KHOA HỌC- HUYỀN BÍ -KỲ THÚ – ẤN TƯỢNG – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Thu, 18 Jan 2024 07:31:01 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 HIỂU BIẾT VỀ NHẬN THỨC 3D, 4D VÀ 5D https://thuonghylenien.org/luu-tru/5859 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5859#respond Thu, 18 Jan 2024 07:31:01 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5859 HIỂU BIẾT VỀ NHẬN THỨC 3D, 4D VÀ 5D

Hiểu Biết Về Nhận Thức 3D, 4D Và 5D

Hiểu biết về nhận thức 3D, 4D và 5D

Quá trình thăng thiên

Trong quá trình chuyển đổi nhận thức hiện tại của chúng ta, điều quan trọng là chúng ta hiểu rằng chính mỗi phút giây của mỗi ngày. Chúng ta đang trải nghiệm thực tế tại một trong 3 trạng thái nhận thức này. 3 trạng thái nhận thức là chiều thứ 3, 4 hoặc 5 ( 3D, 4D, 5D). Chúng ta thực sự di chuyển qua lại giữa ba trạng thái suốt cả ngày và thậm chí không nhận thức được điều đó.

Hiểu trạng thái nhận thức mà bạn đang trải nghiệm trong cuộc sống tại bất kỳ thời điểm nào. Nó sẽ giúp bạn tiến tới việc có thể truy cập và duy trì nhận thức 5D. Đó là quá trình thăng thiên. Nhận thức Trái đất đang chuyển từ chiều thứ 3 sang chiều thứ 5. Và cô ấy đã mời tất cả chúng ta, những người đã sẵn sàng tham gia cùng cô ấy.

Thực tế chiều thứ 3 ( 3D )

Chúng ta đã được sống trong thực tế chiều thứ 3. Trong thực tế chiều thứ 3, chúng ta có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu, đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. Cấu trúc chiều thứ 3 là một thực tế cực kỳ hạn chế. Nó tạo nên ảo ảnh mà chúng ta đã bị giam hãm trong một khoảng thời gian dài đến mức chúng ta không thể đo lường được. Nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng như là một phần của sự thay đổi nhận thức.

Ví dụ về một người đang trải nghiệm cuộc sống từ nhận thức 3D:

* Họ sẽ xem những điều xảy ra với họ chỉ là sự trùng hợp và không đồng bộ ( không phải là kết quả của một điều gì đó, không phải là nhân quả, được sắp xếp trước).

* Mọi người sẽ tin rằng suy nghĩ và cảm xúc của họ không ảnh hưởng gì đến với thực tế của cuộc đời họ.

* Sẽ trải nghiệm cuộc sống như hai mặt của một vấn đề, rằng mọi thứ là tốt – xấu, đúng- sai…

* Họ sẽ tin rằng cuộc sống là một cuộc cạnh tranh, không có sự kết nối trọng mọi vật, mọi việc, mọi nơi, mọi thời điểm.

Thực tế chiều thứ 4 ( 4D )

Einstein đã nói về chiều thứ 4 là trạng thái tồn tại thời gian, nhưng ông cũng nói rằng thời gian là một ảo ảnh. Khi chúng ta trải nghiệm thực tế của mình thông qua 5 giác quan, chúng ta thực sự đang ở trong cái bẫy mang tên thời gian, tạo ra ảo ảnh ở ngay đây, đó là NGAY BÂY GIỜ, một quá khứ và một tương lai. Chiều thứ tư chứa năng lượng cõi trung giới và nơi bạn đi trong hành trình du hành thể vía.

Ví dụ về một người đang trải nghiệm cuộc sống từ ý thức 4D:

* Họ sẽ nhận ra rằng suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta làm thay đổi thực tế

* Cũng sẽ hiểu sự đồng bộ, và rằng có nhiều thứ cho cuộc sống để suy nghĩ và học hỏi hơn cho sự tiến hóa.

* Cá nhân tìm kiếm ý nghĩa sâu sắc hơn đối với cuộc sống và nhận thức thế giới thông qua 6 giác quan, giác quan thứ 6 là trực giác của ho bắt đầu phát triển, lớn mạnh và rộng mở.

* Họ sẽ đặt tầm quan trọng vào thiền định, chế độ ăn uống, hướng đến lối sống lành mạnh và có khát vọng mạnh mẽ để tìm mục đích, đam mê và tìm ra cách để thực hiện ước mơ của mình.

Thực tế chiều thứ 5 ( 5D )

Trong chiều thứ 5, là trường thống nhất, mọi thứ đều được kết nối. Ở chiều thứ 5, chúng ta không phải là những cơ thể này, mà là nguồn lực sống nguyên thủy, là nhận thức, đang chảy qua những cơ thể này. Điều này .. thay đổi tất cả mọi thứ! Chúng ta sẽ không còn bị giới hạn để trải nghiệm thực tế chỉ qua 5 giác quan của mình, vì vậy cái bẫy mang tên thời gian sẽ không còn tồn tại.

Ví dụ về một người đang trải nghiệm cuộc sống từ nhận thức 5D:

* Họ sẽ hiểu rằng mọi trải nghiệm đều có ý nghĩa và mọi thứ xung quanh cuộc đời họ đều có thông điệp cao hơn.

* Sẽ nhận ra rằng tất cả chúng ta thực sự là một, và tất cả mọi người và mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối.

* Sẽ cảm thấy tràn ngập những cảm xúc từ bi, tình yêu và niềm vui cho tất cả cuộc sống và hiểu rằng tất cả mọi người đang thực sự trên hành trình của riêng mình.

* Họ sẽ hiểu rằng không có tính hai mặt, không có mặt tốt và mặt xấu, không có cạnh tranh và không có sự phán xét

Khi chúng ta nâng cao ý thức của mình lên theo mỗi chiều, chúng ta có một nhận thức mở rộng về thực tại, cảm nhận được bài học qua sự trải nghiệm và tồn tại lớn hơn rất nhiều, đồng thời ta có thể tồn tại trên tất cả các chiều kích. Quá trình này được gọi là sự nâng cao của nhận thức của chúng ta, hay sự thăng thiên, và chúng ta đang nhanh chóng di chuyển theo cách đó, đi từ vô thức tách rời thành nhận thức thống nhất. Như một phần của sự thăng lên này, chúng ta sẽ hiểu mối liên hệ của chúng ta với tất cả, cho đến khi chúng ta quay trở lại, với nhận thức, nơi chúng ta đến từ Nguồn.

Hiểu 3 trạng thái này sẽ giúp bạn đánh giá các hành vi, quá trình suy nghĩ, phản ứng, tương tác cảm xúc hàng ngày của bạn. không chỉ với bản thân mà còn với những người khác và cuộc sống nói chung, phù hợp với nhận thức 3D, 4D hoặc 5D. Một khi bạn có thể nhận ra rằng bạn không ở trong nhận thức 5D, thì việc chuyển bản thân và chuyển sang 5D sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Nguồn Mike Picone

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5859/feed 0
VẬT CHẤT TRONG VŨ TRỤ TỒN TẠI TỪ HƯ KHÔNG HAY NÓ TỒN TẠI NGAY TỪ ĐẦU? https://thuonghylenien.org/luu-tru/5844 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5844#respond Thu, 18 Jan 2024 06:58:19 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5844 VẬT CHẤT TRONG VŨ TRỤ TỒN TẠI TỪ HƯ KHÔNG HAY NÓ TỒN TẠI NGAY TỪ ĐẦU?

Vật Chất Trong Vũ Trụ Tồn Tại Từ Hư Không Hay Nó Tồn Tại Ngay Từ Đầu?

Hiện giới khoa học trên thế giới vẫn chưa có một lời giải thích hoàn hảo nào cho vấn đề này, chỉ có một số lý thuyết vụn vặt, chẳng hạn như nguyên lý bất định của cơ học lượng tử, năng lượng điểm không chân không và các lý thuyết khác.

Theo sự hiểu biết của tôi về những lý thuyết này, nguồn gốc của vật chất trong vũ trụ có thể được cho là đến từ hư vô. Để giải thích những lý thuyết này, chúng ta vẫn không thể tách rời phương trình đã quá nổi tiếng của Einstein, đó là E = MC ^ 2. Mặc dù công thức này đơn giản nhưng nó lại có thể giải thích được bí ẩn sâu xa của vũ trụ, đó là sự tương đương của khối lượng và năng lượng, và chúng có thể hoán đổi cho nhau.

Vật chất trong vũ trụ được chuyển hóa từ năng lượng, và trong những trường hợp cực đoan, nó sẽ được chuyển hóa thành năng lượng và biến mất. Đây là quy luật sinh tử của vũ trụ.

Từ góc độ vĩ mô, vũ trụ được tạo ra từ hư không

Mô hình vũ trụ vụ nổ lớn đã là mô hình tiêu chuẩn của vũ trụ học hiện đại, tức là lý thuyết này đã trở thành cách hiểu chủ đạo của các nhà thiên văn học và vũ trụ học trên toàn thế giới – sự giãn nở, hình thành nên vũ trụ ngày nay.

Điểm kỳ dị bắt đầu từ vụ nổ lớn cách đây 13,8 tỷ năm, trải qua giai đoạn lạm phát và giãn nở nhanh chóng. Hiện tại, nó vẫn đang giãn nở với tốc độ nhanh gấp vài lần tốc độ ánh sáng, và trở thành một vũ trụ có thể quan sát được, với bán kính khoảng 46,5 tỷ năm ánh sáng.

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là tất cả các vị trí đều giãn nở nhanh hơn tốc độ ánh sáng, mà ám chỉ sự giãn nở của toàn bộ vũ trụ chồng lên nhau. Ở rìa cực của vũ trụ quan sát được cách chúng ta 46,5 tỷ năm ánh sáng, tốc độ của các thiên hà rời khỏi chúng ta vượt quá tốc độ ánh sáng.

6291-vat-chat-trong-vu-tru-ton-tai-tu-hu-khong-hay-no-ton-tai-ngay-tu-dau-1.jpg

Có thể nói ranh giới giữa một điểm tồn tại và không tồn tại được gọi là điểm kỳ dị.

Theo thuật ngữ khoa học, một điểm kỳ dị được biểu thị bằng thể tích nhỏ vô hạn, mật độ vô hạn, vô hạn về độ cong và vô hạn về nhiệt độ. Vậy câu hỏi đặt ra là điểm kỳ dị này là gì? Nó đã xảy ra như thế nào? Từ góc độ vĩ mô, nó là một thứ gì đó từ hư vô, đột nhiên xuất hiện từ hư không.

Có thể nói ranh giới giữa một điểm tồn tại và không tồn tại được gọi là điểm kỳ dị, là điểm có độ cong vô hạn của không gian và thời gian, nơi không-thời gian kết thúc. Thuyết tương đối rộng dự đoán rằng những điểm kỳ dị như vậy nhất định xảy ra, một hiện tượng trong đó vật chất trong trường hấp dẫn cực hạn bị ảnh hưởng bởi các quá trình lượng tử và sụp đổ thành một tập hợp các chiều không thời gian khác, chẳng hạn như điểm kỳ dị lỗ đen.

Mặt khác, vụ nổ Big Bang là kết quả của sự phục hồi từ thời gian và không gian khác. Theo nghĩa này, điểm kỳ dị là một thứ siêu không-thời gian, và nó không còn là vấn đề không-thời gian của vũ trụ nữa. Điểm kỳ dị là sự mở rộng từ thời gian và không gian khác sang thời gian và không gian của chúng ta, vì vậy có thể nói rằng vũ trụ chính là được tạo ra từ hư không.

Nhưng theo lý thuyết cơ học lượng tử, vũ trụ được sinh ra từ…

Có hai lý thuyết của cơ học lượng tử hiện đại giải thích hiện tượng này – Nguyên lý bất định Heisenberg và lý thuyết năng lượng điểm không chân không.

Nguyên lý bất định của Heisenberg cho rằng trong thế giới vi mô, không thể biết chính xác vị trí và động lượng của một hạt cùng một lúc, từ đó có thể suy ra rằng ngay cả khi nhiệt độ giảm xuống không độ tuyệt đối, hạt vẫn dao động, nếu không nguyên tắc không chắc chắn sẽ bị vi phạm.

Có nghĩa là, ngay cả khi vũ trụ diệt vong, không có không-thời gian, và chỉ có chân không tuyệt đối, vẫn sẽ có chuyển động của hạt, và nếu có chuyển động của hạt thì sẽ có năng lượng, và đây là nguồn gốc của năng lượng điểm không chân không. Trong khoảng không của chân không tuyệt đối, những năng lượng này sẽ tồn tại ở dạng bọt lượng tử, tức là xuất hiện ngẫu nhiên dưới dạng hạt ảo.

6291-vat-chat-trong-vu-tru-ton-tai-tu-hu-khong-hay-no-ton-tai-ngay-tu-dau-5.jpg

Ngay cả khi vũ trụ diệt vong, không có không-thời gian và chỉ có chân không tuyệt đối.

Các hạt ảo này nằm trong các cặp âm và dương, tức là chúng xuất hiện ngẫu nhiên dưới dạng dương và phản vật chất, khi vật chất âm và dương gặp nhau, chúng sẽ tiêu diệt (biến mất sau khi giải phóng năng lượng), vì vậy các cặp hạt ảo này trong chân không xuất hiện ngẫu nhiên, nó sẽ bị triệt tiêu ngay lập tức một cách ngẫu nhiên.

Nếu thế giới đối xứng và cân bằng hoàn hảo như vậy, thế giới của chúng ta sẽ không bao giờ tồn tại. Nhưng các nhà vật lý đã phát hiện ra rằng thế giới không hoàn hảo, những đại diện tiêu biểu nhất là Yang Zhenning, Li Zhengdao và Wu Jianxiong với “Định luật không bảo toàn chẵn lẻ” mà họ đã khám phá và kiểm chứng bằng thực nghiệm đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 1957.

Những lý thuyết này cho rằng vũ trụ của chúng ta không hoàn hảo, nhưng thỉnh thoảng có những vi phạm về tính bất đối xứng không bảo tồn tạo ra sự thay đổi liên tục của thế giới. Chính vì vậy, giới khoa học đã có một lời giải thích đột phá cho vụ nổ Big Bang, đó là những cặp hạt ảo này xuất hiện ngẫu nhiên trong các dao động lượng tử không bị triệt tiêu 100% mà sẽ bị hủy diệt trở thành điểm kỳ dị vũ trụ.

Vũ trụ của chúng ta đã nổ ra từ một điểm kỳ dị như vậy, và có thể có nhiều vũ trụ khác cũng nổ ra từ điểm kỳ dị này.

6291-vat-chat-trong-vu-tru-ton-tai-tu-hu-khong-hay-no-ton-tai-ngay-tu-dau-6.jpg

Có thể có nhiều vũ trụ khác cũng nổ ra từ điểm kỳ dị.

Năng lượng kỳ dị bị phá vỡ nhưng không bị triệt tiêu thì không thể trở về hư vô mà chỉ có thể giãn nở, đó chính là vụ nổ lớn của vũ trụ. Vụ nổ Big Bang cực kỳ nóng và dày đặc, lúc đầu chỉ có năng lượng và không có gì cả. Trong vòng 1 giây sau Vụ nổ lớn, vũ trụ đã bị thổi phồng. Lực hấp dẫn, gluon, quark, boson, lepton, proton, neutron và phản hạt của chúng liên tiếp xuất hiện, và sau đó lực điện từ mạnh, yếu tương tác với nhau cũng tách ra.

Sau 384.000 năm giãn nở và nguội đi, vũ trụ đã đủ lớn, và nhiệt độ nguội đi khoảng 3000K, các nguyên tử trung hòa xuất hiện, vũ trụ cuối cùng đã vượt qua thời kỳ đen tối, tia sáng đầu tiên (sóng điện từ) từ vũ trụ dày đặc.

Vào thời điểm này, các chất phổ biến bao gồm các nguyên tử đã xuất hiện. Các chất sớm nhất là các nguyên tố đơn giản nhất, hydro và heli, và một lượng rất nhỏ liti. Các chất nhẹ này dần dần tập hợp lại thành các cụm tinh vân do lực hấp dẫn trong vũ trụ, sau đó co lại và sụp đổ. Và đó cũng chính là thời điểm mà các vì sao, các ngôi sao và các thiên hà trong vũ trụ được sinh ra.

6291-vat-chat-trong-vu-tru-ton-tai-tu-hu-khong-hay-no-ton-tai-ngay-tu-dau-7.jpg

Các ngôi sao ban đầu tương đối lớn nên tuổi thọ của chúng rất ngắn. Trong phản ứng tổng hợp hạt nhân sao và các vụ nổ siêu tân tinh liên tục, từng nguyên tố nặng hơn được tạo ra lần lượt và 118 nguyên tố đã biết dần dần xuất hiện. Chính những nguyên tố này, đã cấu tạo nên tất cả các loại chất trong vũ trụ và muôn loài sinh vật trên Trái đất.

Theo nghĩa này, vật chất của vũ trụ đã tồn tại từ trước đó. Trước khi vũ trụ được sinh ra, những năng lượng này đã được lưu trữ trong chân không, và chính năng lượng điểm 0 chân không khổng lồ đã biến đổi các chất khác nhau, điều này phù hợp với quy luật chuyển đổi khối lượng-năng lượng được tiết lộ bởi phương trình khối lượng-năng lượng của Einstein.

