HỌC THUẬT- ĐẠO GIÁO – MINH TRIẾT THẾ GIỚI – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sat, 03 Aug 2024 07:53:25 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 Khái quát về Đạo Cao Đài https://thuonghylenien.org/luu-tru/6114 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6114#respond Sat, 03 Aug 2024 07:46:26 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6114 Khái quát về Đạo Cao Đài

Giáo sư Lê Quang Sách

(Cao Đài giáo Hải ngoại, 2007)

CHƯƠNG I: Ý NGHĨA của HAI CHỮ CAO ĐÀI

Giống với hầu hết mọi từ ngữ, hai chữ Cao Đài vừa tượng trưng cho một thực tại vừa bao hàm khái niệm. Tuy thế, hơn hẳn các từ ngữ khác, hai tiếng Cao Đài chứa đựng một nội dung thiêng liêng vì đó là danh xưng của một tôn giáo hiện có hơn bốn triệu tín đồ trên địa cầu và hàng ngàn thánh thất, tịnh thất ở trong nước Việt Nam cùng trên khắp thế giới tại những đô thị lớn có người Việt hải ngoại cư ngụ. Giáo thuyết của tôn giáo này được trình bày giản dị mà sáng sủa trong các văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ, Anh ngữ, Đức ngữ, v.v.

Vậy Cao Đài là gì? Cao là ở trên cao, cũng có nghĩa là tài giỏi. Đài là cái đài, cái tháp.

Trước tiên, Cao Đài có nghĩa là một cái đài cao đặt ở cõi thiêng liêng, nơi Đấng Thượng đế Chí tôn ngự mỗi khi Ngài chủ trì Đại hội Thiên cung.

Thứ đến, Cao Đài mang ý nghĩa tối thượng, trọng đại hơn mọi sự vì đó là danh xưng của chính Ngọc hoàng Thượng đế, Đấng Chí tôn. Ngài là Thầy, là Đấng Tạo hóa cõi vũ trụ, trong đó chúng ta cùng với muôn loài muôn vật đang sống. Ngài là Đấng Tạo dựng các vị giáo chủ, cũng là vị hiền phụ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật khắp Càn khôn Vũ trụ.

Sau cùng, Cao Đài còn là tên gọi được Đấng Chí tôn đặt cho một tôn giáo do chính Ngài đích thân thành lập và trực tiếp ban thánh ý mọi mặt, đó là: Cao Đài Đại đạo Tam kỳ Phổ độ.

CHƯƠNG II: LƯỢC SỬ ĐẠO CAO ĐÀI

Lịch sử xuất hiện của đạo Cao Đài gắn liền với tên tuổi của Đức Ngô Văn Chiêu, người về sau được cung kính gọi là Ngài Ngô Minh Chiêu (1878-1932).

Ngài có xuất xứ từ một dòng dõi quan lại ở Huế, đến đời thân phụ là ông Ngô Văn Xuân thì đã suy nên chuyển tới cư ngụ tại khu Hòa Hưng (Sài Gòn), sau đó ông kết hôn với bà Lâm Thị Quý, còn có tên gọi là Lâm Thị Tiền; Đức Ngô Văn Chiêu là con trai duy nhất của ông bà. Ngài ra đời trong quãng thời gian song thân chạy loạn lên tạm cư ở Bình Tây, Chợ Lớn. Học xong trường Chasseloup Laubat, Ngài vào làm công chức tại Dinh Thượng thư Nam Kỳ [tức Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de L’Intérieur) thời Pháp thuộc; nay là tòa nhà trụ sở Sở Thông tin-Truyền thống và Sở Công Thương, địa chỉ số 59-61 Lý Tự Trọng, quận Nhất, TP HCM, ngay góc đường Đồng Khởi]. Trong thời gian làm việc, Ngài nổi tiếng là người cực kỳ liêm khiết; tính nết trầm tĩnh thanh cao khác hẳn những kẻ mê danh tham lợi, vì vậy Ngài rất được người đời mến phục.

Vào thập niên 1910, trong thời gian Đức Ngô Văn Chiêu chuyển về làm việc tại Tòa Hành chánh tỉnh Tân An, ở đó chớm nở phong trào cầu cơ thỉnh Tiên. Sốt sắng hưởng ứng phong trào đó, Ngài thường chung tay với các thân hữu, cùng nhau xây đàn cầu cơ để cầu xin các bài thuốc chữa bệnh. Năm 1920, trong một lần cầu cơ, Ngài được một vị Tiên Ông nhập cơ, tự xưng là Tiên Ông.

Tới tháng 10 năm 1920, sau tám tháng làm việc tại nhiệm sở mới là Tòa Hành chánh tỉnh Hà Tiên, Ngài Ngô Văn Chiêu thuyên chuyển ra đảo Phú Quốc làm quận trưởng suốt bốn năm liền. Trong thời gian này, Ngài thường lên núi Đơn Dương cầu cơ thỉnh Tiên. Có một vị Tiên Ông giáng cơ yêu cầu Ngài rằng nếu chịu ăn chay, bắt đầu và liên tục suốt mười ngày, rồi tiếp đó, trường trai suốt ba năm, thì vị ấy sẽ thu nhận Ngài làm đệ tử.

