
Chó đẻ răng cưa rất tốt cho gan nhưng cần dùng đúng cách.
Chữa viêm gan B, suy gan, xơ gan… là những công hiệu tuyệt vời của cây chó đẻ. Tuy nhiên sử dụng như thế nào mới có hiệu quả tốt thì không phải ai cũng biết.
Chó đẻ răng cưa theo dân gian còn gọi với các tên khác như cây cau trời hay diệp hạ châu. Còn trong tiếng Hán là hiệp hậu châu, nhật khai dạ bế hay trân châu thảo, thuộc họ thầu dầu, có tên khoa học Phyllanthus urinaria L.
Tác dụng của cây chó đẻ
Theo Đông y, cây chó đẻ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, thông huyết, điều kinh, thanh can, lương huyết, hạ nhiệt… thường được dùng làm thuốc chữa các bệnh đau gan, thận, đường tiết niệu, đường ruột, bệnh chứng ở ngoài da.
Dùng 30g cây chó đẻ, 12g sài hồ, 12g hạ khô tảo, 12g nhân trần và 8g chi từ gom thành 1 thang mang xao khô sắc nước uống trong ngày.
Dùng 20g chó đẻ đắng mang xao khô sắc nước 3 lần. Thêm vào 50g đường đun sôi tan, chia ra uống trong ngày 4 lần. Đi xét nghiệm nếu kết quả HBsAg (-) thì ngừng uống.
Dùng 100g chó đẻ đăng xao khô sắc nước 3 lần. Thêm vào 150g đường đun sôi tan, uống nhiều lần trong ngày cho đỡ đắng và duy trì 30 – 40 ngày. Chú ý đang trong liệu trình thì hạn chế muối và thức ăn giàu đạm như trứng, đậu phụ, cá, thịt,…
Dùng 20g hiệp hạ châu đắng hoặc ngọt, 20g cam thảo đất mang xao khô sắc nước uống hằng ngày.

Lạm dụng cây chó đẻ gây mất cân bằng chức năng gan, mật,… từ đó rất dễ dẫn đến chai gan, xơ gan. (Ảnh: Cây Thuốc Dân Gian)
Những lưu ý khi dùng cây chó đẻ
Mặc dù có nhiều tác dụng chữa bệnh tốt như vậy, nhưng chó đẻ vẫn có những phản ứng phụ vì vậy nhất định bạn cần đọc kĩ, cũng như tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng. Dưới đây là một số lưu ý chính:
Đối với những người mắc các bệnh về gan hoặc mật thì việc sử dụng chó đẻ răng cưa hỗ trợ điều trị sẽ rất tốt. Tuy nhiên đây là loại cây chữa bệnh, không nên uống hàng ngày để phòng bệnh, vì với người bình thường rất dễ gây tổn thương, mất cân bằng chức năng gan, mật,.. từ đó rất dễ dẫn đến chai gan, xơ gan.
Đây là loại cây chữa bệnh, không có tác dụng làm thuốc bổ vì vậy bạn không được tự ý sắc nước uống hằng ngày. Việc lạm dụng có nguy cơ làm phá vỡ hồng huyết cầu, từ đấy làm suy giảm hệ miễn dịch, hư hại chức năng gan.
Có nhiều thông tin cho rằng uống nước cây chó đẻ làm co mạch máu và cơ trơn ở tử cung, từ đó dẫn tới vô sinh. Do có tính hàn nên gặp phải cơ thể quá hàn mà lạm dụng sẽ gây ảnh hưởng tới quá trình thu thai. Thế nhưng, cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có công bố nào về tác dụng phụ này. Tuy nhiên, chị em phụ nữ chưa sinh hoặc đang ở độ tuổi sinh nở cũng cứ nên đề phòng không uống.
]]>Hoài sơn hay còn gọi là Sơn dược, Sơn ngẫu, Chính hoài, củ khoai mài, củ mài, củ lỗ không chỉ là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là vị thuốc quý của Đông y.

