
Đối với đa số chúng ta, ngủ là thời điểm để nghỉ ngơi, và hoạt động mọi người thường làm nhất trong lúc này là quay ngang quay ngửa. Nhưng đối với một số khác, giấc ngủ có thể là thời điểm mà họ đi lòng vòng quanh nhà, lái xe hoặc nấu ăn trong trạng thái vô thức. Đây chính là “mộng du”.
Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm ra nguyên nhân đích thực của chứng mộng du.
Viện Y học Giấc ngủ Mỹ (AASM) chia giấc ngủ của chúng ta thành hai giai loại – giấc ngủ REM và giấc ngủ non-REM (NREM), dựa vào việc sự chuyển động mắt nhanh (REM) có xảy ra bên dưới mí mắt hay không. Trong giấc ngủ REM, bộ não của bạn hoạt động tích cực giống như khi tỉnh táo, và đây là giai đoạn mà các giấc mơ sinh động nhất của chúng ta thường xảy ra. Còn giấc ngủ NREM thì có thể được chia thành 4 giai đoạn như sau:
Các giai đoạn của giấc ngủ. (Ảnh màn hình: ngungthokhingu.com)Nguyên nhân của mộng du
Có một giả thuyết rằng người ta sẽ bật dậy khỏi giường khi não họ cố gắng đi thẳng từ giấc ngủ NREM sang trạng thái thức, thay vì trải qua tuần tự các giai đoạn của một chu trình ngủ. Người ta tin rằng một tác nhân nào đó đã kích phát quá trình chuyển tiếp này. Đây là phần mà các nhà khoa học vẫn chưa rõ, nhưng họ có một vài ý tưởng.
Như đã nói từ trước, mộng du hầu hết xảy ra ở trẻ nhỏ. Một số nhà khoa học nghĩ rằng trẻ em thường mộng du bởi vì bộ não của trẻ vẫn chưa hoàn toàn phát triển. Có thể là những hormon tăng trưởng đã khiến lũ trẻ bật dậy. Nhưng có lẽ nó cũng liên quan tới chất dẫn truyền thần kinh ức chế. Có một chất dẫn truyền thần kinh gọi là GABA có tác dụng ức chế hệ thống dây thần kinh vận động của bộ não.

Mộng du hầu hết xảy ra ở trẻ nhỏ. Một số nhà khoa học nghĩ rằng trẻ em thường mộng du bởi vì bộ não của trẻ vẫn chưa hoàn toàn phát triển. (Ảnh màn hình: How You Sleep)
Đối với người lớn, chất dẫn truyền thần kinh này thường giúp hạn chế các chuyển động của cơ thể. Nhưng ở trẻ em, các nơ-ron mà giải phóng chất dẫn truyền thần kinh này vẫn chưa hoàn toàn phát triển, nên hệ thống dây thần kinh vận động của chúng có thể vẫn hoạt động. Điều này có thể dẫn tới việc lũ trẻ đi đi lại lại trong nhà khi chúng đang ngủ. Nhưng đừng lo, trẻ em thường không còn mộng du nữa khi chúng lớn lên, khi mà não bộ của chúng đã phát triển hoàn thiện.
Tuy nhiên nếu mộng du vẫn tiếp diễn đến tuổi trưởng thành thì hẳn là nó liên quan tới chứng rối loạn thần kinh, ví như ở những người nghiện rượu hoặc trầm cảm. Trong hầu hết trường hợp thì mộng du không nguy hiểm, nhưng nếu như mắc phải chứng này thì bạn vẫn nên tới gặp bác sĩ.
]]>
Cho tới tận bây giờ, nhiều người vẫn cho rằng đồng tính luyến ái là do gene quyết định và họ sinh ra đã như thế, không thể thay đổi. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã đưa ra những bằng chứng cho thấy nhận định này không chính xác.
Ý tưởng về gene quyết định xu hướng đồng tính xuất phát từ sự hiểu nhầm về một bài báo cáo khoa học vào năm 1993 trên tạp chí Science. Trong bản báo cáo, có một vài người đàn ông đồng tính là người trong cùng một dòng họ thuộc phía bên mẹ (họ ngoại), tức con trai bị đồng tính và có chú cũng bị đồng tính thuộc gia đình phía mẹ sẽ có một lượng lớn gene giống nhau ở nhiễm sắc thể X.
Đã có một vài nhà khoa học cố gắng kiểm chứng giả thiết này vào năm 2014. Họ đã tìm thấy mối liên kết tương tự ở một nhóm người lớn hơn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không tìm ra một gene nào, hay bất cứ mối liên quan nào của gene tới xu hướng tình dục. Nếu gene quy định xu hướng này, vậy tại sao gene của người đồng tính lại không khác gì gene của người bình thường. Thêm vào đó, không có bất cứ sự kết nối nào giữa gene của người nữ đồng tính và gene của người nữ bình thường. Theo kết quả này, gene không có bất cứ liên quan nào tới đồng tính luyến ái. Nhìn chung, các nghiên cứu về gene đều chỉ ra rằng các hành vi của con người quá phức tạp để chỉ một gen hoặc nhiễm sắc thể có thể giải thích được.
Một ví dụ điển hình, có những người mang một số đột biến của gene MAO-A, khi kết hợp với một gia đình tan vỡ, sẽ có xu hướng bạo lực. Tuy nhiên, rất nhiều người cũng có cùng đột biến tại gene này và cũng có gia đình tan vỡ nhưng lại không hành xử như vậy. Điều này cho thấy gene và hoàn cảnh chỉ có thể tác động một phần, phần còn lại là do bản thân mỗi người. Chưa có ai tìm ra bằng chứng về việc gene quy định bạo lực cũng như đồng tính luyến ái.
Đã có một vài báo cáo cho rằng đồng tính luyến ái, giống như tất cả các hành vi bình thường của con người, đều là một tổ hợp giữa nhiều yếu tố mà gene có thể là một phần. Ví dụ, Michael Bailey, tác giả của bài báo cáo khoa học năm 2014 đã đề cập ở trên đã nói với tờ International Business Times rằng:” Điều này(gene) không hoàn toàn quyết định(đồng tính luyến ái), có nhiều yếu tố khác nữa đan xen vào”.
Theo icr
]]>
Nói đến văn hóa Thần truyền của Trung Quốc, mọi người luôn nghĩ đến các truyền thuyết thần thoại thượng cổ như Nữ Oa vá trời, Phục Hy diễn Bát quái, Thương Hiệt tạo chữ, Hoàng Đế làm nhạc. Thực ra, trong suốt năm ngàn năm qua, Thiên thượng không ngừng tạo ra những khai thị cho cõi người, để lại di tích của Thần Phật trên mảnh đất Thần Châu. Trong đó, Hang Mạc Cao tại Đôn Hoàng được xây dựng từ thời Đông Tấn là một minh chứng chói lọi nhất.
Tên Hán Việt của Hang Mạc Cao là Mạc Cao Quật, từ “Mạc Cao” có nghĩa là nơi cao giữa sa mạc. “Quật” là nơi khổ tu của các tu sĩ sau khi cách ly đời sống thế tục. Sự hình thành của hang Mạc Cao bắt nguồn từ lòng thành khẩn tu hành của các đệ tử đức Phật và lòng tín ngưỡng của họ dành cho đức Phật. Theo như ghi chép thời nhà Đường, có một vị Sa môn tên là Lạc Tôn, quyết tâm đoạn lìa những tình cảm thế tục, một lòng hướng Phật, vân du khắp núi non hoang dã. Khi ông đi đến đoạn giữa núi Tam Nguy và núi Minh Sa, ngước mặt lên thì nhìn thấy ở phía đối diện có ánh sáng màu vàng kim xuất hiện, ở giữa có một ngàn vị Phật đứng trang nghiêm. Thế là ông ngộ ra nơi này chắc chắn là nơi thánh địa cho đệ tử Phật tu hành và lễ Phật, liền đào ở vách đá một cái hang đá đầu tiên trong lịch sử hang đá Đôn Hoàng. Năm đó là năm 366 Công Nguyên.
Năm 366 Công Nguyên đúng là thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc của Trung Quốc. Sau loạn Vĩnh Gia (Người Hồ lên thống trị chiếm giữ Lạc Dương, cuộc thảm sát diễn ra), chính quyền ở Trung Nguyên thay đổi liên tục, bá tánh ly tán mất hết nhà cửa, khắp nơi đều là cảnh tượng thảm khốc. Các đại gia tộc của nhà Tấn đều di cư xuống miền nam, còn vua và thần dân người Hồ thì đến miền Bắc sống, ra sức thúc đẩy tư tưởng Phật giáo. Các dịch giả Phật học đứng đầu là Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) đem nghĩa lý của Kinh Phật dịch ra Hán văn, lưu truyền rộng rãi. Dân tộc Hán với truyền thống kính thiên tín Thần, từ đó đã tìm được tịnh độ của tâm linh trong đời sống hiện thực đầy bi thương. Các quân vương và các tướng sĩ giết người vô số mong muốn tìm kiếm sự chuộc tội, cũng tìm thấy được một nơi an thân trong quan niệm Phật giáo. Từ đó Phật giáo ở Trung Quốc trở nên hưng thịnh, trở thành hệ thống tín ngưỡng quan trọng không thua kém Nho giáo và Đạo giáo.
Đôn Hoàng nằm ở cuối phía tây hành lang Hà Tây, là điểm xuất phát từ con đường tơ lụa đi sang Tây Vực (các quốc gia nằm ở phía tây Trung Quốc), vô số những người tín Phật, bao gồm những thương nhân đến từ Ấn Độ, Trung Á và những người Hán di cư khỏi trung nguyên để lánh nạn, đều đến đào thêm rất nhiều hang đá xung quanh hang đá mà tu sĩ Lạc Tôn đã đào, để chứng minh lòng thành tâm kính Phật của mình, và cảm tạ sự che chở của Phật. Càng ngày càng nhiều hang đá xuất hiện trên vách núi Minh Sa, công việc xây dựng đào hang trải qua các thời kỳ thập lục quốc, Bắc triều, nhà Tùy, nhà Đường, Ngũ Đại, Tây Hạ, nhà Nguyên, đến nay có tổng cộng 735 hang động, 45.000 mét vuông bích họa, có 2.415 pho tượng điêu khắc bằng đất sét màu, mới đây mọi người lại phát hiện thêm một tàng kinh động (hang động cất giấu Kinh sách), bên trong có hơn 50.000 văn vật cổ đại, trong đó bao gồm những cuốn Kinh và sách về Phật giáo và Đạo giáo. Hiện nay Đôn Hoàng đã trở thành Di sản văn hóa thế giới, và là kho báu nghệ thuật của văn hóa Phật giáo. Mọi người gọi Đôn Hoàng là hang động ngàn Phật, ứng với cảnh tượng mà tu sĩ Lạc Tôn đã nhìn thấy lúc mới bắt đầu đào hang.
Đi vào bên trong hang đá Đôn Hoàng, mọi người có thể nhìn thấy bức tường chính diện được đục thành bàn thờ Phật, những tượng Phật và Bồ Tát điêu khắc bằng đất sét màu rất nghiêm trang, tâm thái yên bình, tĩnh lặng, từ bi. Lúc đầu khi mới đục hang đá, ở hai bức tường bên cạnh có thiết kế các hỏm đá nhỏ, để các tu sĩ ngồi vào trong đó tu thiền, còn tượng Phật ở bức tường chính diện dùng để lễ bái, quán tưởng. Quán tưởng là một phương pháp tu luyện của Phật giáo, khi nội tâm đạt đến cảnh giới vô cùng trong sáng, tập trung và thành khẩn, tu sĩ có thể thông qua hình tướng Phật để nhìn thấy sự hiển hiện của Phật.