Theo lời kể lại trong cuốn Lược Sử Đạo Cao Đài của Hội thánh Truyền giáo Cao Đài in năm 1956 tại Đà Nẵng thì:

“Ngài [Đức Ngô Minh Chiêu] bắt đầu trường trai học đạo kể từ ngày 8.2.1921 và Ngài được Tiên Ông chỉ giáo về tâm pháp bí truyền và dạy lo tu luyện để chờ tới ngày khai đạo.

“Trong thời gian tu luyện Ngài đã chứng ngộ được nhiều điều huyền diệu thiêng liêng kỳ lạ. Một chiều nọ, trong khi đang đi dọc theo ven biển trong trầm tư mặc tưởng, Ngài bỗng thấy xuất hiện ở chốn xa xa cảnh giới bồng lai rất thanh tịnh trang nghiêm và đẹp đẽ.

“Cũng trong năm 1921 (Canh Thân) ấy, một hôm, trong khi Ngài đang ngồi trầm tư mặc niệm tại nhà mình, bỗng nhiên có một ‘Con Mắt’ sáng ngời muôn vạn ánh hào quang từ xa hiện đến chói lọi trước mắt Ngài, mỗi lúc một gần, rồi dần dần biến mất.

“Sau đó trong một đàn cơ dạy đạo, Tiên Ông ấy mới xưng rõ ràng danh hiệu của mình là Ngọc hoàng Thượng đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ tát Ma-ha-tát giáng trần chuyển khai Đại đạo kỳ ba [Tam kỳ] và dạy Ngài vẽ một Thánh Nhãn [còn gọi là Thiên Nhãn] y như Ngài đã được thấy, để thờ làm biểu hiệu của nền Tân Chánh giáo.

“Thế là Đức Ngô Minh Chiêu đã trở nên vị môn đồ đầu tiên của Đức Thượng Đế; Ngài thụ lãnh sứ mạng gieo truyền nền đạo mới tại thế gian.

“Ngày 30.7.1924, Ngài thuyên chuyển về làm việc tại Sài Gòn. Cuối năm 1925 (Ất Sửu) Ngài gia tâm gieo truyền mối đạo mới; trước hết Ngài phổ độ các ông Vương Quan Kỳ, Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Đoàn Văn Bản và nhiều vị khác nữa nhập đạo.

“Từ đây trên đường tu tiến do Thiêng liêng dạy bảo, Đức Ngô Minh Chiêu đã được ấn chứng rất nhiều về tâm pháp bí truyền Đại Đạo; Ngài đã xuất thần hóa độ những bậc đại căn và nhập cơ dạy đạo nhiều nơi trong một lúc.”

oOo

Khoảng thời gian đó phong trào xây đàn cầu cơ cũng nở rộ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Có một nhóm người khác, do sự thúc đẩy của Đấng Thiêng liêng, thường tụ họp nhau xây bàn thỉnh các hương linh để được có thêm nhiều hiểu biết về thế giới vô hình. Nhóm này gồm bốn vị công chức làm việc tại Sài Gòn, trong đó có Ngài Phạm Công Tắc; các Ngài thường xây bàn tại nhà của Ngài Cao Hoài Sang ở phố Hàng Dừa, gần chợ Thái Bình, và được nhiều Đấng vô hình giáng bàn để tạo đức tin. Sau đó, có một Đấng vô hình tá danh là A Ă Â giáng bàn, yêu cầu các Ngài gọi là Thầy, và Đấng ấy thu nhận bốn Ngài làm đồ đệ. Tới đêm lễ Giáng sinh (Nô-en) năm 1925, Đấng A Ă Â xưng rõ danh hiệu là:

“NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI giáo đạo Nam Phương.”

và có dạy rằng:

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,

      Vui lòng tu niệm hưởng ân thiêng

      Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

      Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn bền.

“Đêm nay phải vui mừng, vì là ngày Ta giáng trần dạy đạo bên Thái Tây, Ta rất vui lòng đặng thấy chư đệ tử kính mến Ta như vậy. Nơi nầy sẽ đầy ơn Ta, Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.”

Tới ngày 18 tháng Giêng năm 1926, Đức Chí tôn dạy Ngài Cao Quỳnh Cư và Ngài Phạm Công Tắc  đem Ngọc cơ tới nhà Ngài Cựu Hội đồng Thượng nghị viện Đông Dương Lê Văn Trung để đích thân Thầy độ Ngài Trung. Sau đêm ấy, nhóm phò cơ này có được bảy vị. Đó là các Ngài Cao Hoài Sang; Ngài Phạm Công Tắc; Ngài Cao Quỳnh Cư; Ngài Lê Văn Trung; Ngài Nguyễn Trung Hậu; và Ngài Trương Hữu Đức.

Lúc đó, nhóm này hoàn toàn chưa biết tới nhóm của Ngài Ngô Văn Chiêu, vì vậy họ chưa từng liên lạc hay tiếp xúc với Ngài Chiêu.

oOo

Ngang đây, tưởng cũng nên dừng lại một chút để nói tới tiền bối Lê Văn Trung, người sẽ là Quyền Giáo tông tại thế của Đạo Cao Đài suốt một quảng thời gian bốn năm sau ngày khai đạo.