Cái tên “sơn dược” ý chỉ đây là một loại dược liệu quý miền sơn cước (miền núi). Theo y học cổ truyền hoài sơn có vị ngọt, tính bình, vào 4 kinh tỳ, vị, phế và thận.
Thảo dược có rất nhiều công dụng nhưng quý nhất là tác dụng bồi bổ tỳ vị, phế và thận.
Xung quanh nguồn gốc tên gọi của vị thuốc này là câu chuyện khá thú vị.
Câu chuyện nguồn gốc của vị thuốc Hoài Sơn
Chuyện rằng, cách đây rất lâu có hai nước mạnh và yếu giao tranh. Phần thắng thuộc về bên mạnh hơn và chiếm được nhiều đất đai của nước yếu.
Cuối cùng, chỉ còn lại vài nghìn người, họ nhất định không chịu đầu hàng nên rút vào một ngọn núi sâu.
Quân mạnh cố nhiên không tha, đuổi theo vào tận rừng sâu, nhưng núi rừng hiểm trở, dễ thủ mà khó công.
Quân bên mạnh tấn công nhiều lần đều vô hiệu, trái lại còn bị tổn thất cả người và ngựa.
Tướng quân bên mạnh bèn ra lệnh bao vây rừng núi, ý định chặn đường vận chuyển lương thực để đợi địch đói thì phải đầu hàng.

Một tháng trôi qua, quân bên yếu trên núi không có động tĩnh gì.
Các tướng của bên mạnh dự đoán lương thảo của họ sắp cạn.
Nhưng ba tháng rồi bốn tháng trôi qua, đoàn quân trên núi vẫn không có động tĩnh như đã biến mất khỏi thế giới.
Người đứng đầu của bên quân mạnh lại đoán chắc là bao nhiêu chiến mã của bên yếu đều đã bị dùng làm lương thực, ngoài đầu hàng không còn cách gì khác nữa .
Các vị tướng của bên mạnh muốn tấn công tận diệt quân địch, nhưng cũng cẩn thận chờ thêm vài ngày.
Mấy hôm sau, quân sĩ được lệnh kêu gọi quân trên núi bỏ khí giới đầu hàng sẽ được tha .
Nhưng mỗi lần nghe được, quân trên núi lại trả lời bằng tên bắn xuống như mưa, tỏ ý quyết không quy hàng.
Hai bên cầm cự thấm thoát đã 8 tháng.
Quân bao vây tưởng tàn quân trên núi đã hết lương thực, ngựa chiến bị ăn thịt hết, quân sĩ chết đói la liệt, nếu còn quân sống sót, chắc cũng giống hình bộ xương khô, không lết nổi.
Với sự phỏng đoán lạc quan ấy, vòng vây canh gác cũng nới lỏng, không cẩn thận như trước.
Các Tướng bên mạnh đều nghĩ rằng mình chẳng cần đánh nhau, khỏi tổn thương quân sĩ, không mất công cũng sẽ đại thắng, chỉ cần lên núi thu dọn tử thi là xong.
Cả tướng cũng như quân vui vẻ, hứng khởi với viễn cảnh đại thắng, nên binh sĩ được phép mở tiệc ăn mừng, đàn ca, rượu thịt khao quân trước mấy ngày liền.
Một vài ngày sau, qua 8 tháng bao vây canh phòng mệt nhọc, lại vừa nhiều ngày khao quân nên cả tướng và quân bên mạnh mệt nhừ, đêm lăn ra ngủ say như chết.
Trong rừng núi yên tĩnh, hàng nghìn tiếng ngáy vang vọng rất xa.
Bỗng nhiên có tiếng reo hò ầm ầm vang dậy chấn động núi rừng.
Tất cả doanh trại bị phóng hỏa, quan quân đang ngủ say hốt hoảng bừng tỉnh dậy, thấy lửa bùng cháy khắp nơi.
Tướng chỉ huy đang ngủ mê man, giật mình tỉnh giấc nghe tin bị tấn công, không kịp mặc áo giáp, đeo khí giới, nhảy lên ngựa chạy trốn.
Đoàn quân không có người chỉ huy thì náo loạn lo sợ không còn biết phải làm gì.