Theo: khoahoc.tv

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5844/feed 0
VÔ TẬN TRONG LÒNG BÀN TAY Tác gỉả: Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận https://thuonghylenien.org/luu-tru/5710 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5710#respond Sat, 30 Dec 2023 20:43:34 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5710 VÔ TẬN TRONG LÒNG BÀN TAY
Tác gỉả: Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận

votantronglongbantay

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5710/feed 0
TÌM HIỂU VỀ TẦN SỐ RUNG ĐỘNG https://thuonghylenien.org/luu-tru/5496 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5496#respond Sat, 23 Dec 2023 20:34:42 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5496 TÌM HIỂU VỀ TẦN SỐ RUNG ĐỘNG

“Mọi thứ trong cuộc sống đều rung động.” Albert Einstein

“Nếu bạn muốn hiểu những bí mật của vũ trụ hãy nghĩ đến năng lượng, tần số và rung động” – Nikola Tesla

Mọi thứ trong Vũ Trụ này đều có năng lượng rung và chuyển động – mọi thứ mà bạn nhìn thấy, nghe, chạm đều rung động với một tần số này hay một tần số khác và bạn cũng vậy.

Bạn là năng lượng rung động và mọi thứ chung quanh bạn là năng lượng rung động, phòng bạn ngồi cũng vậy, thậm chí cảm xúc suy nghĩ và lời nói của bạn đều có năng lượng rung động.

Vậy tần số rung động là gì?

– Tần số chính là số lần đi qua trục cân bằng trên 1 giây của đối tượng dao động.

– Rung động chính là năng lượng sóng lan truyền trong không gian

– Biên độ dao động là độ lệch lớn nhất của vật dao động so với vị trí cân bằng của nó.

– Biên độ dao động càng mạnh, năng lượng càng lớn.

– Biên độ dao động càng yếu, năng lượng càng nhỏ.

875-tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-1.jpg

THÍ NGHIỆM VẬT LÝ VỀ TẦN SỐ RUNG ĐỘNG VÀ NĂNG LƯỢNG

Tần số càng cao thì biên độ dao động càng nhỏ và ngược lại. Âm thanh chúng ta nghe được chính là một loại tần số rung động (trong khoảng nghe được). Âm thanh tần số càng cao năng lượng càng lớn, âm càng trầm thì năng lượng càng nhỏ (tần số thấp). Điều này lý giải vì sao những khúc ngân cao vút của ca sĩ chúng ta lại cảm thấy dựng đứng người lên và nổi da gà (để phát ra âm cao gần như họ phải hét lên mới tạo ra được, còn để phát ra âm thấp thì không được gào lên – tần số cao thì năng lượng cao).

Nếu mọi người để ý sẽ thấy những người nói nhiều, nói to và có giọng lanh lảnh thì thường không béo được do bị hao tổn năng lượng từ âm thanh họ phát ra quá nhiều.

Mọi người và mọi vật xung quanh chúng ta đều được tạo thành từ vật chất. Vật chất được tạo thành từ các nguyên tử. Nguyên tử được tạo thành từ các hạt như proton, neutron, electron; và nếu nhìn sâu hơn nữa, bạn sẽ thấy rằng đó là những sóng năng lượng rung động ở các tần số (tốc độ) khác nhau.

Theo sự diễn giải của một vị Yogi thì tất cả mọi thứ trong thế giới này, cả hữu hình lẫn vô hình, đều rung động liên tục. Tất cả các hạt vật chất, từ nguyên tử nhỏ nhất đến các hành tinh vĩ đại nhất, đều ở trong trạng thái rung động.

Tần số rung động ảnh hưởng chúng ta như thế nào?

Như những gì đã nói ở trên, tất cả mọi thứ đều rung động với tần số khác nhau, có tần số rung động cao và tần số rung động thấp.

875-tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-2.jpg

Thế nào là tần số cao và tần số thấp?

1.Tần số rung động nặng nề là tần số rung động thấp còn gọi là năng lượng tiêu cực. Những người có tần số rung động thấp thường có cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực như nóng giận, ganh ghét, ghen tị, thiếu kiên nhẫn, nghi ngờ v.v…

2. Tần số rung động thanh nhẹ là tần số rung động cao còn gọi là năng lượng tích cực. Những người có tần số rung động cao thường tử tế, đồng cảm, giàu lòng từ bi, yêu thương vô điều kiện v.v…

Tần số rung động cao hoặc thấp được chuyển đổi rất nhanh, tùy thuộc vào từng thời điểm bạn nóng giận hay yêu thương, đồng cảm hay đố kỵ… sóng tần số sẽ lên xuống nhanh hay chậm (xem hình), tần số càng nhanh càng thanh nhẹ, càng chậm càng nặng nề.

Nếu các bạn để ý sẽ thấy khi chúng ta vui vẻ (rung động cao) chúng ta có cảm giác tràn đầy năng lượng, hớn hở, thân thể nhẹ nhàng, cảm giác người căng phồng lên. Vì rung động nhanh sẽ khiến cơ thể chúng ta dãn nở và chúng ta có đặc tính cho đi, lan tỏa (Phải có năng lượng thì mới cho đi được). Đây chính là điều lý giải vì sao các nhà tu hành có thể chạy trên nước hoặc bay được. Tần số càng cao trọng lượng càng giảm, khi tần số đủ cao hiện tượng phản trọng lực sẽ diễn ra và chúng ta có thể bay được với thân thể ánh sáng 5D

Khi bạn buồn rầu (rung động thấp) bạn sẽ cảm thấy chán nản, ủ ê, người như đeo đá tảng, nặng nề. Nếu lo sợ còn có cảm giác co rúm người lại. Vì vậy các đặc tính cảm xúc tiêu cực có đặc tính co vào, cần được chia sẻ, an ủi (hút năng lượng)

Theo đó, mỗi người có một tần số rung động hay mức năng lượng khác nhau tùy theo cảnh giới tinh thần của họ, nằm trong khoảng từ 1 đến 1000. Ví dụ như:

Khai ngộ chính giác: 700 ~ 1000

Điềm tĩnh thanh thản: 600

Vui vẻ, thanh tĩnh: 540

Tình yêu và sự tôn kính: 500

Lý tính, thấu hiểu: 400

Khoan dung độ lượng: 350

Hy vọng lạc quan: 310

Tin cậy: 250

Can đảm, khẳng định: 200

Tự cao, khinh thường: 175

Ghét, thù hận: 150

Dục vọng, khao khát: 125

Sợ hãi, lo lắng: 100

Đau buồn, tiếc nuối: 75

Thờ ơ, tuyệt vọng: 50

Khiển trách, tội ác: 30

Nhục nhã, hổ thẹn: 20

Cơ thể chúng ta được chia làm 2 phần:

– 1 là thân thể vật lý (đặc và rung động chậm)

– 2 là linh hồn (thanh nhẹ và rung động cao)

Các bạn hẳn ai cũng đã trải qua tình yêu đầu đời, cái cảm giác mãnh liệt của tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên khiến con tim bạn loạn nhịp vì thổn thức, năng lượng tràn đầy và tâm hồn phơi phới. Lý giải hiện tượng này thì sao ạ? Đầu tiên chúng ta phải biết rằng trong cơ thể này cái mà hoạt động nhiều nhất, mạnh mẽ nhất và liên tục nhất chính là trái tim. Trái tim không ngừng co bóp đưa máu và dưỡng chất đi nuôi cơ thể. Để làm được điều ấy nó cần một nguồn năng lượng lớn (tần số cao). Theo quan điểm của phật giáo thì: linh hồn ngự tại trái tim.

Lý thuyết giao thoa sóng: Hiện tượng 2 sóng kết hợp, khi gặp nhau ở những điểm xác định, luôn luôn hoặc tăng cường nhau tạo thành cực đại hoặc làm yếu nhau (tạo thành cực tiểu) gọi là sự giao thoa sóng.

Điều kiện để có giao thoa: Hai sóng là hai sóng kết hợp tức là hai sóng cùng tần số và có độ lệch pha không đổi theo thời gian (hoặc hai sóng cùng pha)

Khi gặp người trong mộng trái tim lập tức đập dồn dập và tỏa ra một nguồn năng lượng rung động cao khiến cơ thể chúng ta lâng lâng, ngây ngất (mới là đơn phương). Nếu cả 2 người đều phát ra tần số sóng yêu thương, cùng tần số, cùng pha thì sẽ xảy ra hiện tượng giao thoa sóng và cộng hưởng tăng tần số rung (đây chính là tình yêu sét đánh)

Thông thường nguồn năng lượng mạnh mẽ này sẽ kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần hoặc nhiều tháng nếu người đó không để mất năng lượng vì các cảm xúc tiêu cực và liên tục được bổ sung năng lượng của tình yêu thuần khiết. Đây cũng chính là nguyên lý thoát khổ của các bậc chân sư, họ luôn giữ được tần số rung động cao của mình thông qua việc chế ngự tâm, không để các cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng khiến họ mất năng lượng.

Tuy tần số năng lượng của tim là khá cao (lớn hơn 500) nhưng tần số đó vẫn không cao bằng tần số rung động của sự minh triết (hiểu biết). Cho nên nếu bạn quan tâm đến tần số rung động hãy quan tâm đến trí tuệ và tình yêu thương.

Virus và vi khuẩn chỉ có thể gây nguy hiểm cho cơ thể vật lý nếu bạn sống ở tần số rung động thấp, khi các luân xa của bạn bị tắc nghẽn bởi nỗi sợ hãi, tội lỗi, xấu hổ, đau khổ, ảo tưởng, chấp trước (dính mắc với cái tôi).

Hệ thống miễn dịch sẽ yếu đi vì hệ thống thần kinh của bạn bị tấn công.

Bạn có biết bạn chính là một trong những dây chuyền sản xuất ra một loại thực phẩm đặc thù (năng lượng tiêu cực) cho ký sinh trùng ngoài vũ trụ. Thực thể bóng tối này bám vào hệ thống thần kinh để đánh cắp sinh lực sống của bạn.

Khi bạn tăng rung động vĩnh viễn thông qua việc thiền định, các ký sinh trùng vũ trụ này sẽ phải tránh xa bạn vì ánh sáng của bạn quá mạnh đối với chúng, vì vậy bạn không thể bị nhiễm bệnh được, vì virus và vi khuẩn bị đốt cháy khi chúng xâm nhập vào cơ thể bạn. Virus không thể sống sót nếu cơ thể ánh sáng của bạn được tích hợp với cơ thể vật lý của bạn.

Bạn sẽ không được nghe điều này từ các Bác sĩ chưa nghiên cứu về năng lượng và không nghiên cứu về vai trò của cảm xúc đối với sức khỏe của con người.

Bạn sẽ không nghe thấy điều này trong trường đại học có những cuốn sách được viết bởi những thế lực đã kiểm soát trái đất hàng ngàn năm qua.

Bây giờ là lúc để thức tỉnh và trở lại với mấu chốt của tạo hóa. Con người được tạo nên từ tình yêu vô điều kiện và nếu loại tình yêu này bị thiếu hụt trong cuộc sống của họ, thì họ sẽ bị bệnh, điều này là tất yếu nếu như bạn có thể quan sát được.

Những người sống đồng điệu với sức mạnh của tình yêu vô điều kiện, đạt được sự hòa hợp với thiên nhiên và đồng loại của họ, thì họ sẽ thu hút cuộc hội ngộ hạnh phúc với thượng đế.

LUẬT RUNG ĐỘNG

Luật Rung động áp dụng cho mọi thứ bạn nghĩ, tin tưởng, hành động, dự định và lời nói.

Bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những điều tốt đẹp sẽ gia tăng tần số cao hơn khi nó di chuyển qua thời gian và không gian cho đến khi nó trở lại với người gửi và mang theo nó những món quà – gọi là phép màu – của những tần số cao hơn. Ngược lại, bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những lý do ích kỷ như tham lam hoặc ganh ghét sẽ mang lại sự rung động với tần số thấp hơn, nghĩa là những điều kém may mắn, bất lợi, phiền muộn v.v… sẽ xảy đến cho chúng ta. Điều này cũng giống như luật nhân quả “trồng nhân gì thì được quả đó”.

Nếu không thích những gì bạn đã thu hút trong cuộc sống của mình thì hãy nâng cao tần số rung động của bạn lên. Để bắt đầu nâng cao tần số rung động, bạn chỉ cần tập trung vào những điều tốt đẹp thay vì những điều bi quan và tiêu cực.

NÂNG CAO TẦN SỐ RUNG ĐỘNG MỘT CÁCH NHANH CHÓNG

Ăn chay và yêu thương sẽ tự động nâng cao tần số rung động của chúng ta một cách nhanh chóng.

Trái cây, rau cải, đậu hạt có nhiều dưỡng chất và phòng chống bệnh để cơ thể chúng ta không đau đớn vì bệnh tật và như vậy chúng ta sẽ có một cuộc sống khỏe mạnh dài lâu. Đây cũng là một điều tích cực và những gì tích cực sẽ tăng cao tần số rung động của chúng ta.

875-tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-3.jpg

Thực vật là loài có rung động tốt, cao; ngược lại thì thịt động vật luôn chứa rung động thấp. Khi con thú bị giết, chúng phát ra 1 năng lượng sợ hãi lớn. Năng lượng này tỏa ra xung quanh và “ngấm” sâu trong thịt, khi ta ăn thì “oán khí” ấy vào bụng và sẽ sinh ra nhược khí gây nên ung thư. Đó là kiến thức của bên tâm linh, còn khoa học thì chứng minh rằng khi thú bị giết, nó sợ hãi và trong thịt sinh ra 1 chất độc, người ăn vào sẽ không tốt. 2 trường phái đều bù trừ cho nhau thế đấy. Người ta cũng đã chụp thể năng lượng của thịt và hoa quả, xong kết quả cho chúng ta biết rằng hoa quả dù bị vặt trên cây từ nhiều ngày nhưng vẫn tỏa ra 1 vùng ánh sáng tốt.

Có thể một số bạn vẫn còn thắc mắc vì câu trả lời bên trên không đủ để thuyết phục thì các bạn hãy thử ăn chay một thời gian rồi bạn sẽ rõ.

Âm nhạc là một trong những công cụ dao động tuyệt vời nhất chúng ta có vì nó vượt qua mọi ranh giới và từng bước vượt qua bản ngã. Bản ngã không chống lại tần số cao của âm nhạc. Vì vậy, khi dùng âm nhạc sẽ cộng hưởng rung động của riêng bạn tác hợp với tần số của âm nhạc mà bạn nghe. Hoặc thường xuyên tiếp xúc với những âm thanh có tần số rung động nhất định cũng khiến nâng cao sự rung động của bản thân. Vậy nên hãy hát om mani padme hum mỗi khi rảnh rỗi nhé các bạn

Đọc sách: Bất cứ điều gì là cảm hứng sẽ tăng tần số của bạn. Vì vậy đọc sách sẽ làm cho bạn cảm thấy tốt về bản thân trong thế giới này, xem phim cũng sẽ làm cho bạn cảm thấy tốt và truyền cảm hứng cho bạn và làm cho bạn thức tỉnh để trở nên lộng lẫy như chính bạn

Viết: Tôi thấy rằng quá trình viết rất tốt. Nó giúp bạn vươn lên một tần số cao vì các nỗ lực cần thiết để đạt được sẽ tăng cường sự rung động của bất cứ điều gì bạn tập trung vào. Hoặc có thể nếu bạn chỉ cần làm điều này thông qua sự tập trung. Ví dụ khi bạn lái xe bạn chỉ cần tìm kiếm khía cạnh tích cực ở nơi bạn vừa đi qua. Bạn có thể lắng nghe mọi thứ, bạn có thể vừa lái xe vừa nói: “Tôi thích màu sắc chiếc xe đó” hoặc “Tôi thích việc người mẹ đang ôm con mình trên tay”. Bất cứ điều gì bạn thích khi bạn nhìn thấy rồi tập trung về suy nghĩ tích cực. Nó sẽ gây ra rung động cao. Đó chính là thái độ biết ơn, hãy đánh giá cao sự vật, sự việc bởi vì sự biết ơn là sự rung động gần nhất với rung động của Nguồn. Là tình yêu vô điều kiện tinh khiết khi bạn nhìn vào một thứ gì đó với thái độ đánh giá cao vì vậy bất cứ khi nào bạn tập trung hoàn toàn tức đang cộng hưởng với tần số cao nhất đó.

Ngoài ra, chỉ cần chúng ta yêu thương… Đúng vậy, chỉ cần chúng ta làm mọi việc – suy nghĩ, hành động, lời nói – với tình yêu thì mọi việc sẽ trở nên tích cực.

Như nhà bác học Albert Einstein đã viết: “Tình yêu là sức mạnh, bởi nó phát triển bản tính tốt đẹp nhất của ta để con người không bị dập tắt (che mắt) trong sự ích kỷ mù quáng…”

Nếu bạn có thể bao bọc mọi ý nghĩ trong tình yêu, và nếu bạn có thể yêu thương mọi người mọi thứ thì cuộc sống của bạn sẽ thay đổi – tiêu cực sẽ trở nên tích cực – khi tích cực là bạn đang nâng cao tần số rung động của mình.

Mỗi loại rung động sẽ phù hợp với 1 chiều kích riêng, khi rung động đủ cao thì bạn tiến lên 1 chiều kích khác. Mỗi người có 1 tần số riêng và nó thu hút những người có cùng tần số đến với nhau. Bạn là người duy nhất tăng được rung động chính mình. Quan trọng là sự lựa chọn của bạn.

Thiền định cũng là cách để nâng cao tần số rung động một cách nhanh chóng. Phương pháp thiền tăng rung động các bạn có thể tìm hiểu tại đây:

 

  • TẦN SỐ RUNG ĐỘNG còn gọi là Tần Số Năng Lượng hoặc Chấn Động Lực

HÌNH DÁNG CỦA ÂM THANH

Tần số Solfeggio được tái khám phá vào năm 1974 bởi Tiến sĩ Joseph Puleo – theo ông, tần số Solfeggio được cho rằng có khả năng thâm nhập sâu vào ý thức và tiềm thức, kích thích sự tự chữa lành bên trong. Tiến sĩ Puleo đã trực tiếp nghiên cứu lại những tần số chữa bệnh này trong Book of Numbers (Một cuốn sách trong Hebrew Bible).

