch biên độ nhiệt ngày và đêm lớn nên lúa ở đây là sự kết hợp tinh túy của đất trời. Vậy nên, cốm Tú Lệ Yên Bái có hương vị và mùi thơm đặc trưng khác hoàn toàn.
Cốm Tú Lệ không chỉ là đặc sản mà đã trở thành một phần cuộc sống của người dân Yên Bái, vậy nên người dân nơi đây rất cẩn thận, tỉ mỉ trong từng bước làm cốm.
Để làm nên những hạt cốm hoàn hảo, ngay từ sáng sớm tinh mơ, người dân trong bản đã phải ra đồng lựa lúa. Đó phải là những hạt lúa còn ngậm sữa thời kỳ đang uốn câu. Đặc biệt lúa cắt xong phải được làm cốm ngay nếu không cốm mất tươi xanh và mất ngon.

Công đoạn sàng lúa làm cốm (Ảnh chụp màn hình: Voyage Vietnam)
Lúa làm cốm không được vò hay đập mà phải tuốt rồi sàng bỏ rơm, những hạt lép, sau đó mới đãi qua nước và cho vào chảo rang. Theo dân làng, rang cốm là bước quan trọng nhất. Muốn cốm thơm ngon phải dùng bếp lò đắp bằng xỉ than, dùng củi chứ tuyệt đối không đốt than.
Còn chảo rang phải bằng gang đúc, có vậy cốm rang mới không cháy mà mềm dẻo. Khi rang để lửa nhỏ, đảo đều tay và liên tục cho đến khi hạt lúa nóng đều, nở bung chấu và tỏa ra mùi thơm nhẹ.
Cốm rang xong để nguội rồi đem đi giã. Khi đó, một người đạp chày, một người đảo bằng đũa cả để cho hạt cốm không bị nát. Thông thường để vỏ chấu tách ra và hoàn thành một mẻ cốm cần khoảng 10 lần giã. Khi mẻ cốm hoàn tất, mọi người sẽ dùng sàng để lọc tiếp để chọn ra những hạt đẹp nhất, có màu xanh mướt rồi dùng lá dong gói lại. Nhờ đó mà giữ trọn vị thơm, độ dẻo của hạt ngọc xanh Tú Lệ.
Và khi thưởng đặc sản cốm Tú Lệ Yên Bái, bạn nên nhẹ nhàng, chậm rãi để cảm nhận trọn vẹn hương vị tinh túy trong những gói cốm đong đầy.
Theo dulichvietnam
]]>
Trung Hoa từ xa xưa đã là một quốc gia của nghi lễ và âm nhạc, với nền văn minh âm nhạc có một lịch sử rất lâu dài. Khi âm nhạc cổ điển như một làn sóng trào dâng, ta có thể thấy như trong không trung xuất hiện những đỉnh núi cao, như dòng nước chảy ra từ khe suối, như cây trúc trong rừng lay động, như tuyết rơi mùa đông giá lạnh, như cuộc sống nghìn năm của con người trỗi dậy.
Đó là cảm giác không thể giải thích, là vô tận, là vẻ đẹp của âm nhạc cổ điển Trung Hoa. Đây là thứ nghệ thuật văn hóa tinh hoa Trung Hoa và là kho báu của nền văn minh thế giới. Vậy những loại nhạc cụ nào đã góp phần tạo nên đôi bờ cho dòng chảy âm nhạc ngàn năm đó?
1 Huyên (sáo huân)

Huyên là một trong những loại nhạc cụ từ thời cổ xưa, đã tồn tại khoảng 7.000 năm về trước. Tương truyền, cội nguồn của Huyên là công cụ của người đi săn có tên là “Đá Sao sa”. Ngày xưa, người ta thường thường buộc hòn đá hoặc hòn đất lên một sợi dây rồi ném chim ném thú, có hòn đá bên trong rỗng, khi ném gió lùa vào có thể phát ra âm thanh. Mọi người cảm thấy thú vị liềm đem thổi chơi. Sau này, mọi người thấy thú vị, bèn lấy quả bóng đó thổi chơi, sau đó dần dần nó trở thành một nhạc cụ.
Khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước, Huyên đã phát triển từ có 1 lỗ âm thành có 2 lỗ âm, có thể thổi ra 3 âm điệu. Đến thời Xuân Thu, Huyên đã có 6 lỗ âm, có thể thổi ra 7 âm điệu hoàn chỉnh. Âm thanh của nó rất đơn giản mà độc đáo. Lúc đầu, Huyên phần lớn được làm từ đá và xương, sau đó dần dần phát triển thành làm bằng gốm. Huân có nhiều hình dáng, trong đó Huân hình quả lê phổ biến nhất. Cấu tạo của Huân ở trên hơi nhọn, dưới nở ra và có đáy phẳng. Phía trên cùng có 1 lỗ, phía trước có 5 lỗ, phía sau có 2 lỗ. Huân có thể thổi lên tiếng lớn như còi thét. Ống Huân lớn bằng trứng ngỗng được gọi là Nhã Huân, nhỏ bằng trứng gà thì gọi là Tụng Huân. Huyên đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử nghệ thuật nguyên thủy trên thế giới.
2. Cổ Cầm

Cổ cầm còn được gọi là dao cầm, ngọc cầm, tơ đồng hoặc thất huyền cầm, là một nhạc cụ truyền thống của tộc người Hán Trung Hoa. Có lịch sử hơn 3.000 năm thuộc bộ dây dạng gảy gồm có 7 dây đàn. Cổ cầm có âm vực rộng, âm sắc sâu lắng và tiếng vọng ngân dài. Cổ cầm không chỉ đơn giản là một loại nhạc cụ dùng để biểu diễn những khúc nhạc đi vào lòng người mà còn là phương tiện để mọi người tu thân dưỡng tính, giá trị của Cổ cầm còn ẩn chứa sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, trời đất và vũ trụ.
3. Biên chuông (chuông nhạc)

Biên chuông là nhạc cụ gõ có quy mô lớn của người Hán cổ đại Trung Hoa bao gồm một bộ chuông chùm bằng đồng. Biên chuông còn là một nhạc cụ quan trọng trong nhạc cung đình và nhạc lễ Trung Hoa từ thời cổ đại. Biên chuông được phát triển nhất trong thời đại Tây Chu. Trung Hoa là quốc gia đầu tiên sản xuất và sử dụng loại hình nhạc cụ này.
4. Địch tử (Sáo)

Địch Tử, hay còn được gọi là sáo trúc, là một nhạc khí truyền thống của Trung Hoa. Được sử dụng trong âm nhạc dân gian, opera, dàn nhạc quốc gia, dàn nhạc giao hưởng và âm nhạc hiện đại. Nó thường được chia thành khúc địch phía nam và bang địch phía bắc, ngày xưa chữ “địch” trong tiếng Hán cổ có nghĩa là : “ Rửa sạch sẽ” , vì tiếng sáo rất trong rất thanh. Sáo chủ yếu được làm bằng trúc, cũng có sáo làm bằng gỗ, ngọc bích hoặc các vật liệu khác.
Người giỏi thổi sáo đời xưa có Hoàn Y đời Tấn, lúc đương thờI tài nghệ sáo của ông được tôn là “Giang tả đệ nhất“, người đời nói bản cầm khúc “Mai hoa tam lông“ trong “Thần kỳ mật phổ” chính là cải biên từ bản nhạc sáo “Tam điệu” của ông.
Còn Lý Bạch với bản nhạc sáo “Xuân dạ thành lạc văn địch“ như sau:
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Tán nhập xuân phong mãn lạc thành
Thử dạ khúc trung văn chiết liễu
Hà nhân bất khởI cố quốc tình
Dịch nghĩa:
Tiếng sáo ngọc nhà ai thầm bay ra
Hòa vào gió xuân lan khắp Lạc thành
Khúc nhạc đêm nay nghe thấy tiếng liễu gãy
Ai mà không chạnh lòng niềm cố quốc .
Đủ cho thấy ma lực nghệ thuật của tiếng sáo này đến dường nào !
5. Đàn Tì Bà

Đàn tỳ bà vốn được vinh danh là vua của các loại nhạc cụ cổ Trung Hoa với 2.000 năm lịch sử; hình dạng của nó đối ứng với tam tài (Thiên, Địa, Nhân), ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và tứ quý (bốn mùa). Chiều dài của nó là 3 thước 5 tấc (khoảng trên dưới 1m), 3 thước tượng trưng cho tam tài, 5 tấc thể hiện ngũ hành, 4 sợi dây đàn lại thể hiện cho tứ quý. Kỹ thuật gảy đàn tỳ bà có độ khó khá cao.
Đàn Tỳ Bà được chế tác bằng gỗ cây ngô đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Âm thanh của đàn Tỳ Bà trong sáng, vui tươi, thể hiện tính chất tươi sáng và trữ tình.
6. Đàn Nhị hồ

Đàn nhị hồ là một trong những loại nhạc cụ thuộc bộ dây (nhạc cụ gảy) chủ yếu của Trung Hoa, đã có lịch sử hơn 4.000 năm.
Âm sắc thuộc loại âm vực trung cao, tiếng đàn êm ái du dương, cảm xúc mãnh liệt bi tráng, là một loại nhạc cụ có thể đại biểu cho lịch sử đầy biến động và tình cảm tinh tế nồng nàn của dân tộc Trung Hoa.
Âm chất thường mang cảm xúc trầm lắng và bi thương. Đàn nhị hồ chỉ có hai sợi dây, một sợi là sợi ngoài, một sợi là sợi trong. Sự cọ sát giữa hai sợi dây đàn có độ dày khác nhau được buộc vào trục đàn tạo nên độ rung và phát ra âm thanh. Đối với những người mới học đàn nhị hồ thì hai vấn đề hóc búa là nắm vững âm chuẩn và kỹ thuật nhấn dây đàn, đặc biệt là khi chuyển từ vị trí âm vực thấp thành vị trí âm vực cao lại càng khó khống chế hơn.
7. Đàn Cổ Tranh