Tượng tu sĩ ngồi thiền trong hang 285 của Hang Mạc Cao
(Bên trong gian phòng chính của hang 285 của Hang Mạc Cao)
Từ những hình ảnh bích họa trong hang đá, mọi người có thể nhìn thấy nghĩa lý và các câu chuyện Phật giáo thông qua hình thức liên hoàn họa (kể chuyện bằng tranh ảnh) vô cùng dễ hiểu hiện ra ngay trước mặt, truyền đạt lại lời dạy của Phật với những người thế tục, cho dù là những chúng sinh không biết chữ cũng có thể tiếp nhận được giáo lý của Phật pháp. Những bích họa này bao gồm các câu chuyện tiền kiếp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, câu chuyện tu hành của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong kiếp thành Phật và vẽ những nội dung trong Kinh Phật (dựa theo hình ảnh được miêu tả trong Kinh). Trong đó có rất nhiều câu chuyện như: Hiến thân cho đàn hổ đói, cắt thịt nuôi chim ưng, cửu sắc lộc, năm trăm tên cướp thành Phật đều được lưu truyền rộng rãi.
Những câu chuyện này hàm chứa quan niệm từ bi với chúng sinh, bỏ ác theo thiện, xả thân vì người khác, cho dù là những người thế tục chưa từng quyết tâm tu hành cũng đồng tình với những đạo lý này, từ đó tăng trưởng tâm hướng thiện. Hình ảnh và nội dung của một số bích họa khác thì lại miêu tả vẻ đẹp của thế giới Cực Lạc, nơi đó có hồ nước bảy báu, cung điện trang nghiêm, cát vàng trải dưới mặt đất, cung điện lầu cát cao chót vót, ca múa rộn vang, hoa trời rải xung quanh. Các Phật tử nhìn thấy cảnh đẹp trong tranh là lại nhớ đến câu nói được ghi chép trong Kinh Phật: “Thế giới Cực Lạc, không có đao binh, không có nô tỳ, không có dối trá, không có đói khát”. Từ đó trong lòng họ khởi lên sự khao khát vô hạn, và càng thêm kiên định lòng quyết tâm khổ tu.
Từ những tượng đất sét màu và những bích họa trong hang đá, mọi người có thể nhìn ra được, mỗi một chi tiết nhỏ được chạm khắc và diễn tả bằng hình ảnh đều vô cùng tinh tế tuyệt diệu. Vậy có phải những tác phẩm nghệ thuật này đều được sáng tạo từ bàn tay của các nghệ nhân nổi tiếng của thời đó không? Thật ra những tác phẩm nghệ thuật này đều là do những người cúng dường thuộc mọi giai cấp xã hội bỏ tiền ra, thuê thợ điêu khắc về tạo thành. Sau nhà Đường, những người cúng dường cũng được vẽ ở vị trí nổi bật nhất trên các bức bích họa trong hang đá, kích cỡ lớn bằng người thật hoặc thậm chí còn lớn hơn người thật. Tuy nhiên vào thời kỳ Thập lục quốc, hình ảnh của người cúng dường được vẽ rất nhỏ, ngoài đề tên ra thì không có ghi chức danh, địa phương như là sau thời nhà Tùy và Đường, mà thông thường chỉ thêm vào bốn chữ “một lòng cúng dường”.
Theo quan niệm Phật giáo, thì việc cúng dường có ý nghĩa như sau: “Người thành tâm cúng dường Phật sẽ có được phước báo, nếu có thể cúng dường Phật mà không mong báo đáp thì có được công đức”. Phước báo chỉ là những điều tốt lành xảy ra trong cõi người ở kiếp hiện tại, còn công đức sẽ đi theo người tu hành mãi mãi. Từ đó chúng ta có thể suy đoán, trước thời nhà Tùy và Đường thì những người đào hang có niềm tin thành kính với Phật hơn, không mong báo đáp.

Bích họa thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) tức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhìn thấu sinh lão bệnh tử, từ bỏ ngai vàng và vợ con, nửa đêm cưỡi ngựa ra khỏi thành. Vì để tránh tiếng ngựa hý làm người dân tỉnh giấc, các vị Trời hiện ra nâng móng ngựa lên, thái tử Tất Đạt Đa bay lên giữa không trung.
So với người cúng dường, thì những người thợ chế tác tượng Phật, tên của họ đã bị chôn vùi theo dòng nước lũ của lịch sử, chỉ có vài cái hang đá còn sót lại những nét chữ mờ nhạt “ai đó kính tạo”. Họ có xuất thân ra sao? Họ đến từ đâu? Đến nay vẫn không ai biết, chúng ta chỉ có thể suy đoán rằng môi trường làm việc và điều kiện cuộc sống của họ vô cùng gian khổ, nhưng họ dùng bút và con dao trổ trong tay mình làm việc chăm chỉ để miêu tả những hình ảnh sống động và chân thực, một ngàn năm về sau vẫn còn được người được thờ cúng chiêm bái. Người lễ bái nhìn khóe miệng mỉm cười và đôi mắt mở he hé, cơ bắp săn chắc, các đường gân mạnh mẽ của Bồ Tát, bàng hoàng nghĩ rằng giây phút tiếp theo là có thể nghe thấy được lời chỉ dạy từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, nhìn thấy ma quỷ loạn pháp biến mất dưới những pháp khí hàng ma. Những pho tượng sống động như thật này khiến mọi người tin rằng những người thợ vẽ và thợ điêu khắc vượt qua mọi gian khó chỉ một lòng sáng tác, không cầu mong lưu lại tên tuổi này thực sự là con của Phật, họ đã tận mắt nhìn thấy hiện thân của Phật.
Hang đá Đôn Hoàng là kho báu nghệ thuật văn hóa Trung Quốc nổi tiếng thế giới. Ngày nay khi niềm tin tín ngưỡng dần bị phai nhạt đi, con người vẫn luôn khen ngợi thành tựu nghệ thuật này. Từ phong cách đơn giản sang trọng trong thời kỳ Thập lục quốc đến dung mạo thanh tao của thời kỳ Bắc triều, rồi đến phong cách tròn trịa đầy đặn của nhà Tùy và Đường, những tác phẩm nghệ thuật này ghi lại phương pháp nghệ thuật và thẩm mỹ của mỗi triều đại. Đối với việc nghiên cứu các phương diện văn hóa của nhiều triều đại như kiến trúc, thời trang, dân tộc v..v… những tác phẩm nghệ thuật này đều có những giá trị đáng quý. Tuy nhiên, giá trị đáng quý nhất của Hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng nằm ở chỗ nó bảo tồn được giá trị tinh thần của Phật Pháp và minh chứng rằng Thần Phật thực sự có tồn tại.
Hang đá Đôn Hoàng nằm ở rìa hoang mạc, nơi có rất ít người lui tới, vì vậy mà tránh được chiến tranh của sự thay đổi triều đại, ngày nay trở thành chùa hang đá được bảo tốt nguyên vẹn nhất thế giới. Từ “Đôn Hoàng” được giải thích theo sử sách: “Đôn là mặt đất, Hoàng là thịnh vượng. Do mở rộng ra Tây Vực, nên mới nổi tiếng”. Có lẽ, từ ngày xưa khi Trương Khiên mở ra con đường tơ lụa, liên thông Tây Vực, chính là làm theo kịch bản mà ông trời sắp đặt để mở ra vị trí của hang Mạc Cao trong lịch sử.
Mấy ngàn năm sau, hang đá Đôn Hoàng trên sân khấu của Đoàn nghệ thuật Thần Vận, vẫn đóng vai diễn quan trọng trong việc trao đổi văn hóa Đông – Tây. Tất cả đều là vì nó diễn tả được một đạo lý ngàn năm bất biến: nghệ thuật thực sự của con người được sáng tạo ra để tôn kính thần thánh và nhờ có được sự khai thị và bảo hộ của Thần mà càng trở nên đẹp đẽ.
Theo Epochtimes
Châu Yến biên dịch
]]>