Ra đời ở Chợ Lớn năm 1876, Ngài Lê Văn Trung là con của một quả phụ từ năm mới 30 tuổi mà đã giữ tiết trọn đời thờ chồng. Ngài có dung mạo đẹp đẽ, vóc người cân đối, tính tình hòa nhã mà cương quyết. Ngài ăn ở rất có hiếu với mẹ hiền, cư xử tốt đẹp với bà con anh em, và đặc biệt, rất quí chuộng Nho học.

Năm 1894, sau khi tốt nghiệp trường Chasseloup Laubat, Ngài vào làm Thư ký tại Dinh Thống đốc Nam kỳ. Tới năm 1906, Ngài từ chức để ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt Nam kỳ. Ngài được dân chúng bầu làm đại diện cho các tỉnh Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Gò Công và Tây Ninh suốt hai khóa liên tiếp kéo dài tám năm.

Trong địa vị đại diện dân cử, Ngài Lê Văn Trung là người cương trực, dám đấu tranh nghị trường với người Pháp tới độ tự ý từ chức, rồi sau được dân chúng bầu lại. Ngài bênh vực quyền lợi của dân chúng, làm nhiều công tác văn hóa xã hội, trong đó đặc biệt có việc khởi xướng, cổ vũ và quyên góp tiền bạc xây dựng trường Nữ Trung học đầu tiên của Sài Gòn, về sau đổi tên là trường Gia Long, hiện nay là trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, tọa lạc tại số 275 đường Điện Biên Phủ, Quân 3, TP HCM.

Ngài Lê Văn Trung được chính phủ Pháp tặng Bảo quốc Huân chương Đệ Ngũ đẳng. Tới năm 1914, Pháp cử Ngài lên làm Nghị viên Hội đồng Soái phủ Đông Dương, thường được gọi là Hội đồng Thượng nghị viện Đông Dương.

Từ năm 1920, việc kinh doanh của Ngài Lê Văn Trung lâm hoàn cảnh khó khan, thua thiệt, rồi hoàn toàn bế tắc. Vào thời điểm giao tiếp với nhóm Ngài Phạm Công Tắc, mà như đã nói, trước đó hai bên chưa hề quen nhau, Ngài Lê Văn Trung đang sống trong tình cảnh phiền muộn chán nản, đâm ra hút thuốc phiện. Rồi cả hai con mắt của Ngài bị suy yếu, chỉ thấy lờ mờ; sau khi được Đức Chí tôn độ, Ngài bắt đầu ăn chay, bỏ hút thuốc phiện và dần dần, đôi mắt được phục hồi, thị lực sáng trở lại.

oOo

Tới ngày 22 tháng Giêng năm 1926, Đức Chí tôn dạy quí Ngài trong nhóm Ngài Cao Quỳnh Cư phải đến hội họp chung với nhóm Ngài Ngô Văn Chiêu để lo việc khai mở đạo. Đức Chí tôn còn dạy thêm rằng mọi việc đều phải khởi xuất từ Ngài Ngô Văn Chiêu, vì Ngài ấy là Anh Cả. Lần đó, cả hai nhóm tập trung được 12 vị.

Tại đàn cơ nơi nhà Ngài Lê Văn Trung, đúng vào giờ Tý ngày mùng 1 tháng Giêng năm Bính Dần (theo dương lịch là 13.2.1926), Đức Chí tôn ban lời Thánh giáo đầu tiên cho Ngài Ngô Văn Chiêu, căn dặn rằng (1) phải giữ lời hứa truyền Đạo cứu độ chúng sinh; (2) làm chủ giềng mối Đạo; và (3) dìu dắt các môn đệ. Ngọc hoàng Thượng đế còn truyền cho những vị khác phải hiệp nhau truyền đạo để cứu độ người đời, và chuẩn bị cho thời điểm khai đạo. Đêm Mùng Một ấy trở thành là ngày Khai cơ Phổ độ của Cao Đài Giáo.

Tới đêm mùng 8 rạng ngày mùng 9 tháng Giêng năm Bính Dần, Lễ Vía Đức Chí tôn được tổ chức tại nhà của Ngài Vương Quan Kỳ. Trước sự hiện diện đầy đủ của các môn đệ, Đức Chí tôn giáng cơ dạy Đạo và ban cho một bài thơ bốn câu trong đó bao gồm đầy đủ tên của cả 12 vị. Theo Thánh ngôn Hợp tuyển, trang 19, bài thơ đó như sau:

Câu 1: Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh,
Câu 2: Bản đạo khai Sang Quí Giảng thành.
Câu 3: Hậu Ðức Tắc Cư Thiên Ðịa cảnh,
Câu 4: Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh.
(Mười hai chữ in hoa lớn trong ba câu trên là tên của mười hai
người môn đệ trước hết của Ðức Ngọc hoàng Thượng đế.
Còn ba chữ in hoa nghiêng nhỏ trong câu chót là tên của ba đồng tử hầu đàn).