Quân địch ào ào tấn công, tiếng la hét vang dậy đất trời.
Trận đột kích thành công trong thời gian rất ngắn, cả đoàn quân nửa tỉnh nửa say, đầu hàng bị bắt gọn.
Đại thắng rồi, nước yếu chiếm lại được tất cả thành trì đất đai đã mất, dân chúng lại được an cư lạc nghiệp như xưa.
Một vấn đề cần đề cập tới ở đây đó là, đoàn quân bị vây trên núi gần một năm, bên trong rừng không có cây trái rau quả gì có thể làm lương thảo, bên ngoài cũng không có quân cứu viện.
Toán quân yếu này đã làm thế nào để không bị chết đói lại thắng quân địch mạnh khỏe tinh nhuệ gấp bội.
Sự thực là sâu bên trong rừng, sinh sản một thứ cây lá cành rất rậm rạp, mùa hạ nở hoa màu trắng, cây tròn to và rất dài như một cánh tay người lớn .
Khi đoàn quân bị vây không lâu, thấy hết lương thực, binh lính đã bắt đầu đói khát.
Các tướng đang phân vân không biết nên quyết đấu đến chết, hay đầu hàng để sống.
Một hôm, có binh sĩ đói quá đào một thứ củ trong rừng ăn thấy ngon lành dễ nuốt. Thế là từ đó vấn đề lương thực của cả đoàn được giải quyết.
Người ăn củ, ngựa ăn cành lá, đợi ngày phản công.
Thắng trận rồi, mấy hôm sau nước yếu tổ chức ăn mừng.
Tất cả các tướng sĩ đều nói: “Chúng ta thắng trận, công đầu phải là nhờ núi rừng. Nếu không có quà tặng của núi rừng ban cho, chúng ta đã chết đói, có khi chiến mã cũng thành lương thực. Chính cái lộc của núi rừng này đã giúp chúng ta chiến thắng và khôi phục được giang sơn”.
Để ghi nhớ thứ củ đã giúp họ qua cơn đói khát, bèn đặt tên là Sơn Ngẫu, nghĩa là ngẫu nhiên gặp được trên núi lúc tính mệnh bị nguy hiểm.
Từ đó, dân chúng bèn đào củ ấy làm lương thực.
Sau khi ăn nhiều, lâu dần người ta phát hiện ngoài giúp no bụng, thảo dược còn bổ Tỳ, Vị, Thận, Phế. Rồi không biết từ lúc nào, những người Tỳ Tạng suy nhược, hay bị chứng lỵ đều nhờ ăn nó mà lành.
Nó từ món ăn đã biến thành dược thảo. Rồi cũng không biết từ bao giờ, và vị y sư nào đó đã gọi Sơn Ngẫu là Sơn Chi Dược, nghĩa là dược thảo quý hiếm của rừng núi, rồi thành tên cho đến bây giờ.

Công dụng và bài thuốc dân gian từ Hoài sơn
Theo Đông y, Hoài sơn có vị ngọt không mùi, tính bình không độc là thuốc bổ mát có tác dụng dưỡng vị sinh tân, ích phế bổ thận, chỉ khát chữa tỳ vị suy nhược, nóng sốt khát nước, mồ hôi trộm, đi tiểu nhiều, ăn khó tiêu, đau dạ dày, viêm ruột, đái tháo đường, mụn nhọt, kiết lỵ lâu ngày, di tinh, bạch đới.
Các bài thuốc có dùng Hoài sơn.
Thuốc bổ máu cho người cao tuổi: Hoài sơn 100g, củ súng, hạt sen, Ý dĩ, mỗi vị 50g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 20g với nước cơm, chữa rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, kiết lỵ mạn tính ở trẻ em.
Thuốc kiện tỳ tiêu thực, cho trẻ em gầy yếu: Hoài sơn (sao) 60g, Phục linh, Bạch biểu đậu (sao), Sơn trà, Mạch nha, Thần khúc, Đương quy, mỗi vị 45g; Bạch truật (sao), Trần bì, Sử quân tử, mỗi vị 20g; Hoàng liên, Cam thảo, mỗi vị 10g. Tất cả tán bột, rây mịn, trộn với mật làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-5g.
Thuốc bổ dùng cho người bệnh dạ dày và ruột: Hoài sơn 10g, Bạch truật 8g, Phục sinh 6g, Trần bì 5g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa suy dinh dưỡng trẻ em có kèm theo tiêu chảy: Hoài sơn, Ý dĩ, Mạch nha, mỗi vị 100g, Đảng sâm hoặc Sâm bố chính, Bạch truật, mỗi vị 50g; hạt cau, vỏ quýt, mỗi vị 25g. Tất cả sao vàng, tán rây một mịn, trộn đều. Ngày uống 16 – 20g.
Hoài sơn 60g, Ý dĩ 120g, lá lách lợn 1 cái. Tất cả thái và nghiền nhỏ, nấu với gạo nếp thành cháo ăn trong ngày.
Theo Sohu
Kiên Định biên dịch
Từ xa xưa các danh y khi trị liệu đều thông qua bốn phương pháp Vọng, Văn, Vấn, Thiết để biết rõ tình trạng của bệnh nhân.
Tuy nhiên vào thời nhà Đường, có một người không cần chẩn mạch chỉ thông qua quan sát sắc mặt và trò chuyện cũng có thể biết họ mắc bệnh gì.