Trên thế gian này, chưa từng có loài hoa nào mãi mãi không tàn, cũng không có chiếc lá nào mãi mãi không rụng xuống. Con người cũng như vậy, từ xưa đến nay con người đều biết rằng trăm năm sau bất cứ ai cũng không thể thoát khỏi cái chết.
Nhưng mọi thứ sau khi chết sẽ như thế nào? Đây chính là một câu đố mà bất cứ người nào đang sống cũng muốn phá giải, cho dù ngày nay khoa học rất phát triển, nhưng vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn đang chờ chúng ta giải đáp. Sau khi chúng ta chết đi có linh hồn không? Nếu thực sự có, vậy những linh hồn đó có đi đến một không gian khác không? Câu trả lời mà các nhà khoa học đưa ra sau đây sẽ khiến chúng ta thật khó mà tin nổi.
Trong cuộc sống thường ngày, chắc chắn chúng ta đã từng nghe nói đến có một số người rõ ràng được tuyên bố là đã chết, nhưng kết quả lại đột nhiên sống lại, hơn nữa còn có thể kể lại trải nghiệm kỳ lạ của mình cho mọi người xung quanh nghe. Thật ra, trạng thái sắp chết mà chưa chết này, trong khoa học gọi là “kinh nghiệm cận tử”.
Vào năm 2017, một nhóm nghiên cứu của viện y học Đại học New York đã công bố một nghiên cứu đáng kinh ngạc. Nhóm nghiên cứu này sau khi tiến hành điều tra những bệnh nhân nhập viện do ngưng tim đã phát hiện, có 20% bệnh nhân ngưng tim nói rằng đã nhìn thấy một luồng ánh sáng, có người còn có thể nói một cách rõ ràng về cuộc đối thoại của các bác sĩ trong quá trình cấp cứu, thậm chí có người nói rằng đã nhìn thấy bản thân nằm trên bàn cấp cứu.
Tại sao ở trong trạng thái cận tử lại có cảnh tượng kỳ lạ đến như vậy? Các nhà khoa học cũng cảm thấy rất tò mò về vấn đề khó tin này. Stephen Hawking từng nói rằng bất cứ thông tin gì trong vũ trụ đều không biến mất, khi bạn cho rằng nó đã biến mất, chẳng qua nó chỉ chuyển sang một hình thức tồn tại khác. Phải biết rằng, ý thức của con người về bản chất cũng là một loại thông tin, nếu dựa theo như những gì Hawking nói thì có nghĩa là linh hồn thật sự tồn tại.

Theo lý thuyết lượng tử, cơ thể chỉ là biểu hiện vật chất của ý thức tinh thần (Ảnh: pixabay)
Thực tế dựa theo lý thuyết lượng tử, cơ thể chỉ là biểu hiện vật chất của ý thức tinh thần, sự biến mất của biểu hiện vật chất không có nghĩa là sự biến mất của ý thức tinh thần. Còn có nhà khoa học chỉ ra rằng, ý thức tinh thần bên trong con người không thật sự tồn tại ở vũ trụ vật lý của hiện tại, nó có thể kéo dài trong không gian cao chiều và không gian hiện tại giống như lực hấp dẫn, hoặc nó vốn dĩ là “phản chiếu” của không gian cao chiều tại không gian hiện tại. Vì sự hạn chế của quy luật, vật chất giữa các chiều khác nhau sẽ không thể tương thích với nhau, do vậy những vật ở không gian cao chiều đi vào không gian thấp chiều cần phải tìm được vật trung gian, nếu không sẽ buộc phải giảm chiều theo quy luật vũ trụ.
Cũng giống như con người nếu như muốn đi vào trong thế giới hai chiều hoàn toàn bằng phẳng, chắc chắn không thể dùng cơ thể ba chiều thực sự để đi vào, cần phải tìm được một thứ gì đó trong thế giới hai chiều, phản chiếu ý thức vào trong vật thể đó, từ đó thực hiện sự chuyển hóa của chiều. Nếu như linh hồn là “phản chiếu” của thế giới cao chiều tại chiều hiện tại, vậy tại sao phải mạo hiểm bị giảm chiều để đi đến chiều hiện tại?
Trong lượng tử lực học, ý thức là sự tồn tại không thể bỏ sót, nó không giống với thứ có thể có hoặc không trong thế giới vật chất, bởi vì ý thức ở trong một mức độ nào đó có thể quyết định được vật chất, tức là vật chất do ý thức quyết định mà được hình thành. Căn cứ theo lý thuyết M của Edward Witten, vũ trụ có 11 chiều. Nếu như ý thức quyết định được sự tồn tại của vật chất, vậy thì nguồn gốc của ý thức chắc chắn phải cao hơn 11 chiều. Vì vậy, có nhà khoa học cho rằng, sinh mệnh không có sự chấm dứt theo ý nghĩa thực sự, đối với ý thức mà nói, mỗi một sự kết thúc đều là một sự bắt đầu mới.

Vật chất giữa các chiều khác nhau sẽ không thể tương thích với nhau (Ảnh: Pixabay)
Loại phỏng đoán này thực sự là đảo lộn nhận thức, nhưng những chuyện đảo lộn nhận thức trong vũ trụ này còn ít hay sao? Bạn có tin trên đời này tồn tại một thứ không nhìn thấy, không chạm được nhưng thực sự có tồn tại không? Vật chất tối chính là một thứ như vậy. Cho nên đảo lộn nhận thức không có nghĩa là sai lầm. Trong phỏng đoán của các nhà khoa học, ý thức không phải chỉ là sự tồn tại chưa biết đến nào đó cao hơn 11 chiều, mà nó còn là một tổng thể hoàn chỉnh. Mỗi người trong chúng ta có vẻ như là có ý thức khác nhau, nhưng về bản chất thì những ý thức này vốn dĩ là một cá thế riêng biệt được phân hóa từ ý thức chính. Mà ý thức chính nằm ở trong không gian cao chiều không phải là một loại sinh vật nào, rất có thể là một nguyên tắc cơ bản và lực cơ bản, giống như tốc độ ánh sáng không đổi để duy trì sự vận hành của vũ trụ.
Nếu thật sự là như vậy, có thể giải thích được tạo sao nó lại mạo hiểm bị giảm chiều để đi đến chiều hiện tại, bởi vì đây là một loại bản năng của quy luật vũ trụ. Tóm lại, nếu như suy đoán này là chính xác, thì cái chết không còn khiến người ta khiếp sợ như vậy nữa, bởi vì kết thúc chính là bắt đầu cuộc sống mới. Nhưng đối với một cá nhân mà nói, kết thúc có nghĩa là kết thúc, tất cả mọi thứ liên quan đến bạn đều bị thời gian vô tình xóa bỏ. Nếu thật sự có kiếp sau, thì cũng không có liên quan gì đến bạn trong kiếp sống này. Trân trọng cuộc sống hiện tại mới là điều quan trọng nhất.
Theo SOH
Châu Yến biên dịch

Rất nhiều tín đồ Thiên Chúa cho rằng trong Thánh Kinh không có khái niệm về thuyết luân hồi. Tuy nhiên, bài viết dưới đây sẽ chỉ ra những bằng chứng về luân hồi chuyển sinh đã được Chúa nhắc đến trong Kinh Thánh.
Trong khái niệm về tu luyện, người ta cho rằng, để có thể siêu thoát khỏi thế giới người thường, một người tu Đạo phải hoàn toàn vượt qua cửa ải của dục vọng cũng như những ham muốn vật chất.
Điều này đã được phản ánh qua Hebrew 11:13 – 16: “Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉ trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đương đi tìm nơi quê hương. Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Ðức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Ðức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.”
Như vậy, Chúa đã phán rằng, nếu người đã chết mà còn nhớ tới quê hương của mình khi còn sống thì họ sẽ phải quay lại cõi trần. Tuy nhiên, nếu người đã khuất một lòng hướng Chúa, Chúa sẽ tạo cho họ một nơi đặc biệt. Điều này hoàn toàn tương đồng với nội hàm tu luyện.
Một người mà không muốn ngụp lặn trong sinh tử luân hồi thì phải xả bỏ duyên trần, một lòng hướng lên những điều cao cả của các cõi phía trên.
Chúa Giêsu cũng đã phán: “Nhà ở của Cha ta có rất nhiều phòng, nếu điều này là sai trái, ta sẽ không nói cho các ngươi. Ta cũng sẽ chuẩn bị cho các ngươi một chốn.” (John 14:2).
Đây cũng chính là để ám chỉ các cõi trời, giống như trong Phật giáo. Tuy nhiên, do nền văn hóa khác nhau nên cách sử dụng từ ngữ khác nhau. Trong kinh Phật có khái niệm về thiên quốc (cõi trời). Khi ta chân tâm hướng về vị Giác Giả nào, ta sẽ bay về thế giới mà vị đó cai quản.