Đàn Cổ Tranh còn có tên là đàn thập lục, đây là một nhạc cụ dân tộc cổ đại được sinh ra và lớn lên gắn liền với nền văn hóa lâu đời Trung Hoa, có lịch sử hơn 2.500 năm. Đàn truyền thống có 16 dây nên nó có tên gọi là Thập Lục. Đàn Cổ Tranh thường được làm bằng gỗ cây phượng. Cấu tạo của đàn gồm một hộp âm thanh hình chữ nhật và một bề mặt trong một đường cong với chuỗi chặt chẽ, đó là một bộ có 13 dây trong triều đại nhà Đường và sau đó tăng lên 16. Ngày nay, có một số loại Đàn Cổ Tranh hiện đại có đến 21 dây. Âm sắc đàn cổ tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi.
8. Tiêu

Tiêu thường có dạng ống trụ tròn như sáo trúc, nhưng khi sử dụng lại để theo phương dọc và thổi dọc theo thân ống. Nó có âm sắc trang nhã, mộc mạc, phù hợp để diễn tả những giai điệu trữ tình, những tình cảm sâu sắc. Hai loại tiêu phổ biến nhất là C và D (tức tiêu đô và tiêu rê), các loại tiêu trầm hơn thường không phổ biến bằng vì khó sử dụng hơn: lỗ bấm cách nhau xa hơn, thổi tốn nhiều hơi…Tiêu cũng là một nhạc cụ thổi rất xa xưa của Trung Hoa cổ đại.
9. Không hầu hay đàn không
Không Hầu cũng là loại đàn gảy cổ xưa của Trung Quốc. Theo khảo cứu, đàn này lưu truyền đến nay đã hơn 2.000 năm. Ngoài sử dụng trong giàn nhạc cung đình ra, đàn Không Hầu còn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Thế nhưng, cây đàn cổ xưa này từ sau thế kỷ 14 đã không còn lưu hành nữa, và dần dần không còn tồn tại nữa, mọi người chỉ có thể xem hình dáng một số đàn Không hầu từ trên bích họa và chạm nổi.
Đàn Không Hầu lưu hành vào thời cổ Trung Quốc chủ yếu là đàn nằm và đàn đứng. Đàn Không Hầu có hai hàng dây, mỗi hàng 36 dây, mỗi dây đều do trụ hình chữ nhân đỡ trên hộp đàn. Do hai hàng dây đàn đồng âm với nhau, khi gảy bản nhạc có giai điệu nhanh và âm rộng, rất tiện lợi, nó có thể gảy cùng lúc bằng hai tay, lại có thể dạo và đệm nhạc trong tầm âm vừa, là điều mà các lọai nhạc cụ khác khó mà so sánh được.

Các loại nhạc cụ cổ truyền Trung Hoa gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm phát triển văn hóa và nghệ thuật của dân tộc, không gắn với tên tuổi của người sáng chế nào, nhưng có sức sống và sức biểu cảm hầu như vô tận, tương tự như tình cảm và trí tuệ của con người, không ngừng được bồi đắp và làm cho phong phú.
Theo Soundofhopes.org
Uyển Vân biên dịch
]]>

Trong cuộc sống hiện đại sôi động và nhộn nhịp trên mặt đất, người ta ít khi nhớ tới những thành phố xưa kia từng thịnh vượng nhưng nay đã bị nhấn chìm trong biển nước.
Sức mạnh của con người không thể sánh được với tự nhiên, có nhiều thành phố và nền văn minh đã bị sức mạnh của tự nhiên khiến cho biến mất khỏi thế giới và ký ức của con người. Lấy Pompeii làm ví dụ, đó là một thành phố lớn và sầm uất của La Mã bị lãng quên trong nhiều thiên niên kỷ sau khi bị núi lửa Vesuvius tàn phá và dung nham bao phủ. Có vô số trường hợp khác giống như vậy, mặc dù không phải tất cả chúng đều bị vùi lấp trong đất. Bài viết này sẽ kể về 7 thành phố lớn không bị chôn vùi trong đất mà đã bị nhấn chìm trong nước.
Địa điểm này giờ đây đã trở thành Công viên khảo cổ dưới nước Baia, trước kia từng là một thành phố của La Mã cổ đại nhưng hiện nay bị nhấn chìm dưới biển Tyrrhenian, nơi rất gần với thành phố bị núi lửa hủy hoại Pompeii nói trên.

Baiae từng là khu nghỉ mát La Mã nổi tiếng một thời, nhưng nay chỉ còn lại những tàn tích trong lòng biển. Khách tham quan chiêm ngưỡng những gì còn lại của nền văn minh này qua những chiếc thuyền đáy kính, hoặc lặn xuống biển. Vào thế kỷ thứ 8 nó là một khu nghỉ dưỡng spa lớn của La Mã và một đô thị tiệc tùng thực sự, thường được ví như Las Vegas ngày nay. Phần lớn là nhờ thành phố nằm ngay dưới lỗ thông hơi của núi lửa, tạo ra suối nước nóng được cho là có khả năng chữa bệnh.

Nhiều hoàng đế La Mã và các nhà quyền quý thậm chí còn có biệt thự riêng trong thành phố này. Ngày nay, tàn tích còn sót lại của một khu nghỉ dưỡng sang trọng là những con đường lát đá uốn lượn, hàng cột kiểu La Mã, các tác phẩm điêu khắc dưới nước và các hang động ẩn mình dưới làn nước sâu 6 mét.
Các văn bản tiếng Phạn có kể về thành phố cổ Dwarka, một vương quốc tráng lệ, giàu có và vinh quang tột bậc, được xây dựng bởi vị thần Hindu là Krishna. Cho đến tận năm 2000, thành phố này chỉ được coi là giai thoại, nhưng sau đó, Viện Công nghệ Đại dương Quốc gia Ấn Độ đã tìm thấy tàn tích của một thành phố cảng rộng lớn, sâu 40 mét so với bề mặt Vịnh Khambhat.

Ngày nay, tàn tích của thành phố cổ này là một trong những di tích dưới nước được nghiên cứu nhiều nhất ở Ấn Độ. Nhiều cổ vật, như tác phẩm điêu khắc, đồ gốm, và thậm chí xương người đã được đưa lên mặt đất. Cũng có những bằng chứng về phần còn lại của một thương cảng lớn trong thành phố, cho thấy nó đã từng có một nền giao thương phát triển với nước ngoài.
Nghiên cứu đồng vị phóng xạ carbon tiết lộ rằng thành phố này có ít nhất 9.500 năm tuổi, trước hàng ngàn năm so với các cấu trúc từ các nền văn minh khác như Ai Cập cổ đại, Sumerian, Trung Hoa và Indus Valley từng được tìm thấy. Cho đến ngày nay, người ta vẫn chưa xác định được thành phố đồ sộ này thuộc về nền văn minh nào.
Từng nổi tiếng là “thành phố đồi bại nhất trên trái đất”, có tới hai phần ba của Port Royal – trụ sở cũ của Chính phủ thuộc địa Anh quốc và thành phố lớn nhất vùng Caribbe – đã bị nhấn chìm xuống đáy đại dương do một trận động đất lớn kéo theo một trận sóng thần tàn khốc vào năm 1692. Trước khi thảm họa xảy ra, bến cảng của thành phố này là địa điểm yêu thích của những tên cướp biển và những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, đó thành phố mới có biệt danh xấu xí nói trên.

Trong khi đại đa số thành phố cổ này nằm ẩn mình dưới những con sóng và có thể nhìn thấy bằng mắt thường, nó trở thành một kho báu lịch sử, che giấu những bí mật của thời kỳ đầu cai trị của Anh quốc ở Jamaica. Một số cổ vật được phát hiện đã được lấy lên và trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Jamaica ở Kingston.

Vùng biển gần đảo Yonaguni, cực nam của quần đảo Ryukyu ở Nhật Bản là một điểm đến phổ biến của các thợ lặn, với mục đích nghiên cứu loài cá mập búa trú đông ở đó. Năm 1986, trong một lần lặn ở khu vực này, thợ lặn Kihachiro Aratake đã ghi nhận một số cấu trúc dưới đáy biển giống như di tích kiến trúc cổ.

Sau đó, một số cuộc thám hiểm khảo cổ và nghiên cứu nghiệp dư đã được thực hiện trong khu vực, với kết luận của Cơ quan Văn hóa Nhật Bản và một số chuyên gia quốc tế, rằng các cấu trúc được tìm thấy là các thành tạo tự nhiên chứ không phải là di tích khảo cổ.
Tuy nhiên, cũng có một số chuyên gia khác cho rằng không phải vậy, với người ủng hộ lớn nhất của phe kháng lại là nhà khảo cổ học Masaaki Kimura. Ông tin rằng những phát hiện này chính là tàn dư có tuổi từ 2.000-3.000 năm của đất nước Nhật Bản thời cổ đại có tên là Yamatai.

Trong khi đó, hầu hết các nguồn chính thức vẫn tin rằng sự hình thành những bậc thang là kết quả tự nhiên của một trận động đất làm phá vỡ các lớp sa thạch đáy biển, vậy nên bản chất của các cấu trúc này là đề tài đang tiếp tục bị tranh cãi.
Để thấy “phần nổi của tảng băng chìm” của thành phố này trước đây, sẽ không cần phải có bất kỳ thiết bị lặn nào, vì nó ở ngay tại đó, giữa hồ chứa nước Uglich trên sông Volga. Kalyazin là một thành phố có lịch sử phong phú có từ thế kỷ thứ 12, với địa danh nổi bật nhất qua suốt nhiều thế kỷ là Tu viện tân cổ điển Thánh Nicolas.

Tuy nhiên, ngày nay, người ta chỉ có thể thấy tháp chuông cao của tu viện này nổi bên trên mặt nước của hồ chứa Uglich được tạo ra vào năm 1940.

Thành phố Trung Hoa gần 1.400 năm tuổi này hầu như đã bị lãng quên, mặc dù nó chỉ mới bị nhấn chìm trong quá trình xây dựng đập sông Hiên An, tỉnh Chiết Giang vào năm 1957. Là hậu quả của một “sáng kiến” xây dựng nhà máy thủy điện, Shi Cheng (Thành phố Sư tử) hiện giờ nằm im lìm dưới 25-40 mét nước.