(Tên đầy đủ của các vị theo thứ tự trong bài thơ này là:

1/ Ngô Văn Chiêu (1878-1932); 2/ Vương Quan Kỳ (1880 – 1940 );

3/ Lê Văn Trung (1876-1934); 4/ Nguyễn Văn Hoài (?-?);

5/ Đoàn Văn Bản ((1876-1941); 6/ Cao Hoài Sang (1900-1971),

7/ Lý Trọng Quí (?-?); 8/ Lê Văn Giảng (1876-1941),

9/ Nguyễn Trung Hậu (1892-1961); 10/ Trương Hữu Đức (1890-1976)

11/ Phạm Công Tắc (1980-1959); 12/ Cao Quỳnh Cư (1887- 1929).

Từ hôm đó, nhờ sự hoạt động nhiệt thành của quí Ngài môn đồ đầu tiên, Đạo càng ngày càng bành trướng. Rồi lần lượt các Ngài Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951); Ngài Lê Bá Trang (1879-1936); Ngài Nguyễn Ngọc Thơ (1873-1950), v.v. được phổ độ, phân công nhau đi truyền đạo ở các tỉnh và thành lập những cơ sở đầu tiên cho một công cuộc phổ độ rộng lớn. Số tín đồ theo Đạo càng ngày càng đông, thành lập nhiều thánh thất rải rác khắp nhiều tỉnh.

Đến ngày 12 tháng 3 năm Bính Dần (theo dương lịch là 23.4.1926) Đức Chí tôn ân ban cho Ngài Lê Văn Trung là Thượng Đầu sư, Thánh danh Thượng Trung Nhật.

Tới ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần (tức 29.9.1926), vâng thánh ý của Đức Chí tôn, Ngài Lê Văn Trung hiệp cùng quí vị chức sắc Thiên phong cùng chư Đạo hữu gồm 28 vị cầm quyền Đạo và 247 đạo hữu, thảo TỜ KHAI ĐẠO dâng lên Đức Chí tôn xem xét trước, rồi để gởi cho chính phủ Pháp.

Ngày mùng Một tháng 8 năm Bính Dần (nhằm 7.10.1926), Ngài Lê Văn Trung đích thân mang Tờ Khai đạo đến gởi cho Thống đốc Nam kỳ Le Fol, và được ông ấy vui vẻ chấp nhận. Trên thực tế, Tờ Khai Đạo không phải là tờ đơn xin phép thành lập mà là một bản tuyên bố chính thức thông báo việc thành lập Đạo Cao Đài. Thống đốc Nam kỳ lúc ấy khôn khéo tiếp nhận văn kiện đó nhưng không bao giờ ký giấy phép cho Đạo Cao Đài hoạt động cũng như không hề cam kết công nhận chính thức đạo Cao Đài.

Rồi Ngày Trọng đại đã tới. Hôm ấy là ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức 19.11.1926) nhằm ngày Hạ nguyên, Ngài Lê Văn Trung hiệp với Ngài Phạm Công Tắc cùng quí vị chức sắc Thiên phong của Đạo, vâng lệnh Đức Chí tôn mượn chùa Thiền Lâm ở Gò Kén Tây Ninh làm thánh thất tạm để tổ chức Đại lễ Khai đạo Cao Đài. Tham dự buổi lễ trọng thể ấy có đầy đủ sự hiện diện của quan chức các cấp chính quyền Pháp thời đó và đại diện các tôn giáo khác.

Tới đầu năm Đinh Mão (1927), Ngài Ngô Văn Chiêu, môn đồ đầu tiên của Đức Chí tôn và từng là Đức Giáo tông dự bị, nói cho mọi người biết rằng Ngài đã làm xong nhiệm vụ trong Cơ Phổ độ. Từ nay, Ngài sẽ đảm trách một sứ mạng quan trọng khác, đó là lập Cơ Tuyển mộ Chiếu Minh Tam thanh Vô vi, gọi tắt là Chiếu Minh Vô vi. Ngài đổi chữ lót trong tên của mình thành chữ Minh; từ đây gọi Ngài là Đức Ngô Minh Chiêu, chuyên lo tu đan, tịnh luyện. Cùng theo phái Vô vi của Ngài Chiêu, có ba Ngài Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài và Lý Trọng Quí; nhưng về phương diện tín ngưỡng, Ngài Chiêu vẫn tôn thờ Đức Ngọc hoàng Thượng đế.

Sau sự kiện vừa kể, Đức Chí tôn phải chuyển pháp, giao chức Giáo tông qua cho Đức Lý Thái Bạch Nhất trấn Oai nghiêm kiêm nhiệm. Trong Đạo Nghị định thứ nhì ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (1930), Đức Lý Giáo tông ban cho Đầu sư Thượng Trung Nhựt (Ngài Lê Văn Trung) cầm Quyền Giáo tông tại thế để điều hành cơ Đạo hữu hình, còn nhiệm vụ Giáo tông vô vi vẫn do Đức Lý Giáo tông nắm giữ. Kể từ đó. đạo Cao Đài chỉ có một Giáo tông vô vi là Đức Lý Thái Bạch, và tại thế thì có Quyền Giáo tông.