Khi ta chân tâm hướng về vị Giác Giả nào, ta sẽ bay về thế giới mà vị đó cai quản (ảnh minh hoạ: pixabay).
Khải huyền 3:12 có viết: “Người nào thắng, Ta sẽ làm cho người ấy thành trụ cột trong đền thờ Ðức Chúa Trời của Ta, và người ấy sẽ không ra khỏi nơi đó nữa.”
Điều này có nghĩa, nếu một người có thể vượt qua tất cả sự xấu xa của bản thân (“thắng”), người đó sẽ thuộc về Thượng Đế mãi mãi và không bao giờ “ra khỏi đó nữa”, sẽ mãi mãi được ở bên Chúa. Điều này cũng rất giống với các nguyên lý của tu luyện Phật gia. Khi một người hoàn toàn có thể xả bỏ những tâm xấu, họ sẽ trở nên thuần tịnh, cuối cùng tiến đến viên mãn.
Trong suốt những năm truyền giảng Pháp, Chúa Giêsu thường xuyên nhắc nhở mọi người về nhân quả báo ứng:
“Ðức Chúa Jesus phán với người ấy, “Hãy tra gươm ngươi vào vỏ, vì ai sử dụng gươm sẽ chết bằng gươm.” (Matthew 26:52)
“Ai chuyên cần tìm điều thiện sẽ nhận được ân huệ;
Nhưng kẻ nào mải mê làm điều ác sẽ bị họa giáng vào thân” (Proverbs 11:27)
“Kẻ nào đào hố để hại người sẽ bị sa vào hố đó,
Kẻ nào lăn đá để đè người sẽ bị đá đó lăn ngược lại đè bẹp rúm” (Proverbs 26:27)
Chúa Giêsu đã từng kể một câu truyện về cừu và dê, trong đó có đoạn: “Những kẻ xấu xa sẽ chịu thống khổ vĩnh cửu nơi địa ngục, những người thiện lương sẽ sống một cuộc sống vĩnh cửu chốn Thiên Đàng” (từ “vĩnh cửu” trong thời của Chúa có nghĩa là một khoảng thời gian dài).
Như vậy, sau khi những người tốt hay kẻ xấu đã hưởng hết nghiệp xấu tốt của mình, thì họ sẽ đi về đâu? Phật giáo cho rằng, họ sẽ tiếp tục luân hồi để làm nốt việc còn lại. Còn nếu muốn có thể đến Thiên quốc của Đại Giác Giả (cùng Chúa mãi mãi) thì người này phải tu luyện, xả bỏ hết thảy mọi thứ nơi thế gian.

Chúa Giêsu thường xuyên nhắc nhở mọi người về nhân quả báo ứng (ảnh beforeitsnews).
Thêm một bằng chứng nữa:
“Tôi trần truồng ra khỏi lòng mẹ;
Tôi sẽ trần truồng mà trở về đó.
Chúa ban cho, rồi Chúa lại cất đi.
Chúc tụng danh Chúa.”(Job 1:21)
Làm thế nào một người có thể quay lại vào trong người mẹ? Câu trả lời là luân hồi. Khi một người vẫn còn duyên nợ ở thế gian, họ sẽ được chuyển sinh để tiếp tục mối nhân duyên đó.
Trên thế giới đã ghi nhận được rất nhiều trường hợp những đứa trẻ sinh ra nhớ được những ký ức kỳ lạ mà chúng khẳng định rằng đó là “kiếp trước”. Các nhà khoa học đã lần theo những “ký ức tiền kiếp” này để xác nhận xem câu chuyện có thực tế không hay chỉ là tưởng tượng. Dưới đây là một vài trường hợp đã được xác nhận:
1. Đứa trẻ 3 tuổi nhớ lại kiếp trước, xác định danh tính kẻ giết người và vị trí của thi thể
Vị tiến sĩ quá cố Eli Lasch được biết đến với những cống hiến của ông trong lĩnh vực y học tại Gaza (Ai Cập), nằm trong hoạt động của chính phủ Israel. Ông là người nghiên cứu trường hợp của một cậu bé 3 tuổi ở gần biên giới giữa Syria và Israel.
Cậu bé nói rằng trong tiền kiếp cậụ đã bị sát hại bằng một chiếc rìu. Cậu đã chỉ cho các già làng địa điểm nơi cơ thể cậu và hung khí được chôn cất, đồng thời chỉ rõ danh tính của kẻ sát nhân. Một thi thể với một vết thương trên đầu thực sự đã được tìm thấy ở vị trí cậu chỉ, chiếc rìu đã được tìm thấy, và kẻ sát nhân cũng đã thừa nhận tội ác của mình.
2. Đứa trẻ nhớ lại kiếp trước là một phi công trong Thế chiến II, tàu chiến ID’ed, địa điểm rơi máy bay
Tiến sĩ Jim Tucker từ trường Đại học Virginia đã nghiên cứu trường hợp của James Leininger đến từ bang Louisiana, Mỹ. Cậu bắt đầu gặp những cơn ác mộng về cảnh tượng rơi máy bay khi lên 2 tuổi. Cậu nói cậu đã bị người Nhật bắn hạ, rằng máy bay của cậu cất cánh từ tàu Natoma, và rằng cậu có một người bạn tên là Jack Larson. Cậu nói tên của cậu cũng là James trong kiếp trước.

Đứa trẻ nhớ lại kiếp trước là một phi công trong Thế chiến II (ảnh Dally Mail).
Trên thực tế, có một phi công trong Thế chiến II với cái tên James Huston Jr.. Cuộc đời và cái chết của người này trùng khớp với tất cả những chi tiết kể trên. Cậu bé Leininger cũng có thể xác định địa điểm rơi máy bay của Huston trong một bức ảnh.
Theo quan điểm của tác giả, Thánh Kinh không chỉ là một cuốn sách Chúa răn dạy con người cần sống như thế nào mà nó còn ẩn chứa nội hàm tu luyện. Như vậy, nó sẽ được liễu giải tại các tầng thứ khác nhau dưới góc nhìn của những người tu luyện.

Câu chuyện về nhà khoa học Ấn Độ đầu tiên chứng minh cây cối có tri giác, nhận thức được con người
Nếu gọi ông chỉ là một nhà khoa học, thì không khác gì gọi Leonardo Da Vinci chỉ đơn thuần là một tay thợ vẽ. Được mệnh danh là cha đẻ của nền khoa học Ấn Độ hiện đại, ông là một trong những người đầu tiên biết được sự tồn tại của tri giác thực vật, rằng thực vật, giống động vật, cũng có cảm giác, biết suy nghĩ và phản ứng với môi trường xung quanh, chứ không phải là một sinh vật vô tri vô giác đơn thuần. Trong bài viết này, Đại Kỷ Nguyên xin hân hạnh giới thiệu với độc giả cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Jagadish Chandra Bose sinh năm 1858 tại Bikrampur, Ấn Độ. Ông là một người đàn ông với tài năng trên nhiều lĩnh vực, khi đồng thời là một nhà vật lý, nhà sinh vật học, nhà thực vật học, nhà khảo cổ học, tác giả, người am hiểu về hội họa. Trên hết, ông là một trong những khoa học gia lỗi lạc nhất thế kỷ 20.

J C Bose
Ông là người đầu tiên từ tiểu lục địa Ấn Độ nhận được tấm bằng sáng chế của Mỹ, và cùng với các Tesla, Marconi, và Popov, ông được coi là một trong những cha đẻ của ngành khoa học phát thanh (radio). Ông còn là nhà sáng lập Học viện Khoa học Quốc gia Ấn Độ, thành viên Hội khoa học Hoàng gia Anh, thành viên Viện khoa học Vienna (Áo), thành viên Hội khoa học Phần Lan. Ông cũng được Hoàng gia Anh phong tước Hiệp sĩ vào năm 1917.
Tuy nhiên, giống hầu hết các nhà khoa học tiên phong khác, tên tuổi của Bose được biết đến nhiều hơn chính nhờ theo đuổi những lý thuyết gây tranh cãi – những thí nghiệm của ông trong ngành sinh lý học thực vật vào những năm 1900 cùng những khám phá gây sửng sốt kinh ngạc. Nhân kỷ niệm 158 năm năm sinh của J C Bose, chúng tôi xin chia sẻ với độc giả câu chuyện về cuộc hành trình của ông nhằm khám phá ra khả năng phản ứng của thực vật trước các kích thích bên ngoài.

J C Bose
Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân ngành khoa học vật chất (Physical Sciences) tại Đại học Kolkata, Bose giảng dạy vật lý tại Presidency College cùng lúc theo đuổi các nghiên cứu cá nhân về điện và sóng điện từ. Tháng 11/1894, lần đầu tiên trên thế giới, Bose tiến hành một thí nghiệm kinh điển tại Town Hall Kolkata nhằm chứng minh sự tồn tại của vi sóng, thông qua việc kích nổ thuốc súng và rung chuông từ khoảng cách xa sử dụng vi sóng.
Ông cũng phát triển một phiên bản cải tiến của ‘coherer’ (một thiết bị có khả năng phát hiện sóng radio), trong đó lần đầu tiên sử dụng một khớp nối bán dẫn. Lúc đầu ông không muốn lấy bằng sáng chế cho thiết bị này, vì cho rằng khoa học nên mang lại lợi ích cho toàn nhân loại chứ không phải là một công cụ kiếm tiền. Tuy nhiên, trước áp lực từ bạn bè, cuối cùng Bose đã nộp đơn lên cơ quan cấp bằng sáng chế của Mỹ, và vào ngày 29/3/1904, ông trở thành người Ấn Độ đầu tiên nhận được một tấm bằng sáng chế của Mỹ cho chiếc “máy phát hiện xung nhiễu điện”. Điều thú vị là, thiết bị ‘coherer’ của Bose sau này đã được chính Guglielmo Marconi – cha đẻ của ngành truyền thanh – sử dụng để chế tạo chiếc máy radio hai chiều đầu tiên.
Ngoài thời gian chính cho các thí nghiệm khoa học, Bose cũng dành thời gian viết một loạt tiểu thuyết khoa học viễn tưởng bằng tiếng Bengal. Câu chuyện nổi tiếng Polatok Tufan (Tránh bão) của ông mô tả làm cách nào một cơn bão xoáy bị chặn lại bằng cách sử dụng một chai dầu gội đầu! Nó giải thích cách dầu thay đổi sức căng bề mặt và giữ nước. Một cuốn sách khác của ông, mang tên Niruddesher Kahini (Story of the Untraceable), là cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng có sức ảnh hưởng lớn đầu tiên viết bằng tiếng Bengal.