Ông là ai?
Theo ghi chép trong Minh hoàng tạp lục của Trịnh Sử Hối, thời nhà Đường có một người không được học về y thuật nhưng lại có khả năng đoán bệnh tài tình qua sắc mặt và trò chuyện.
Ông chính là danh y Chu Quảng.
Những mẩu chuyện có thực dưới đây được một người tên Lưu Phúc, một quan lại chuyên phụ trách thủy binh thời vua Đường Huyền Tông ghi chép lại.
Vào năm Khai Nguyên thời vua Đường Huyền Tông, Chu Quảng được danh y Kỷ Minh người Ngô Địa truyền cho bí quyết trị bệnh thần kỳ.
Sau khi học, chỉ cần quan sát sắc mặt và trò chuyện, không cần chẩn mạch kiểm tra cũng có thể biết được mức độ bệnh nặng nhẹ ra sao, lại có thể miêu tả một cách khá chi tiết.

Đường Huyền Tông sau khi nghe danh ông, liền mời vào kinh bổ nhiệm chức vụ.
Lại gọi những người mắc bệnh trong cung vào phòng đợi để thử nghiệm tài năng. Người đầu tiên là một người hầu, cứ đến chiều là mắc căn bệnh kỳ lạ.
Anh ta có thể vừa cười, vừa hát lại vừa khóc như bị trúng tà mắc chứng điên cuồng, không những vậy chân lại không thể chạm đất.
Sau khi nhìn thấy bệnh nhân, Chu Quảng nói với vua: ‘Người này ắt hẳn có lần từng ăn quá no, ngay sau đó lại làm việc nặng, lát sau bị té ngã mới bị như vậy’.
Nói rồi kê đơn cho anh ta uống Vân mẫu thang, một lát sau không còn các biểu hiện điên loạn.
Ông lại cho bệnh nhân chìm vào giấc ngủ sâu, sau khi tỉnh lại không còn đau đớn như trước.
Thấy bệnh nhân tỉnh táo, ông hỏi nguyên do anh ta đáp: ‘Tôi bị như vậy trong lần sinh nhật chủ nhân ở cung Đại Hoa. Hôm đó yến tiệc mừng tổ chức tới ba ngày, trong cung lại chuẩn bị dàn nhạc ca vũ rất lớn, tôi là người hát chính trong đoàn nhạc. Bởi tiếng không vang nên thường ăn canh móng giò, ăn xong lên hát và thấy cổ họng nóng vô cùng. Thế rồi tôi cùng vài người đi lên đài cao chơi đùa, nhảy từ trên cao xuống hồ. Tôi vừa nhảy chưa tới nơi lại có một người khác nhảy phía sau và lao vào tôi thế là tôi bị ngã xuống đất mãi mới tỉnh lại được. Cũng từ đó mà đầu óc không bình thường và chân mới không đặt được xuống đất như vậy’.
Nghe xong câu chuyện vua rất đỗi ngạc nhiên và thán phục danh y Chu Quảng.
Lại có một đại thần trong cung phung mệnh đi xứ từ vùng Giao Quảng tới đại điện bái kiến đức vua, Chu Quảng nhìn thấy ông ta bèn nói: ‘Trong bụng người này có một con rắn mẹ ngày mai sẽ sinh con. Nếu không kịp thời cứu chữa ông ta sẽ không sống được’.
Vua Đường Huyền Tông lấy làm kinh ngạc hỏi đại thần: ‘Khanh bị bệnh à?’, Vị đại thần nọ đáp: ‘Đúng vậy thưa bệ hạ. Chuyện là khi hạ thần đi qua vùng đất Đại Dư Lĩnh, thời tiết rất nóng, thần vừa mệt vừa khát nên dừng lại ở khe suối nhỏ bên đường uống nước. Cũng từ đó bụng tôi ngày một to và nổi cục cứng như đá’.