Tới năm 1931, khởi công xây dựng Tòa thánh Tây Ninh tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách thị xã Tây Ninh khoảng năm cây số, về hướng Đông Nam. Nguyên Thiền Lâm tự ở Gò Kén Tây Ninh là nơi đặt thánh thất tạm, bị Hòa thượng trú trì là sư Giác Hải (Như Nhãn/1864-1938) đòi lại vì đang lúc dao động đức tin và chịu áp lực của người Pháp.

Việc xây dựng Tòa thánh Tây Ninh kéo dài ngày vì đó là một công trình độc đáo, nguy nga và kỳ diệu, tổng hợp kiến trúc của các tôn giáo lớn trên thế giới. Theo tài liệu để lại thì mô hình và đồ hình bên trong cũng như bên ngoài các cơ sở của Tòa thánh được mô phỏng (thiết kế) theo cõi thiên đình và được lấy kiểu mẫu qua đàn cơ. Việc xây cất bị gián đoạn trong thời Thế chiến Hai (1939-1945); mãi tới 18 năm sau, vào Giêng năm Ất Mùi (1955), mới hoàn thành và làm Đại lễ Khánh thành.

CHƯƠNG III: GIÁO THUYẾT CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

  1. ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Cao Đài Đại đạo khẳng định rằng đạo Cao Đài là do chính Đức Thượng đế, Đấng Chí tôn, đích thân sáng lập và làm giáo chủ. Giáo lý vi diệu của đạo Cao Đài là do chính Đức Thượng đế trực tiếp truyền dạy qua sự thường xuyên tiếp xúc bằng đàn cơ giữa Ngài và quí vị chức sắc thượng phẩm trong Đạo.

Đại là vĩ đại, lớn rộng; Đạo là con đường. Cao Đài Đại đạo là con đường tốt đẹp và rộng rãi, dẫn dắt con người học hỏi, lập công quả và tu tập, nhằm mục đích đi thẳng tới chân lý – một chân lý hằng hữu và bất biến – đó là Thượng đế. Bằng quá trình tu luyện theo đạo Cao Đài, tín đồ tuần tự đạt tới năm nấc thang tiến hóa, qua các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, để cuối cùng, đạt đến sự hiệp nhất vào Đấng Cao Đài, tức là Ngọc hoàng Thượng Đế, Đấng Chí tôn.

Phổ nghĩa là phổ quát, rộng lớn, phô bày ra cho hết thảy mọi người ở khắp mọi nơi. Độ nghĩa là cứu độ, cứu giúp. Do đó, Cao Đài Đại Đạo muốn phổ độ chúng sinh thì phải mở ra mối Đạo lớn cho người đời tu hành.

Cao Đài Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ có nghĩa là cứu độ, cứu giúp chúng sinh trong thời kỳ hiện nay, tức là thời kỳ cuối trong ba nguyên (còn phát âm là ngươn) của loài người.

Theo quyển Pháp Chánh Truyền, ba nguyên (nguơn) đó là:

  1. Thượng nguyên hay là Nguyên Thượng đức, cũng là Nguyên Tạo hóa. Trong nguyên này, Đấng Chí tôn gầy dựng Càn k
  2. hôn Vũ trụ. Thời thái cổ, loài người tính tình hồn nhiên, mộc mạc lương thiện, sống theo đạo trời mà hòa hợp thân thiết yêu thương nhau. Con người hấp thụ khí thiên nhiên nên tâm hồn thanh thoát, thể xác an nhàn, vui say mùi đạo, tiếp nhân xử thế cực kỳ đạo đức.
  3. Trung nguyên hay là Nguyên Thượng lực, cũng là Nguyên Tranh đấu. Trong nguyên này loài người thâm nhiễm nhiều thói hư tật xấu, lòng người bất nhất, nên càng ngày càng xa khuất điểm thiên lương, sống bức hiếp lẫn nhau, sinh ra chiến tranh, chèn ép và bóc lột nhau. Người đời không còn kể gì tới tình đồng loại đồng chủng đồng bào mà chỉ một lòng một dạ trông cậy vào sức lực để tranh đấu với nhau.
  4. Hạ nguyên hay Đời Mạt kiếp, là Nguyên Điêu tàn, cũng là Nguyên Tái tạo. Trong nguyên này, cuộc đấu tranh giữa người đời chuyển qua mãnh liệt, tàn khốc, hiểm độc phi thường. Càng tranh đấu càng tiến hóa, càng ác liệt, đưa tới điêu tàn hủy diệt. Nhưng đặc biệt là hễ loạn thì phải tới trị, vong thì tất phải hưng, nên nguyên tiêu diệt này tất nhiên sẽ chuyển thành nguyên bảo tồn; lúc ấy đạo đức được phục hưng, để sắp sửa tái tạo trở lại như thời thái cổ. Vậy loài người sắp bước qua đệ tam kỳ này là thời kỳ qui nhất thống, đại luân hồi của Trời Đất. Ngày nay loài người đã trải qua đúng con số do Đấng Tạo hóa đã định là mười hai vạn chín ngàn sáu trăm năm (129,600 năm), nên đã tới thời kỳ tạo thiên lập địa một lần nữa.