Trang bìa cuốn sách khoa học viễn tưởng “Polatak Toofan” của J C Bose.
Có lẽ chính công việc nghiên cứu sóng radio đã khiến Bose tin rằng ngành vật lý có thể đi xa hơn những gì con người có thể nhìn thấy thông qua hai con mắt. Ông vẫn luôn bị cuốn hút bởi phản ứng của các loài thực vật nhạy cảm như mimosa (còn gọi là cây xấu hổ, hay cây trinh nữ), vì khi bị kích thích, các lá cây sẽ ngay lập tức cụp xuống, khép lại trong một cơ chế tự bảo vệ, như thể nó đang sợ hãi. Tò mò trước thế giới bí ẩn của thực vật, Bose đã chuyển hướng sang nghiên cứu cơ chế thực vật phản ứng với các kích thích bên ngoài.
Để làm được điều này, ông đã phát minh ra thiết bị crescograph, một loại máy ghi nhận dao động sớm sử dụng các bánh răng đồng hồ và một tấm kính hun khói để đo lường tốc độ sinh trưởng và các chuyển động nhỏ đến mức 1 / 100.000 inch (1 inch = 2,54 cm) của các loài thực vật. Tấm kính sẽ tiếp nhận hình phản chiếu của thực vật và đánh dấu nó dựa trên chuyển động của chúng. Thí nghiệm ban đầu được tiến hành với một chiếc lá, một củ cà rốt và một cải củ turnip lấy ngay trong vườn nhà ông.

Máy Crescograph của J C Bose.
Bose tin tưởng mạnh mẽ rằng cây cối sở hữu một hệ thần kinh nhạy cảm, không giống với động vật, và rằng phản ứng của chúng trước các kích thích bên ngoài có thể được đo đạc và ghi lại. Kết quả các thí nghiệm của ông đã củng cố niềm tin này. Lấy ví dụ, trong một thí nghiệm, khi một cái cây bị nhúng vào bromide (một chất độc), nhịp đập của nó, biểu thị bằng một điểm sáng trên tấm kính hun khói, trở nên bất ổn định ngay khi cái cây bắt đầu hấp thụ chất độc kia.
Điều này chứng minh thực vật cũng có tri giác như động vật, có thể nhận thức thế giới xung quanh, chứ không phải một sinh vật vô tri vô giác như chúng ta vẫn tưởng.
Được khích lệ bởi kết quả thí nghiệm này, Bose bắt tay nghiên cứu phản ứng khác nhau của các loài thực vật dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường như nhiệt độ, hóa chất, điện, khí và độ ẩm. Càng nhiều phản ứng ông nhận được từ thực vật, càng nhiều nỗ lực ông bỏ ra để tìm hiểu một cách chi tiết. Bose kinh ngạc nhận thấy trạng thái co giật khi chết ở động vật cũng xuất hiện ở thực vật, và rằng thời điểm tử vong thực tế ở thực vật có thể được xác định một cách chính xác. Như ông đã viết:
“Xung quanh chúng ta, thực vật đang giao tiếp với nhau. Chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó”.
Với mong muốn tiết lộ sự tồn tại kỳ diệu của tri giác thực vật cho thế giới, Bose đã mô tả thí nghiệm của ông và kết quả của chúng trong cuốn sách năm 1902 với tựa đề “Responses in the Living and Non-Living (tạm dịch: Các phản ứng ở sinh vật và phi sinh vật)”. Ông mô tả việc cây cối sinh trưởng nhanh hơn khi tiếp xúc với âm nhạc tốt và nghe những lời nhắn nhủ nhẹ nhàng, ngược lại sẽ sinh trưởng chậm khi tiếp xúc với loại nhạc ầm ĩ xập xình (VD: nhạc rock) và giọng nói lớn tiếng không chừng mực. Ông thậm chí còn đề cập đến việc thực vật sẽ trở nên u uất khi tiếp xúc với không khí ô nhiễm hay khi trời tối. Tóm lại, công trình của ông cho thấy thực vật có thể cảm thấy vui vẻ cũng như cảm thấy đau đớn tùy thuộc tác nhân bên ngoài.
Tuy rằng nghiên cứu của Bose đã gặp không ít phản đối từ những người bất đồng chính kiến, thiết bị crescograph của ông đã nhận được sự tán dương rộng rãi, đặc biệt từ Đại hội Khoa học Path vào năm 1900. Việc Hội Khoa học Hoàng gia Anh chọn xuất bản bài viết của ông đã tạo ra nhiều cơ hội và lời mời hợp tác nghiên cứu. Trong nhiệm vụ khoa học thứ tư của ông đến Anh vào năm 1914, Bose đã thiết lập một phòng thí nghiệm cá nhân tại Maida Vale, và nơi đây đã vinh hạnh được đón tiếp nhiều cá nhân xuất chúng từ tất cả các nẻo đường cuộc sống.

J C Bose.
Các nhà khoa học từ Hội Khoa học Hoàng gia và Hiệp hội Sinh học Linnean đã đến xem các thí nghiệm với tri giác thực vật của Bose. Trong một vụ việc đáng nhắc tới, nhà soạn kịch George Bernard Shaw đã sợ hãi tột độ trước cảnh tượng một miếng bắp cải co giật dữ dội khi ngụp lặn trong nồi nước sôi. Tuy rằng các nghiên cứu của Bose với thực vật đã nhận được sự đánh giá cao của một số nhà khoa học, người ta cũng có thể nhận thấy thái độ khinh thị của giới khoa học phương Tây cho công trình của một nhà khoa học ngoại lai từ Ấn Độ thuộc địa trong cách báo chí Anh mô tả các nghiên cứu của ông bằng những ngôn từ tương tự như với thí nghiệm kinh dị tạo xác sống của bác sĩ Frankenstein.
Tuy nhiên, các thí nghiệm cách mạng đột phá của ông không thể mãi bị phớt lờ. Năm 1920, ông được bầu làm hội viên Hội khoa học Hoàng gia Anh cho những đóng góp và thành quả tuyệt vời của mình. Trước khi qua đời vào năm 1937, ông đã thành lập Viện Nghiên cứu Bose tại Calcutta (hiện là Kolkata). Ông đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ người bạn thân Rabindranath Tagore, người đã hỗ trợ tài chính đồng thời cổ vũ ông trên suốt chặng đường.
Là người ủng hộ mạnh mẽ các nghiên cứu và khám phá của Bose, Tagore luôn tìm thấy cái tinh hoa của tinh thần khoa học Ấn Độ, một sự phản ánh rõ nét văn hóa dân tộc Ấn Độ, trong công trinh của Bose.
Đối với một quốc gia sống dưới sự kìm kẹp của chế độ thực dân, J C Bose không chỉ là một nhà khoa học, ông còn là một biểu tượng của niềm tự hào dân tộc. Bose vẫn luôn thừa nhận trách nhiệm của mình như một nhà khoa học có nghĩa vụ khơi dậy niềm tự hào dân tộc của đất nước ông.
Nhà khoa học huyền thoại đã ra đi gần 80 năm, nhưng di sản của ông sẽ mãi còn đó. Qua nhiều thập kỷ, một số nhà khoa học (như Cleve Backster với thí nghiệm máy dò nói dối nổi tiếng) đã góp phần củng cố lý thuyết của Bose, rằng thực vật không quá khác biệt với động vật như chúng ta tưởng. Thực vật cũng có tri giác, có thể nhận thức được con người và thế giới xung quanh.
Ngày nay, tại Viện nghiên cứu Bose Kolkata, các dự án kiểu này vẫn đang được tiếp tục thực hiện, và có lẽ chúng nên được gọi là Dự án Di sản JC Bose (JC Bose Legacy Project). Tại một chi nhánh của Viện tại thành phố Madhyamgram, công việc đang được tiến hành để giải mã những bí ẩn ở cấp độ phân tử của thực vật (cụ thể là protein và gen) khi biểu lộ các phản ứng khác nhau đối với các kích thích bên ngoài như chạm, ánh sáng hay tiếng ồn
Một lần nữa, chúng ta cảm ơn JC Bose vì đã hé lộ cho chúng ta những nhận thức rất mới về giới thực vật đầy bí ẩn, những nhận thức giúp chúng ta thay đổi thế giới quan về chúng, rằng thực vật không chỉ là những sinh vật vô tri vô giác, mà là những sinh vật có tri giác, có cảm xúc, có suy nghĩ, và có thể nhận thức thế giới xung quanh.
Theo thebetterindia.com
Tôn Kiên tổng hợp
Trường khí của con người tuy nhìn không thấy, nhưng sức mạnh của nó lại rất lớn.
Cũng giống như lực hấp dẫn vậy, trường khí này trên thân thể mỗi người chúng ta đang từng phút từng giây ảnh hưởng đến cuộc đời mình.