Kiến trúc của thành phố này nằm rải rác dưới đáy hồ, với các ví dụ hiếm hoi về các tòa nhà thời Minh và Thanh, như chùa, đền thờ và cổng vòm với những hình chạm khắc sư tử và rồng tinh tế.

Ngày nay, sau khi nhà máy thủy điện đóng cửa, hồ nước khổng lồ này đã trở thành một địa điểm du lịch có tên là Hồ Thiên đảo. Do nhiệt độ nước trong hồ thường ở mức thấp, thành phố ngầm được bảo tồn rất tốt, nhưng chỉ những thợ lặn có kinh nghiệm mới được phép khám phá thành phố, vì nó không được lập bản đồ tốt và nằm ở độ sâu khá lớn.
Các cuộc khai quật ở khu vực vịnh Abu Qir của Ai Cập vẫn đang tiếp tục cho đến ngày nay, với những ngôi đền Ai Cập và Hy Lạp, những con tàu đầy kho báu và những phát hiện vô giá khác đang được khám phá. Thật khó tin rằng, vào đầu những năm 1990, thành phố cổ Heracleion và Thonis này vẫn chỉ được cho là không có gì ngoài một giai thoại.

Trong thực tế, cho đến khi thành phố được tìm thấy ở đông bắc Alexandria 32 km, sâu dưới 10 mét nước, các nhà sử học mới tin rằng thành phố Thonis và Heracleion không phải là hai nơi khác nhau. Ngày nay, chúng ta đã biết rằng thành phố này có hai tên, một tên Hy Lạp và một tên Ai Cập, và rằng thành phố ở cửa sông Nile được mô tả trong biên niên sử Herodotus là thực sự tồn tại.
Theo các nhà sử học Hy Lạp, lịch sử của thành phố này bắt nguồn từ thế kỷ 12 trước Công nguyên, và đây là một trung tâm thương mại và cảng quan trọng trong thời cai trị của các pharaoh.

Dần dần, mặt đất của thành phố bị suy yếu do mực nước biển dâng cao, động đất và sóng thần, và vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, một trận lụt nghiêm trọng đã khiến tất cả các tòa nhà lớn sụp đổ xuống dưới nước, do đất bị hóa lỏng. Dần dần qua một vài thế kỷ, thành phố từ từ chìm sâu xuống và bị con người lãng quên.
Theo FunZug (bài và ảnh)
]]>
Lũ lụt ở Quảng Trị, ngày 13/10/2020 (ảnh: Reuters).
Bấy lâu nay nhiều người vẫn nghĩ rằng vua chúa thời xưa là những người nắm trong tay quyền lực tuyệt đối, tự nhận mình là Thiên tử (con Trời) để lừa phỉnh dân chúng, quy tụ lòng người. Nhưng thật ra, cái từ Thiên tử ấy chẳng dễ mang trên thân chút nào.
Người xưa cho rằng, Thiên tử chính là được lệnh Trời mà xuống dẫn dắt dân chúng, là “Phụng Thiên thừa vận, thụ mệnh vu Thiên” (tuân phụng Trời thuận theo vận Trời, vâng theo mệnh lệnh từ Thiên thượng) mà xuống giúp dân. Thế nên kẻ làm Thiên tử cũng chỉ là được cấp cho chút năng lực mà giúp đỡ dân chúng. Việc của Thiên tử là gây dựng đời sống ấm no, giáo huấn dạy dỗ lương dân. Nếu trái mệnh, ắt sẽ không có chiếu cố mà bị tước bỏ Thiên mệnh. Bậc quân vương do đó phải luôn tu dưỡng đạo đức, nếu có điều sai sẽ được cảnh báo từ Thiên thượng, và thiên tai chính là một lời cảnh báo rõ ràng nhất.
Thế nên bậc quân vương xưa luôn kiểm điểm, hướng vào trong mà tìm ra cái sai từ mình, sẵn sàng nhận lỗi trước mỗi tai ương, biến cố bất thường của đất trời. Bởi “Thiên Nhân hợp nhất”, lòng người có oán uất thì mới có thiên tai. Người ở trên vạn người vô đức thì Trời mới giáng họa cảnh báo. Nếu là việc loạn lạc trong xã hội, dân đói nghèo, lầm than, đời sống không thuận, lợi ích bị đe dọa, thì chắc chắn người làm vua, làm quan phải biết nhận lỗi và sửa sai ngay tức thì.
Tháng 8 năm Tân Hợi (1491), trời mưa nhiều ngày gây ngập úng nặng, vua Lê Thánh Tông sai quan các địa phương chỉ huy việc khơi thông nước để cứu lúa mạ. Vua còn họp bàn với triều thần và nói với họ rằng:
“…Vì chính trị thiếu sót nên Trời làm tai biến, đó là lỗi của trẫm mà thành ra thế, chứ nhân dân có tội gì đâu. Có phải vì trẫm đức tín chưa khắp đến dân, lòng thành chưa thấu đến Trời mà đến thế chăng?”.
Vua Lê Thánh Tông
Trước đó, trong lịch sử Việt Nam cũng đã có rất nhiều vị vua xuống chiếu tự trách tội sau những biến cố hạn hán, mất mùa, thiên tai kỳ dị như sao sa, động đất…
Ngày 27 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1438) vì có nhiều thiên tai, vua Lê Thái Tông đã xuống chiếu tự trách tội. Bài chiếu có đoạn:
“Mấy năm nay hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện. Khoảng tháng 4, tháng 5 năm nay, nhiều lần sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh. Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai họa, nhất định là có duyên do trong đó. Có phải do trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ hay là do quản tể phụ bất tài xếp đặt không điều hòa? Hay là dùng người không đúng, để người tốt kẻ xấu lẫn lộn? Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái? Hay là làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mỏi mệt? Hay là thuế khóa nặng nề mà dân túng thiếu? Trẫm tự trách tội mình, đại xá cho thiên hạ. Tất cả các đại thần, các quan văn võ các ngươi nên chỉ ra những lầm lỗi kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì. Nếu có điều gì tiếp thu được, nhất định sẽ khen thưởng cất nhắc, dẫu có ngu dần vu khoát, cũng không bắt tội. Ngõ hầu có thể lay chuyển lòng Trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Vua Lê Nhân Tông lên ngôi báu khi tuổi còn rất trẻ nhưng đã sớm hiểu trọng trách nặng nề của một bậc Thiên tử. Ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Hợi (1443), vua xuống chiếu rằng:
“Mới rồi Trời hiện điềm tai biến như sao sa, động đất. Trẫm rất lo sợ, suy nghĩ nguyên nhân tai biến, không biết bởi đâu. Có phải vì trẫm mới cầm quyền, chưa biết giảm nhẹ lao dịch thuế khóa, có điều không lợi cho dân không? Hay là do phụ thuộc đại thần điều hòa trái lẽ nên khí âm dương không hài hòa mà đến thế chăng? Hay là việc ngục tụng không công bằng, hối lộ công khai, xử án còn nhiều oan uổng mà đến nỗi thế chăng? Hay là chức thú lệnh chưa được người giỏi, làm vừa trái phép, nhiễu hại dân chúng mà đến nỗi thế chăng? Hay là bọn cung nữ oán hờn chưa thả chúng ra nên hại tới hòa khí mà đến nỗi thế chăng? Có phải là bọn gièm pha âm mưa xảo quyệt, để công thần chịu oan khuất chưa được rửa oan mà đến nỗi thế chăng? Hay là vì bày việc thổ mộc, xây dựng cung điện chăng? Kẻ tiểu nhân được tiến dùng, còn người quân tử phải lui ẩn chăng? Đường nói năng bịt kín mà ơn trên bị che lấp chăng? Bọn phi tần lộng hành mà cửa sau bỏ ngỏ chăng? Lệnh cho khắp quan lại, quân dân, đều phải hết lòng bày tỏ những điều có thể xoay được lòng Trời, dập hết tai biến, hãy thẳng thắn nói ra, chớ nên ẩn giấu, để giúp trẫm sửa những điều thiếu sót” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1449), vua Lê Nhân Tông xuống chiếu tự trách mình sau khi đất nước trải qua một năm đại hạn, lúa má mất mùa, dân chúng buồn than. Tờ chiếu có đoạn:
“…Tất cả tội lỗi trên chồng chất lại, đã làm tổn thương hòa khí, nếu không xét lời dạy sửa lỗi lầm, làm tròn đạo tu dưỡng mình thì làm sao trên có thể lay chuyển được lòng Trời, dưới có thể cứu vớt được nạn dân?” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sử sách chép rằng sau khi tờ chiếu ban xuống, đêm hôm ấy Trời liền đổ mưa.
Xa xưa hơn nữa, những vị vua đầu tiên trong lịch sử châu Á cũng đã biết tự trách mình, nên mới trở thành thông lệ cho các bậc minh quân sau này.
Khi nhà Thương bị hạn hán nặng mấy năm liền, ngũ cốc mất mùa, viên quan đại thần phụ trách việc cúng tế nói cần dùng người làm vật tế, xin Trời mưa xuống. Vua Thang liền “tỉa tóc, cắt móng tay”, lấy bản thân mình làm vật tế, vào rừng dâu, “tự trách 6 tội lỗi của mình”, nói rằng: “Một mình ta có tội không liên quan đến vạn dân, vạn dân có tội đều là lỗi ở ta. Chỉ do một người bất kính, cúi xin Thượng đế quỷ thần thương xót dân chúng”. Ngay sau đó, dân chúng hết sức vui mừng vì mưa to như trút nước.
Chưa xét đến việc liệu những lời tự trách tội của các bậc quân vương thời xưa có thật sự liên quan đến việc Trời đã đổ mưa cứu giúp hạn hán, mất mùa hay không. Nhưng có một điểm chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi được từ lịch sử. Những lời tự trách mình của các bậc minh quân chẳng phải chỉ vì để làm yên lòng dân chúng, một kiểu nhận lỗi qua loa và hình thức; Mà đó đều có xuất phát điểm từ quan niệm làm vua, quan thì để làm gì và phải làm gì. Nếu ai ai làm “cha mẹ dân” cũng hiểu rằng, mình ở vào được địa vị này là để chăm lo cho đời sống nhân dân, chứ không phải làm bề trên của dân, thì ắt khi dân có nạn, họ sẽ biết trước tiên phải nhìn lại mình.
Ngày nay, đa phần người ta nghĩ làm quan là để có danh, có lợi, nhưng lại không đi kèm với trách nhiệm. Cho nên trước những sai sót trong bộ máy vận hành, nếu không phải là lỗi trực tiếp của mình thì đương nhiên là không liên quan tới mình. Trước những sự việc có thể ảnh hưởng tới việc quy trách nhiệm thì nhanh chóng thoái thác, trốn tránh bằng sự giảo hoạt trong ngôn từ.
Xưa vua trong khi trách mình luôn tự nhận bản thân là người “thiếu đức”, “đức mỏng”, “vô đức”… Trong mọi sai sót của bản thân, thì nguyên do đều là từ việc tu sửa đạo đức chưa đầy đủ. Nhưng quan chức thời nay, nếu có sai lầm thì là do trình độ chưa cao, còn “hạn chế về mặt nhận thức”, chưa có kinh nghiệm hay thậm chí còn còn đổ vấy cho người khác theo kiểu là vì mình chưa được chỉ đạo sát sao. Họ đã tự giảm cái lỗi của mình từ vô đức, xuống thành vô học, vô ý là cùng thôi.
Trong những điều các bậc minh quân xưa tự kiểm điểm, luôn có phần tự vấn rằng có phải do mình dùng người chưa đúng. Nghĩa là việc cấp dưới làm sai cũng là lỗi của bề trên. Nhưng người làm quan thời nay nhiều người chỉ lo bảo hộ bản thân, trốn trách nhiệm, thậm chí sẵn sàng đổ vấy cho cấp dưới và coi như sai lầm của cấp dưới thì không có một phần trách nhiệm của mình trong đó.
Từ quan điểm khác nhau chắc chắn sẽ dẫn tới cách hành xử khác nhau. Nếu như những bậc “cha mẹ của dân” thời nay có thể nhớ và lưu giữ được cái ý nghĩa thực sự của việc làm cha làm mẹ dân là thế nào, thì chắc chắn nhà nước không còn phải lo đi chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy. Người dân không còn phải cảm thấy quá chật vật và áp lực khi tự lo đời sống cho mình, cũng chẳng còn những bức xúc, mất niềm tin dẫn tới quá khích và bịa đặt vô lý. Bởi “đại phu là bậc dẫn đầu trong dân chúng mà tự mình ngay thẳng, chính đáng thì còn ai dám ăn ở bất chính đây?” (Khổng Tử, Luận Ngữ, Chương Nhan Uyên).
]]>