Đối chiếu với tam nguyên kể trên, kể từ khi có loài người đến nay, Đấng Thượng đế đã mở ra ba thời kỳ phổ độ chúng sinh:

  1. Nhất kỳ Phổ độ: vào thời thái cổ của loài người, các tôn giáo như Đạo Phật với Đức Nhiên Đăng Cổ Phật; Đạo Tiên với Đức Thái Thượng Đạo tổ; Đạo Bà-La-Môn; Đạo Do Thái với Mô-se; Đạo Nho với Phục Hy, v.v. Phổ độ Nhất kỳ này do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chủ trì Liên Trì Hội.
  2. Nhị Kỳ Phổ độ: vào thời thượng cổ của loài người, có các tôn giáo như Phật Giáo với Đức Phật Thích Ca; Lão Giáo với Đức Lão Tử; Nho Giáo với Đức Khổng Tử; Thiên Chúa Giáo với Đức Giê-su Kitô, v.v. Phổ độ Nhị kỳ này do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chủ trì Linh Sơn Hội.
  3. Tam kỳ Phổ độ: vào thời kỳ hiện nay có Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ, một tôn giáo đặc biệt vì lần này do Đấng Thượng đế đích thân khai đạo, làm giáo chủ và trực tiếp dạy bảo để cứu vớt hết thảy loài người trên trái đất này trước khi xảy ra cuộc Tận thế chuyển lập đời Thánh đức. Phổ độ Tam kỳ này do Đức Phật Di Lạc Vương chủ trì Long Hoa Hội.

Như thế Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ tuy xuất hiện khởi đầu tại Việt Nam nhưng không là một tôn giáo có tính cách bản địa và bị giới hạn trong biên giới của một nước, vì Đạo này nhằm phổ độ hết thảy chúng sinh và sẽ phổ biến rộng rãi ra khắp vũ trụ, nơi loài người chúng ta đang sống.

  1. CÁC PHƯƠNG DIỆN GIÁO LÝ

Với sự chỉ dạy trực tiếp của Đấng Chí tôn, đạo Cao Đài đặt căn bản giáo lý của tôn giáo mình trên nguồn cội của giáo lý và triết lý của các tôn giáo lớn là Nho, Phật  Lão, gọi là Tam giáo Đồng nguyên (ba tôn giáo có chung một gốc), để đưa năm nhánh trở lại làm một, gọi là Ngũ chi Phục nhất. Ngũ Chi này gồm : Nhân đạo (Khổng Giáo); Thần đạo (Khương Thái Công, thờ phụng chư thần); Thánh đạo (Thiên Chúa giáo); Tiên đạo (Lão giáo); và Phật đạo (Phật giáo).

Giáo lý đạo Cao Đài được Đức Thượng đế Chí tôn trực tiếp giảng dạy bằng đàn cơ nên bao gồm và đầy đủ mọi phương diện của một nền Đại Đạo chân chính như:

  1. Thể pháp và Bí pháp, tức là Đại Đạo công truyền và Đại Đạo tâm truyền;
  2. Nhân đạo và Thiên đạo, Luật Tiến hóa;
  3. Phụng sự Nhân sinh;
  4. Đại Ân xá Đệ tam kỳ;
  5. Tam giáo Qui nguyên, Ngũ chi Phục nhất, Nho tông chuyển thể, v.v.;
  6. Vũ trụ quan và Nhân sinh quan.

Hết thảy các phương diện ấy kết thành một bộ giáo lý có tính vi diệu và khoa học; nó đòi hỏi người trình bày và người học hỏi đều phải có nhiều cơ duyên, công phu và đều phải có thời gian nghiên cứu, thôi chiêm nghiệm và trình giải. Ở đây, chúng tôi chỉ dám đường đột trình bày đôi nét giản dị về vũ trụ quan và nhân sinh quan của đạo Cao Đài.

III. VŨ TRỤ QUAN

Những trình bày sơ lược dưới đây chỉ giới hạn vào một vũ trụ thôi, đó là nơi chúng ta đang sống, vì bên ngoài vũ trụ này còn có rất nhiều vũ trụ khác nữa, đang biến chuyển không ngừng trong không gian bao la, mênh mông vô cùng vô tận.

Vũ trụ hiện hữu của chúng ta có sinh có tử rồi tái sinh trở lại. Vũ trụ có khởi đầu và mức khởi đầu đó chính là Đức Ngọc hoàng Thượng đế, tức là Thái cực. Khí Hư vô sinh ra Ngọc hoàng Thượng đế và chính Đấng Ngọc hoàng Thượng đế ấy tạo hóa ra Càn khôn Vũ trụ cùng vạn vật hiện hữu. Trong không gian bao la, mênh mông vô cùng vô tận đó, có nhiều vũ trụ được hình thành; vũ trụ của Ngọc hoàng Thượng đế chỉ là một phần tử, và nó cũng đang trên đường tiến hóa mãi cho đến vô tận vô biên.

Vũ trụ này có hai phần: 1. Phần Vô hình không trông thấy được nhưng nó điều khiển toàn bộ phần Hữu hình trông thấy được; 2. Phần Hữu hình gồm 3.000 thế giới, 72 quả địa cầu mà quả địa cầu chúng ta đang sống là địa cầu số 68.