Loại trường khí này hình thành như thế nào?
Quan niệm, tín ngưỡng, hoàn cảnh, bạn bè, hô hấp, ăn uống và dục vọng, nghỉ ngơi, giấc ngủ của bạn… đều ảnh hưởng đến trường khí của bạn.
Trường khí này hình thành nên khí chất, vận khí và vận mệnh của bạn.
Một người có khí chất tốt, có tinh thần hăng hái, có tu dưỡng, có đạo đức thì trường khí của người này sẽ tốt, sẽ hấp dẫn những việc tốt, hấp dẫn vận khí tốt.
Trái lại một người nếu trường khí không tốt thì dáng vẻ thiếu tinh thần, ủy mị không hăng hái, làm việc không có hiệu suất.
Nếu trường khí xấu thêm thì sẽ gặp vận xui, những sự tình không tốt luôn xảy đến với họ, làm gì cũng không thuận lợi, uống hớp nước mát cũng nghẹn.
Vậy thì cái gì có thể ảnh hưởng đến trường khí của chúng ta?
Thứ nhất, ý niệm
Bạn nghĩ gì, tin gì, thì bạn có trường khí như thế.
Đây cũng chính là quy luật lực hấp dẫn.
Tư tưởng của bạn hấp dẫn những thứ bạn mong muốn.
Bạn có tư tưởng tích cực vươn lên thì trường khí của bạn cũng tích cực vươn lên. Bạn có tư tưởng tiêu cực thì trường khí của bạn cũng tiêu cực, đồng thời nó hấp dẫn những người và sự vật tiêu cực đến.
Do đó muốn tăng cường trường năng lượng tích cực thì phải có tư tưởng tích cực.
Người có ý thức kiếm tiền thường xuyên hấp dẫn tiền bạc, mà người có ý thức bần cùng thì hấp dẫn bần cùng đến.
Thông qua tư tưởng, ngôn ngữ và hành vi của bạn, nó sẽ mở con đường cho sự vật mà bạn ý thức được, bất kể là giàu có hay nghèo khó, nó đều đáp ứng nhu cầu của bạn như tình huống mà bạn nghĩ.
Trong tâm một người nghĩ thế nào thì người đó sẽ như thế ấy.
Sự việc mà bạn luôn luôn rất sợ sẽ luôn luôn đến với bạn.
Cũng chính là nói, sự việc mà bạn ý thức đến một cách mãnh liệt sẽ luôn đến với bạn.
Tư tưởng là nhân, cuộc đời và cảnh ngộ tương hợp với tư tưởng của bạn chính là quả. Nhân của bạn sẽ hấp dẫn quả đến, đây chính là trồng dưa được dưa, bạn trồng nhân gì thì sẽ thu hoạch được quả ấy.
Sau khi biết nguyên lý của quy luật này bạn sẽ biết vận dụng sức mạnh to lớn của tư tưởng để truy cầu hết thảy những điều bạn mong muốn.
Bạn sẽ trở nên tự tin, biết cách vận dụng tư tưởng của mình một cách chính xác và tích cực.
Con người sau khi tâm và não hợp nhất, thân và tâm đều khai mở thì tần số rung động của người này sẽ rất mạnh, tần số rung động tín tức ý thức với Trời Đất sẽ liên thông.
Thân thể con người là một trường tín tức rất nhạy cảm, không phút giây nào là không trao đổi với năng lượng và tín tức ở môi trường xung quanh.

Thứ hai, tình yêu
Tình yêu là trường khí lớn mạnh nhất trong vũ trụ, vì nó hài hòa tương hợp với vũ trụ.
Tình yêu là trường khí tích cực trên thân bạn, chỉ có phát ra tình yêu thì bạn mới hấp dẫn được tình yêu.
Do đó không nên chỉ yêu cái bản ngã nhỏ bé của mình, cần phải yêu thương tất cả mọi người xung quanh, yêu thương bạn bè, cha mẹ, vợ chồng, người thân, đồng nghiệp, thậm chí yêu thương cả kẻ thù của mình, yêu thương vạn vật trên địa cầu, mỗi nhành hoa mỗi ngọn cỏ.
Tình yêu mà bạn phát ra càng nhiều thì trường khí của tình yêu tích tụ trong không gian vũ trụ sẽ càng lớn, đồng thời tình yêu mà bạn thu nhận được cũng sẽ càng lớn.
Tình yêu là một chủng loại vật chất, là một loại trường khí.
Bạn phát ra tình yêu thì vũ trụ có trường khí của tình yêu ấy.
Trường khí của tình yêu một người tích tụ càng nhiều thì người đó sẽ hấp dẫn được càng nhiều tình yêu.
Khi bạn gặp khó khăn hoặc nguy hiểm thì vũ trụ sẽ phát ra các chủng loại tín tức để bạn cảm nhận được.
Điều này giống như là linh cảm.
Linh cảm phát ra từ nơi có tình yêu như mẹ và con, cặp đôi song sinh, giữa người yêu nhau và giữa bạn thân…
Chỉ có trường khí ý thức của tình yêu giữa hai người mới có thể khiến họ cộng hưởng lẫn nhau, tuy xa cách góc bể chân trời, nhưng tình yêu khiến ý thức của họ liên kết thành một thể, một người gặp nguy hiểm thì người kia sẽ biết, một người có yêu thương thì người kia sẽ cảm nhận được.
Ví như con gặp nguy hiểm, người mẹ sẽ cảm thấy có chút khó chịu bứt rứt. Một ngày nào đó bạn nhớ đến một người bạn ở phương trời xa, bỗng nhiên người bạn đó gọi điện đến cho bạn.
Hai người yêu nhau tuy xa cách góc biển chân trời, có lúc họ cũng cảm nhận được tình yêu của người kia.
Một người làm nhiều việc thiện, họ sẽ tích tụ được trường khí của tình yêu trong không gian vũ trụ.
Khi họ gặp nguy hiểm, tiềm ý thức của họ sẽ cảm thấy nơi nào đó trên thân thể không thoải mái hoặc xuất hiện những dấu hiệu để họ nhận biết, sau đó tránh được tai nạn.
Dù thực sự tại nạn có xảy ra thì họ cũng sẽ hóa nguy thành an.
Một quy luật to lớn trong không gian vũ trụ chính là quy luật lực hấp dẫn.
Tư tưởng của bạn là có trường khí, có năng lượng, có lực hấp dẫn.
Bạn nghĩ gì thì sẽ phát xạ đến vũ trụ, vũ trụ sẽ hưởng ứng ý nghĩ của bạn, cho bạn điều bạn mong muốn.
Tình yêu là trường khí lớn mạnh nhất trong vũ trụ, tư tưởng bạn phát ra lớn bao nhiêu thì trường khí mà không gian vũ trụ cấp cho bạn lớn bấy nhiêu. Một người làm nhiều việc thiện, phát ra tình yêu càng nhiều, thì trường khí mà họ đắc được sẽ càng lớn.
Làm bất kỳ việc gì cũng không được cho rằng người khác không biết, “trên đầu ba thước có Thần linh”, chớ vì việc xấu nhỏ mà làm, chớ vì việc thiện nhỏ mà không làm.
Điều này giống như tư tưởng nhân quả Phật gia, thiện có thiện báo, ác có ác áo, không phải không báo, mà chưa đến lúc.
Vũ trụ là có quy luật nhân quả, có cống hiến thì mới có báo đáp, yêu người khác thì người khác mới yêu mình, giúp người ta thì người ta mới giúp mình.

Thứ ba, năng lượng tích cực
Trong cuộc sống hàng ngày, bạn sẽ phát hiện ra người có ‘năng lượng tiêu cực’ rất nhiều.
Đôi khi cũng may mắn gặp người có năng lượng tích cực cao, họ luôn luôn lạc quan, vui vẻ và có sức cuốn hút lớn.
Một người không biết bơi, đổi bể bơi cũng chẳng giải quyết được vấn đề.
Một người không biết làm việc, đổi công việc cũng không giải quyết được căn bản.
Một người không biết chăm sóc tình yêu, đổi người yêu thì cũng vô dụng.
Bởi vì bản thân mình chính là cội nguồn của tất cả.
Muốn thay đổi tất cả thì trước tiên phải thay đổi cái tâm của chính mình.
Thực ra cho dù bạn là ai, điều bạn yêu là chính bạn, điều bạn thích cũng là chính bạn. Điều bạn yêu hay hận cũng đều là chính bạn.
Bạn thay đổi rồi thì tất cả đều sẽ thay đổi.
Thế giới của bạn là do bạn sáng tạo ra.
Hết thảy của bạn đều là do bạn tạo ra.
Bạn là tia nắng thì thế giới của bạn sẽ rực rỡ nắng vàng. Bạn là tình yêu thì cuộc sống của bạn sẽ tràn ngập yêu thương. Bạn là niềm vui thì cuộc sống của bạn chan hòa tiếng cười.
Cũng như thế, hàng ngày bạn oán trách, bới móc, chỉ trích, oán hận, thì cuộc sống của bạn chính là địa ngục.
Ý niệm của con người quan trọng như vậy, bạn hễ khởi tâm động niệm thì cả thế giới đều thay đổi.
Một niệm là Thiên Đường, một niệm là địa ngục. Thần và ma cũng ở trong một niệm.
Năng lượng tích cực là những thứ như sức sống, tinh lực dồi dào, hứng thú, nhiệt tình, toàn tâm chăm chú, thử thách tích cực, trong ngoài hợp nhất, tự mình nâng cao, nâng cao người khác, ổn định, đảm đương, bình tĩnh, bình lặng, yên tĩnh, thả lỏng, tươi mới, hài hòa…
Năng lượng tiêu cực là những thứ như phẫn nộ, hoài nghi, buồn rầu, lo lắng, nóng vội, áp lực, oán hận, hối hận, dằn vặt, đố kỵ, tự ti, tuyệt vọng, thất bại, nhục nhã, xấu hổ, trách móc…
Vậy nên nhất định phải ghi nhớ, bạn muốn một cuộc sống như thế nào thì trước tiên phải trở thành con người như thế ấy.
Theo secretchina.com
Nam Phương biên dịch
Trong cuộc sống ta thường phải đưa ra các quyết định.

Điều này đôi khi rất khó suy nghĩ hoặc rất khó quyết định một cách khách quan, vì thiếu thông tin hoặc quá phức tạp.