Trong tiếng Hán, chữ “Kinh” (經) vừa có nghĩa là kinh điển, kinh sách tu luyện, là kinh qua khổ nạn, vừa có nghĩa là kinh mạch trong thân thể người. Một chữ Kinh ấy đã hé lộ sự uyên thâm kỳ diệu của Tây du ký.
Cuối Tây du ký [1] có bài thơ như thế này:
Thánh tăng gắng sức lấy kinh,
Ruổi rong mười bốn năm ròng trời Tây.
Gian lao vất vả đêm ngày,
Trèo đèo lội suối đắng cay muôn phần.
Hoàn thành công quả vô vàn.
Ba nghìn viên mãn đủ vòng đại thiên.
Chân kinh về tới Đại Đường,
Từ nay mãi mãi lưu truyền cõi Đông.
Sự gian khổ và công đức vô lượng của hành trình thỉnh chân kinh là điều ai cũng dễ dàng hiểu được, riêng thuật ngữ “vòng đại thiên” trong đoạn thơ trên lại là thuật ngữ trong tu luyện Đạo gia, còn gọi là “đại chu thiên”. Đại chu thiên chỉ vòng tuần hoàn kinh mạch trong thân thể con người, một số mạch vận chuyển nơi tay, dưới chân, hai bắp chân cho tới đầu, chạy một lượt khắp thân thể. Trùng hợp thay, trong tiếng Hán, chữ “Kinh” (經) vừa có nghĩa là kinh điển, kinh sách tu luyện, là kinh qua khổ nạn, vừa có nghĩa là kinh mạch trong thân thể người.
Chúng ta đã biết toàn bộ hành trình thỉnh kinh của năm thầy trò Đường Tăng với các ma nạn được an bài tỉ mỉ chính là quá trình tu luyện tâm tính, trừ bỏ ma tính của con người. Bên cạnh đó, mỗi từng cái tên, tình tiết trong truyện đều hé lộ sự tương hợp kỳ lạ với các huyệt vị và nội tạng thân thể, cũng như quá trình khai thông, vận chuyển chu thiên và tu luyện thân thể người. Tâm và thân hợp nhất [2].
Trong đoàn người đi thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không (‘kim công’) và Trư Bát Giới (‘mộc mẫu’) đại biểu cho sự hòa hợp của âm dương trong cơ thể, là không rời khỏi tác dụng của tỳ tạng, thể hiện qua hình tượng Sa Tăng. Tỳ (lá lách) ngũ hành thuộc thổ, màu vàng; Sa Hòa Thượng thuộc tính nhân hậu và hài hòa, ông còn được gọi là ‘hoàng bà’, tức có ý là ‘người mai mối’. Trước khi thu phục Sa Tăng, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới hợp tác cùng đại chiến với Hoàng Phong quái, bởi vì ‘kim công’ và ‘mộc mẫu’ thiếu mất sự điều hòa của ‘hoàng bà’ nên mới có trận đại chiến với Hoàng Phong quái. Yêu quái Hoàng Phong bị thu phục rồi, cũng là đến lúc thu phục Sa Hòa Thượng.
Thầy trò Đường Tăng và Bạch Long Mã, năm vị tập hợp đầy đủ rồi thì bắt đầu quan khảo nghiệm đầu tiên: khảo nghiệm về tâm sắc dục, đây chính là nguồn gốc của “Tứ thánh thí thiện tâm” (thử thiện tâm của bốn vị thánh tăng). Quan ải này qua rồi, ngũ tạng của thân thể cũng tự nhiên an định yên ổn; đối với người tu luyện mà nói, tại tầng thứ này đã bắt đầu xuất nguyên anh. “Ngũ Trang” trong “Ngũ Trang quán” thực chất là chỉ ngũ tạng trong thân thể người. Quả nhân sâm có hình dáng giống như đứa trẻ, chính là nói về nguyên anh. Bởi vì nguyên anh được sinh ra ở bộ vị đan điền khi người ta tu luyện đến một tầng thứ nhất định, là thứ thuộc về tiên thiên, cho nên nói rằng thuộc tính của nguyên anh và ngũ hành là “tương úy” (thuật ngữ trong Trung y, chỉ độc tố hoặc tác dụng phụ của một vị thuốc có thể hạ thấp hoặc loại bỏ bởi một vị thuốc khác).

Trong Phật gia, nguyên anh được gọi là Phật thể, cũng là thân kim cương bất hoại. Sau khi nguyên anh được sinh ra, tự nhiên cần phải thanh trừ thây ma trên người, đó chính là chương nói về ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Đạo gia cho rằng, trong mỗi người đều có ba cái thây ma (“tam thi”), lần lượt là Thượng thi, Trung thi, và Hạ thi. Trong Thái Thượng Tam Thi Trung Kinh viết: “Thượng thi tên Bành Cư, thích báu vật, ở trong đầu con người; Trung thi tên Bành Chất, thích ngũ vị, ở nơi bụng con người; Hạ thi tên Bành Kiểu, thích sắc dục, ở trong chân con người”. Vì có chủng thây ma này, nên con người ai ai cũng mê đắm tiền tài vật chất, thích hưởng lạc, lại coi sắc dục là bản tính của mình. Kỳ thực, đó đều là ma!
Khi Ngộ Không đến Nam Hải mời Bồ Tát đi hàng phục Hồng Hài Nhi, Ô Quy hành lễ với Bồ Tát, Bồ Tát nói không cho Thiện Tài Long Nữ và Ngộ Không cầm bình tịnh thủy đi cùng nhau, bởi vì Long Nữ tướng mạo xinh đẹp, Bồ Tát sợ Ngộ Không khởi tà niệm. Ngộ Không nói: “Từ trước đến nay không làm việc như vậy”. Sau đó Bồ Tát cho Ngộ Không đi trước, Ngộ Không nói: “Đệ tử không dám trổ tài trước mặt Bồ Tát. Nếu lộn cân đẩu vân, lộ ra thân thể, sợ Bồ Tát mắng con bất kính”. Những lời này làm cho người đọc không nhịn được cười, nhưng lại ẩn chứa thời gian thông chu thiên, hiện tượng dương khởi khi chân khí đi qua âm bộ. Đồng thời cũng thuyết minh rằng, chỗ Bồ Tát ở chỉ có Thiện Tài Long Nữ, để lại “phục bút” cho việc thu Hồng Hài Nhi làm Thiện Tài Đồng Tử sau này.
Tiếp theo là bắt Đà Long tại sông Hắc Thủy, chính là nói về quá trình nguyên khí đi qua huyệt mệnh môn. Bởi vì màu sắc đối ứng với thận tạng trong ngũ hành là màu đen, mệnh môn ở giữa hai thận, thầy trò Đường Tăng đi qua sông Hắc Thủy cũng chính là đi qua huyệt mệnh môn. Do mạch đốc thuộc dương, khí hậu được miêu tả trong truyện cũng là “tam dương chuyển vận, mãn thiên minh mị khai đồ họa” (ba mạch dương vận chuyển, khắp trời mở ra đẹp đẽ như tranh vẽ).
Tiếp theo là qua quan giáp tích. Vị trí của giáp tích là ở phía lưng hai bên cột sống, từ mỏm gai đốt sống cổ thứ nhất đến mỏm gai đốt sống lưng thứ năm, mỗi mỏm gai đều sang hai bên khoảng một đốt ngón tay. Trong truyện dùng ‘tiểu lộ’ (con đường nhỏ) để ví về huyệt giáp tích, nói rằng tiểu lộ nằm ở giữa hai cửa ải lớn, đường ở dưới ải đều là dốc thẳng đứng, 500 vị hòa thượng tại Xa Trì quốc không kéo được chiếc xe chở đầy ngói qua. Tôn Ngộ Không dùng thần thông, kéo chiếc xe qua hai cửa ải, xuyên qua huyệt giáp tích.
Khi qua quan này, ba con yêu quái Hổ Lực Đại Vương, Lộc Lực Đại Vương và Dương Lực Đại Vương đấu phép thuật cùng Tôn Ngô Không và bị diệt trừ. Một tầng hàm nghĩa chính là: khi chu thiên vận hành qua huyệt giáp tích, không thể dùng ngoại lực; dùng ý quá nhanh, quá mạnh, quá yếu đều không được; mà chỉ căn cứ một niệm của bản tính, tự nhiên sẽ qua. Nếu không sẽ nhập sang bàng môn.