Phần Vô hình gồm 36 tầng trời, 4 bộ châu lớn ở không-không trên thượng tầng không khí. Trong tầng trời Hư vô thiên, có Ngọc Hư cung, là nơi họp triều đình của Đức Chí tôn để điều hành hết thảy sinh hoạt của Càn khôn Vũ trụ. Quí vị Thần Thánh Tiên Phật họp Đại hội tại Ngọc Hư cung để lập Thiên điều cai quản Càn khôn Vũ trụ.

  1. NHÂN SINH QUAN

Con người sống trong Vũ trụ ấy là một tiểu Thượng đế, được Đức Ngọc hoàng Thượng đế cho xuống trần để nương theo xác phàm mà học hỏi cho tiến hóa.

Đạo Cao Đài công nhận rằng thủy tổ loài người là các Hóa nhân do loài vượn cao cấp (vượn-người) tiến hóa mà thành, rồi dần dần sinh nở phát triển ra đông đúc. Sau đó, Thượng đế mới cho một số Nguyên nhân đầu thai xuống trần qua ngả các nữ Hóa nhân sinh ra, nhằm mục đích khai hóa các Hóa nhân, để chăm lo học hỏi và tiến hóa.

Con người sống dưới trần gian có ba thể: 1) Thể xác (hữu hình); 2) Linh hồn (vô hình); và 3) Chơn thần (bán hữu hình) làm trung gian cho Thể xác và Linh hồn.

Con người sống trên cõi thiêng liêng (vô hình) thì chỉ có hai thể: 1) Linh hồn; và 2) Chân (chơn) thần (xác thân thiêng liêng).

Khi chết, Thể xác con người hư nát, trở về với đất, còn Linh hồn và Chân thần thì sẽ bay lên cõi thiêng liêng, ở đó, trình diện với hai Đấng Phụ Mẫu là Đức Chí tôn và Phật Mẫu. Căn cứ vào phúc đức và tội tình đã gây ra nơi cõi thế, Linh hồn và Chân thần sẽ được Đức Chí tôn xét khen thưởng hay bắt đi đầu thai kiếp khác để trở lại trần gian sống mà trả dần nghiệp quả.

Chừng nào Linh hồn và Chân thần thực hiện được những việc hoàn toàn tốt đẹp (viên mãn) nơi cõi trần, xứng đáng là một tiểu Thượng đế thì khi trở về cõi Thiêng liêng, Đức Chí tôn sẽ khen thưởng xứng đáng và được hội hiệp cùng Đức Chí tôn.

Như thế, con người có một đời sống kéo dài tới vô tận : a) sống đời sống trên cõi thiêng liêng kia để an hưởng và suy nghiệm; và b) sống đời sống dưới cõi trần này để học hỏi, lập công quả, tu luyện để được tiến hóa một cách nhanh chóng.

  1. CON ĐƯỜNG HỌC HỎI VÀ TU TẬP

Con người sống trong thời kỳ Hạ nguyên này cần khẩn trương tu tập hơn bao giờ hết để chuẩn bị cho công cuộc tái tạo tức là trở lại thời kỳ Thượng nguyên Thánh đức thái cổ. Tu có nghĩa là sửa chữa bản thân cho đúng với giềng mối đạo. Muốn và để biết đường tu thì phải học hỏi cho am hiểu. Muốn sự am hiểu ấy lắng sâu, áp dụng cho bản thân thì phải tự luyện tập khắp mọi nơi và suốt mọi lúc.

Như đã trình bày ở trên, về phương diện giáo lý, đạo Cao Đài là một tổng hợp đặt căn bản trên “Tam giáo Đồng nguyên, Ngũ chi Phục nhất”, đặc biệt phối hợp với Thánh giáo bao gồm những thông điệp được linh truyền trực tiếp qua cơ bút, phần lớn là những bài văn thơ (lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, song thất lục bát, v.v.) bao hàm ý nghĩa sâu xa và vi diệu.

Về mặt thực hành, đạo Cao Đài rút tĩa ít hoặc nhiều trong số những qui định tu tập, tiếp nhân xử thế của Phật giáo (như Giới luật Ăn chay, Ngũ giới cấm, Thiền định); của Lão giáo (như luyện Tam bảo: Tinh, Khí, Thần); của Nho Giáo (như Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức); của Thiên Chúa giáo (như tôn thờ Thượng đế, phẩm trật chức sắc và hệ thống tổ chức giáo hội các cấp.)

Để làm cho phù hợp với mọi trình độ dân trí và mức độ tin tưởng, giáo lý của đạo Cao Đài tổng kết những chánh niệm của các tôn giáo, làm thành Năm nguyên tắc chung (theo nhận xét của học giả Toan Ánh (1916-2009) trong cuốn Tín ngưỡng Việt Nam, quyển Thượng):