Các nhà khoa học đã phát hiện 7 giây trước khi đưa ra một quyết định, thì não bộ đã quyết định trước rồi. (ILexx / iStock)
Đây là thời điểm bạn nên bình tĩnh và lắng nghe trực giác bên trong của mình.
Các nghiên cứu [1] cho thấy khi sử dụng trực giác, tỷ lệ chính xác của một quyết định có thể lên đến 90%!
Einstein đã từng nói “Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng và tư duy lý lẽ là một tên đầy tớ trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội vinh danh tên đầy tớ và bỏ quên món quà tặng”.
Ngày nay, các nhà khoa học đã khẳng định tính xác thực và tính chính xác của bản năng này.
Nhà thần kinh học người Đức John Haynes, làm việc tại Mạng lưới quốc gia Bernstein Computational Neuroscience, đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) để nghiên cứu hoạt động của não.
Ông đã thu được một kết quả đáng kinh ngạc:
7 giây trước khi con người đưa ra quyết định, não đã quyết định trước rồi.

Nói cách khác, trước khi lựa chọn có ý thức được đưa ra, não bộ (trong vô thức) đã có một quyết định rồi.
Điều này gợi tới một câu hỏi thực nghiệm: Làm thế nào mà tiềm thức con người (trực giác hoặc linh cảm) thường đến vừa đúng lúc?
Bằng cách quan sát các kết quả của thực nghiệm này, câu trả lời rõ ra từ chính nó.
Khi bạn đưa ra một quyết định, chẳng hạn như mua một ngôi nhà, kết hôn, hay tất cả những lựa chọn quan trọng khác; có ăn sáng không, đi đâu tối nay, hay về những công việc trong nhà, nếu bạn dựa vào trực giác của mình, nó có thể dẫn bạn ra quyết định nhanh chóng hơn và chắc chắn hơn so với kinh nghiệm và thông tin.
Theo trang web Lifehack, có bốn lợi ích chính khi nghe theo trực giác của mình.
1.Trực giác dẫn chúng ta đến thành công
Nhiều nhân vật nổi tiếng như Giám đốc điều hành Virgin Group, Richard Branson, và cựu Giám đốc điều hành Apple Steve Jobs, họ có thói quen sử dụng trực giác để đưa ra quyết định.

“Bạn phải tin vào cái gì đó – như trực giác, số phận, cuộc sống của bạn, nghiệp chướng, bất cứ điều gì.
Cách tiếp cận này chưa bao giờ làm tôi thất bại, và đã tạo ra mọi sự khác biệt trong cuộc sống của tôi “, Steve Jobs chia sẻ.

Nếu bạn muốn thực hiện một bước đột phá tại nơi làm việc, bạn phải chứng tỏ kỹ năng của mình có khả năng vượt trội kinh nghiệm và logic, bằng cách sử dụng tốt trực giác.
Theo số liệu nghiên cứu, 62% các CEO cho biết họ là những người làm theo trực giác trong suy nghĩ để đưa ra những quyết định quan trọng.
2.Trực giác là “đôi mắt” thực sự của chúng ta, nó nhìn sự việc thực chất hơn vẻ ngoài mà mắt thịt chúng ta nhìn thấy
Để xem nếu một người nói dối hoặc có ý định xấu, trực giác sẽ hầu như luôn luôn chính xác.

Có lẽ bạn không tin điều này, nhưng các nghiên cứu đã phát hiện rằng não bộ đã sử dụng phản ứng bản năng vô thức này để xác định tính xác thực của một ý định.
David Myers, nhà tâm lý xã hội và là tác giả cuốn sách Trực giác: Its Powers and Perilssuggère, nêu rõ việc sử dụng trực giác là có thể xác định được một người là tốt hay xấu chỉ trong vài giây, với độ chính xác chưa từng có.
Ông đã đề cập trong cuốn sách rằng tổ tiên của chúng ta có thể dễ dàng biết được một người lạ là thân thiện hay thù địch khi nhìn người đó.

Tiến sĩ Judith Orloff, bác sĩ tâm thần về trực giác, nhấn mạnh tầm quan trọng của trực giác:
“Nếu bạn không tin tưởng ai đó, dù chẳng có lý do gì, thì bạn vẫn luôn cân nhắc đến người này”, bà giải thích.
“Nếu bạn đi bộ trên phố vào ban đêm, bạn gặp ai đó và bạn cảm thấy cần phải tránh người này, thế thì bạn sẽ đi xa khỏi người đó”.
3.Trực giác có thể giúp tìm bạn tâm giao cho bạn
Các dữ liệu [1] nghiên cứu cho thấy người ta có thể dự đoán chỉ trong 3 phút một cặp vợ chồng sẽ ở bên nhau hay ly dị, với độ chính xác lên đến 80%.

Nếu một ngày bạn gặp một người say đắm bạn, hãy lắng nghe trực giác của bản thân và bạn sẽ biết nếu anh ta hoặc cô ta sẽ là bạn đời tương lai của mình.
4.Trực giác xác định con đường của chúng ta trong cuộc sống
“Hãy để trực giác đưa ra các quyết định quan trọng“, lới khuyên của Cook – CEO của Apple trong bài phát biểu nhân dịp lễ tốt nghiệp của Đại học Aubrun năm 2010. “Nếu bạn lắng nghe trực giác, nó sẽ hướng dẫn bạn và chỉ dẫn bạn đi đúng hướng”.

Ông tiếp tục: “Hãy lắng nghe bản năng trước những quyết định quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn, và sau đó bạn hãy sử dụng tất cả ý chí của mình để chứng minh điều đó là đúng”.
Vậy thực chất linh cảm hay trực giác là gì, khi mà nó lại quyết định mọi việc trước khi chính chúng ta quyết định?
Các nhà khoa học thực chứng không thể giải thích rõ, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu tâm linh, thì linh cảm hay trực giác lại là những gì mà các sinh mệnh cao cấp ở không gian khác vốn nhìn rõ sự việc chân thực, muốn giúp chúng ta nên đã đưa những ý niệm vào đại não chúng ta.
Đó là lý do mà chúng ta thực sự nên lắng nghe trực giác, thay vì nhìn bề ngoài hào nhoáng hay lời nói ngon ngọt của một người….
Bởi vì các sinh mệnh cao cấp ở không gian khác biết rõ thực chất đằng sau vẻ hào nhoáng và lời nói ngon ngọt kia có thể là một lòng dạ đen tối, nên đã mách bảo chúng ta.
Nhiều người đã không lắng nghe trực giác của chính mình và sau đó đã phải chịu hối tiếc khôn nguôi…
Ghi chú [1]. Intuition vs Data : Should You Trust Your Gut ?
Xuân Hà (biên dịch từ Epoch Times France)
]]>Khi nghe nói về phát quang sinh học, bạn hình dung đó có thể là các sinh vật sống ở tầng sâu dưới nước như loài cá sử dụng hàng triệu vi khuẩn để phát sáng, nhằm chiếu sáng để thu hút con mồi.

Còn con người thì sao?

Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học Nhật Bản tiến hành năm 2009, con người cũng phát ra một ánh sáng nhìn thấy được (phát quang sinh học), nhưng rất yếu để nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường.
Một số trường hợp đặc biệt thì ánh sáng mạnh hơn, có phát ra các màu sắc đẹp hơn.

“Cơ thể con người phát sáng“, là nhận định của nhóm nghiên cứu Đại học Northeastern khi công bố phát hiện của nhóm trên một tạp chí được nhà sách Science xuất bản. “Cơ thể phát ra ánh sáng với cường độ nhỏ hơn 1.000 lần so với cường độ ánh sáng mà mắt ta cảm nhận được”.
Nhóm nghiên cứu đã theo dõi 5 nam giới khi sử dụng một máy ảnh siêu nhạy cảm trong một căn phòng sáng lờ mờ, kéo dài 20 phút trong mỗi ba tiếng đồng hồ và trong ba ngày (theo dõi cả khi họ ngủ).
Họ phát hiện những người tham gia phát ra một “ánh sáng” vào ban ngày, đạt đỉnh điểm vào buổi chiều và phát sáng tập trung chủ yếu ở trán, cổ và má.
Đây không phải là bức xạ hồng ngoại do nhiệt, trái với những gì mà hình ảnh có thể gợi lên.
Phát sáng này đến từ các photon (hạt ánh sáng) chứ không phải là nhiệt.
Phát quang sinh học vào những thời điểm khác nhau trong ngày. C: 10h10. D: 13h10 E: 16h10. F: 19h10. G: 22h10. H: Những thay đổi về cường độ của các photon đối với 5 người tham gia thời gian. I: hình ảnh nhiệt của người tham gia. (PLoS ONE)
Tại sao những người tu luyện thiền định lâu năm có thể phát ánh hào quang?

Trong các nghiên cứu của môn vật lý cao năng lượng, các nhà khoa học có nhìn nhận rằng năng lượng chính là các hạt vi tế hơn như neutron, nguyên tử, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, tia phóng xạ gamma…
Khi kiểm định khoa học, người ta phát hiện một số người có sở hữu nguồn năng lượng đặc biệt này, nên không những họ có thể phát sáng mà thậm chí còn tự phát điện hay phát lửa…
Một số trắc nghiệm cũng được tiến hành với những người luyện khí công thì thấy mật độ những vật chất này khi đo cao hơn người bình thường rất nhiều lần.
Và ánh sáng họ phát ra cũng mạnh mẽ hơn, nhiều màu sắc thay đổi và rất đẹp.
Và khi trắc nghiệm đo bằng các thiết bị dùng để đo hồng ngoại, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, điện, từ, tia phóng xạ gamma, nguyên tử, neutron….thì những máy đo này đã phát hiện được rằng nhiều khí công sư, người tu đạo, người thực hành thiền định lâu năm… có phát ra các vật chất này, các vật chất cùng ánh sáng họ phát ra rất phong phú.
Ở người bình thường không luyện khí công hay không thực hành tu tập thiền định cũng có thể có, nhưng ánh sáng nhỏ và yếu hơn nhiều.