875-tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-4.jpg

Tần số Solfeggio là 6 loại tần số âm thanh điện từ lặp đi lặp lại. Và công dụng của nó đối với THÂN-TÂM-TRÍ của con người như sau:

UT – 396 Hz – biến sự đau khổ thành niềm vui, cảm giác tội lỗi thành sự tha thứ

 

RE – 417 Hz – xóa bỏ phiền hà và loại bỏ sự tắc nghẽn bên trong tiềm thức

 

MI – 528 Hz – kích thích tình yêu, khôi phục trạng thái cân bằng, sửa chữa ADN

 

FA – 639 Hz – tăng cường mối quan hệ gia đình và gắn kết cộng đồng

 

SOL – 741 Hz – làm sạch cơ thể khỏi tất cả các loại chất độc

 

LA – 852 Hz – đánh thức trực giác và giúp bạn trở lại sự cân bằng tinh thần

 

VÀ 1 TẦN SỐ NGOÀI 6 TẦN SỐ TRÊN ĐÓ LÀ 963 Hz – Tần số tâm linh (kết nối với năng lượng của vũ trụ)

 

Nhà vật lý học, nhà phát minh, và kỹ sư điện Nikola Tesla đã từng nói: “Nếu bạn biết được độ lộng lẫy của 3, 6 và 9, thì bạn sẽ nắm giữ chìa khoá của vũ trụ”. Điều thú vị là “Ba con số được nhắc tới này lại chính là 3 số tạo thành sự rung rinh của 6 Tần số Solfeggio”.

 

Tiến sĩ Candice Pert cho biết: “Năng lượng và rung động đi đến mức phân tử. Chúng ta có 70 thụ thể khác nhau trên các phân tử và khi rung động nếu tần số đạt đến mức đó thì chúng bắt đầu rung chuyển”.

Thật ra, 1 loại âm thanh lặp đi lặp lại sẽ không mấy thú vị với hầu hết mọi người. Nhưng, thuốc đắng thì mới dã được tật đúng không? Nếu tiếp cận và giác ngộ được sớm bạn sẽ được nâng cấp!

 

———————————————-

 

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5496/feed 0
Bí ẩn Tây Du Ký: Đạo lý ngũ hành trong hình tượng năm thầy trò Đường Tăng https://thuonghylenien.org/luu-tru/5334 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5334#respond Wed, 20 Dec 2023 20:49:22 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5334 Bí ẩn Tây Du Ký: Đạo lý ngũ hành trong hình tượng năm thầy trò Đường Tăng

Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là: thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. 

Tây Du Ký kể về hành trình đi Tây Trúc thỉnh kinh của năm thầy trò Đường Tăng (bao gồm cả Bạch Long mã), cũng là một hành trình tu luyện. Từ lâu, chúng ta đã biết năm nhân vật thực ra chỉ là cùng một người. Trong đó, Tôn Ngộ Không là tượng trưng cho cái tâm, Đường Tăng là thân thể, Trư Bát Giới là tình cảm và dục vọng, Sa hòa thượng là bản tính, và Bạch Long Mã là ý chí của con người. Đường Tăng thu phục được Ngộ Không, Bạch Long mã, Bát Giới và Sa Tăng, nghĩa là “thân, tâm, tình, tính, ý” – đoàn thể hoàn mỹ nhất này đã hợp thành, kiên định tu luyện.

Ở hồi cuối cùng của tác phẩm, khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” thì có thơ rằng:

 “Một thể chân như lạc xuống trần,
 Hợp hòa bốn tướng lại tu thân.
 Ngũ hành sắc tướng không rồi tịch,
 Trăm quái hư danh thấy chẳng bàn”.

“Một thể chân như” chính là chỉ một người; “hợp hòa bốn tướng” là thuật ngữ trong tu luyện. Trong tu luyện của Đạo gia cổ xưa, thường lấy huyền vũ, chu tước, thanh long, bạch hổ để lần lượt chỉ thận, tim, gan, phổi. Trong ngũ hành, chúng lần lượt thuộc thủy, hỏa, mộc, kim. Tương sinh trong ngũ hành, đó là mộc sinh hỏa, kim sinh thủy. Trong sách “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nói rằng long mộc sinh hỏa, thuộc về tâm. Hổ kim sinh thủy, cùng một hệ với thân thể. Tâm không động, thì nguyên khí tụ lại; thân không động, thì tinh khí tụ lại. Tinh ngưng khí tụ, tức là chỉ kim mộc thủy hỏa trộn lẫn với nhau trong thổ (đất). “Hợp hòa tứ tướng” hàm ý điều này.

Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. Trong Tây Du Ký, tác giả thường dùng từ “kim công” để chỉ Tôn Ngộ Không, “mộc mẫu” để chỉ Trư Bát Giới. Đối ứng với “mẫu” và “công” cũng chính là âm và dương. Còn có một hàm ý nữa, bởi vì hỏa sinh kim, nên gọi là “kim chi công”, do đó “kim công” cũng là chỉ về hỏa; bởi vì thủy sinh mộc, nên gọi là “mộc chi mẫu”, cho nên “mộc mẫu” cũng hàm chứa thủy trong đó. Từ thuộc tính âm dương mà nói, mộc và thủy cùng thuộc âm, kim và hỏa lại đều thuộc về dương, âm dương hợp lại tất do thổ tương trợ, thổ tức chỉ Sa Hòa Thượng, còn được gọi là “hoàng bà”.

Trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới thường xuyên tranh đấu, đố kỵ, châm chọc không dứt, đó chính là âm dương giao phối trong quá trình tu luyện. Trong đó Sa Hòa Thượng đóng vai trò điều hòa. Mãi đến cuối cùng, ba vị này mới đạt đến trạng thái điều hòa một cách hài hòa nhất trí. Trong hồi thứ 22, khi Bồ Tát ban cho quả hồ lô để thu phục Sa Ngộ Tĩnh còn có mấy câu thơ sau:

 “Ngũ hành phối hợp, hợp thiên chân, 
 Nhận rõ chủ nhân trước đã từng
 Cơ bản luyện thành, nên diệu dụng, 
 Biện minh tà chính thấy nguyên nhân. 
 Kim về tính vẫn là đồng loại,
 Mộc chạy mong tình cũng chẳng xong, 
 Hai xứ công thành, thành tịch mịch, 
 Điều hòa nước lửa, bụi trần không”.

Ngũ hành mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ đối ứng với ngũ tạng là gan, tim, tỳ (lá lách), phổi, thận. Vì thế Tây Du Ký mô tả nơi ở của các nhân vật cũng rất có hàm ý. Trư Bát Giới làm mộc mẫu, cũng là chỉ về thủy, ở vị trí thận tạng. Trong Tây Du Ký có mượn lời của Trư Bát Giới để thuyết minh, nói Trư Bát Giới được “Noãn Nhị Thư” kén làm rể. Vị Noãn Nhị Thư này chính là ví như hai quả thận của người ta vậy. Bộ phận tỳ tạng (lá lách) chính là đối ứng của Sa Hòa Thượng (hành thổ). Vì tác dụng của tỳ tạng là vận hóa thủy cốc (chuyển hóa thức ăn), vận chuyển phân bố và vận hành thủy dịch, nên nơi ở Lưu Sa Hà của Sa Hòa Thượng mới là “Lông ngỗng không nổi được, Hoa lau cũng phải chìm”.

Người Trung Quốc cổ đại cho rằng ngũ hành là cơ sở cấu thành nên vạn sự vạn vật trong vũ trụ, giữa chúng có mối quan hệ tương sinh tương khắc, cân bằng thì an định, mất cân bằng thì hỗn loạn. Ở một tầng hàm nghĩa nào đó, hành trình thỉnh kinh Phật của năm thầy trò Đường Tăng cũng là hành trình tu luyện đạt đến trạng thái hài hoà, hợp nhất của ngũ hành. Đó là cảnh giới tĩnh lặng, từ bi và sáng suốt.

 

Thanh Ngọc
Tham khảo Chánh Kiến 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5334/feed 0
GÓC NHÌN KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO VỀ “LINH HỒN” VÀ LUÂN HỒI https://thuonghylenien.org/luu-tru/5274 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5274#respond Wed, 20 Dec 2023 02:26:46 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5274 GÓC NHÌN KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO
 VỀ “LINH HỒN” VÀ LUÂN HỒI

rong đời mỗi chúng sinhđặc biệt là con ngườisinh tử vẫn là điều làm cho chúng ta bất an, lo sợ nhất, dẫu biết rằng không ai thoát khỏi quy luật này, không ai có thể tồn tại mãi mãi mà không hề chết, thế nhưng chúng ta vẫn cảm giác như cái chết là điều gì đó rất xa xôi, xa xôi bởi không ai đoán biết được nó sẽ đến lúc nào, ai cũng nghĩ sự sống mình là kéo dài, chính vì vậy mà con người ít khi nhìn lại những lỗi lầm, những việc ác để né tránh, dường như chúng ta hiếm khi nhận ra mình đang làm một điều gì đó sai mà thường chúng ta nghĩ việc làm của mình là đúng, là thuận theo lẽ tự nhiên và con người cứ thực hiện nó như một quán tính “sinh tồn”, chính vì vậy mà người ác không nhận ra nghiệp ác, người sai không nhận thấy mình sai.
blank

Người sát sanh không nhận ra sự đau đớn của loài vật, không cảm động trước sự sợ hãi của chúng nên mới thản nhiên giết hại chúng một cách dã man. Người trộm cướp, lừa đảo không quan tâm đến sự khổ sở của người bị mất đi của cải mà chỉ biết ra tay trộm cướp, lừa đảo để tước đoạt tài sản người khác. Người tham nhũng không ý thức đến sự thất thoát tiền bạc sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho cơ quan, tổ chức, thiệt hại cho xã hội. Người làm hàng gian hàng giả bất chấp sinh mạng con người để trục lợi cho bản thân, người bè phái nói xấu, hãm hại người khác lại lấy đó làm vui, nhằm thỏa mãn sự đố kỵ thù hằn và còn hàng trăm nghìn những việc làm sai tráigieo rắc mầm mống tội ác đang diễn ra hằng ngày từ chính lòng tham, sự vô cảm, tàn ác của một bộ phận con người và họ thản nhiên với chính lỗi lầmtội ác đó, họ cho rằng nó bình thường, có thể họ biết hoặc không biết đến nhân quả nhưng vẫn bỏ qua, có thể họ cho rằng cuộc sống còn dài nên chưa cần nghĩ đến ngày phải sám hối, và có lẽ họ không nghĩ đến việc làm ác của họ, sau khi chết đi sẽ gây ra nghiệp báo nào và con người thường nghĩ rằng chỉ cần vun bồi, tham đắm cho lúc sống bởi sau khi chết đi là hết, là không còn điều gì liên đới nữa. Sở dĩ con người không sợ việc làm ác bởi lẽ ít ai tin vào địa ngục, tin vào thuyết luân hồi, xét ra điều này cũng có lý do của nó, bởi khi còn sống thì đâu ai biết được khi chết sẽ gặp điều gì và người đã chết cũng đâu ai có thể sống lại để kể cho người sống nghe những điều họ đã gặp, trừ một vài trường hợp hy hữu được cho là “sống lại sau khi chết” và câu chuyện về họ, dường như cũng ít người được nghe, được biết, thậm chí có nghe, cũng ít người muốn tin.

Chính vì con người thường né tránh khi nghĩ đến những điều “xui rủi” và người ta cũng miễn cưỡng khi nghĩ đến nhân quả, nghĩ đến tái sinh nên thường có những việc làm rơi vào đường ác. Bài viết này không nhằm mục đích khẳng định những khám phá về linh hồn, về thuyết luân hồi sau khi chết đi là có thật hay không và cũng không phủ định cũng như tuyệt đối hóa những dẫn dụ xung quanh các tình huống nêu ra, bài viết với mục đích cung cấp những thông tin để mỗi người chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn về thế giới đầy bí ẩn mà chúng ta đang sống và sau khi mất đi, để từ đó, mỗi người chúng ta có những ý thức sống tích cực, biết cân nhắc, nhìn lại việc làm hằng ngày của mình để thay đổi và sửa chữa bởi không ai dám khẳng định rằng “chết là hết” như những gì chúng ta vẫn nghĩ.

1. Linh hồn con người có tồn tại không?

1.1. Dưới góc nhìn khoa học

Theo Giáo sư Bruce Greyson, trưởng khoa Nghiên cứu tri giác (DOPS) thuộc Đại học Hệ thống Y tế Virginia (Mỹ), trải nghiệm cận tử xảy ra ở 10% bệnh nhân bị ngừng tim. Khi tỉnh lại, người bệnh có thể mô tả chính xác mọi hoạt động xung quanh khi họ bất tỉnh. Điều đáng nói là trong nhiều trường hợp trải nghiệm cận tử, điện não đồ và các bằng chứng y khoa khác cho thấy, não bệnh nhân không còn dấu hiệu hoạt động khi hiện tượng này diễn ra.

Nghiên cứu của Giáo sư Peter Fenwick, Viện Tâm thần học thuộc Đại học Kings (Anh), cho biết: “Nếu có thể chứng minh rằng con người vẫn tiếp nhận thông tin khi họ bất tỉnh và thoát xác thì đó là bằng chứng không thể tranh cãi về việc ý thức tồn tại tách rời bộ não”.

Quan điểm truyền thống cho rằng, ý thức của chúng ta được hình thành từ mạng lưới hàng tỷ nơron. Nhưng hai Giáo sư Stuart Hameroff (Đại học Arizona, Mỹ) và Roger Penrose (Đại học Oxford, Anh) đã xây dựng một lý thuyết khác, theo đó ý thức còn là sản phẩm của quá trình tính toán lượng tử diễn ra ở vi ống, một dạng cấu trúc siêu nhỏ của tế bào não.

Một công trình của Anirban Bandyopadhyay (Viện Khoa học Vật liệu Quốc gia Nhật Bản) còn hé mở khả năng các bít thông tin lượng tử có thể gắn kết trong môi trường nhiệt độ cao của các vi ống đơn lẻ ở tế bào. Trạng thái gắn kết giữa các vi ống được tạo ra nhờ năng lượng sinh học.

Khi quá trình cung cấp máu và oxy ngừng lại, sự gắn kết không còn, nhưng thông tin lượng tử không mất đi. Nó có thể phát tán vào vũ trụtồn tại và tiếp tục hoạt động dưới một hình thức nào đó. Nếu bệnh nhân được cứu sống, thông tin sẽ được não tiếp nhận trở lại. Nếu như giả thuyết này là đúng, thì câu hỏi đặt ra là: Quá trình lượng tử tạo thành ý thức xuất hiện từ đâu? Theo Giáo sư Penrose và một số nhà khoa học, quá trình này là từ vụ nổ lớn Big Bang. Theo quan điểm này, mọi dạng ý thức đều được tạo ra cùng thời điểm với vũ trụ. Và nếu linh hồn có tồn tại thì nó cũng gắn với khởi nguồn của vũ trụ.

Ý tưởng của Giáo sư Penrose ám chỉ đến một cơ chế để ý thức tiếp tục tồn tại sau khi thân thể con người đã chết. Nhưng nó sẽ đi về đâu? Theo Giáo sư Hameroff: “Nếu người bệnh không được cứu sốngý thức sẽ đi vào vũ trụ và biết đâu có thể một ngày nào đó sẽ được một cơ thể khác tiếp nhận trở lại”.

DOPS hiện đang lưu giữ khoảng 1.400 hồ sơ về các trường hợp được cho là thuộc dạng này. Phần lớn đó đều là những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp. Các em có thể kể vanh vách trước đây mình là ai, sống ở đâu, làm gì, trông như thế nào và nhiều chi tiết khác.

Theo nghiên cứu của nhà khoa học Catherine, sau khi con người qua đời, linh hồn sẽ sang một không gian khác. Không gian mà linh hồn sẽ đến sau khi con người chết mà nhà khoa học Catherine nhắc đến nằm ở giữa các trường điện từ, tức là trường lượng tử.

Từ năm 1996, Tiến sĩ Stuart Hameroff, nhà vật lý – Giáo sư danh dự của khoa gây mê và tâm lý học và Ngài Roger Penrose, một nhà vật lý toán học của đại học Oxford, cùng nghiên cứu về thuyết lượng tử trong nhận thức đã tuyên bố là linh hồn vẫn tồn tại trong những vi ống nhỏ (micro-tubules) của các tế bào não.

Nhiều nhà tư tưởng Tôn giáo từ thời cổ đại tin rằng mỗi người đều có một linh hồnQuan điểm này được nhà triết học Plato (424 – 348 trước Công nguyên) và René Descartes ở thế kỷ 17 ủng hộ.

Dưới góc nhìn của Thạc sĩ Vũ Đức Huynh, tác giả của nhiều cuốn sách về tâm linh và cổ học phương Đông khẳng định, vòng hào quang không phải linh hồn mà là vòng trường sinh ai cũng có, độ rộng hay hẹp là do năng lượng tích lũy của từng người. Vầng hào quang là trường sinh học mang điện tích âm, do sức hút, sức ràng buộc của vòng vía. Vía mang điện tích cả âm và dương. Trong vía có thần thức mang điện tích dương và trong thần thức là phách. Phần hồn bao gồm: Vía + Thần thức + Phách.

Sau khi chết 49 ngày, phần hồn chuyển dạng sang thành vong hồn với cấu trúc tầng nấc là: Thần thức ở trên mang thuộc tính dương; Vía ở phần giữa có cả hai phần mang thuộc tính âm và dương; Phách ở tầng dưới vì độ đậm đặc nhất mang thuộc tính âm. Cấu tố thần thức loãng và nhẹ, song lại là cấu tố chủ đạo của vong hồn. Ba cấu tố này liên kết với nhau bằng mối liên kết lỏng. Liên kết lỏng nhất là giữa phách với vía và thần thức. Phách dễ dàng tách ra khi gặp điều kiện thuận lợi. Nghĩa là lúc đó vong hồn có thể tách làm hai: một gồm vía và thần thức, một chỉ có phách.