Chu Quảng lập tức dùng Tiêu thạch, Hùng hoàng đun nước cho ông ta uống.
Vừa uống xong, ông ta lập tức nôn ra một vật dài khoảng vài tấc, kích thước như đầu ngón tay.
Nhìn thật kỹ thấy trên người nó có vảy, thả xuống nước một lát nó liền dài ra tới vài thước.
Ông vội vàng thả nó ngâm vào rượu đắng, nó lại hồi phục về kích thước ban đầu.
Sau đó nhốt nó vào một cái lọ, ngày hôm sau sinh ra một con rắn con.
Vua Đường rất coi trọng ông, muốn giữ ông lại trong cung phong chức hưởng vinh hoa phú quý, nhưng ông kiên quyết từ chối muốn về quê hương ở nước Ngô.
Năng lực của ông không phải một người bình thường có thể học được, tuy nhiên đó cũng xuất phát từ một đạo lý rất đơn giản.
Đó chính là một loại công năng xuất hiện khi phong trào tập khí công lên thành cao trào gọi là khai thiên mục.
Con người cổ đại thậm chí cả hiện nay coi đó là thần kỳ, chẳng qua cũng chỉ là thiên mục được khai mở, có thể thông qua không gian này của chúng ta mà nhìn thấy một không gian khác.
Theo zhengjian
Kiên Định biên dịch
Tương truyền thần y Biển Thước là người đầu tiên sử dụng vị thuốc này trong điều trị đột quỵ và bệnh nhân là hàng xóm của ông.
Không phải ngẫu nhiên vị thuốc có tên là Ngưu hoàng, xung quanh tên gọi và công dụng của nó là một câu chuyện khá thú vị.

Ngưu hoàng là một loại sỏi kết thành trong mật con bò cái bị ốm.
Khi bị đau vì sỏi nó gầy mòn, ăn ít cỏ, và cần uống nhiều nước, cuối cùng mắt chuyển sang màu đỏ và bị chết.
Vị thuốc hình thành một cách tự nhiên và thường được tính theo giá trị cuộc đời bò bởi vậy rất hiếm quý.
Nó có nhiều tên gọi như Tây hoàng, Tô hoàng, Sửu bảo, Đởm hoàng (cũng gọi Ô kim hoàng, Đản hoàng, Quả hoàng tức sạn túi mật), Quản hoàng (cũng gọi Toái phiến hoàng, Không tâm hoàng tức sạn ở ống gan mật).
Y học cổ truyền đã biết sử dụng Ngưu hoàng làm thuốc từ hơn 2000 năm trước. Thần Nông bản thảo kinh, một trong các y văn cổ nhất của y học cổ truyền Trung Hoa đã viết về công dụng của Ngưu hoàng là chủ trị “nhiệt thịnh kinh hoảng” (tương ứng với các triệu chứng sốt cao, mê sảng, bất tỉnh nhân sự như biểu hiện bệnh đột quỵ).
Tương truyền thần y Biển Thước (401 – 310 tr.CN, Trung Quốc) là người đầu tiên sử dụng vị thuốc này trong điều trị đột quỵ và người bệnh chính là hàng xóm của ông. Không phải ngẫu nhiên vị thuốc có tên Ngưu hoàng, xung quanh tên gọi và công dụng của nó là một câu chuyện khá thú vị.

Biển Thước và câu chuyện về công dụng của Ngưu hoàng
Chuyện rằng một ngày nọ, Biển Thước kiếm được một viên Thanh Mông thạch và dự tính nghiền thành bột chữa đột quỵ và liệt cho người hàng xóm của mình tên là Cố Dương Văn.
Bỗng nhiên, ông nghe thấy những tiếng động bên ngoài và hỏi người nhà nguyên nhân. Hóa ra, con trai của người hàng xóm là Dương Bảo đang sai người nhà giết con bò cái 10 năm tuổi đã bị ốm từ 2 năm trước.
Sau khi giết con vật, anh ta tìm thấy một viên sỏi trong túi mật của nó.
Danh y qua xem và ngỏ ý muốn xin viên sỏi đó. Dương Bảo vui vẻ tặng lại và ông mang về nhà đặt cạnh viên Thanh Mông thạch.
Khi đó, đột nhiên người hàng xóm lên cơn đột quỵ.
Sau khi được mời tới thăm bệnh, Biển Thước thấy mắt bệnh nhân đang trợn ngược lên, nôn khan, chân tay lạnh, hơi thở gấp gáp và ngắn, tình trạng vô cùng gay go và nguy kịch.
Ông quay sang nói với Dương Bảo: “Nhanh lên, mau đi lấy viên Thanh Mông thạch mà ta để trên bàn”.
Anh ta chạy thật nhanh tới nhà danh y và mang thuốc về.
Bởi đang trong lúc gấp gáp, danh y không kiểm tra kỹ đã nhanh chóng nghiền nó thành bột, ước lượng lấy vừa đủ một thang thuốc và cho bệnh nhân uống.
Một lát sau, ông ta dứt cơn co giật, hơi thở trở nên ổn định, và dần dần tỉnh táo trở lại.
Khi trở về nhà, danh y giật mình lo lắng khi phát hiện viên Thanh Mông thạch vẫn còn ở trên bàn, trong khi viên sỏi kia thì biến mất.
Ông hỏi người nhà, “Ai đã lấy Ngưu hoàng đi rồi?”.
Người nhà ông trả lời: “Dương Bảo nói anh ta tới lấy thuốc theo lời dặn của ông và mang đi”.
Sự nhầm lẫn ngẫu nhiên này khiến danh y trầm ngâm hồi lâu rồi tự hỏi: “Phải chăng Ngưu hoàng có khả năng làm hết khó thở và điều hòa hệ hô hấp?”
Ngày hôm sau, ông chủ tâm sử dụng nó làm thuốc trị liệu thay thế cho Thanh Môn thạch.
Ba ngày sau, tình trạng của người bệnh được cải thiện một cách thần kỳ.
Ông ta không chỉ hết co giật mà còn cử động được tay chân bị liệt.