Nhóm nghiên cứu hy vọng các thiết bị y tế trong tương lai sẽ cho phép chúng ta quét bề mặt của cơ thể con người, để đo độ sáng nhằm theo dõi thay đổi chuyển hóa của người đó.
“Nếu bạn có thể nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cơ thể, bạn sẽ biết toàn bộ tình trạng sức khỏe của người đó“, Masaki Kobayashi, thành viên của nhóm tuyên bố với Scientist News.
Lần tới khi ai đó nói có người phát sáng hay thậm chí tỏa hào quang, bạn sẽ biết đó là sự thật chứ không phải điều huyễn hoặc nữa.
Xuân Hà – Hà Phương Linh
]]>Con người và động vật có rất nhiều cách thức để liên lạc với nhau. Và có vẻ như thực vật cũng có thể làm điều tương tự.
Giống như việc con người kết nối trên mạng Internet, thực vật cũng có phiên bản world wide web (Internet) của riêng chúng. Bằng cách thiết lập kết nối với loài nấm, chúng có thể nói chuyện với nhau.
Nấm được cấu tạo chủ yếu bởi sợi nấm (khuẩn ty thể), vốn là do các sợi mảnh cấu thành nên. Sợi nấm có chức năng liên kết rễ của các loài thực vật lại với nhau ngầm dưới đất.
Ước lượng cho thấy khoảng 90% thực vật có một mối liên hệ tương hỗ với nấm, giúp chúng gia tăng chất dinh dưỡng và dự phòng dinh dưỡng.
Thực vật cũng trao đổi thông tin thông qua sợi nấm, ví như cảnh báo đồng loại về một đợt tấn công sắp tới của côn trùng. Hệ miễn dịch của thực vật cũng sẽ được tăng cường nhờ liên kết với nấm, qua đó chống lại các căn bệnh tiềm tàng.
Hiện nay, lĩnh vực sinh học này vẫn chưa được nghiên cứu sâu rộng, nhưng có thể cung cấp các kiến thức quan trọng về thực vật và cả cách con người phát triển cây trồng.
Ít người biết rằng, đã xuất hiện một cuộc cách mạng nhảy vọt trong học thuyết về ung thư.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy cây cỏ – chứ không phải hóa chất – mới là giải pháp đẩy lùi đại dịch ung thư trên toàn cầu.
Hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân gây ung thư đang trải qua một cuộc cách mạng thực sự trong thập kỷ qua.
Trong nửa thế kỷ trước, “thuyết định mệnh sinh học” chiếm ưu thế áp đảo trong ngành y, theo đó hầu hết các bệnh bao gồm cả ung thư, được cho là định sẵn “từ trong gen”, do đó không thể nào chữa khỏi.
Thay vì tìm ra gốc rễ của căn bệnh, chúng ta chỉ mong được ‘phát hiện sớm’.
Đối với ung thư, nếu làm thế (thậm chí nếu đó là lành tính), chúng ta gây chiến với nó theo đúng nghĩa, bằng cách dùng những vật liệu chế tạo vũ khí (hơi độc lưu huỳnh mustard – và hóa chất phóng xạ).
Tuy nhiên, chúng ta đang trong kỷ nguyên mà liệu pháp gen đã trở nên lỗi thời và các nhân tố ngoài sự kiểm soát của bộ gen – còn gọi là các nhân tố “biểu sinh học” – đang chiếm vị thế trung tâm.
Những nhân tố ấy bao gồm: tiếp xúc với môi trường, sự căng thẳng, các yếu tố dinh dưỡng, cùng nhiều yếu tố khác liên quan đến lối sống. Chúng nằm trong phạm vi kiểm soát và dựa theo mong muốn của bản thân chúng ta, do đó chúng có thể thay đổi được.
(Biểu sinh: Chữ “biểu” nghĩa là “nằm ngoài”, giống như trong từ “biểu bì”)
Nói cách khác, ung thư bây giờ được hiểu là rối loạn chức năng biểu sinh, do phản ứng trực tiếp hay thậm chí là do thích nghi với môi trường hậu công nghiệp tràn ngập tác nhân ung thư, cùng với cách ăn uống sai lầm, đầy ‘thức ăn’ chứa hóa chất, kết hợp với nhau tạo thành một môi trường trong cơ thể – một mảnh đất màu mỡ – lý tưởng cho ung thư sinh sôi nảy nở.
Thực vậy, một nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Độc Chất Hóa Học Và Thực Phẩm với tiêu đề “Sử dụng những hợp chất có hoạt tính sinh học từ cây cỏ – nhắm vào những tế bào ung thư gốc và điều biến môi trường vi mô của khối u”, tác giả lưu ý đến những tiềm năng to lớn từ quan điểm biểu sinh đối với ung thư này:
“Cơ bản mà nói, những thay đổi biểu sinh có thể được triệt bỏ bằng cách điều chỉnh các nhân tố biểu sinh, như chế độ dinh dưỡng và lối sống. Ngày nay, xác định được những nhân tố này là cực kỳ quan trọng để đưa ra những cách phòng ngừa biểu sinh và những chiến lược can thiệp chống ung thư hiệu quả hơn.”
Hơn nữa, họ lưu ý rằng những liệu pháp tự nhiên một lần nữa (sau biết bao nhiêu thiên niên kỉ được sử dụng rộng khắp trên thế giới) trở thành tiên phong trong các liệu pháp y khoa:
“Gần như tất cả những hợp chất trong ăn uống đều có thể tác động ở cấp biểu sinh đối với các tế bào ung thư, từ đó ảnh hưởng đến hệ gen biểu sinh theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Đặc biệt, những hợp chất dẫn xuất từ thực vật, như polyphenol, có khả năng chống lại những đột biến biểu sinh có hại trong các tế bào ung thư, kiềm chế sự phát triển khối u, ngăn ngừa quá trình di căn hoặc khiến tế bào ung thư nhạy cảm hơn với liệu pháp hóa trị và xạ trị (Vanden Berghe, 2012)”

Bột nghệ (Shutterstock*)
Nghiên cứu mới nhấn mạnh những điểm sau, cho thấy quan điểm về những liệu pháp trị ung thư trong tương lai sẽ mang tính cách mạng:
Người ta đã khám phá ra sự tồn tại của một quần thể trong những tế bào ung thư – những tế bào ung thư gốc.
Từ đó cho thấy cuộc chiến chống ung thư nửa thế kỷ qua, chính thức bắt đầu từ 1971 với chữ ký của Nixon về Luật Chống Ung Thư Quốc Gia, đã hoàn toàn lầm đường lạc lối.
Quan điểm trước đây cho rằng ung thư đơn giản là một sản phẩm phụ của tế bào bị sai hỏng, do tổn thương ADN và những quá trình nhân bản vô tính chủ yếu là ngẫu nhiên hỗn độn.
Khám phá mới cho thấy: khối u thật ra rất phức tạp, là quần thể được tổ chức rất trật tự, thể hiện những hành vi thông minh và mang tính sinh tồn.
Đại đa số xã hội xem ung thư như là chuyện “bị hay không bị” – giống như việc bị lây nhiễm tràn lan bởi những tế bào ung thư “khủng bố” và phải xóa sổ những kẻ thù này bằng bất cứ cách nào có thể.
Liệu pháp này được tiến hành bất chấp những tác dụng phụ đối với bệnh nhân.
Quan điểm mới mang lại cái nhìn đầy khả quan và chủ động trong ngăn ngừa và trị liệu ung thư.
Bởi vì quan điểm này cho rằng tế bào ung thư gốc chịu tác động chủ yếu bởi những yếu tố biểu sinh như: tiếp xúc với hóa chất, chế độ ăn uống không phù hợp, nhiễm a-xít chuyển hóa và giảm oxy huyết.
Ung thư không phải là điều “xảy ra với cơ thể” một cách định mệnh, tức do gen di truyền xấu từ tổ tiên.
Mà ung thư là những thay đổi thích nghi của cơ thể để sống sót trong hàng triệu, thậm chí hàng tỉ năm.
Như vậy, bỗng nhiên giải pháp giúp vượt qua dịch bệnh ung thư chỉ đơn giản là tái tạo lại trạng thái thân thể và tâm sinh lý tối ưu, để không tạo ra các tế bào ung thư nữa.
Như đã đề cập trong cuốn sách “Sát thủ của ung thư” mà tôi đồng tác giả, chúng ta không bệnh vì chúng ta có ung thư, chúng ta bị ung thư là vì chúng ta đã đang bệnh rồi.
Chúng ta không bệnh vì chúng ta có ung thư, chúng ta bị ung thư là vì chúng ta đã đang bệnh rồi
Tôi ước chừng trong tương lai không xa, quan niệm y học truyền thống sẽ chấp nhận rộng rãi rằng ung thư là một phản ứng tự nhiên do hàng thập kỷ phải tiếp xúc với hóa chất, điện từ trường độc hại và tình trạng tâm sinh lý bất thường.
Thay vì lên án và cố sức đè nén những triệu chứng của ung thư – một cơn bão độc tính hoàn hảo, chúng ta sẽ học cách để xác định, loại bỏ và chỉnh đốn những nguyên nhân căn bản của ung thư, tập trung tái tạo những điều kiện có lợi cho sức khỏe và hạnh phúc ở cả mặt di truyền lẫn biểu sinh.
Bài báo nguyên được đăng tại www.GreenMedInfo.com.
]]>