Qua được huyệt giáp tích, theo đường đi của chu thiên thì sẽ tiếp tục đi lên, trong truyện miêu tả là đến sông Thông Thiên. Sông Thông Thiên ý nói là huyệt bách hội trên đỉnh đầu, tả về sông Thông Thiên trong truyện có câu thơ “Trường lưu quán bách xuyên” (dòng chảy dài thông suốt trăm con sông), mà huyệt bách hội trên thân thể chính là nơi kinh mạch giao hội, huyệt vị này lại nằm ở ngay trên đỉnh đầu, có thể nói đây là nơi tương thông với trời. Nê Hoàn Cung là nơi đối ứng với huyệt bách hội trong đại não, cũng chính là nơi chủ nguyên thần trú ngụ, tên của yêu quái kia là “Linh Cảm Đại Vương” cũng đã nói rõ hơn về điểm này. Đến sông Thông Thiên thì con đường thỉnh kinh đi được một nửa rồi, tức là đã đi được năm vạn bốn nghìn dặm.
Huyệt bách hội là đỉnh đầu của con người, cũng là điểm giao hội của hai mạch nhâm và đốc. Bên bờ sông Thông Thiên có Trần Gia trang, có anh em Trần Trừng và Trần Thanh; Trần Trừng có một cô con gái tám tuổi tên Nhất Xứng Kim; Trần Thanh có một cậu con trai bảy tuổi tên là Trần Quan Bảo. Thầy trò Đường Tăng cứu được đôi trai gái này khỏi bị yêu quái ăn thịt cũng là một cách ví von, chỉ “anh nhi sá nữ phối âm dương”. Trương Tam Phong từng có câu: “Hoàng bà dẫn khứ anh nhi, thượng nê hoàn, thấu huyền quan, anh nhi sá nữ lưỡng đoàn viên”. Còn có người nói: “Huyệt giáp tích trên thân người, ví như sông Ngân trên trời. Sông Ngân ngăn cách nhưng lại có Linh Thước làm cầu, còn có cách nói là bắc cầu Hỉ Thước. Lưỡi của người cũng gọi là cầu Hỉ Thước. Phàm khi tạo đan, thì lấy hoàng bà dẫn nguyên anh lên nê hoàn, cùng sá nữ giao hội, nên cũng nói là lên cầu Hỉ Thước”.
Khi qua quan này, có chương tiết nói về Linh Cảm Đại Vương dùng thần thông làm tuyết rơi đông cứng sông Thông Thiên. Trong “Cửu chuyển kim đan tu luyện pháp”, khi tu luyện đến bước xuất nguyên anh này, trong định sẽ phát hiện vùng nê hoàn cho đến bách hội giống như là khoảng trống hư không, nhưng lại có cảnh tượng nhiều hoa tuyết bay. Tây du ký nhiều lần nhắc đến tu luyện “Cửu chuyển kim đan thuật”, ví dụ, sau khi Tôn Ngộ Không lấy trộm kim đan của Thái Thượng Lão Quân, Lão Quân nói với Ngọc Đế: “Trong Đạo cung của Thần, luyện được một ít ‘cửu chuyển kim đan’, để Bệ hạ làm ‘Đan nguyên đại hội’, không ngờ bị kẻ trộm lấy mất”. Ngay cả Trư Bát Giới tự kể lại với Tôn Ngộ Không về kiếp trước của mình cũng nói: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời khuyết”; Tôn Ngộ Không còn nói khoác về Kim Cô bổng của mình: “Bổng thị cửu chuyển tấn thiết luyện, Lão Quân thân thủ lư trung đoàn” (gậy sắt là thép tinh luyện qua chín lần, do đích thân Lão Quân luyện trong lò). Cuối cùng, một nạn bổ sung thêm cho Đường Tăng cũng là tại sông Thông Thiên, có câu thơ như sau: “Bỉnh chứng tam thừa túy xuất nhập, Đan thành cửu chuyển nhâm chu toàn”.
Qua được sông Thông Thiên rồi, Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng vì tâm trộm cắp nên mới dẫn đến tai họa. Yêu quái là con trâu xanh của Lão Quân đã trộm Kim Cương trác của ông rồi xuống nhân gian tác quái. Kim Cương trác này cũng là chiếc vòng Thiên Linh Cái năm xưa Lão Quân dùng để đánh Ngộ Không; vật này xuất hiện ở đây, chính là ý nói chu thiên cần phải thông qua đỉnh đầu rồi.
Thuở xưa khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên Cung, Thần tướng khắp trời không làm gì được Ngộ Không, đó là biểu hiện hình tượng hóa một người khi tu luyện đến bộ phận đầu, tại vị trí này cần thông khiếu quá quan (thông huyệt vị). Ví dụ “Minh Thiên cổ” (đánh trống trời) trong tu luyện truyền thống, chính là dùng hai tay bịt kín hai tai lại, ngón tay đặt tại huyệt ngọc chẩm gõ nhẹ; mà Lôi phủ trong Thiên Cung chính là chỉ mũi người. Nơi ở “cung Đâu Suất” của Thái Thượng Lão Quân là ở bên trên ba mươi ba tầng trời. Khi xưa Tôn Ngộ Không tại nơi đây đã bị đẩy vào lò Bát Quái, về bản chất là chỉ đỉnh đầu của con người. Tê Giác Đại Vương cản trở thầy trò Đường Tăng là do con Thanh Ngưu (trâu xanh) của Thái Thượng Lão Quân biến hóa thành, nơi ở của nó là động Kim Đâu thuộc núi Kim Đâu, có thể coi là tên gọi khác của cung Đâu Suất. Tôn Ngộ Không mời Thiên Vương, Lôi Công, Hỏa Đức, Thủy Bá, gặp Phật Như Lai, mời thập bát La Hán, giống như năm xưa Ngộ Không đại náo Thiên Cung, thực chất là miêu tả hình tượng hóa khi chu thiên vận hành quá quan thông khiếu. Cuối cùng, Lão Quân dùng Kim Cương trác xỏ mũi trâu xanh và chế phục được nó, việc này được ví von như khi chu thiên vận hành đến mũi vậy.
Trên đường thỉnh kinh đi qua Tây Lương nữ quốc, bởi vì Đường Tăng và Bát Giới đã uống nước sông Tử Mẫu mà có thai khí, đây là chỉ trong tu luyện đã nhập bàng môn. Đường Tăng và Bát Giới trong ngũ hành đều thuộc tính thủy, thuật ngữ trong tu luyện gọi là ‘hống’ (thủy ngân), Tôn Ngộ Không là ‘kim công’, thuật ngữ trong tu luyện cũng gọi là ‘diên’ (chì). “Chân diên hợp chân hống” (chì tinh khiết kết hợp với thủy ngân tinh khiết), tự nhiên sẽ sinh ra tiên đan. Nhưng Đường Tăng và Bát Giới lại uống nước, cho nên mới có tà thai. Có tà thai rồi thì làm thế nào? Chính là dùng nước suối Lạc Thai ở động Phá Nhi núi Giải Dương để phá giải. Nước suối này chính là chỉ nước bọt của người, thuật ngữ trong tu luyện gọi là ‘kim tân ngọc dịch’.