Ngoài trải nghiệm cận tử, “Vũ trụ toàn ảnh” cũng ghi nhận một số trường hợp hồn lìa khỏi xác, giới chuyên môn gọi là trải nghiệm ngoài cơ thể (Out of Body Experience, OBE). Linh hồn một số người có thể rời thân thể, đến một nơi cách xa hàng ngàn dặm, thậm chí tiến nhập vào một không gianthời gian khác. Hiện tượng này (giới tu luyện gọi là “Nguyên thần ly thể”) đều được ghi chép trong các trường phái tu luyện Phật gia và Đạo gia ở Trung Quốc.

Trên thực tếhiện tượng “Nguyên thần ly thể” chỉ là một phần rất nhỏ trong một bức tranh rộng lớn hơn. Đó là bức tranh của sự luân hồi. Trong những năm gần đây, giới y học phương Tây đã làm rất nhiều nghiên cứu để kiểm chứng hiện tượng này. Phương pháp phổ biến nhất là khiến con người rơi vào trạng thái thôi miên, mê mê tỉnh tỉnh như trong phương pháp thiền định của Đạo gia hoặc Phật gia, để họ có thể nhìn thấy từng đời từng kiếp trước của mình, thậm chí cả quá trình trung gian trước khi luân hồi chuyển thế. Đây được gọi là phương pháp thôi miên hồi quy tiền kiếp.

Một nghiên cứu đi sâu vào vấn đề này đã được một bác sĩ người Mỹ tên Duncan MacDougall tiến hành vào năm 1907. Kết quả thu được, đăng trên các tạp chí y khoa đương đại, cho thấy các bệnh nhân hấp hối đã mất trung bình 21 gram vào đúng thời điểm tử vongDựa vào đó, bác sĩ MacDougall kết luận sự sai biệt này bằng đúng khối lượng của linh hồn, một thực tế thú vị đã được nhắc lại trong bộ phim đầy kịch tính “21 Grams” vào năm 2003.

1.2. Linh hồn người chết trong quan điểm Phật giáo

Theo Phật phápcon người sau khi chết linh hồn sẽ bắt đầu rời khỏi thể xác. Tuy nhiên, lúc này thần thức vẫn còn quanh quẩn ở nhà và bị rơi vào trạng thái tối tăm mù mịt. Đây được gọi là giai đoạn “Thân Trung Ấm”.

Hồn là điểm linh quanglương tri, trọn lành, Phật tánh hay Thiên tánh, có trách nhiệm nhắc nhở cho Trí biết điều hay lẽ phải, hướng thiện.

Trí chính là bản ngã thực sự sẽ chịu trách nhiệm với các nhân duyên nghiệp quả của mình. Trải qua nhiều đời nhiều kiếp, Trí càng được học hỏi, trau dồi ngày thêm tinh tấn, hướng tới tận thiện tận mỹ.

Xác là tinh Cha huyết Mẹ cấu thành, được nuôi sống bởi vật chất nên khi hết thọ mạng thì nó trở về với cát bụi do nó là các chất giả hợp tạo nên hình hài.

Trí và Hồn luôn song hành với nhau, gọi chung là linh hồn hay chân hồn.

Phật giáo nhìn nhận rằng thế giới phàm của chúng sinhbao gồm có 6 cõi đó là: Thiên, Người, Atula, Bàng sanh (như bò, ngựa, kiến, muỗi và các động vật khác), Ngạ quỷ và Địa ngục, trong 6 cõi này thì chúng sinh cứ được sinh ra rồi lại chết đi, chết đi rồi lại sinh ra, được gọi là Lục đạo luân hồivì vậy mà sau khi người ta chết đi thì sẽ có 1/6 khả năng có thể sẽ trở thành ma quỷPhật giáo có thể khiến con người giải thoát và siêu xuất khỏi vòng sinh tử của luân hồi, đó cũng chính là điều người ta gọi là siêu độ.

Theo giáo lý Phật giáocon người có năng lực vi diệu được chuyển từ kiếp này qua kiếp khác, năng lực ấy được gọi là Yid Kyi Mawpar Shespa, một danh từ rất đặc biệt phức tạp mà thông thường được hiểu như cái gọi là Linh hồn. Đó chỉ là danh từ tạm dùng để hiểu thuyết luân hồi theo luật Karma (nghiệp). Đặc biệt là môn học Vi diệu pháp thì không có một linh hồn nào trong con ngườiCon người gồm 2 phần Sắc uẩn (các bộ phận cơ thể) và Danh uẩn (các trạng thái tâm lý). Vi diệu pháp quan niệm đời sống con người là tiến trình phối hợp giữa các trạng thái vật lý (của Sắc uẩn) và trạng thái tâm lý (của Danh uẩnbiến đổi theo nhân duyên (tùy thuộc điều kiện). Danh uẩn gồm Thọ uẩn (các trạng thái cảm giác), Tưởng uẩn (các trạng thái tưởng tượng), Hành uẩn (các trạng thái tâm hoạt động), Thức uẩn (ý thức chủ) cùng sinh, cùng diệt tùy theo điều kiện phát sinh trong cuộc sống. Đa số những lầm tưởng về một linh hồn, cái ngã mà con người tưởng tượng ra là do Tưởng uẩn hoạt động. Có 2 vấn đề chi phối đời sống tâm lý con người là Nghiệp và “Sự tùy thuộc phát sanh của Thức”.

Tuy nhiênquan niệm Phật giáo cho rằng cái chết của con người không phải là sự kết thúc, mà là sự bắt đầu của một sự sống mới. Sau khi chếtcon người sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi tùy thuộc vào Nhân đã tạo trong đời hiện tại. Nếu con người có Nhân tốt, họ sẽ tái sinh vào cõi Trời.

1.3. Lý do khiến cho người chết không được siêu thoát

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều những quan niệm về linh hồn người đã chết không được siêu thoát, theo góc nhìn tâm linh, những nguyên nhân đó là do người chết không theo quy luật sinh tử tự nhiên mà tự tìm đến cái chết trong sự đau khổ, bực dọc, những người chết oan, chết đột ngột do tai nạn, bị sát hại…vì những lý do đó mà linh hồn người đã khuất không thể siêu thoát, họ vẫn lởn vởn quanh nơi họ đã từng sống, lang thang ngay tại nơi họ mất, từ đó xuất hiện nhiều những hiện tượng lạ mà người ta cho rằng đó là oan hồn người đã khuất, là “hồn ma”. Hoặc cũng có trường hợp, khi còn sống, người đó gây ra nhiều nghiệp ácbản chất hung dữ nên khi chết cũng trở thành những vong linh thường hay quấy nhiễu người sống, vì vậy mà trong Phật giáo có Lễ cầu siêu, nhằm thể hiện tinh thần từ bisiêu độ, giúp vong linh người đã khuất được vãng sanhsiêu thoát, không còn lưu luyến, đau buồn, giận dữ bám chấp nơi cõi phàm trần.

2. Những câu chuyện về sự luân hồi

Xuyên suốt lịch sử nhân loại đã có vô số trường hợp những người nhớ được các kiếp sống trước của họ, một số nền văn hóa thậm chí còn coi luân hồi là một thực tế không phải bàn cãi. Chính vì sự bí ẩn vô tận đó nên Giáo sư Ian Stevenson và người học trò là Tiến sĩ Jim Tucker từ Đại học Virginina đã dành hàng thập kỷ nghiên cứu chủ đề luân hồi, ông đã đi khảo sát và kiểm chứng hơn 3.000 trường hợp luân hồi được tuyên bố ở trẻ em. Trong nhiều trường hợp, hầu hết các đứa trẻ có thể nhớ lại chính xác đến kinh ngạc các chi tiết về cuộc đời trước đây của chúng.

Vậy thì luân hồi đã xảy ra như thế nào và có thật hay không, bài viết này xin chia sẻ một số câu chuyện sau đây:

2.1. Câu chuyện về Giáo sư bác sỹ George G. Ritchie (25/9/1923 – 29/10/2007)

Ông từng là chủ tịch của Học viện Trị liệu đa khoa Richmond, từng là Trưởng khoa Tâm thần học của Bệnh viện Towers, người sáng lập và và chủ tịch Liên Đoàn Thanh niên Thế giới (Universal Youth Corps, inc) trong gần 20 năm. Vào tháng 12 năm 1943, George Ritchie đã chết trong một bệnh viện quân đội ở tuổi 20 vì bệnh viêm phổi và đã được đưa vào nhà xác. Nhưng kỳ diệu thay, 9 phút sau ông sống trở lại, và kể về những điều đáng kinh ngạc mà ông đã chứng kiến khi trong trạng thái ở bên ngoài thân xác. Ritchie đã viết về Trải nghiệm cận tử (NDE) của ông trong cuốn sách “Trở lại từ ngày mai”, đồng tác giả với Elizabeth Sherrill, xuất bản lần đầu năm 1978. Cuốn sách đã được dịch sang 9 thứ tiếng khác nhau.

Bác sĩ George Ritchie đã kể lại rất chi tiết những gì mà mình đã trải qua trong suốt khoảng thời gian ông chết.

2.2. Câu chuyện về Katsugoro.

Vào cuối thời kỳ Edo đầu thế kỷ 19, ở Nhật Bản có một câu chuyện luân hồi chuyển sinh không chỉ gây chấn động trong các tầng lớp người dân Nhật Bản mà còn truyền rộng trong tầng lớp Vương thất, đến cuối thế kỷ 19 câu chuyện này đã được lan truyền ra nước ngoài, đó là câu chuyện chuyển sinh của cậu bé Katsugoro. Katsugoro là người đã biết về tiền kiếp của mình khi cậu bé nói rằng: “Biết chứ, em là Fujikura sinh ra ở thôn Hodokubo, 6 tuổi bị bệnh đậu mùa mà chết.” Katsugoro đã thuật lại tỉ mỉ về quá khứ và nơi sống của mình trong kiếp trước, quá trình tái sinh từ cậu bé Fujikura trở thành Katsugoro của kiếp sau.

Năm Minh Trị 23 (1890), tác giả Koizumi Yakumo đến Hoa Kỳ và xuất bản tuyển tập “Phật điền đích lạc tuệ,” trong đó có câu chuyện “Katsugoro chuyển sinh,” nhờ đó câu chuyện Katsugoro chuyển sinh từ Nhật Bản được lan truyền ra các nước khác.

2.3. Cậu bé Tang Jiangshan, người sống hai đời ở Hải Nam

Cậu bé tên là Tang Jiangshan, sống tại thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Theo lời kể của cha mẹ Tang Jiangshan và những già làng, khi Tang Jiangshan mới vừa 3 tuổi (năm 1979), một ngày nọ cậu đột nhiên bảo cha mẹ rằng: “Con không phải là con của hai người. Đời trước con tên là Chen Mingdao, cha con tên là Sandie. Nhà con ở Đam Châu, gần biển”. Nơi cậu bé nhắc đến cách thành phố Đông Phương chừng hơn 160 km. Cậu bé kể rằng cậu đã bị giết bằng kiếm và súng trong thời Cách mạng Văn hóa. Điều lạ là cậu có thể nói giọng Đam Châu rất rành rọt. Tiếng địa phương Đam Châu khác hẳn giọng nói trong vùng cậu đang sống. Bên phía bụng trái của cậu cũng có vài vết thẹo bị chém bằng kiếm để lại từ đời trước.

Các nhà xuất bản làm việc với tạp chí Phụ Nữ Phương Đông lúc đầu không tin câu chuyện của Tang Jiangshan. Nhưng sau khi điều tra cẩn thận, họ đã xác minh những việc Tang trải qua là thật.

2.4. Câu chuyện về Ray Bryant

Theo đó thì Ray Bryant là nhà báo người Anh, năm 44 tuổi tự nhiên ông nhớ lại tiền kiếp của mình rất rõ. Theo Ray Bryant thì khoảng năm 1855, anh ta là một trung sĩ tên là Reuben Stafford và đã tham dự nhiều trận đánh kinh hồn trong đó có trận Crimeé vô cùng khủng khiếp. Đó là trận chiến dữ dội nhất giữa quân Nga và quân Anh, Pháp, Thổ. Trong trận này quân Anh bị quân Nga tiêu diệt 700 người. Trường hợp nhà báo Anh Ray Bryant nhớ lại tiền kiếp đã một thời làm xôn xao dư luận nước Anh.
Lúc bấy giờ, chính Bộ Quốc Phòng Anh phải nhờ đến Đại tá John Bird đích thân tìm hiểu sự thật. Đại Tá này đã cùng với một số sử gia lục lọi các tư liệu trong nha Văn Khố, Quốc Phòng Bảo Tàng Viện Chiến Tranh, các thư Viện Quốc Gia, các tài liệu xưa và đã đi đến kết luận là câu chuyện không phải bịa đặt vì họ đã tìm thấy tên của một trung sĩ tên là Reuben Stafford.

2.5. Bí ẩn về cậu bé Carl Edon.

Câu chuyện luân hồi được cho là kỳ lạ nhất là câu chuyện của Carl Edon, sinh ra tại Anh. Cậu không chỉ nhớ được kiếp trước của mình, mà còn biết được thời điểm mình sẽ “ra đi” trong kiếp này.

Cậu bé nhớ về tiền kiếp của mình là một phi công và đã qua đời trong một vụ rơi máy bay, cậu bé đã vẽ lại phù điêu của Đức quốc xã và buồng lái máy bay một cách chi tiết, tỉ mỉ, cậu đã kể lại quá trình chiếc máy bay gặp nạn, sự ra đi của mình ở kiếp trước và cậu đã tiên đoán về sự ra đi của mình trước năm 25 tuổi ở kiếp này.

Vào mùa hè năm sau, Edon 22 tuổi, cậu cãi nhau với một đồng nghiệp tại nơi làm việc và bị đâm 37 nhát cho đến chết.

Tất cả những sự trùng hợp đáng kinh ngạc đã khiến câu chuyện của Edon một lần nữa trở thành tiêu đề nổi bật của các tờ báo và được gọi là câu chuyện luân hồi kỳ lạ nhất.

3. Câu chuyện luân hồi và những giá trị nhân sinh.

Trở lại câu chuyện về Tiến sĩ Ian Pretyman Stevenson – một bác sĩ tâm thần người Canada, ông được biết đến với nghiên cứu về các trường hợp mà ông coi là bằng chứng về sự luân hồi, với ý tưởng rằng cảm xúc, ký ức và thậm chí cả các đặc điểm cơ thể có thể được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác.

Trong khoảng thời gian 40 năm nghiên cứu thực địa quốc tế, Tiến sĩ Stevenson đã tìm hiểu và xác minh gần 3.000 trường hợp trẻ em có ký ức về những trải nghiệm ở kiếp trước. “Những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp” (tựa gốc: “Children who remember previous lives”) là cuốn sách tóm tắt công trình nghiên cứu nổi tiếng này của ông. Việc nghiên cứu các dấu hiệu chứng tỏ ký ức của một người vẫn tồn tại sau khi chết.

Bên cạnh những nghiên cứu của các nhà khoa học thì những câu chuyện “người thật việc thật” như câu chuyện của bà Trần Thị Sương sinh năm 1924, sống ở Tây Ninh. Bà là người đã sống lại sau khi hồn đã lìa khỏi xác cũng và bà đã kể lại hành trình của mình khi đi qua cửa tử. Trải qua giai đoạn đi vào cõi âm, bà Sương đã thay đổi hẳn suy nghĩ và cách sống. Trước khi chưa chết, bà không tin có linh hồn, không tin có Thần Phật, nhưng khi trở về từ cõi chết, bà quyết sống một đời sống khác, bà trở nên có tín ngưỡng vào Thần Phật, sẵn sàng làm giúp đỡ người khác, bà cũng bắt đầu ăn chay, bà hiểu rằng dương mệnh ở đây mà kết thúc thì không phải là hết. Con người là phải đi theo quy luật luân hồi chuyển kiếp.

Trên thực tế vào khoảng 3.000 năm trước, Phật giáo đã nghiên cứu đối với thực nghiệm cận với cái chết. Kinh “Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh” có một đoạn miêu tả thể nghiệm cận cái chết: “Người làm thiện ở cõi Diêm Phù Đề đến lúc lâm chung lại có trăm ngàn ác đạo quỷ thần hoặc biến ra hình Cha Mẹ, thậm chí thành người thân thuộc tiếp đón người chết dẫn vào đường ác, huống hồ là những người làm ác”.