Từ trường hợp này, danh y kết luận, “Do Ngưu hoàng được ngâm trong túi mật của con bò trong thời gian dài, vì vậy tính hàn của nó có thể thấu tới tim và gan của người bệnh. Nó có thể lọc tim, thông các mạch, điều hòa gan và chữa liệt”.
Công dụng và một số bài thuốc từ Ngưu hoàng
Theo Đông y, Ngưu hoàng vị ngọt, tính mát, đi vào hai kinh Tâm và Can, chữa được nhiều bệnh.
Nó có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tức phong chỉ kinh, khoát đàm khai khiếu.
Chủ trị các chứng: hầu họng sưng đau, lở loét, mồm lưỡi lở, ung thư, mụn nhọt, ôn nhiệt bệnh, trẻ em kinh phong, sốt cao mê man, kinh quyết co giật, động kinh, trúng phong hôn mê.
Theo Tây y, thành phần chủ yếu của ngưu hoàng bao gồm Cholic acid, deoxycholic acid, cholesterol, bilirubin, taurocholic acid, glycine, alanine, methionine, asparagine, arginine, sodium, magnesium, calcium, phosphate, sắt, carotene, amino acid, vitamin D…
Ngoài ứng dụng trong đột quỵ, chế phẩm chứa Ngưu hoàng cũng thường được dùng với mục đích tăng lưu lượng máu lên não, chống đau đầu chóng mặt, rối loạn tiền đình…
Nhưng như đã nói trên, Ngưu hoàng có tính hàn rất mạnh nên có thể gây hậu quả xấu khi dùng cho những người “thể hàn”.
Trong đông y có mô tả người “thể hàn” là do sự suy yếu của một số phủ tạng như Tâm, Can, biểu hiện ra bên ngoài là gầy gò yếu ớt, sợ lạnh, kém ăn uống, sắc mặt nhợt nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, đại tiện nát, tiểu tiện trong và kéo dài…
Trường hợp rêu lưỡi chuyển trắng xanh, thường ra mồ hôi trộm nhưng chỉ hơi ẩm ẩm, tiếng nói nhỏ yếu, khả năng tình dục rất kém, huyết áp thấp… là thể rất hàn.

Bài thuốc trị bệnh từ Ngưu hoàng
1. Trị bệnh nhiễm sốt cao hôn mê co giật (đàm mê tâm khiếu thực chứng)
Bài thuốc Vạn thị Ngưu hoàng thanh tâm hoàn: Ngưu hoàng 0,3g, Hoàng liên 5g, Hoàng cầm, Chi tử, Uất kim đều 10g, Chu sa 3g làm hoàn thuốc thành phẩm uống theo quy định của bào chế.
Ngưu hoàng tán: Ngưu hoàng 0,3g, Chu sa 3g, Xạ hương 0,1g, Thiên trúc hoàng 10g, Yết vĩ 1,5g, Câu đằng 15g, chế thành thuốc tán, mỗi lần uống 1,5 – 3g, uống với nước sôi để nguội.
2. Trị viêm miệng họng và các chứng nhọt độc
Ngưu hoàng giải độc hoàn: Ngưu hoàng 1,5g, Cam thảo 5g, Kim ngân hoa 30g, Thất diệp nhất chi hoa 6g, tán bột mịn làm hoàn. Mỗi lần uống 3g, ngày 2 – 3 lần.
Theo zhengjian
Kiên Định biên dịch
Từ xa xưa Đương quy được coi là vị thuốc chính của phụ khoa hay sản khoa, chuyên trị thiếu máu, đau bụng, kinh nguyệt không đều.
Quanh nguồn gốc của thảo dược này còn có một câu chuyện khá thú vị.