Động Phá Nhi bị Như Ý chân tiên đổi tên thành Tụ Tiên am. Am là nơi cư trú của ni cô, Như Ý chân tiên là thân nam, cớ sao lại đổi tên như vậy? Bởi vì thủy trong Bát Quái có quẻ tượng đối ứng là Khảm (☵) với một hào dương ở giữa hai hào âm, chính là ý nói trong am có một thân thể nam cư trú. Tôn Ngộ Không vì sao không dùng phân thân để chống lại Như Ý chân tiên, để chân thân đi lấy nước? Bởi vì ‘chân diên chân hống’ bắt buộc phải qua sự điều hòa của thổ mẫu, do đó ắt phải là Sa Hòa Thượng đi lấy nước mới giải được tà thai [3].
Trong Tây du ký có câu thơ viết:
“Chân diên nhược luyện tu chân thủy,
Chân thủy điều hòa chân hống can.
Chân hống chân diên vô mẫu khí,
Linh sa linh dược thị tiên đan.
Anh nhi uổng kết thành thai tượng,
Thổ mẫu thi công bất phí nan.
Thôi đảo bàng môn tông chính giáo,
Tâm quân đắc ý tiếu dung hoàn” [4].
Hai nạn theo sau của thầy trò Đường Tăng ở Nữ Nhi quốc xem ra có liên quan đến việc vượt qua quan sắc, đương nhiên đây cũng chỉ là một phương diện, thực chất lại là sự miêu tả hình tượng hóa khi chu thiên vận hành đến bộ vị tâm tạng.
Câu chuyện Tôn Ngộ Không ba lần mượn quạt Ba Tiêu rất hấp dẫn người đọc, nếu đặt trong kết cấu chỉnh thể của Tây du ký và sự an bài việc tu luyện thân thể người, thì đó chẳng qua chỉ là thông qua điều tức để đạt được sự điều chỉnh của các tạng trong thân thể. Uy lực của quạt Ba Tiêu lớn như thế, kỳ thực cũng là chỉ bộ phận lưỡi của người. Trong tu luyện truyền thống, có một cách hô hấp nạp thải khí gọi là “lục tự ca quyết”, sáu chữ này lần lượt là “hư, ha, hô, xi, suy, hi”, ứng với tạng phủ kinh lạc lần lượt là “can, tâm, tỳ, phế, thận, tam tiêu”. Khi tu luyện yêu cầu mũi hít vào miệng thở ra. Sáu chữ này dường như hoàn toàn tương đồng với khẩu quyết của bà La Sát dùng để biến lớn quạt Ba Tiêu là “xi, hư, a, hấp, hi, suy, hô”. Trong tu luyện đều cần phải “đáp Thước Kiều” (nối cầu Hỉ Thước), chính là lưỡi đặt hàm trên. Lúc thổ nạp hô hấp, khi hít khí vào lưỡi chạm hàm trên, khi thở khí ra bởi vì phải làm khẩu hình tương ứng với âm thanh phát ra, nên đầu lưỡi tự nhiên cũng rời khỏi vị trí hàm trên. Đây cũng là nguyên do dẫn đến việc Tôn Ngộ Không ba lần mượn quạt Ba Tiêu. Mà lưỡi lại là ‘tâm chi miêu’ (gốc của tâm), trong ngũ hành thuộc tâm, thuộc tính hỏa, do đó nói dùng quạt Ba Tiêu quạt tắt ngọn lửa Hỏa Diệm Sơn chính là mượn điều tức để đạt đến ‘bình tức tâm hỏa’ (khiến lửa giận lắng lại).
Ngộ Không nói “Ngưu Vương bản thị tâm viên biến” (Ngưu Ma Vương vốn do tâm viên biến thành); con trai Ngưu Ma Vương là Hồng Hài Nhi cũng tượng trưng cho tâm hỏa; vợ của Ngưu Ma Vương là La Sát phu nhân giữ Hỏa Diệm Sơn cũng là chỉ về tâm hỏa. Có thể thấy gia đình nhà Ngưu Ma Vương đều có liên quan đến tâm. Dùng quạt Ba Tiêu để quạt nước mưa dập tắt lửa Hỏa Diệm Sơn, điều này lại vừa phù hợp với câu nói trong tu luyện của Đạo gia là “thủy hỏa ký tế” (nước lửa đã xong). Cho nên khi câu chuyện này kết thúc, trong Tây du ký có viết rằng: “Bốn thầy trò Đường Tam Tạng đi riêng một con đường, nước lửa đã cứu xong, tiết trời trở nên mát lạnh, mượn được quạt quý thuần âm, quạt hơi lửa nóng để qua núi”.
Câu chuyện này còn có ngụ ý khác nữa, đó chính là chu thiên trong khi vận hành đi qua “tam tiêu”. Tam tiêu phân chia thành thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu, dường như bao gồm tất cả lục phủ ngũ tạng của thân thể người. Tam tiêu là một phủ đặc thù, nó là con đường thủy cốc trong thân thể, có đường nước khai thông, có tác dụng vận hành thủy dịch. Tam tiêu trong ngũ hành thuộc về hỏa. Trong truyện cũng nhiều lần nhắc đến, nói rằng chỉ có dùng quạt Ba Tiêu quạt tắt ngọn lửa, quạt đến khi có mưa, mới có thể trồng trọt thu hoạch, từ đó mới có được ngũ cốc để dưỡng sinh.
Tác giả rất chú ý đến việc sắp xếp tình tiết câu chuyện, phần trước có nói đến người tu luyện tu đến tầng thứ nhất định sẽ xuất nguyên anh, sau đó mấy phần tiếp đều viết về những gì có liên quan tới nguyên anh hoặc liên quan đến tâm, cho đến khi viết về thông chu thiên. Tiếp về sau, phần cuối lại viết về thất tình. Bởi vì không thỏa mãn được tình, liền sinh ra hận. Rồi lại viết về lục dục. Những điều này đều là có quy luật tuần hoàn.
Khi chu thiên vận hành, lúc thầy trò Đường Tăng lần đầu tiên vượt quan về tâm, chính là dùng hình tượng Hồng Hài Nhi; lần thứ hai là mẹ của Hồng Hài Nhi – Thiết Phiến công chúa; từ đó về sau, khi vượt qua mỗi quan thì trong tiêu đề đều dùng “sá nữ cầu dương”. Từ nam đến nữ, từ già đến trẻ, trong tu luyện thì càng ngày càng trở nên thuần tịnh.
Có thể thấy sự sắp xếp tình tiết trong Tây du ký là vô cùng độc đáo, không chỉ là chu thiên vận hành, mà một số bộ phận đặc thù của thân thể cũng cần phải luyện, ngay cả thân thể cũng cần phải thanh lý. Ví dụ hồi 65 và hồi 66 viết về Hoàng Mi quái, chính là chỉ hệ sinh sản của con người. ‘Đoản nhuyễn lang nha bổng’ (gậy răng sói mềm ngắn) mà Hoàng Mi quái sử dụng chính là chỉ dương vật của nam giới, bảo bối ‘đáp bao’ (túi đắp) mà hắn sử dụng rõ ràng chính là âm nang người. Phật Di Lặc nói đây là “Hậu thiên đại tử, tục danh hoán tố nhân chủng đại” (cái túi của sau này, tục danh gọi là túi đựng giống người). Phật Di Lặc bảo Tôn Ngộ Không dụ Hoàng Mi quái ra, “Ngài viết lên lòng bàn tay của Hành Giả một chữ ‘cấm’, bảo Hành Giả nắm tay lại, nhìn thấy yêu tinh hãy giơ tay trước mặt nó, nó liền đi theo”, ngụ ý là cần cấm dục.

Hồi thứ 67, trong truyện viết về hẻm Hi Thị (con đường nhỏ có nhiều hồng rụng bị thối nát) ở Đà La trang, thực ra chính là chỉ ruột người, gọi là ‘Hi Thị’ chẳng qua là đồng âm với ‘hi thỉ’ (phân lỏng). Trong hẻm Hi Thị có Hồng Lân Đại Mãng (con mãng xà lớn có vảy màu đỏ), chính là nói về hồi trùng (giun sán trong ruột người). Đương nhiên cần phải giết chết nó. Nhờ Bát Giới biến thành cái đầu lợn lớn đi trước ủi để mở đường mới qua được quan này.
Đến cuối cùng, tới được Linh Sơn rồi, còn phải qua bến đò Lăng Vân. Khi Ngộ Không đẩy Đường Tăng lên thuyền không đáy, thân thể nơi trần thế (nhục thân) của đường Tăng liền tự nhiên thoát rơi ra, chính là ứng với ý “Kim Thiền thoát xác”. Quá trình tu luyện thân thể người đến đây là hoàn tất, nhục thân đã hoàn toàn chuyển hóa thành vật chất cao năng lượng, hợp làm một với nguyên anh. Người tu luyện đắc đạo, Phật gia gọi là Phật, Bồ Tát, La Hán, Đạo gia gọi là Chân Nhân.
Những trận chiến chính – tà kinh tâm động phách trên hành trình thỉnh kinh lại tương hợp với những biến hoá kỳ diệu trong thân thể người, điều đó giúp chúng ta hiểu hơn vì sao ở hồi thứ 64, Đường Tăng nói: “Thân người khó được, Trung Thổ khó sinh, chính Pháp khó gặp; nếu được cả ba điều, thì may mắn lắm thay!”. Đạo gia giảng thân người là một tiểu vũ trụ, có được thân người chính là đã có cả một vũ trụ để tu luyện, phản bổn quy chân, tu thành rồi chính là Pháp vương trong thiên quốc của bản thân mình.
Giới tu luyện xưa nay đọc Tây du ký đều cho rằng một tác phẩm có nội hàm uyên thâm như vậy hẳn phải do một Thần nhân viết ra. Muốn giải mã Tây du ký, nếu chỉ đọc sách khí công, lý thuyết tu luyện rồi tìm tòi câu chữ thì khó lòng hiểu được. Hơn nữa, sách khí công hiện nay khá hỗn tạp, khí công giả, nguỵ khí công rất nhiều, chẳng may đọc phải sẽ hại người. Quý độc giả muốn chân chính lý giải nội hàm của Tây du ký thì chỉ có con đường tu luyện, tự mình chứng đắc, tự mình thể ngộ. Trong Chuyển Pháp Luân [5], cuốn sách chỉ đạo tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, Đại sư Lý Hồng Chí đã giảng giải tường tận về chu thiên cũng như các bí ẩn về thân thể người, sinh mệnh và vũ trụ. Đây là thiên cổ kỳ thư mà chúng sinh xưa nay hằng trông đợi.
Ảnh minh họa: Phim Tây Du Ký 1986
[2] Phần phân tích quá trình tu luyện thân thể người được biên tập từ bài viết của tác giả Đàn Trần trên Chánh Kiến Net.
[3] Trong phim “Tây du ký” (1986) lại giản lược tình tiết là Ngộ Không tự lấy được nước rụng thai về, đây là không đúng với nguyên tác.
[4] Dịch thơ:
Chân diên nấu luyện cần chân thủy,
Chân thủy điều hòa chân hống ra.
Chân hống, chân diên không khí mẹ,
Tiên đơn tức linh dược, linh sa.
Anh nhi oan kết thai trong bụng,
Mẹ đất ra công khó chẳng nhòa.
Đánh đố bàng môn theo chính giáo,
Lòng vua đắc ý mặt như hoa.
![]()
Thế giới bao la vạn tượng, chuyện lạ gì cũng có. Có người tin rằng: thật sự là có thiên mệnh huyền cơ đằng sau những lời tiên tri vĩ đại; lại có người cho rằng những lời tiên tri vốn chỉ là một sự trùng hợp mà thôi…
Dưới đây là sáu nhà tiên tri nổi tiếng trong lịch sử văn hóa Trung Hoa cùng những lời tiên tri ứng nghiệm, từng được sử sách ghi danh:
Sinh thời, Quỷ Cốc Tử từng dùng hai đóa hoa mã đâu linh và hoa cúc vàng để tiên tri hướng đi cuộc đời của hai người đệ tử, dựa vào hoa của Bàng Quyên gặp nắng là héo, tiên tri nơi cuối cùng thành tựu công danh của Bàng Quyên là ở nước Ngụy. Dựa vào hoa cúc của Tôn Tẫn dầm sương không hỏng, tiên tri cuộc đời của Tôn Tẫn gặp phải trắc trở, nhưng cuối cùng có thể quay về cố hương nước Tề thành tựu công danh cả đời.
Quỷ Cốc Tử là một kỳ nhân, thấu hiểu đạo lý của trời đất, hơn hai ngàn năm qua, các nhà binh pháp đều tôn ông là Binh thánh, Tung hoành gia tôn ông là ông tổ, những người xem số bói toán tôn ông làm tổ sư gia.
Khương Tử Nha luôn được xem là một thần thoại trong lịch sử Trung Quốc, là đệ nhất công thần giúp nhà Chu hưng thịnh trong vòng tám trăm năm, sinh thời Khương Tử Nha có để lại trước tác “Càn khôn vạn niên ca” lưu truyền thế gian.
Toàn bộ “Càn khôn vạn niên ca” có 770 chữ, tiên tri về sự hưng suy thành bại của các triều đại Trung Quốc, tiên tri rằng sau thời kỳ Tam hoàng Ngũ đế, vận mệnh quốc gia năm ngàn năm của Trung Quốc sẽ thay đổi.