Từ những câu chuyện trên, chúng ta nhận ra rằng khái niệm “chết là hết” không phải là lập luận mang tính xác thực tuyệt đối, dù có nhiều công trình nghiên cứu nhưng đến nay, khoa học vẫn chưa thể khẳng định chính xác về điều này. Vì vậy những câu chuyện tâm linh đã trở thành chủ đề “thực hư” vượt ra khỏi ngưỡng giới hạn của khoa học và cả Tôn giáoPhật giáo được xem là một đạo giáo có cách lý giải về hiện tượng vong linh và luân hồi như một sự tiếp diễn liên tụcluân hồi tạo nên từ “Nghiệp” và chấm dứt khi đã tận diệt mọi hữu lậu. “Chân thật vĩnh hằng mới là đời sống tâm linh của chúng ta” nên Tôn giáo mang tính phi khoa học (non-science) chứ không phải phản khoa học (anti-science) và linh hồn, có hay không sau khi con người rời bỏ thân xác, vẫn là điều bí ẩntuy nhiên ở góc độ siêu linh thì vong linh và sự luân hồi đã được lý giải dựa trên hành trình sinh tử của con người, trong đó đạo Phật đã dẫn dắt con người khám phá thế giới tái sinh luân hồi dưới sự tiếp biến của khoa học văn minh và tâm linh mầu nhiệm. Chính vì tin vào tiền kiếp, có nhân quả, có sự tái sinh mà con người sẽ biết nhìn lại những hành vilối sống của mình để tạo điều lành, tránh điều ác để sau khi lìa bỏ thân xác tạm bợ này thì không bị những nghiệp lực đeo mang, làm cho thần thức bị mù mịt, không thể siêu thoát, hoặc bị đọa lạc luân hồi vào con đường đau khổTuy nhiên cũng chính vì yếu tố kỳ bí và chưa thể lý giải một cách tuyệt đối nên câu chuyện về những vong linh và thuyết luân hồi đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ đánh vào lòng tin của nhiều người để trục lợi bằng nhiều hình thức tà giáomê tín dị đoan, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hộivì vậy mỗi người chúng ta cần có những hiểu biết đúng đắn trên tinh thần bi mẫn về khái niệm luân hồi sinh tử để bài trừ những niềm tin mù quáng, phản khoa học, trái với tín ngưỡng Tôn giáo, giúp chúng ta xây dựng được một đời sống tâm linh hướng thiện.

 

Võ Đào Phương Trâm (Tổng hợp)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5274/feed 0
Bí ẩn tấm vải liệm Chúa Jesus https://thuonghylenien.org/luu-tru/5151 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5151#respond Mon, 18 Dec 2023 03:42:05 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5151 Bí ẩn tấm vải liệm Chúa Jesus

trung-bay-tam-vai.jpg

Bạch Đàn

 Báu vật thành Lirey

Trong những năm 1350, hàng ngàn người hành hương đã đổ về Lirey, Pháp, chỉ để được nhìn thấy một vật thiêng liêng, được cho là tấm vải liệm thi thể Chúa Jesus khi người qua đời. Những người hành hương được thuyết phục rằng, vật thể tôn kính đó là thật, bởi tấm vải lanh đó vẫn còn in mờ mờ hình ảnh một người đàn ông với những vết thương ở cổ tay và bàn chân, hậu quả của những cuộc tra tấn tàn bạo.

Tuy vậy, tính xác thực của “tấm vải liệm Chúa Jesus” hay còn gọi là “tấm vải liệm thành Turin” đã là đề tài gây tranh cãi trong nhiều thế kỷ qua. Đây chỉ là phiên bản giả của tấm vải liệm thực đã bị đốt cháy trong một vụ hỏa hoạn, hay đích thực là tấm vải đã bọc thi thể Chúa Cứu thế và hằn vết thi thể Chúa bởi sự phát tỏa năng lượng mạnh mẽ sau khi Chúa phục sinh?

Năm 70 sau Công nguyên (tức là 40 năm sau khi Chúa Jesus qua đời trên cây thánh giá), thành Jerusalem bị Đế quốc La Mã phá hủy. Truyền thuyết cho rằng, tấm vải liệm Chúa đã được mang tới Edessa (ngày nay là Urfa, Thổ Nhĩ Kỳ). Những cuộc săn lùng và khủng bố trong thế kỷ thứ 2 đã khiến người ta phải cất giấu tấm vải bí mật đằng sau những tường thành bao quanh thành phố. Năm 525, một trận lụt khủng khiếp đã tàn phá hầu hết Edessa, tấm vải được tìm thấy trong quá trình xây lại những tường thành bị sập và được gọi là Mandylion.

Năm 944, các đội quân của đế quốc Byzantine xâm chiếm Edessa, cướp Mandylion về Constantinople (nay là Istanbul) dâng lên Hoàng đế. Nhưng đến năm 1204, Constantinople bị xâm chiếm bởi cuộc Thập tự chinh thứ tư và Mandylion biến mất kể từ đó. Năm 1349, vào cuối cuộc chiến tranh 100 năm giữa Anh và Pháp, hiệp sĩ nổi tiếng của Pháp Geoffrey de Charny, đã viết thư gửi Giáo hoàng đề nghị được xây một nhà thờ ở Lirey, đồng thời tuyên bố ông đang sở hữu tấm vải liệm Chúa Cứu thế.

Tấm vải hằn rõ hình một người đàn ông với những vết thương ở chân tay và ảnh chụp lại phần đầu.

Mặc dù hầu hết mọi người chấp nhận tấm vải của Geoffroys chính là Mandylion, nhưng một số chuyên gia vẫn rất hoài nghi về nguồn gốc và tính xác thực của nó. Một trong những người có tiếng nói hoài nghi nhất là giám mục Pierre d’Arcis.

Dựa trên những bằng chứng thu thập được trong một cuộc điều tra, được khởi xướng bởi Giám mục Henri de Portiers, sau đó được tiếp quản bởi người kế nhiệm d’Arcis, họ có lý do để tin rằng tấm vải liệm là giả. Trong một bức thư gửi Giáo hoàng vào năm 1389, d’Arcis cho rằng, Geoffroy đã lừa gạt nhà thờ bằng một tấm vải được in hình một cách gian trá mà ông ta bịa ra đó là tấm vải liệm từng bọc thi thể Chúa Jesus. Họ cũng cho rằng, tấm vải là trọng tâm của một chiến dịch quảng bá công phu mà Geoffroy tiến hành, nhằm mục đích tăng doanh số các sản phẩm lưu niệm liên quan để kiếm lợi nhuận khổng lồ.

Đây là cáo buộc quan trọng đầu tiên về sự gian lận liên quan đến vải liệm Chúa Jesus, sau này được biết đến rộng rãi với cái tên “tấm vải liệm thành Turin”. Nhưng vào thời điểm bức thư được viết, Geoffroy đã qua đời được 33 năm và lý do khiến d’Arcis theo đuổi vụ việc là vì vào những năm 1380, tấm vải liệm bắt đầu được con trai của Geoffroy cho trưng bày để kiếm lợi nhuận.

Geoffroy II đã tìm đủ mọi cách để dẹp bỏ nỗ lực của d’Arcis, người phản đối trưng bày tấm vải liệm gây tranh cãi. Ông ta cố tình qua mặt giám mục địa hạt khi vượt cấp xin Hồng y giáo chủ cho phép trưng bày vải liệm. Mặc dù d’Arcis đã khiếu nại lên Vua Charles VI của Pháp và Giáo hoàng Clement VII, Geoffroy vẫn được quyền triển lãm tấm vải huyền bí với một số hạn chế do Giáo hoàng đưa ra, trong đó có việc cấm trưng bày tấm vải như một thánh tích.

Geoffroy II chấp nhận giới hạn đó và tiếp tục giới thiệu báu vật gia truyền của mình tới hàng ngàn tín đồ. Sau cái chết của Geoffroy II, tấm vải được truyền cho cháu gái của ông là Margaret, người đã cổ vũ tích cực hơn cho những tin đồn rằng vải liệm Chúa Cứu thế đúng là thật. Hầu hết mọi người đều tin điều đó, cho dù nhà thờ chưa bao giờ công nhận.

Vào nửa đầu thế kỷ 15, Margaret đề nghị các giáo sĩ ở Lirey cho phép di dời tấm vải liệm khỏi nhà thờ về lâu đài Montfort, nơi bà và người chồng thứ hai, bá tước Humbert de la Roche sinh sống. Margaret lo ngại chiến tranh và cho rằng tốt hơn hết là giữ vật báu ở ngay bên mình. Hơn nữa, tấm vải là vật gia truyền và bà tin rằng mình có quyền bảo vệ nó.

Nhà thờ Đức Bà Lirey cuối cùng cũng cho phép hai vợ chồng Margaret toàn quyền bảo quản tấm vải vào năm 1418 với điều kiện họ phải cam kết sẽ trả lại nó ngay khi không còn mối đe dọa chiến tranh. Năm 1438, bá tước La Roche tử trận. 5 năm sau, chiến tranh kết thúc, bà Margaret nuốt lời, không trả lại tấm vải về nhà thờ ở Lirey, mà thay vào đó, bà mang tấm vải đi trưng bày ở nhiều nơi, như Liege (Bỉ) hay Geneva (Thụy Sĩ). Bất kể Margaret có ý thương mại hóa tấm vải hay không, bà đã kiếm được rất nhiều tiền từ các tour trưng bày và giành được sự chú ý của tầng lớp thượng lưu, trong đó có Công tước và nữ Công tước xứ Savoy.

Cuộc chu du của Thánh tích

Công tước Louis I và vợ là nữ Công tước Anne tỏ ra quan tâm đặc biệt đến tấm vải. Năm 1453, họ ngỏ lời muốn mua nó với một khoản tiền lớn và Margaret cuối cùng chấp nhận đề nghị. Các giáo sĩ ở Lirey vô cùng giận dữ khi biết bà ta bán tấm vải. Họ đe dọa rút phép thông công của Margaret cho đến khi bà trả lại tấm vải hoặc bồi thường.

Ảnh âm bản hiện lên chi tiết người đàn ông trên tấm vải (phải) so với hình ảnh nhìn thấy trực tiếp (trái).

Năm 1460, Margaret qua đời mà không thực hiện nghĩa vụ với nhà thờ. Sau cái chết của bà, nhà thờ Đức Bà Lirey tìm mọi cách để đòi tiền từ gia đình Công tước Louis I của xứ Savoy (đông nam nước Pháp). Công tước đồng ý trả cho họ tiền bồi thường dưới dạng phí thuê hằng năm để đổi lấy quyền giữ tấm vải. Tuy vậy, việc trả phí không kéo dài được lâu. Năm 1465, Công tước xứ Savoy qua đời, để lại tấm vải cho con trai là Công tước Amadeus IX, việc nộp phí đã bị ngừng lại.

Sự nổi tiếng của tấm vải liệm ngày càng lan rộng. Không chỉ hầu hết mọi người chấp nhận nó là thật, mà nhiều người còn tin nó có những sức mạnh huyền bí. Tấm vải được coi là một thánh tích trong suốt nhiều thế kỷ sau đó. Sau khi được đưa đi trưng bày trên khắp châu Âu trong hơn 150 năm, tấm vải thiêng lại có một ngôi nhà mới vào năm 1502. Đó là nhà thờ Sainte Chapelle ở Chambery, một kiến trúc được gia đình Savoy xây dựng dành riêng để lưu giữ thánh tích gia truyền của họ.

Tấm vải được tôn sùng đến mức các vị vua và hoàng hậu ở châu Âu đều đề nghị tổ chức các cuộc trưng bày cá nhân để họ được tận mắt chứng kiến vật thể được tin là một trong những thánh tích thiêng liêng nhất của các nước theo đạo Cơ đốc. Ngoại trừ các sự kiện và chuyến đi đặc biệt, tấm vải được lưu giữ trong nhà thờ Sainte Chapelle suốt hơn 3 thập kỷ, an toàn trước chiến tranh và những đội quân hung hãn, nhưng nó không tránh được tai họa từ thần lửa. Năm 1532, một vụ hỏa hoạn bùng phát trong nhà thờ. Tấm vải được cứu thoát nhưng bị những vết cháy do đĩa bạc nóng chảy nhỏ vào và được các bà xơ vá lại bằng 16 mảnh vải.

Một cuộc trưng bày tấm vải liệm ở Turin, Italia.

Trong hơn 100 năm sau đó, vải liệm Chúa Jesus ngày càng ít lưu lại nhà thờ Stainte Capelle. Nó thường xuyên được đưa đi chu du khắp châu Âu, phục vụ các tín đồ Ki tô giáo. Năm 1578, nữ Công tước Emanuel Philibert, khi đó là người sở hữu tấm vải, đã quyết định chuyển thánh tích này tới Turin (ở tây bắc Italia, giáp với Pháp) vĩnh viễn vì cho rằng, nơi đây phù hợp với việc mở rộng địa hạt cho Savoy hơn là Chambery. Tấm vải tiếp tục được trưng bày trước các tín đồ trong nhiều thập niên. Những đám đông đến chiêm ngưỡng có khi lên tới con số hàng chục ngàn người, thậm chí trong một cuộc trưng bày vào năm 1647, nhiều người đã chết vì ngạt thở. Dường như không gì có thể giảm bớt niềm tin ngày càng lớn rằng, tấm vải liệm chính là thánh tích Mandylion, thánh tích mà Chúa Cứu thế đã để lại.

Từ năm 1694, tấm vải được đặt tại Nhà thờ St. John The Baptist ở Turin. Người ta cất giữ nó cẩn mật trong một chiếc rương bạc trang trí công phu, đặt tại một nhà nguyện bằng đá cẩm thạch trên nóc nhà thờ. Nó nằm ở đây trong hàng trăm năm và chỉ được đưa ra ngoài trưng bày vài lần mỗi thế kỷ, thường là phục vụ những dịp cực kỳ đặc biệt như lễ đăng quang hay kết hôn của quốc vương

Hai thế kỷ sau đó, vào năm 1898, tấm vải liệm thành Turin đã giành được sự chú ý chưa từng thấy trong lịch sử. Đây là năm đánh dấu sự xuất hiện trở lại của cuộc tranh luận về tính xác thực của tấm vải, một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa các tổ chức tôn giáo, các học giả, nhà sử học và khoa học trong suốt hơn 100 năm.

Trong cuộc trưng bày cuối cùng của thế kỷ 19 tại Turin vào tháng 5/1898. Nhà vua Umberto I của Italia, người thừa kế tấm vải từ tổ tiên, đã cho phép một nhà nhiếp ảnh nghiệp dư tên là Secondo Pia chụp ảnh báu vật gia truyền.

Pia đã vô cùng kinh ngạc khi nhận thấy tấm kẽm âm bản cho một hình ảnh gần giống như 3 – D (ba chiều), rõ hơn và thật hơn so với khi quan sát trực tiếp. Trên tấm vải có kích thước 4,4m x1,1m là hình một người đàn ông khỏa thân, hai tay đặt chéo lên nhau ở vùng háng. Người đàn ông có ria và râu dài, tóc dài tới vai. Đó là một người rất cân đối và vạm vỡ, cao khoảng 1m75, khá cao so với một người đàn ông vào thế kỷ 1 hoặc vào thời trung cổ (như những giả thuyết phản bác cho rằng tấm vải là giả). Cổ tay bên trái đã bị xuyên thủng (cổ tay phải bị khuất bên dưới) và một loạt vết thương trên thân mình và chân, rõ ràng do bị nhục hình bằng roi.

Hình ảnh người đàn ông trên tấm vải hiện lên chi tiết qua ảnh âm bản đã dẫn đến những suy luận mới về nguồn gốc huyền diệu của nó. Mô tả giải phẫu hoàn hảo này đã cổ vũ mạnh mẽ hơn cho những người tin tưởng vào nguồn gốc của tấm vải và giới phê bình, vì không một nghệ sĩ nào ở thời cổ đại, trung cổ, thậm chí cả sau này, có thể tiếp cận được tới mức độ giải phẫu chính xác như vậy, ngoại trừ một số ít nhà điêu khắc Ý thời Phục hưng và Hy Lạp cổ đại. Thậm chí, việc chuyển hình ảnh của một kiệt tác điêu khắc hoặc một người mẫu lên bề mặt phẳng trong khi vẫn giữ được các đặc tính ba chiều dường như vẫn vượt ra ngoài bất cứ kỹ thuật xử lý nào trước thế kỷ 20.

Những giả thuyết ban đầu

Mặc dù vậy, hai năm sau cuộc triển lãm, tấm vải đã vấp phải những chỉ trích mạnh mẽ nhất kể từ thế kỷ 14. Linh mục người Pháp Cyr Ulysse Chevalier, một chuyên gia về lịch sử Trung cổ, cho rằng tấm vải liệm là giả. Chevalier đã tập hợp một bộ sưu tập 50 tài liệu được cho là đầu tiên được biết đến về sự tồn tại của “vải liệm thành Turin”.

Chúa Jesus trên chiếc bình bạc tìm thấy ở Homs (vùng Emesa thời cổ đại, nay thuộc Xyri), đang được trưng bày tại bảo tàng Louvre.

Trong số này có các hợp đồng, biên lai, chứng nhận, báo cáo và thư từ được viết bởi linh mục d’Arcis, Giáo hoàng Clement VII và các thành viên gia đình Charny. Ông tìm hiểu về cuộc điều tra đầu tiên do giám mục Henri de Poitiers và các nhà thần học khác khởi xướng hồi đầu thế kỷ 14 nhằm chứng minh tấm vải là giả. Chuyên gia này cũng phát hiện ra bằng chứng ấn tượng nhất là một tài liệu của d’Arcis tuyên bố, đã tìm thấy nghệ sĩ làm giả và người này thừa nhận đã in hình ảnh “Chúa Jesus” lên tấm vải. Nhưng tên của người làm giả chưa bao giờ được tiết lộ, khiến câu chuyện vẫn thiếu tính thuyết phục đối với những người tin tưởng vào vật thiêng.

Cuộc tranh luận xung quanh nguồn gốc và tính xác thực của tấm vải liệm tiếp tục nóng dần lên theo thời gian. Hầu hết các giả thuyết đều xoay quanh ba quan điểm chính cho rằng: đó là một sáng tạo thần thánh, một hình ảnh nhân tạo hoặc do một hiện tượng thiên nhiên. Không nghi ngờ gì nữa, “vải liệm thành Turin” là một bí ẩn thách thức cả niềm tin, khoa học và hiểu biết, một vật thể thôi thúc nhiều người lao vào cuộc tìm kiếm một lời giải đáp.

Trong khoảng 100 năm, rất nhiều nhà khoa học đã sôi sục tìm hiểu làm thế nào mà hình ảnh người đàn ông bị nhục hình lại xuất hiện trên tấm vải. Chưa từng có bằng chứng nào về một hình ảnh âm bản nào khớp với hình ảnh trên vải liệm. Các nhà khoa học đã thử nghiệm nhiều giả định với hy vọng các kết quả có thể cung cấp những đầu mối nào đó về nguồn gốc của tấm vải. Tuy vậy, trên thực tế, các cuộc điều tra đã dấy lên nhiều câu hỏi hơn là số câu trả lời, và càng phủ bóng bí ẩn lên tấm vải.