Đương quy còn gọi Xuyên quy, là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Đương quy, tên tiếng Anh là Angelica sinensis (Oliv.) Diels, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae).
Theo Đông y, thảo dược này có vị ngọt cay, tính ôn, vào kinh Tâm, Can và Tỳ, có thể bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh chỉ thống, nhuận tràng…
Đây là lựa chọn hàng đầu cho người thể trạng gầy yếu, trẻ nhỏ và phụ nữ (đặc biệt là thai phụ) để điều khí, nuôi huyết, bồi bổ cơ thể, trị chứng thiếu máu do tác động vào cả 3 kinh: Tâm, Can, Tỳ; giúp bổ ngũ tạng; khí vận hành tốt nhờ đó sinh huyết dồi dào, đả thông kinh mạch chính vì vậy mà sức khỏe được nâng lên.
Từ thời Minh, có một câu chuyện khá hấp dẫn thú vị về nguồn gốc của thảo mộc này.
Câu chuyện về nguồn gốc của Đương quy
Truyện kể rằng, xa xưa bên dòng sông Bạch Long, thuộc tỉnh Cam Túc, có một làng rất trù phú.
Cạnh đó là núi Đại Sơn hùng vĩ thâm nghiêm với rừng rậm bao quanh.
Đây là một kho tàng dược thảo quý nhưng cũng rất nguy hiểm vì trong rừng đầy những thú dữ và rắn độc, làm quanh năm không ai dám vào rừng săn bắn hay hái thuốc.
Trong làng có chàng thanh niên cần cù chăm chỉ nho nhã tên gọi Vương Phúc chuyên kiếm sống bằng nghề hái thuốc.
Mặc dù biết đây là khu rừng nguy hiểm nhưng vẫn muốn đi vào để tìm kiếm thần dược.
Nhà chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau nên chàng hỏi ý kiến mẹ trước khi quyết định lên đường.
Mẹ cậu vì thương lo con gặp nguy hiểm nên nghĩ cách ngăn cản. Bà yêu cầu con trai lấy vợ rồi muốn đi đâu thì đi.
Cứ nghĩ rằng làm vậy con sẽ từ bỏ ý định nhưng không phải thế.
Cuối cùng tới một ngày nọ, chàng trai gọi vợ và mẹ tới rồi trình bày ý nguyện của mình và dặn người vợ sau 3 năm không thấy anh ta về thì hãy kết hôn với người khác.
Nói xong anh ta chạy vội đi để khỏi trông thấy cảnh mẹ và vợ khóc than buồn rầu.