Khương Tử Nha câu cá (Nguồn: Wikipedia)
Có lẽ mọi người đều cảm thấy nhân vật Hoa Nhị phu nhân rất xa lạ, nhưng bà là một nữ nhân tài hiếm có trong lịch sử Trung Hoa xưa, bà có đầy đủ sắc đẹp và tài hoa.
Đại văn hào Tô Thức từng có một bài thơ khen rằng: “Băng cơ ngọc cốt, tự thanh lương vô hãn”, có thể thấy sắc đẹp của Hoa Nhị phu nhân không phải tầm thường.
Từ xưa anh hùng khó qua ải mỹ nhân, Triệu Khuông Dận vì say mê sắc đẹp và tài hoa của Hoa Nhị phu nhân, nên bày kế hãm hại phu quân của bà, từ đó chiếm đoạt Hoa Nhị phu nhân làm của riêng, và phong bà làm Quý phi.
Năm 976 Công Nguyên, Triệu Khuông Dận và em trai là Triệu Quang Nghĩa tiến hành cuộc Bắc chinh Khiết Đan, trên lộ trình, họ ngủ chung với nhau trong doanh trại, nhưng mà điều bất ngờ là sáng hôm sau Triệu Khuông Dận chết không rõ nguyên nhân, sau này sử sách điều tra và ghi lại sự thật là do em trai của Triệu Khuông Dận đã mưu sát ông, ý đồ muốn cướp đoạt ngôi vua.
Tương truyền rằng cái chết của Tống Thái Tổ lần đó, Hoa Nhị phu nhân đã từng có cảnh báo trước, bà treo một bức tranh trong phòng ngủ của mình, trong tranh vẽ một người đàn ông tay cầm cung tên, nói là ảnh chân dung của Tống Tử Trương Tiên. Nhưng thật ra, bà đang muốn ám chỉ với Triệu Khuông Dận rằng có người muốn hãm hại ông, nhưng Tống Thái Tổ làm sao có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa trong đó chứ. Tuy vậy dù sao Hoa Nhị phu nhân cũng đa tiên tri được cái chết của Tống Thái Tổ.
‘Vĩ Thư’ là một trước tác của nhà Hán được viết dựa trên tư tưởng của Nho giáo, thông thường dùng để tiên đoán nhân sự hung cát và sự hưng suy của triều đại, rất thịnh hành trong những năm cuối cùng của Đông Hán.
Điều khiến mọi người ngạc nhiên là, trong sách có lời tiên tri rằng: “Quỷ tại sơn, hòa nữ vận, vương thiên hạ”.
Chúng ta cùng xem kết cấu của chữ “Ngụy” (魏), chính là do ba chữ quỷ (鬼), hòa (禾), nữ (女) hợp thành, và cuối cùng người có được thiên hạ chính là gia tộc Tào Thị. Con trai của Tào Tháo là Tào Phi xóa bỏ nhà Hán lập ra nhà Ngụy, dùng nước Ngụy thay thế vương triều Đông Hán, điều này hoàn toàn ứng nghiệm với một câu tiên tri thần kỳ trong “Vĩ Thư”.
Sử cũ ghi chép: Vào thời nhà Minh, trong một lần Thái tổ Chu Nguyên Chương đang ăn bánh nướng, đột nhiên có người bẩm báo rằng Lưu Bá Ôn cầu kiến.
Chu Nguyên Chương lúc đó không hiểu vì sao lại đột nhiên có nhã hứng, muốn thử xem Lưu Bá Ôn thực chất có bản lãnh như thế nào, thần cơ diệu toán của họ Ôn vi diệu ra sao. Vì thế vị Hoàng đế này đã dùng bát đậy bánh nướng lại, rồi mới chấp thuận cho Lưu Bá Ôn vào gặp.

Chân dung Lưu Bá Ôn (Nguồn: Wikipedia)
Lưu Bá Ôn vừa bước vào trong điện, Chu Nguyên Chương liền bắt đầu đặt câu hỏi: “Tiên sinh hiểu rộng biết nhiều, có biết dưới đĩa là vật gì không?” Lưu Bá Ôn vẫn không đổi sắc mặt, ngón tay bấm quẻ tính toán một lúc rồi trả lời: “Nửa giống mặt trời nửa giống mặt trăng, từng bị rồng vàng cắn một miếng, theo như thần thấy vật trong chén chính là bánh nướng”.
Chu Nguyên Chương nghe xong vô cùng vui mừng, khen ngợi Lưu Bá Ôn là kỳ tài trăm năm khó gặp. Sau đó giữa hai người có một cuộc vấn đáp tiên tri về tương lai thế sự và sự hưng vong của nhân loại… được tập hợp ghi chép thành tác phẩm “Thiêu Bính Ca”. Vì chuyện này mà “Thiêu Bánh Ca” được lưu truyền rộng rãi, mà các lời tiên tri trong “Thiêu Bính Ca” cũng đều ứng nghiệm toàn bộ, có thể nói là vô cùng thần kỳ.
Vào thời kỳ nhà Đường, “Thôi Bối Đồ” đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, thịnh hành một thời. Chính sử “Cựu Đường Thư” ghi chép rằng: Đường Thái Tông nhìn thấy một cuốn “Bí kỷ” có viết là: “Ba đời nhà Đường về sau, tức nữ chủ võ vương thay thế cả nước”.
Vì thế Đường Thái Tông cho gọi Lý Thuần Phong đến hỏi chuyện, Lý Thuần Phong nói với Lý Thế Dân: “Đây là ý trời, hơn nữa người phụ nữ này chính là người trong hoàng thất, ba mươi năm sau xưng đế, và tàn sát con cháu của ngài”.
Quả nhiên hoàn toàn giống với trong sách đã nói, ba mươi năm sau, Võ Tắc Thiên đăng cơ xưng thế, trở thành nữ hoàng đế đầu tiên và cũng là cuối cùng trong lịch sử các triều đại Trung Quốc.
Từ xưa trong dân gian đã lưu truyền rằng Lý Thuần Phong có thể suy đoán được những chuyện xảy ra vào một ngàn năm sau. Tuy nhiên, khi ông đang tính toán đến tượng thứ 59 thì người bạn tốt của ông là Viên Thiên Cương đã thúc vào lưng ông một cái, nói rằng: “Thiên cơ không thể tiết lộ, tính toán đến đây thôi”.
Vì vậy Lý Thuần Phong đem chuyện này vẽ thành một bức tranh, và đề thơ: “Thương mang thiên số thử trung cầu, thế đạo hưng suy bất tự do, vạn vạn thiên thiên thuyết bất tận, bất như thôi bối khứ quy hưu”. Vì vậy mà bộ dự ngôn này của ông được gọi là “Thôi Bối Đồ”, có sức ảnh hưởng rất rộng lớn.
Do những lời tiên tri trong “Thôi Bối Đồ” liên quan đến việc dự báo về sự kiện Võ Tắc Thiên xưng đế, và sự kiện Loạn An Sử đều vô cùng chính xác, có thể nói là chính xác đến mức khiến người ta phải hoài nghi cuộc đời. Vì vậy cho đến hiện nay vẫn còn tồn tại những tranh luận bất tận về bộ dự ngôn này.
Thế giới rộng lớn, chuyện lạ gì cũng có. Có người tin rằng: thật sự là có thiên mệnh huyền cơ đằng sau những lời tiên tri lớn; lại có người cho rằng những lời tiên tri vốn chỉ là một sự trùng hợp mà thôi… Nhưng có thể khẳng định một điều là, đằng sau mỗi một tiên tri thần kỳ đều có một câu chuyện hay, chúng ta có thể may mắn đọc được những câu chuyện lịch sử này, cũng xem như là một chuyện vui trong cuộc đời vậy.
Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch

Trong lịch sử Trung Hoa, luôn luôn có một số nhân vật tài hoa xuất chúng, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, có thể dự đoán được chuyện xảy ra trong tương lai. Dưới đây là danh sách 6 nhà tiên tri nổi tiếng nhất, không gì có thể qua mắt được họ.
6. Lưu Bá Ôn
Dân gian có câu ngạn ngữ: “Ba phần thiên hạ Gia Cát Lượng, thống nhất giang sơn Lưu Bá Ôn, quân sự thời trước Gia Cát Lượng, quân sự đời sau Lưu Bá Ôn”, đủ để thấy đây là một nhân vật có sức ảnh hưởng to lớn. Chu Nguyên Chương có Lưu Bá Ôn như hổ mọc thêm cánh.
Tương truyền, Lưu Bá Ôn vốn là một vị thần tiên trên trời. Cuối thời nhà Nguyên, thiên hạ đại loạn, chiến tranh không ngừng, nạn đói xảy ra khắp nơi. Ngọc Hoàng lệnh cho Lưu Bá Ôn chuyển sinh phụ tá minh quân, cho nên ông có thể đoán biết được sự việc xảy ra, có công lao to lớn trong quân sự và chính trị giúp Chu Nguyên Chương thống nhất thiên hạ, có thể sánh ngang với Gia Cát Lượng. Một câu có thể hình dung về Lưu Bá Ôn là :”Trước biết 500 năm, sau biết 500 năm”.
5. Viên Thiên Cang
Viên Thiên Cang là thầy tướng số, phong thủy nổi tiếng vào đầu nhà Đường. Ông và Lý Thuần Phong cùng sáng tác cuốn sách tiên tri “Thôi Bối Đồ” nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa.
Cuốn sách này bao gồm 60 bức họa (đồ tượng), bản gốc phân thành Quyển 1 (đến Tượng 40) và Quyển 2 (sau Tượng 40). Mỗi bức họa ở dưới đều kèm theo “sấm viết” và “tụng viết” bằng thơ, tiên tri những sự kiện trọng đại phát sinh qua các triều đại Trung Quốc từ triều Đường về sau.
Khi đối chiếu những sự việc được tiên đoán trong «Thôi Bối Đồ» với các sự kiện đã xảy ra, thì người ta phát hiện thấy sự chuẩn xác đến đáng kinh ngạc.
4. Gia Cát Lượng
Vào thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng đã cống hiến cả cuộc đời mình vì nước Thục, có thể nói là cúc cung tận tụy, đến chết không từ. Đồng thời, ông cũng là nhà quân sư kiệt xuất, nhà phát minh và chính trị gia, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, thậm chí có thể đoán trước vận mệnh quốc gia sau khi chết. Ông là một bậc kỳ tài trong thiên hạ.
3. Trương Lương
Trương Lương là mưu sĩ của Lưu Bang, nếu không có sự giúp đỡ của ông, Lưu Bang khó có thể giành được thiên hạ.
Điển cố Trương Lương cúi mình nhặt giày, đắc Đạo thành danh trở thành câu chuyện kinh điển nhắc nhở con người về chữ Nhẫn.
Người đời sau xưng Trương Lương là “Mưu Thánh” bởi vì những mưu lược xuất chúng của ông.
2. Quỷ Cốc Tử
Quỷ Cốc Tử tên là Vương Hủ, được coi là nhân vật thần bí nhất trong lịch sử Trung Hoa. Tôn Tẫn và Bàng Quyên là hai đệ tử mà ông ưng ý.
Theo sử sách ghi lại, ông là người có bản lĩnh thông thiên triệt địa, giỏi về toán học, chiêm tinh học.
Ông còn giỏi về bày binh bố trận, biến hóa vô cùng, quỷ thần đều khó dự liệu. Ông đã từng dùng hoa để tiên đoán sự nghiệp của Tôn Tẫn và Bàng Quyên
1. Khương Tử Nha
Khương Tử Nha được biết đến như một vị tướng tài vĩ đại và là người góp phần lập nên sự nghiệp nhà Chu kéo dài hơn 800 năm, triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Trung Quốc. Sử sách các triều đại đều công nhận vai trò lịch sử của ông, được tôn là “Bách gia tông sư”.
Lục Thao tương truyền do đích thân Khương Tử Nha sáng tác, ông được coi là nhà tư tưởng quân sự đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc và là người đầu tiên đưa ra những lý luận có hệ thống về mưu lược dùng binh trong chiến tranh.
Các nhà quân sự nổi tiếng cổ kim như Tôn Vũ, Quỷ Cốc Tử, Hoàng Thạch Công, Gia Cát Lượng đều học tập và tiếp thu Lục Thao, cho nên vị trí thứ nhất thuộc về Khương Tử Nha là không còn nghi ngờ.
]]>
Cổng dẫn vào Trường lăng (ảnh: Wikipedia).
Tương truyền rằng: Một ngày nọ Minh Thành Tổ Chu Đệ thống lĩnh văn võ đại thần đi đến phía Nam tuần tra, sẵn tiện dẫn theo vài vị thầy phong thủy để chọn đất xây lăng cho mình sau khi băng hà…
Minh Thập Tam Lăng tọa lạc tại một thung lũng lòng chảo với diện tích khoảng 40km vuông phía dưới chân núi Thiên Thọ khu Xương Bình, Bắc Kinh. Đằng sau mảnh đất phong thủy này còn ẩn giấu một câu chuyện ly kì.

Toàn cảnh Thập Tam Lăng trong tranh thủy mặc (1875-1908) (ảnh: Wikimedia Commons).
Tương truyền rằng, khi Minh Thành Tổ Chu Đệ thống lĩnh văn võ đại thần đi đến phía Nam tuần tra, sẵn tiện dẫn theo vài vị thầy phong thủy để chọn đất xây lăng cho mình sau khi băng hà. Hôm đó khi đi đến thôn Long Mẫu huyện Xương Bình, nhìn thấy trong thôn có người tổ chức hỷ sự, Minh Thành Tổ nghĩ thầm: “Hôm nay không phải là ngày hoàng đạo tốt lành, tại sao lại có người cưới vợ chứ?” Vì thế, ông dừng lại, hỏi người nhà của gia đình tổ chức hỷ sự, hỏi ra mới biết là do cao tăng Diệu Quảng Hiếu ở trong thôn chọn ngày này. Thế là Minh Thành Tổ cho người đi tìm Diệu Quảng Hiếu đến, hỏi ông ấy vì sao lại chọn ngày này.
Diệu Quảng Hiếu nói: “Hôm nay đúng là không phải ngày hoàng đạo, nhưng tôi đoán được hôm nay nhất định sẽ có một quý nhân đến đây. Long hổ tương xung, hung thần tự rút lui, đây gọi là gặp dữ hóa lành”.
Minh Thành Tổ thấy cao tăng đã nói ra được thân phận của mình, biết rằng mình đã gặp cao nhân, vì vậy, liền phong Diệu Quảng Hiếu làm Tuyển Lăng Hầu, cho đi theo ông để lựa chọn lăng địa.
Lựa chọn vùng đất có phong thủy đẹp để xây lăng địa không phải là một chuyện dễ dàng, Diệu Quảng Hiếu vì tìm kiếm lăng địa mà đi khắp nơi suốt hai năm. Lúc đầu nhìn thấy mấy vị trí có phong thủy rất tốt nhưng lại không chọn. Đầu tiên tìm được Chư Gia Doanh, nhưng vì Minh Thành Tổ họ Chu, “Chu” với “Chư” cùng âm, mà “chư” tức là lợn, thành ra là lợn vào nhà đồ tể thì sẽ bị làm thịt, không cát lợi. Lại tìm được Lang Nhi Cốc, bên cạnh heo (chu) có sói (lang) thì càng nguy hiểm hơn. Sau đó tìm được Yến Gia Đài, nhưng từ “Yến Gia” lại cùng âm với từ “yến giá” (hoàng đế băng hà gọi là yến giá) nên cũng không dùng được.
Cuối cùng tìm được một nơi ở núi Hoàng Thổ, ba hướng Đông, Tây và Bắc của nơi này là các dãy núi cao thẳng đứng, hướng nam đối diện Mãng Sơn, Hổ Cốc Sơn, rất giống một con rồng và một con hổ canh giữ ở trước cổng, chính giữa có nước bao quanh, núi xanh nước trong, minh đường ở thung lũng rộng lớn, dãy núi như khép kín, chính giữa nước sâu đất dày, thực sự là một mảnh đất phong thủy tuyệt vời. Những thầy phong thủy này mỗi người một biệt tài, thi nhau thể hiện hiểu biết, chỉ ra đầu rồng, đuôi rồng, nói Mãng Sơn và Long Sơn là thanh long bạch hổ, có tác dụng bảo vệ khu lăng mộ.

Núi Thiên Thọ sừng sững phía sau Thập Tam Lăng (ảnh: China Wanderer).
Minh Thành Tổ hỏi Diệu Quảng Hiếu: “Tuyển Lăng Hầu, ông nhìn xem, mảnh đất này có thể mai táng bao nhiêu đời con cháu của ta?”.
Diệu Quảng Hiếu nói: “Nơi này khe núi sáng sủa rộng lớn, tàng phong tụ khí, có thể mai táng vạn tử trùng tôn của hoàng thượng.” (Câu nói “vạn tử trùng tôn” xuất phát từ Lưu Bá Ôn).
Thật ra đây là một câu ẩn dụ, tức là muốn nói với Minh Thành Tổ rằng, đến thời hoàng đế Sùng Trinh, cháu trai của hoàng đế Vạn Lịch, là nhà Minh diệt vong. Đương nhiên là Minh Thành Tổ không hiểu được câu ẩn dụ này, nên ông vô cùng vui mừng, vì vậy đã ra lệnh khoanh tròn 80 dặm để làm cấm địa lăng mộ, và đổi tên núi Hoàng Thổ thành núi Thiên Thọ, lại phát lệnh động thổ xây lăng.
Lăng mộ của Minh Thành Tổ Chu Đệ nằm ở vị trí chính giữa – trung thành, những lăng mộ khác đều xây dựa vào núi, lăng mộ xây ở chân núi ba hướng Đông, Tây, Bắc tạo thành hình cây quạt, hình thành dãy kiến trúc lăng tẩm có hệ thống hoàn chỉnh, quy mô to lớn, khí thế hoành tráng. Ở đây mai táng tổng cộng mười ba vị hoàng đế, cho nên còn gọi là Thập Tam Lăng.
Thì ra chuyện thay đổi triều đại là do ông trời có sắp đặt từ trước, cũng giống như câu nói ẩn dụ mà Diệu Quảng Hiếu từng trả lời Minh Thành Tổ, Thập Tam Lăng của nhà Minh cũng tiên đoán rằng nhà Minh chỉ có thể tồn tại đến thời hoàng đế Sùng Trinh mà thôi. Ngoài ra mộ địa ở bên trong khu lăng mộ Thập Tam Lăng sau khi mai táng hoàng đế Sùng Trinh xong, thì không còn đủ địa thế để mai táng thêm một vị hoàng đế nào nữa.
Theo Vision Times
Châu Yến biên dịch