Nhà sinh học Vignon đã đánh dấu trên phác họa mô tả khuôn mặt của người đàn ông trong tấm vải liệm (trái) và hình ảnh Chúa Jesus tại tu viện Saint Catherine ở núi Sinai, Ai Cập (phải)

Năm 1902, Vignon, một nhà sinh học người Pháp, đã đệ trình lên Viện Hàn lâm khoa học Pháp báo cáo ủng hộ tính xác thực của “Vải liệm thành Turin”. Vignon tin rằng, hình ảnh trên tấm vải được tạo ra bởi sự kết hợp giữa hơi người và những gia vị được dùng để xức vào thi thể người chết trong nghi lễ chôn cất. Vignon lấy Kinh thánh để làm căn cứ cho giả thuyết của mình. Trong Kinh Thánh có đoạn nói rõ rằng, thi thể Chúa Jesus được xức dầu tẩy lô hội, nhựa thơm và dầu ôliu. Vignon tin rằng, dầu lô hội và ôliu đã kết hợp với khí amoniac tự nhiên thoát ra từ thi thể, tạo ra một phản ứng sản sinh ra dấu vết trên tấm vải.

Vignon bắt đầu tự làm thí nghiệm để chứng minh cho giả thuyết của mình. Sau nhiều lần thử và thất bại khi tìm cách tái tạo hình ảnh âm bản tương tự, ông cũng đạt được một số kết quả nhất định. Vignon nhúng một tấm vải vào trong dầu lô hội, nhựa thơm và dầu ôliu, rồi đặt nó lên một khuôn thạch cao đã được tẩm amoniac để xem hình ảnh của khuôn mẫu có hằn lên vải không. Mặc dù có những dấu vết hằn lên tấm vải, về mặt nào đó tương tự với “vải liệm thành Turin”, nhưng dù cố gắng thế nào, Vignon cũng không thể đạt được những đường vạch rõ nét như xuất hiện trên tấm vải, để tạo ra hình ảnh gần như hoàn hảo về một người đàn ông.

Nhiều thập kỷ sau, giả thuyết của Vignon không bao giờ còn được nhắc đến khi qua những kiểm tra khoa học hiện đại hơn, người ta không phát hiện bất cứ bằng chứng nào về dấu vết của gia vị hay dầu thực vật trên tấm vải.

Một số nhà điều tra tin rằng, chi tiết giải phẫu của hình ảnh trên tấm vải là chính xác, cho thấy vật báu này là thực. Nhà giải phẫu học và sinh vật học người Pháp Yves Delage, đã hợp tác với Vignon để tìm ra câu trả lời cho giả thuyết giải phẫu học của họ. Hai người quyết định rằng, hình ảnh người đàn ông không thể là một tác phẩm nghệ thuật bởi nó quá chính xác về mặt giải phẫu.

Tuy vậy, nhiều nhà khoa học đã bác lại giả thuyết này, cho rằng hình ảnh đó không phải hoàn toàn đúng về phương diện giải phẫu học. Các cuộc đo đạc đối với người đàn ông trên tấm vải đã phát hiện nhiều đặc điểm bị phóng đại, không cân xứng hoặc quá bất thường. Một số đặc điểm bị nghi ngờ bao gồm mặt và đầu dường như quá nhỏ và tách biệt so với phần thân còn lại, cánh tay cũng dài bất thường, dường như không có ngón tay cái rõ trên hai bàn tay và tóc dường như cũng không tự nhiên.

Mặc dù một số người tin rằng, sự thiếu chính xác này đã khiến hình ảnh “đời” hơn bởi chúng ta không ai hoàn hảo. Đáng ngạc nhiên là, đa số các cuộc điều tra vào nửa đầu thế kỷ 19 đã được tiến hành mà các nhà khoa học không được phép nhìn trực tiếp tấm vải. Họ phải làm việc với những bức ảnh hoặc bản sao của ảnh gốc.

Một đặc điểm được điều tra nhiều nhất của tấm vải là các vết máu. Một trong các nhà điều tra đầu tiên đã giải quyết vấn đề này là nhà giải phẫu học và khảo cổ người Pháp Pierre Barbet.Trong một lần tiếp cận tấm vải vào năm 1933, Barbet nhận thấy, các vết máu màu đỏ trông rõ hơn và có vẻ như độc lập so với phần còn lại của tấm vải liệm. Màu của vết máu cũng gây nghi ngờ về tính xác thực của báu vật – thay vì chuyển thành màu nâu sậm như các vết máu bình thường, những vết máu này vẫn giữ màu đỏ.

 Dưới kính hiển vi điện tử

Trong những nỗ lực tìm hiểu tính xác thực của tấm vải liệm thành Turin, các học giả, sử gia, các nhà nghiên cứu tôn giáo và cả chuyên gia về vải sợi đã chú ý tới nghi lễ của người Do thái khi làm tang lễ của Chúa Jesus và những biểu hiện nghệ thuật thời kỳ đầu về Chúa cứu thế nhằm soi sáng hình ảnh người đàn ông trên tấm vải cũng như nguồn gốc của nó.

Các nhà khoa học thuộc dự án STURP xem xét tấm vải liệm vào năm 1978.

Một trong những tranh cãi chính từ phe hoài nghi là không có một chi tiết nào đề cập sự tồn tại của vải liệm Chúa Jesus trong sử sách, hoặc ít nhất là sự tồn tại của một trong những hình ảnh như vậy về Chúa Jesus trong toàn bộ kinh Tân ước.
Một quan điểm khác là cách thức mà Chúa Jesus được chôn cất. Theo một mô tả thì thi thể Chúa được bọc trong tấm vải lanh đã được xức dầu theo nghi lễ chôn cất của người Do thái. Nhưng trong các cuộc phân tích vào nửa sau của thế kỷ 20, không một dấu vết nào của các loại dầu thơm được phát hiện trên tấm vải liệm thành Turin.

Hầu hết các ý kiến hoài nghi đều cho rằng, người đàn ông trên tấm vải là hình ảnh thể hiện Chúa Jesus, nhưng có lẽ nó đã ra đời vào thời Trung cổ (thế kỷ 5 sau Công nguyên – 1453). Họ phân tích rằng, mô tả Chúa Jesus trên “vải liệm Turin” mang các đặc điểm nghệ thuật Gothic thời Trung cổ và không giống những thể hiện sớm nhất được biết đến về Chúa cứu thế, như vào thế kỷ thứ 3, mô tả Chúa Jesus là một người đàn ông trẻ, không râu và tóc ngắn. Các xét nghiệm khoa học nhiều năm sau đó cũng đã ủng hộ giả thuyết này.

Phân tích bằng kính hiển vi, Walter McCrone kết luận tấm vải liệm là một “bức tranh hoàn hảo”

Ngày 24/11/1973, nhà vua Italia lưu vong Umberto II, người sở hữu tấm vải nổi tiếng này, đã đồng ý để Hồng y giáo chủ Pelligrino cho phép một nhóm 11 chuyên gia được trực tiếp kiểm tra thánh tích và lấy mẫu để xét nghiệm. Trong cuộc tiếp cận này, giáo sư Gilbert Raes của Viện Công nghệ vải sợi Ghent đã được phép lấy hai mẫu vải để kiểm tra dưới kính hiển vi điện tử. Một thành viên khác là nhà tội phạm học Thụy Sĩ Max Frei đã thu gom mẫu phấn hoa từ tấm vải để kiểm tra. Cuộc kiểm tra này đã hé lộ những thông tin quan trọng liên quan đến cấu tạo và nguồn gốc của “vải liệm thành Turin”.

Các mẫu của giáo sư Raes cho thấy có dấu vết sợi bông Ai Cập trong thành phần tấm vải. Mẫu của Frei thì xác định dấu vết phấn hoa từ các loại cây bản địa ở Ixraen và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng do chưa có bằng chứng nào thực sự thuyết phục, toàn bộ kết quả đã được giữ bí mật trong gần 3 năm.

Mùa thu năm 1978, một dự án thu thập dữ liệu khoa học và tiến hành các thí nghiệm về tấm vải liệm thành Turin đã được bắt đầu và được biết đến với tên gọi STURP (viết tắt theo tiếng Anh của Dự án Nghiên cứu vải liệm thành Turin). Các nhà khoa học thuộc STURP đã tiến hành một cuộc điều tra chi tiết chưa từng thấy đối với tấm vải thần thánh. 24 khoa học gia đến từ Mỹ, Thụy Sỹ, Italia, đã tập trung tại Cung điện hoàng gia Turin vào tháng 10/1978 để tiến hành một cuộc kiểm tra liên tục trong 5 ngày nhằm vén tấm màn bí ẩn tồn tại đã quá lâu. Họ đã chụp ảnh, chụp X – quang tấm vải, thậm chí được tháo đường may để kiểm tra kỹ hơn và dùng máy hút để lấy mẫu bụi và phấn hoa.

Cùng năm đó, chuyên gia về vi thể nổi tiếng thế giới, một thành viên của STURP là Walter McCrone cũng bắt đầu sử dụng kính hiển vi điện tử để kiểm tra gần 32 mẫu vải và sợi lấy từ các vùng khác nhau của tấm vải liệm. Ông đưa ra một kết luận đáng chú ý: Hơn một nửa số mẫu, bao gồm những mẫu lấy ở vùng thân mình của người đàn ông và những nơi có vết máu, có chứa một lượng đáng kể thuốc nhuộm làm từ ôxít sắt và màu keo. Phát hiện này cho thấy, hình ảnh người đàn ông có thể là tác phẩm của một nghệ sĩ và nhiều khả năng không phải là kết quả của một sự can thiệp thần thánh nào đó.

Tin tức về phát hiện nói trên đã phát đi những cơn sóng hoang mang với nhiều thành viên STURP vẫn đang phân tích mẫu. McCrone trở thành nhà khoa học hiện đại đầu tiên tuyên bố tấm vải liệm thành Turin là một “bức tranh hoàn hảo”. Tuy nhiên, kết luận của ông dẫn đến rạn nứt với cả nhóm. Không lâu sau đó, McCrone xin rút khỏi dự án. Năm 1980, những bài báo khoa học đầu tiên liên quan đến cuộc điều tra của STURP vào năm 1978 mới được công bố. Đa số đưa ra những bằng chứng chống lại kết luận của McCrone và một số xác nhận rằng, các mẫu vải đã cho kết quả là có dấu tích của máu.

Mặc dù STURP là dự án thu thập được số lượng lớn nhất các dữ liệu xung quanh tấm vải liệm thành Turin, nhưng lại không được công nhận về những thông tin liên quan đến tuổi của vật báu này. Tháng 4/1988, ba phòng thí nghiệm độc lập, một thuộc Đại học Oxford (Anh), một thuộc Đại học Arizona (Mỹ) và một thuộc Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Zurich đã có cơ hội đầu tiên được xét nghiệm tấm vải bằng phương pháp định tuổi carbon phóng xạ. Kết quả của xét nghiệm này đã làm kinh ngạc cả thế giới.

Ba phòng thí nghiệm nói trên được phép lấy mẫu từ tấm vải thành Turin nhằm tiến hành ba phân tích riêng rẽ và độc lập. Ngày 13/10/1988, các kết quả từ ba phòng thí nghiệm được công bố: Tấm vải được xác định là ra đời từ khoảng năm 1260 đến 1350 sau Công nguyên. Ngay lập tức, các tờ báo lớn trên khắp thế giới đồng loạt giật các dòng tít lớn gọi “tấm vải liệm thành Turin” là đồ giả, đồng thời thông báo, Nhà thờ Công giáo đã chấp nhận kết quả này.

Khoa học và đức tin

Tuy vậy không phải ai cũng đồng ý với kết quả định tuổi carbon phóng xạ. Theo một số nhà khoa học, độ tin cậy của phương pháp này không phải là tuyệt đối, đặc biệt trong trường hợp các mẫu bị nhiễm bẩn, do đã qua tay quá nhiều người trong nhiều thế kỷ, và những mẫu sợi được lấy để phân tích có thể là từ những miếng vá và đường viền chứ không phải từ tấm vải gốc.

Giáo hoàng Benedict XVI chiêm ngưỡng “vải liệm Chúa Jesus”.

Dù sự thật là gì, nhiều người vẫn tiếp tục tin tưởng “tấm vải liệm thành Turin” chính là vật đã bao bọc thi thể Chúa Cứu thế. Không ai có thể giải thích thỏa đáng làm thế nào mà hình ảnh âm bản giống như 3D đã xuất hiện trên tấm vải. Đó thực sự là bí ẩn lớn nhất.

Mùa hè năm 2002, tấm vải lại trải qua một thử thách quan trọng khác. Được sự cho phép của Tổng Giám mục Turin và giới chức Vatican, một nhóm chuyên gia về vải sợi dẫn đầu là Mechtild Fleury – Lemberg, người Thụy Sĩ, đã tiến hành một cuộc phục hồi gây nhiều tranh cãi khi nó diễn ra bí mật, cực đoan và không tham vấn bất cứ nhà nghiên cứu nào về vải liệm Chúa Jesus. Toàn bộ các miếng vá được các nữ tu Claret khâu vào năm 1534 sau vụ hỏa hoạn tại Chambery (Pháp) đã được dỡ bỏ. Lớp vải từng được họ khâu vào mặt sau nhằm gia cố cho tấm vải liệm cũng bị loại bỏ để chụp ảnh mặt trái của thánh tích trước khi được thay bằng một lớp vải lanh mới, mỏng và nhạt màu hơn. Các chuyên gia cũng cạo bỏ phần rìa cháy của các lỗ thủng và thu gom mẩu vụn vào các lọ đựng.

Đồ lưu niệm in hình ảnh người đàn ông trên tấm vải được bán tại Turin

Dựa trên những nghiên cứu gần đây và kết quả của cuộc điều tra của dự án STURP vào năm 1978, tiến sĩ Raymond Rogers, một nhà hóa học kiêm cựu thành viên STURP, tin rằng những kỹ thuật được sử dụng để định tuổi hiện vật của ba phòng thí nghiệm độc lập vào năm 1988 đã có sai sót. Rogers đề xuất một cuộc điều tra mới, sử dụng các công nghệ tiên tiến hơn và những mẫu tốt hơn để định tuổi. Kết quả định tuổi carbon phóng xạ vào năm 1988 đã kết luận tấm vải ra đời vào thời Trung cổ, đồng nghĩa đây là tấm vải liệm giả. Tuy nhiên, theo ông Rogers, có khả năng tấm vải ra đời sớm hơn nhiều.

Nhà hóa học này đã tiến hành một thí nghiệm mới để định tuổi. Tháng 12/2003, ông sử dụng các mẫu sợi từ tấm vải liệm thành Turin để phân tích carbon phóng xạ và đi tới một khám phá kinh ngạc, được công bố vào tháng 1/2005. Rogers phát hiện, mẫu xét nghiệm trong cuộc điều tra năm 1988 đúng là có niên đại từ thời Trung cổ, nhưng đó là những mẫu lấy từ phần vải vá của các bà xơ vào khoảng năm 1260 – 1390. Trên thực tế, phần còn lại của báu vật này cổ xưa hơn nhiều. Rogers cho biết, ông đã phân tích hàm lượng vanillin, một hợp chất hóa học có từ sợi lanh dùng để dệt vải, vốn sẽ biến mất dần theo thời gian, với tốc độ có thể tính toán được. Các mẫu mà ông nghiên cứu hầu như không còn bất cứ dấu vết vanillin nào, cho thấy tấm vải có thể có tuổi từ 1.300 – 3.000 năm tuổi, tức là nằm trong thời đại của Chúa Jesus, thay vì khoảng 700 năm tuổi như suy luận trước đây.

Trong số những cuộc tranh cãi vào nửa sau của thế kỷ 20, thậm chí còn có ý kiến cho rằng nghệ sĩ thiên tài Leonardo da Vinci chính là người làm giả tấm vải liệm Chúa Jesus. Năm 2009, nhà tư vấn đồ họa Lillian Schwartz, làm việc tại Trường Nghệ thuật thị giác ở New York, đã khẳng định tấm vải liệm in hình ảnh mô phỏng gương mặt của Leonardo Da Vinci chứ không phải của Chúa Jesus và chính nghệ sĩ đa tài và cực kỳ hiểu biết về giải phẫu học này phải chịu trách nhiệm vì đã làm giả thánh tích.

Nhưng không khó để bác bỏ quan điểm nực cười đó, vì Leonardo Da Vinci sinh năm 1452 trong khi tấm vải liệm đã được trưng bày từ năm 1353 ở Lirey, miền bắc nước Pháp. Leonardo hẳn là một thiên tài không thể tin được nếu đã sáng chế ra tấm vải liệm 100 năm trước khi ông chào đời!

Mặc dù chưa bao giờ tuyên bố về tính xác thực của tấm vải liệm ở Turin, nhưng đầu tháng 5/2010, Giáo hoàng Benedict XVI đã tới thành phố miền bắc Italia để chiêm ngưỡng di vật mà hàng triệu tín đồ Kitô giáo tin là thánh tích của Chúa Jesus. Sau khi cầu nguyện trước tấm vải liệm, Đức Giáo Hoàng đã mô tả đây là “một biểu tượng được vẽ bằng máu của một người bị đánh bằng roi da, bị kẹp bằng vòng gai và bị đóng đinh trên cây thập tự. Nhưng mỗi dấu vết máu đó đều nói lên tình yêu và cuộc sống”. Trong 6 ngày tấm vải liệm được trưng bày tại Turin, gần 2 triệu lượt người đã tới tham quan cổ vật là tâm điểm của các cuộc tranh cãi kéo dài trong suốt hơn 6 thế kỷ qua.