Sau 3 năm, vì chờ đợi thương nhớ chồng và làm lụng khổ sở vất vả, cuộc sống cô đơn buồn tủi tinh thần suy sụp, khí huyết trì trệ, ăn ngủ không được, nên dần dần sinh bệnh.
Mẹ chàng hiền hậu vì thương con dâu, lại nghĩ con trai có lẽ đã chết nên bảo con dâu lấy chồng để có nơi nương tựa.
Mặc dù còn rất yêu Vương Phúc nhưng chờ mãi không thấy anh quay về, lại thấy bản thân hay đau ốm sợ thành gánh nặng cho mẹ chồng, nàng đành vâng lời lấy một người đứng tuổi góa vợ trong làng.
Bất ngờ thay, nàng tái giá chưa được bao lâu, thì Vương Phúc đột ngột trở về.
Nhìn thấy nhà cửa trống vắng, mẹ già ngồi ngẩn ngơ, cô vợ trẻ đẹp cũng không thấy bóng dáng thì buồn rầu không nguôi.
Sau khi nghe mẹ kể lại mọi chuyện bao nhiêu chí khí anh hùng tiêu tan hết, anh vô cùng ân hận.
Vương Phúc nhờ bạn nhắn tin mong gặp lại vợ một lần.
Khi gặp mặt, chàng nói: ‘Ta vốn định bán loại thảo dược mới kiếm được này để mua quần áo và trang sức cho nàng, nhưng chẳng ngờ nàng đã tái giá.
Nay ta tặng lại nó cho nàng tùy ý sử dụng’ Hai người ôm nhau khóc ròng day dứt mãi không thể rời đi.
Người vợ gần như phát điên, hối hận và tự trách mình. Chịu không nổi sự day dứt, nàng bỏ ăn ngủ và bệnh cũ lại tái phát.
Vì u uất buồn nản, nên càng ngày càng nặng không thầy thuốc nào có thể chữa khỏi. Trong cơn uất ức tuyệt vọng, nàng nhớ tới túi dược thảo chồng tặng.
Vì muốn kết thúc cuộc đời mình bằng cách trúng độc nên nàng ăn sống những dược thảo đó.
Chẳng ngờ sau khi ăn, không những không được như ý mà ngược lại kinh huyết còn khai thông và bệnh tình dần hồi phục.
Để tưởng nhớ người đã tìm ra tên vị thuốc, người đời sau lấy hai từ Đương quy trong câu thơ Đường ‘Chính đương quy thì hựu bất quy” để đặt tên với ý nghĩa là quy về, nên quay về với chồng.
Vị thuốc này chủ yếu dùng để điều trị các vấn đề liên quan đến sức khỏe phụ nữ.
Tác dụng của Đương quy
Theo y học cổ truyền, các phần khác nhau của củ đương quy có tác dụng khác nhau.
Phần trên cùng (Quy đầu) chỉ huyết, phần thân giữa (Quy thân) bổ huyết và phần rễ (Quy vĩ) thiên về hoạt huyết, ngăn ngừa tình trạng ứ huyết.
Trong nhiều thế kỷ, thầy thuốc y học cổ truyền đã sử dụng nhiều bài thuốc có vị Đương quy để điều trị các bệnh về tuần hoàn, hô hấp và sinh sản.
Ở phương Tây, từ những năm 1800 đến nay, các chuyên gia thảo dược dùng để điều trị các vấn đề sinh sản của phụ nữ, bao gồm: Rối loạn kinh nguyệt, đau bụng kinh, hội chứng tiền mãn kinh, sản hậu.

Đương quy không chỉ dùng để chữa các bệnh sản phụ, mà còn dùng để chữa các bệnh khác.
Một số nghiên cứu đã chứng minh thảo dược này khi kết hợp với Hoàng kỳ có tác dụng tăng cường chức năng thận, tăng cường hệ miễn dịch.
Đương quy có có chứa psoralen, được sử dụng kết hợp với liệu pháp UV để điều trị bệnh vẩy nến, phương pháp này giúp cải thiện bệnh vẩy nến trên 40 – 66% bệnh nhân.
Tinh dầu của nó có tác dụng kích thích tiêu hóa, tiêu đờm, lợi tiểu, lợi trung tiện.
Người châu Âu sử dụng để điều trị cảm lạnh, khó tiêu, bệnh phế quản, làm dịu thần kinh và kích thích sự thèm ăn.
Món ăn bài thuốc từ Đương quy
1. Trong các món ăn bổ, Đương quy thường hay được chưng cách thủy với gà, để tẩm bổ sau khi sinh đẻ hay bất cứ lúc nào thấy người yếu mệt.
Đây là món ăn được ưa thích nhất là “Ích não, dưỡng khí” rất nổi tiếng ở Hàn Quốc. Món ăn bổ càng làm cầu kỳ càng tỏ ra trọng khách.
Cách làm: Mổ bụng cá, moi hết ruột gan, nhồi Đương quy đã xắt lát vào bụng cá, nấu cho đến khi mềm, cho gia vị rất nhẹ như muối, tiêu, xì dầu, tùy ý, nhưng không nên cho hương liệu khác đậm quá, sẽ mất mùi thơm của thảo dược và vị ngọt tự nhiên của cá.

2. Cháo Đương quy và Hồng hoa
Tác dụng điều hòa kinh nguyệt, trị chứng hư lãnh.
Nguyên liệu: Đương quy 8 g, Hồng hoa 3 g, gạo một bát. Nước dùng gà 12 bát nhỏ, rau thơm, hành, gừng, muối, dầu vừng, mỗi thứ một ít.
Cách làm:
Theo Zhengjian
Kiên Định biên dịch