Tấm vải liệm thành Turin là vật thần bí, nhưng nó không phản ánh những nghi vấn về việc liệu Chúa Jesus là một nhân vật lịch sử, là con Chúa Trời hay là người sống lại từ cõi chết. Cả các nhà khoa học và tôn giáo đều thừa nhận rằng khoa học và đức tin là hai lĩnh vực khác nhau và song hành. Tấm vải thành Turin là vải liệm thi thể Chúa khi người qua đời và phục sinh, hay là vật được tạo ra sau thời kỳ Chúa Jesus? Dù thế nào, điều đó cũng không làm thay đổi điều gì đối với đức tin của hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo. Ở góc độ khoa học, nhiều người cho rằng, nếu không phải là một thánh tích thì tấm vải vẫn cần được tôn kính vì giá trị vô cùng hoàn hảo và bí ẩn của việc tạo ra nó.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5151/feed 0
Giải mã Tây du ký: Vì sao yêu quái cũng có thể ‘phù hộ’ cho con người? https://thuonghylenien.org/luu-tru/4973 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4973#respond Sat, 09 Dec 2023 08:49:49 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4973 Giải mã Tây du ký: Vì sao yêu quái cũng có thể ‘phù hộ’ cho con người?

“Lục Tổ Đàn Kinh” viết: “Thánh nhân cầu tâm bất cầu Phật, ngu nhân cầu Phật bất cầu tâm”, nghĩa là: Bậc Thánh nhân cầu tâm chứ chẳng cầu Phật, còn kẻ ngu muội chỉ cầu Phật mà chẳng cầu tâm…

Đứng đầu Tứ đại danh tác, Tây du ký* viết về hành trình thỉnh chân kinh của thầy trò Đường Tăng, qua đó tái hiện sinh động cảnh giới mỹ diệu của chư Thần, Phật từ bi quảng đại, đối lập với thế giới âm ám của những loài quỷ quái yêu ma, đan xen cùng những hỉ nộ ai lạc nơi thế gian con người. Có thể nói, ai đọc hiểu Tây du ký, người ấy thực sự có thể nhìn thấu những ảo vọng và huyễn hoặc cõi hồng trần, giác ngộ rất nhiều đạo lý. Trong cuốn tiểu thuyết dài 100 hồi này, nhiều lần các đấng Giác Giả đã triển hiện Thần tích, cứu độ sinh linh trong biển khổ, ví như cố sự Quán Âm Bồ Tát hiện thân xách làn cá, thu phục yêu quái sông Thông Thiên. Tuy nhiên, một điều lạ lùng là không ít lần, yêu quái cũng “phù hộ” cho con người mưa thuận gió hoà, an cư lạc nghiệp. Vì sao chúng lại “tốt bụng” như thế?

Chuyện kể rằng, khi thầy trò Đường Tăng đi qua Xa Trì quốc, gặp sông Thông Thiên nghẽn lối nên đành nghỉ trọ một đêm ở nhà họ Trần, nhân đây mới được nghe kể về một vị “đại vương” phù hộ dân chúng. Hồi 47: “Thánh tăng đêm vướng sông Thông Thiên, Hành Giả thương tình cứu con trẻ” có viết:

“Cụ già hỏi:

– Các ngài đến bờ sông có nhìn thấy cái gì không?

Hành Giả thưa:

– Chỉ thấy một tấm bia, trên có ba chữ “sông Thông Thiên”, dưới có mười chữ “rộng hơn tám trăm dặm, từ xưa ít người qua”. Ngoài ra không thấy vật gì khác.

Cụ già nói:

– Đi quá lên phía trên một ít, cách tấm bia chừng một dặm có ngôi miếu “Linh Cảm đại vương”, ngài không thấy sao?

Hành Giả nói:

– Không thấy, xin cụ nói rõ thế nào là Linh Cảm?

Hai cụ già đều sa nước mắt, nói:

– Các ngài ơi đại vương ấy:

Cảm ứng một phương xây miếu vũ,
Uy linh nghìn dặm giúp dân tình.
Quanh năm đồng ruộng rơi mưa ngọt.
Suốt tháng thôn cư rợp ráng vàng.

Hành Giả nói:

– Mưa ngọt, ráng vàng thì tốt quá, tại sao các cụ lại còn buồn rầu phiền não?

Cụ già giậm chân vỗ ngực, hừ một tiếng, nói:

– Các ngài ơi!

Tuy đội ơn sâu thành oán nặng,
Từ tâm mà lại hóa vô nhân.
Trẻ con nộp mạng ngài ăn thịt,
Chẳng phải chiêu chương chính trực thần!

Hành Giả nói:

– Đòi ăn thịt trẻ con trai gái à?

Cụ già nói:

– Thưa vâng.

Hành Giả hỏi:

– Chắc lần này đến lượt nhà cụ?

Cụ già nói:

– Năm nay đến lượt nhà tôi. Nơi chúng tôi đây có khoảng trăm gia đình cư trú, thuộc sự cai quản của huyện Nguyên Hội, nước Xa Trì, tên gọi Trần gia trang. Vị đại vương này một năm một lần tế, phải dâng cho ngài ấy một đứa bé trai, một đứa bé gái, cả lợn, dê, rượu, ngài ấy xơi một bữa no, rồi phù hộ cho chúng tôi mưa thuận gió hòa. Nếu không tế như thế, thì gieo tai giáng họa ngay”.

“Linh Cảm đại vương” kia hoá ra là một con cá thành tinh, tác oai tác quái ở sông Thông Thiên này. Câu chuyện yêu quái ăn thịt trẻ con rồi mới phù hộ, thoạt nghe thì rùng rợn, nhưng để nói một sự thật chung: các loại tà ma cũng có thể “giúp đỡ” con người, nhưng giúp đỡ là có điều kiện và giá cả. Đôi khi, cái giá ấy có thể đắt bằng chính sinh mệnh con người.

Trong Tây du ký, nhiều lần ta bắt gặp yêu quái cũng mang đến những điều “tốt đẹp” trong con mắt của loài người. Ví như ba con hổ, hươu, dê thành tinh tại Xa Trì quốc có tài gọi gió hô mưa, luyện đá thành vàng, được quốc vương trọng vọng kết làm thân thích. Hay như ba yêu quái tê giác giả trang đức Phật ở phủ Kim Bình, hàng năm vẫn thụ hưởng dầu đèn, ban mưa hoà gió thuận. Trước khi Tôn Ngộ Không tới, không ai nhận ra chúng là đạo sĩ yêu tinh hay Phật Đà giả mạo.

Phải chăng, ngày nay cũng tồn tại nhiều yêu tinh như thế mà con người chưa nhận ra? Nhiều người làm lễ tiêu tai giải hạn, cầu phúc cầu tài, cúng “Phật”, hầu “Thánh”… chi phí lên đến hàng chục hàng trăm triệu đồng, kết quả cũng thấy linh ứng. Mọi người đều biết, Thần Phật là những bậc giác ngộ, cứu khổ cứu nạn chỉ xuất phát từ lòng từ bi, không mong cầu báo đáp điều gì. Nếu Thần Phật cũng nhận tiền rồi đáp ứng, chẳng hoá ra không hơn gì kẻ tham ô nhận hối lộ hay sao? Thế thì, mấy vị “Thánh”, “Phật” nhận lễ vật rồi phù hộ cho phát tài, sinh con trai… kia có phải là Phật thật hay không, có lẽ mọi người đều có lời giải đáp.

Vậy vì sao yêu tinh cũng có thể “phù hộ” cho con người? Là vì trong vũ trụ này tồn tại hai thế lực Thiện và Ác, yêu ma mang năng lượng đen tối cũng có thể triển hiện một số “phép màu” nhất định. Tuy nhiên, vì bản tính của chúng là tà ác, chúng giúp đỡ con người là “tiền trao cháo múc”, hoặc muốn trao đổi lấy những tinh hoa trong thân thể con người. Một số người “cầu được ước thấy” thì cảm thấy rất tốt, cho rằng dù tôi đang cầu yêu quái cũng chẳng sao, hiện tại sung sướng, nổi danh phát tài là được rồi. Nhưng họ đâu biết, chính mình đang tiêu hao phúc đức của bản thân, tội nghiệp càng ngày càng nhiều, tương lai đến lúc tội nghiệp quá sâu dày thì sẽ đi đến huỷ diệt.

Thật vậy, quốc vương nước Xa Trì cầu được ba “đạo sĩ” biết hoán vũ hô phong thì vui vẻ vô cùng, tới lúc chúng bị Tôn Ngộ Không vạch trần chân tướng thì mới đau lòng tỉnh ngộ. Tôn Hành Giả nói: “Vì khí số của bệ hạ còn vượng, nên chúng chưa dám ra tay đấy thôi. Nếu quá hai năm nữa, khí số bệ hạ suy bại, chúng hãm hại tính mạng bệ hạ ngay, lúc ấy một dải giang san của bệ hạ sẽ lọt vào tay chúng”.

Ba “đạo sĩ” biết hoán vũ hô phong thì ra là ba con yêu quái.

Một số người có thể thắc mắc, Thần Phật từ bi tại sao không trực tiếp giúp đỡ con người, tiêu tai giải nạn, chữa lành bệnh tật, thế thì chẳng phải sẽ không còn cơ hội cho lũ yêu tinh lừa gạt nhân loại hay sao? Thực ra, Thần Phật hoàn toàn có thể làm được điều đó, chỉ cần con người có một tấm lòng thành sám hối, hồi tâm hướng thiện mà thôi. Bởi vì Thiện lương chính là bản nguyên của sinh mệnh, cũng là sự bảo hộ an toàn nhất cho mỗi người. Kinh điển Đạo gia “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” có viết:

“Người thiện lương thì ai ai cũng kính trọng. Trời giúp đỡ họ. Phúc lộc đi theo bên họ. Mọi tà quái tránh xa họ, Thần linh hộ vệ. Mọi việc họ làm đều thành công. Họ có thể hy vọng trở thành Thần Tiên…”

Giới tu luyện xưa nay đều nói thế gian con người là biển khổ, con người bị dục vọng chi phối, trong mê mờ mà làm nhiều việc ác, nên mới phải chịu khổ chịu nạn để hoàn trả tội nghiệp này. Thoải mái hành ác, rồi lại không phải chịu bất kỳ báo ứng nào, ấy là đi ngược lại với Pháp lý vũ trụ. Muốn khỏi bệnh, hết nạn, thì chỉ có thành kính hướng về Thần Phật, sám hối tất cả lỗi lầm đã gây ra, nguyện tu sửa bản thân hồi tâm hướng thiện. Tấm lòng thành này như vàng kim loé sáng, Thần Phật mười phương đều nhìn thấy, nên có thể giúp đỡ con người vô điều kiện.

Ở hồi 85: “Hành Giả đố kỵ lừa Bát Giới, Ma vương bày mẹo bắt Đường Tăng” cũng đoạn nhắc đến “tấm lòng thành” này như sau:

“Tam Tạng nói:

Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu,
Linh Sơn tại tâm có xa nào.
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp.
Chân tháp tu hành tốt biết bao!

– Đồ đệ ơi, ta há không biết? Nếu cứ y theo bốn câu thơ ấy thì muôn kinh nghìn điển cũng chẳng bằng tu tâm à?

Hành Giả nói:

– Đúng rồi. Tâm lắng có mình riêng chiếu, tâm còn vạn cảnh đều trong, sơ suất lỡ lầm thành biếng nhác, nghìn đời muôn kiếp chẳng thành công, chỉ cần một tấm lòng thành, Lôi Âm ở ngay trước mặt…”.

“Chỉ cần một tấm lòng thành, Lôi Âm ở ngay trước mặt…”

Thần Phật độ nhân không nói điều kiện và giá cả, chỉ duy nhất cần một tấm lòng thành  đó thôi. Người xưa nói: “Trên đầu ba thước có Thần linh”, dù đôi mắt thịt của người thường không nhìn thấy, nhưng Thần Phật thực sự có rất nhiều, ở khắp xung quanh ta. Không cần bạn phải đi khắp đình chùa miếu mạo, trời nam đất bắc, sắm hậu lễ, cầu danh sư; chỉ cần bạn thực sự có lòng thành sám hối, hướng thiện tu tâm, thì Thần Phật có thể giúp bạn vượt qua kiếp nạn.

Quả vậy, Tây du ký có thơ rằng:

“Ngày tháng trăm năm tựa bóng câu
Đời người, bọt nước khác gì đâu.
Sớm còn thắm đỏ đôi gò má
Chiều đã bạc phơ nửa mái đầu.
Giấc điệp tàn rồi, đời ảo cả
Cuốc kêu da diết hãy quay đầu.
Xưa nay làm phúc đều tăng thọ
Ở thiện trời thương, 
lọ phải cầu”.

Thanh Ngọc
Ảnh minh họa: Phim Tây Du Ký 1986

*Bài viết có tham khảo bản dịch Tây Du Ký của Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh, Nhà xuất bản Văn học.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4973/feed 0
Đạo Phật Và Khoa Học https://thuonghylenien.org/luu-tru/4953 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4953#respond Sat, 09 Dec 2023 08:18:47 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4953  

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC
Thích Thông Huệ

 

happy-vesak_140Thời đại của chúng ta là thời đại khoa học, văn minh của nhân loại đã tiến bộ vượt bậc. Nền khoa học tiên tiến phát triển với tốc độ vũ bão tại các nước văn minh. Khoa học phát triển đã chứng minh được những điều Phật dạy. Nếu chúng ta đến với đạo Phật thuần túy bằng đức tin thì chỉ là bước đầu, bởi vì bản chất của đạo Phật là giác ngộGiác ngộ của đức Phật dưới cội bồ đề đã khai sinh ra Đạo giác ngộ, nên Phật tử càng không phải là người mê tối. Sau 49 ngày thiền định, Ngài hoát nhiên đại ngộ và tuyên bố: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong”. Ngài đã giác ngộ, sống tự tại và vô nhiễm giữa cuộc đời. Ngài đã đem ánh sáng giác ngộ đến với muôn loài. Ánh sáng giác ngộ của đức Phật đã soi rọi nhân thế và chỉ đường cho chúng sanh đi. Chưa bao giờ đạo Phật dùng giáo quyền để bắt buộc tín đồ theo tôn giáo mình. Đạo Phật không phải là tôn giáo thần quyềnĐạo Phật nghiễm nhiên tồn tại không phải xây dựng từ đức tin thuần túy mà bằng trí tuệ, bằng sự giác ngộGiáo lý nhà Phật có công năng tháo gỡ tất cả mọi vướng mắc, vướng nhiễm của chúng ta trong cuộc đời. Nền khoa học tiên tiến của thế giới hiện đại đã soi rọi vào lẽ thật của các pháp. Nếu đem ánh sáng khoa học soi rọi thì dễ dàng nhận biết tính minh triết của đạo Phật. Khi nghe và hiểu đạo lý vô thườngduyên sinhvô ngãnhư huyễn, như mộng thì mới thấy rằng thế giới này là thế giới ảo và đời như một giấc chiêm bao.

Mỗi người sinh ra trong cuộc đời này đều mong muốn bản thân mình được hạnh phúc. Mỗi người đều cần hạnh phúc, có người mưu cầu danh lợi, muốn mình có được địa vị trong xã hội, trong khi người khác chỉ ước muốn giản đơn là có cơm ăn áo mặc, đời sống lành mạnhtự do. Có người cho rằng chỉ cần có đạo đức, hiểu được lẽ thật của nhân sinh vũ trụbước ra khỏi nhiễm nhơ của trần thế, sống xuất thế gian thì đó mới là hạnh phúc của đời họ. Như vậy phải chăng nhân loại đang cố công đi tìm hạnh phúcCho đến các nhà tư tưởngtriết học, khoa học cũng có lý tưởng hạnh phúc của riêng họ. Có người chỉ muốn theo đuổi tri thức để nghiên cứu và khám phá một trong các ngành như: Toán học, khoa học máy tính, vật lý, hóa học, thiên văn học, công nghệ sinh học, y dược học… Trong khi người khác chỉ ham muốn theo đuổi mục đích làm nghệ thuật như: họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, ca sĩdiễn viên… Rõ ràng ai ai cũng muốn có hạnh phúc để được một đời sống trong lặng, bình anlành mạnhtự do nhưng mấy ai tìm được hạnh phúc chân thật vững bền. Cho nên người Phật tử đến chùa tu tập cần được giác ngộ giải thoát, đó mới chính là hạnh phúc cứu cánh, vì có tu tập mới thấy được đạo lý, rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên sẽ không còn mê lầm và ngu tối, thoát khỏi ràng buộc thế gian, từ đó sống cuộc đời thong dong và tự tại trong thế giới siêu nhiên.

 Phân tích mọi khía cạnh giữa đạo Phật và khoa học, có thể nói: Khoa học ngày nay đã đi sâu vào nghiên cứu thực nghiệm, ưu điểm của khoa học là khám phá ra thế giới tự nhiên rồi chế tạo ra các ngành công kĩ nghệ, sản xuất mọi tiện nghi cung ứng cho đời sống con người bằng cách chế tạo máy móc hoặc dụng cụ tối tân giúp con người đỡ mệt nhọc trong lao động, rút ngắn được thời gian làm việc, đi lại dễ dàng và nhanh chóng hơn bằng những phương tiện giao thông hiện đạiCon người dù ở cách xa nhau hàng ngàn, hàng vạn cây số vẫn có thể liên lạc được với nhau bằng các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng mặt trái của khoa học đã đem đến cho con người những căng thẳng lo âu hoặc khủng hoảng tinh thần. Chiến tranh hạt nhân đã tố cáo nền khoa học tiên tiến nước Mỹ gây ra thảm họa khủng khiếp về việc ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki làm cướp đi mạng sống của gần nửa triệu người dân Nhật Bản, thêm gần 100.000 người bị chết do nhiễm phóng xạ nguyên tử.

Nhiều người bị stress, căng thẳng thần kinhtâm lý trầm cảm trong khi cuộc sống của họ kếch sù về tài chánh. Nền văn minh nhân loại đang trên đà phát triển rực rỡ khi khoa học phục vụ đầy đủ mọi tiện nghi cuộc sống và đưa con người đến đỉnh điểm ngút cao của sự hưởng thụ, nhưng liệu có còn nuôi dưỡng phiền não hoặc đã buông hết nghiệp chướng chưa? Hiện tượng tan băng Bắc Cực cũng là hậu quả của nền khoa học tiên tiến, các ngành công nghiệp nhả khói, xả khí thải ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Hiện nay bầu không khí không còn trong lành như trước đây nữa, nguồn nước và mặt đất cũng không còn trong sạch, rau quả bị xịt thuốc trừ sâu, bón phân hóa học. Khoa học đã xây dựng những nhà máy vĩ đại thải khói bụi và chất ô nhiễm vào không khí làm ô nhiễm bầu trời, nguồn nước, mặt đất và phá hoại môi sinh. Khoa học không ngăn chặn được tham-sân-si, phiền nãovô minh mà chỉ nuôi dưỡng tấm thân tạm bợ mong manh vô thường nay còn mai mất, đủ duyên thì có mặt và hết duyên thì tan biến.

Điểm sáng của đạo Phật là xoa dịu nỗi đau nơi con người, giữa cá nhân với tập thể, giữa đoàn thể với đoàn thể , giữa xã hội với xã hội, giữa sắc tộc với quốc gia để tất cả cùng tìm thấy hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Tiếng nói của đạo Phật đã trở thành tiếng nói của thế giới nên đạo Phật là tôn giáo văn hóa của thế giới. Các khoa học gia và nhà nghiên cứu đã nhìn thấy được tính minh triết của đạo Phật. Còn chúng ta có phước được làm đệ tử Phật, có duyên được gặp Phật. Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề rồi tuyên bố Ngài thành Phật, dịch ra là giác ngộ chân lý nhân sinh vũ trụ. Đấng giáo chủ của chúng ta là một bậc Giác ngộ chứ không phải là đấng thần linh. Ngài đi tìm đạo, sau đó tu tập thiền định 49 ngày đêm rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên, bước ra khỏi đoạn trường vô minh tăm tối, giải thoát khỏi mọi tập khí phiền não. Ngài là Đấng Giác ngộgiải thoát, là bậc Thầy dẫn đường, bậc Vô thượng Y vương điều trị bệnh phiền não, tham-sân-si cho chúng sanh, nên suốt cuộc đời của đức Phật chỉ nói đến khổ và phương pháp diệt khổ. Ngài đi du hóa suốt 49 năm, truyền thông điệp của đạo giác ngộ và khai sinh ra đạo Phật nên đạo Phật là đạo giác ngộChúng ta quy y Phật là trở về với sự giác ngộquy y Pháp là ngọn đuốc soi đường, quy y Tăng là trở về với bổn tâm thanh tịnh và cuộc sống hòa hợp. Đó gọi là quy y Tam bảo, là trở về với ba ngôi báu mà ba ngôi báu này quý hơn tiền bạc, của cảitài sản trên thế gianGiáo pháp của Đức Phật đã nuôi dưỡng thân huệ mạng của chúng ta, làm cho chân trí nảy nở và càng lúc càng tỏ rạng. Nhờ đó chúng ta càng thấm dần đạo lý từ bi cứu khổvô ngã vị tha và tìm đến ánh sáng giác ngộĐạo Phật khuyên con người sống từ bi bác ái, khuyến khích con người tu thập thiện, thọ bát quan traigiữ giớithiền định, đem lại nhiều lợi ích cho cuộc đời. Các thiện hữu tri thức hoặc vị minh sư tu đúng đường, đúng hướng, gặp được chánh pháp nên không bao giờ có hệ lụy; còn nếu gặp tà sư hoặc vướng vào ngoại đạo tà giáo thì sẽ sai lầm. Riêng người phật tử cần giữ năm giới cấm, không nói không làm những việc không tốt cho bản thân và xã hội thì mới tránh được quả xấu về sau.

“Ai ơi! hãy ở cho lành

Kiếp này chẳng hưởng để dành kiếp sau.”

Đây là lời nhắc nhở tràn trề đạo lý của tổ tiên ngàn xưa, khuyên chúng ta hãy ăn ở nhân hậu. Ông bà, cha mẹ sống đạo đức gương mẫu, nhân cách hiền lương phúc hậu cho dù hiện đời chưa được hưởng thì cũng tích lũy được công đức lành để đời về sau sẽ được nhận hoặc truyền lại cho con cháu chứ không bao giờ mất. Chúng ta biết cách tu thì hướng về đạo lý giác ngộ giải thoát, thấy được chân lý của vũ trụ nhân sinh không còn mờ tối si mê, không nhiễm ngũ dục lục trần và sống cuộc đời tự tạian nhiên.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh.” Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mà Phật tánh là mầm mống giác ngộ nhưng do si mê mà quên mất, nếu có giác ngộ thì mới dứt bỏ khổ đau cuộc đờiĐạo Phật dạy cho chúng ta biết cách tiêu trừ tham sân si phiền nãovĩnh viễn ra khỏi biển khổ trầm luân sinh tử để được an vui giải thoát mãi mãiĐạo Phật hướng dẫn những phương pháp tu tập như: niệm Phậttheo dõi hơi thởtu tập theo lộ trình giới định tuệ. Tính minh triết của đạo Phật chinh phục thế giới, đó là đạo lý nhân quảnghiệp báo luân hồivô thườngduyên sinhvô ngãtánh khôngbất nhịnhư huyễn, như mộng. Đạo Phật là khoa học tâm linh với những pháp Phật nhiệm mầu, diệt tận gốc khổ đau cho chúng sanh, hướng về con người chân thật bất sanh bất diệt, đó là Phật tánhchơn tâmbản lai diện mụcKinh điển giáo lý nhà Phật nuôi dưỡng thân huệ mạng chúng tanuôi dưỡng trí tuệ ngày càng nảy nở thì con người càng bớt khổ, bớt mê lầm trở về với con người chân thật chưa từng sanh diệt. Đó là Phật tánh sẵn có nơi mỗi chúng sanh.

Nhà Thiền chủ trương: “ Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” chính là để soi sáng hay xem xét lại chính mình. Người tu Phật muốn đi tới chỗ an địnhtrí huệ sáng suốt thì phải quán chiếu nơi chính mình. Có trí tuệ mới giải thoát được khổ đau, thấy được chân lý rồi mới dừng bước phiêu lưu.

Lục Tổ Huệ Năng nói:

 “Bản lai vô nhứt vật,

 Hà xứ nhạ trần ai.”

 Xưa nay không một vật,

 Chỗ nào dính bụi nhơ.

Nếu tâm là vật có hình có tướng thì mới dính bụi và bị mờ tối, nhưng tâm chân thật thì không có hình tướng nên không hề bị nhơ nhiễm. Giống như hư không vô tướng nên rất tự tạiChơn tâm Phật tánh nơi mỗi con người chúng ta cũng giống như hư khôngTrở về với con người chân thật, không đi cũng không đến, không tới cũng không lui vì bản tâm bản tánh của chúng ta cũng tự tại như hư không. Nếu chúng ta tu theo đạo Phật là chúng ta tìm đến vĩnh cửu. Vì thế, con người cần giữ giới thì mới đạt được thiền định, khi nội tâm thiền định thì dễ thấy được đạo lý, dễ khám phá ra chân lýchấm dứt được mầm mống khổ đau. Chúng ta đem lời Phật dạy áp dụng vào bản thân thì mới hết khổ và mới thấy được giá trị thực tiễn của Đạo Phật đối với chúnh sanh vạn loại.

Nhân mùa khánh đản năm nay, nêu ra vài điểm sáng nơi Đức Phật và giáo pháp của Ngài để người phật tử chúng ta thêm niềm kính tín ngôi Tam Bảo, làm hành trang tiến tu cho đến ngày viên mãn đạo quả Bồ đề.

Thiền Tự Trúc Lâm Viên Giác

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4953/feed 0
Những thanh kiếm kì bí nhất lịch sử nhân loại https://thuonghylenien.org/luu-tru/4926 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4926#respond Fri, 08 Dec 2023 08:31:47 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4926 Những thanh kiếm kì bí nhất lịch sử nhân loại

Theo truyền thuyết và lịch sử để lại có những thanh kiếm nhuốm màu sắc kỳ bí, rùng rợn. Có lúc là biểu tượng quyền lực trong nhiều thế kỷ, là bảo vật quốc gia nhưng đôi khi lại là vũ khí nguyền rủa, chết chóc.

1. Thanh gươm trong đá

Thanh gươm trong đá

Trong khi truyền thuyết Arthur được cho là một sản phẩm của văn hóa dân gian và huyền thoại thì xuất hiện một số câu chuyện cho rằng, thanh gươm trong đá là có thật. Theo đó, người ta nhận định nó là thanh kiếm của hiệp sĩ Tuscan có tên Saint Galgano. Galgano sống ở thế kỷ XII. Hiệp sĩ này tin rằng có thể chặt tảng đá bằng thanh gươm sắc bén của mình một cách dễ dàng tựa như cắt bơ nên đã làm điều kỳ lạ ấy. Tuy nhiên, ông đã không thể rút thanh kiếm ra khỏi tảng đá.

Truyền thuyết về Arthur và Thanh gươm trong đá cũng đã được chuyển thể thành phim.

2. Thanh kiếm Kusanagi

Thanh kiếm Kusanagi

Theo thần thoại Nhật Bản, cách đây từ rất lâu, có một con rắn tám đầu luôn tìm cách quấy nhiễu nhân gian. Thấy chuyện bất bình, vị thần Susanoo-no-Mikoto đã quyết tiêu diệt con mãng xà này. Vị thần dùng ba thùng rượu để dụ dỗ ác xà, nhân lúc nó say rồi lấy mạng nó bằng cách cắt đuôi.

Tuy nhiên trong đó có một cái đuôi không thể nào cắt được, thần bèn dùng kiếm khoét một lỗ hổng nhỏ thì mới phát hiện thấy bên trong cái đuôi này có một thanh bảo kiếm. Thần Susanoo đã đặt tên cho thanh bảo kiếm ấy là Kusanagi.

Kusanagi được coi là biểu trưng của hoàng gia (Imperial Regalia) Nhật Bản và là một trong những biểu tượng nữ thần mặt trời. Hoàng gia Nhật Bản sử dụng nó làm biểu tượng của quyền lực thiêng liêng và dùng để cai trị thần dân. Thanh kiếm này được cho là đang “ngự” trong ngôi đền Atsuta thuộc tỉnh Nagano, nhưng sự hiện hữu của nó không được công bố với công chúng trong suốt nhiều thế kỷ qua.

3. Thanh kiếm huyền bí Durandal

Thanh kiếm huyền bí Durandal

Trong hàng trăm năm, thanh kiếm huyền bí Durandal bị gắn vào trong các vách đá phía trên nhà thờ nhỏ Notre Dame ở Rocamadour, Pháp. Các tu sĩ cho hay nó là bảo kiếm của hiệp sĩ Roland. Roland được cho là cháu trai của Hoàng đế La Mã nổi tiếng Charlemagne. Roland cũng là người vĩ đại nhất trong số 12 bá tước, và là chiến binh giỏi nhất trong triều đình.

Theo truyền thuyết, Roland đã ném thanh kiếm của mình vào vách đá để nó không rơi vào tay kẻ thù. Nỗ lực phá hủy kiếm Durandal của Roland đã tạo nên một khe hở (La Breche de Roland) rộng 40m và cao 100m ở Pyrenees. Kể từ thế kỷ XII, nhà thờ nhỏ Notre Dame đã trở thành một điểm trong cuộc hành hương thiêng liêng của các tín đồ. Năm 2011, giới chức trách đã di chuyển thanh kiếm khỏi vách đá và bảo quản, trưng bày nó ở Bảo tàng Cluny, Paris.

4. Thanh kiếm bị nguyền rủa Muramasas

Thanh kiếm bị nguyền rủa Muramasas

Theo truyền thuyết, đây là một thanh kiếm cổ của người Nhật Bản và có sức hủy diệt ghê gớm. Do đó, các vị thần đã đưa ra yêu cầu, rằng, người nào sử dụng thanh kiếm buộc phải để nó thấm máu người. Nếu thanh kiếm Muramasas không được thỏa mãn “cơn khát máu” thì người đó sẽ bị giết hoặc phải tự tử. Có rất nhiều câu chuyện về những người sử dụng thanh kiếm Muramasas trở nên điên dại hay bị giết chết. Do đó, người ta cho rằng nó là vũ khí bị nguyền rủa.

Kể từ đầu thế kỷ 16, Muramasa lưu lạc khắp nơi và trải qua nhiều đời chủ nhân, từng là bảo vật dưới triều Mạc phủ Tokugawa. Tuy nhiên, suốt nhiều năm sau đó, Muramasa khiến người ta sợ hãi bởi những chủ nhân của nó thường chịu chung số phận rất đoản mệnh.

Ở thế kỷ 16 và 17, triều đại phong kiến còn cấm các Samurai được sử dụng Muramasa. Dù vậy, sức hút của nó vẫn rất mạnh mẽ, đến nỗi danh tướng nổi tiếng Tokugawa còn dùng một thanh kiếm giả và lấy tên là Muramasa.

5. Thanh kiếm Honjo Masamune

Thanh kiếm Honjo Masamune

Thanh kiếm Masamune được đặt tên theo người đã chế tác ra nó – Goro Nyudo Masamune – thợ rèn kiếm lừng danh nhất Nhật Bản, sống vào cuối thế kỉ 13 đầu thế kỉ 14, được mệnh danh là một “thiên tài”.

Theo truyền thuyết Nhật Bản, hai thanh kiếm Masamune và Muramasa đã có một so tài với nhau. Trong khi Muramasa có thể chặt đứt tất cả mọi thứ mà nó chạm vào và được xem là biểu tượng của tà ác thì thanh kiếm Masamune lại từ chối “xử lý” bất cứ thứ gì không xứng đáng, thậm chí là cả không khí. Masamune được coi là thanh kiếm quý có giá trị như bảo vật quốc gia, là biểu tượng của lòng vị tha nhưng người ta chưa bao giờ tìm thấy hay nhìn thấy nó “bằng xương bằng thịt”.

6. Thanh kiếm Joyeuse

Khám phá những thanh kiếm kỳ bí bậc nhất thế giới

Joyeuse là một trong những thanh kiếm huyền thoại, nổi tiếng trong lịch sử. Đây là thanh kiếm huyền thoại của vua Charlemagne. Nó được cho là có khả năng thay đổi màu sắc 30 lần/ngày và sáng như ánh mặt trời. Hoàng đế Charlemagne đã sử dụng thanh kiếm Joyeuse để chặt đầu chỉ huy của người Saracen là Corsuble. Người ta còn sử dụng tên của thanh kiếm này để đặt cho một thị trấn. Sau khi hoàng đế Charlemagne qua đời, thanh kiếm Joyeuse huyền thoại thường được sử dụng trong lễ đăng quang của các vị vua Pháp.

Vào đầu năm 1271, hai thanh kiếm có tên gọi Joyeuse đã xuất hiện trong nghi lễ đăng quang của các vị vua Pháp. Một trong hai thanh kiếm được cho là thuộc sở hữu của Tòa Thánh La Mã trong nhiều thế kỷ.

7. Thanh kiếm của Thánh Peter

TThanh kiếm của Thánh Peter

Đã có nhiều truyền thuyết về thanh kiếm của Thánh Peter sử dụng để cắt tai của người hầu trong khu vườn Gethsemane. Joseph xứ Arimathea đã mang thanh kiếm đó cùng Chén Thánh đến Anh. Tuy nhiên, đến năm 968, Đức Giám Mục Jordan đã mang thanh kiếm này đến Ba Lan. Kể từ đó, nó ở lại Ba Lan và được chuyển đến Bảo tàng Archdiocese ở Poznan.

8. Thanh kiếm Wallace

Khám phá những thanh kiếm kỳ bí bậc nhất thế giới

Thanh kiếm của Wallace dài 1,68m, rộng 5,7cm (gần chuôi kiếm), nặng 2,7kg, trong đó lưỡi dao dài tới 1,32m. Truyền thuyết kể rằng hiệp sĩ William Wallace đã sử dụng da người làm vỏ kiếm, chuôi kiếm và dây đai dùng để đeo gươm. Wallace đã sử dụng da khô của chỉ huy Scotland phụ trách ngân khố Hugh de Cressingham sau khi đánh bại người này trong trận chiến cầu Stirling. Hiện thanh kiếm này được trưng bày tại Đài tưởng niệm quốc gia Wallace. Nó đã được sửa chữa nhiều lần, không còn nguyên vẹn như ban đầu.

9. Thanh kiếm Zulfiqar

Thanh kiếm Zulfiqar

Zulfiqar là một trong những thanh kiếm nổi tiếng nhất trong thế giới Hồi giáo. Nó thuộc sở hữu lãnh tụ Hồi giáo Hazrat Ali – em họ và con rể của nhà tiên tri Muhammad. Một số tài liệu cổ miêu tả nhà tiên tri Muhammad đã trao kiếm Zulfiqar cho Ali trong trận đánh Uhud vì ngưỡng mộ quyền lực và sức mạnh của Ali trên chiến trường. Thanh kiếm này trở thành một biểu tượng trong văn hóa Hồi giáo và được mọi người tôn kính, ngưỡng mộ.

Tổng hợp

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4926/feed 0