  1. Về luân lý: Mọi người phải giữ đúng bổn phận đối với bản thân, với gia đình, với xã hội như một hình thức nới rộng của gia đình, và sau cùng, đối với toàn thể loài người như một đại gia đình của con người.
  2. Về triết lý: Con người nên từ bỏ danh vọng, tiền tài và không nên sống xa hoa. Tóm lại, con người nên tự mình vượt thoát khỏi những ham muốn vật chất để tìm kiếm sự thanh thản tâm hồn và thanh khiết linh hồn.
  3. Về thờ phụng: Con người phải tôn thờ Đức Ngọc hoàng Thượng đế, Đấng Chí tôn, người cha hiền của tất cả, đồng thời phải thờ kính Thần, Thánh, Tiên, Phật vì chư vị ấy họp thành một hệ thống thiêng liêng mầu nhiệm. Con người có thể thờ cúng tổ tiên, nhưng không được cúng mặn và không được dùng vàng mã.
  4. Về tâm linh: Đạo Cao Đài xác nhận sự tin tưởng vào tính cách tồn tại vĩnh viễn của linh hồn con người. Linh hồn ấy có thể biến chuyển và chịu sự luân hồi tùy vào nghiệp quả các hành động của mình lúc sinh thời, cho tới khi toàn hảo và nhập làm một vào Đấng Chí tôn.
  5. Về thông linh: Con người phải tu tập, đạt tới sự tịnh tâm để khám phá chân lý, làm sáng tỏ và củng cố Chân thần cùng thông linh với nguyên khí của vũ trụ, cũng là của Đức Ngọc hoàng Thượng đế.
  6. ĂN CHAY

Đạo Cao Đài đòi buộc tín đồ phải ăn chay. Tín đồ ăn chay được chia làm hai hạng : 1) Hạ thừa; và 2) Thượng thừa.

Hạng Hạ thừa gồm tín đồ mới nhập môn. Sáu tháng đầu ăn chay mỗi tháng sáu ngày; kể từ tháng thứ bảy trở đi, ăn chay mỗi tháng mười ngày.

Hạng Thượng thừa thì ăn chay suốt (thường trực), gọi là trường trai.

VII. GIỮ NGŨ GIỚI

Việc ăn chay và giữ giới giúp cho người tín đồ (1) thanh lọc bản thể, tinh khiết tinh thần, luyện tập Bi Trí Dũng, để góp phần tránh quả báo luân hồi; và (2) đặc biệt, kiềm chế Thất tình (bảy tình cảm: mừng; giận; thương; ghét; buồn; vui; và muốn) và Lục dục (sáu ham muốn: nhìn thấy sắc đẹp; nghe âm thanh êm tai; ngữi mùi thơm dễ chị; món ăn ngon miệng; xác thân sung sướng; và ý nghĩ được thỏa mãn).

Người ăn chay, nhất là ăn chay trường, thì tương đối có thể dễ dàng giữ Ngũ giới vì:

  1. Ăn chay thì tránh được sát sinh trong sự ăn uống. Đã không nỡ giết hại sinh vật để ăn thì cũng không nỡ giết sinh linh cho thỏa ý thích của mình. (Giới thứ nhất: Bất sát sinh);
  2. Hễ không ăn thịt thì cũng dễ cử rượu, vì rượu thịt lúc nào cũng đi đôi với nhau như bóng với hình. (Giới thứ hai: Bất tửu nhục);
  3. Không ăn thịt và uống rượu thì lòng dục lắng xuống, nên không nghĩ tới việc tà dâm, phá hoại nền nếp gia đình của người khác. (Giới thứ ba: Bất tà dâm);
  4. Nhờ ăn chay mà lòng tham lam vật chất ít có cơ hội nảy nở. Đã tu thì dễ diệt được lòng tham muốn của cải tiền tài vì khi chết, linh hồn không thể mang theo của cải vật chất mà chỉ có thể đem theo công đức mình đã làm và tội lỗi mình đã phạm. Do đó, việc trộm cướp hay gian lận tài vật ít khi xảy ra. (Giới thứ tư: Bất du đạo);
  5. Nhờ ăn chay mà tâm hồn dễ trở nên thanh cao, tránh được việc nói dối lường gạt người, gây đau khổ cho người mà đem lợi lộc về cho mình. (Giới thứ năm : Bất vọng ngữ).

VIII. GIỮ ĐẠO LÝ LUÂN THƯỜNG

Người tín đồ đạo Cao Đài còn phải gìn giữ và vun đắp các giá trị rút tỉa từ Nho giáo. Đó là:

  1. Tam cương: Ba giềng mối Vua tôi, Cha con và Vợ chồng;
  2. Ngũ thường: Năm tính hằng có là Nhân (Nhơn), Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
  3. Tam tòng: Dành cho phụ nữ gồm 1) lúc còn ở nhà thì vâng lời cha mẹ; 2) lấy chồng thì phải thuận thảo với chồng; và 3) chẳng may chồng qua đời sớm thì phải hết lòng chăm sóc dạy dỗ con cái.
  4. Tứ đức: Bốn đức hạnh của phụ nữ, gồm 1) công; 2) dung; 3) ngôn; và 4) hạnh.
  5. GIỮ TỨ ĐẠI ĐIỀU QUI

Gồm Bốn điều luật lớn, đòi buộc người tín đồ phải tuân theo trong cuộc sống hằng ngày.

  1. Phải tuân lời theo dạy của đấng bậc bề trên. Không hổ thẹn khi nghe lời góp ý, sửa sai của kẻ thứ bậc thấp hơn mình. Dùng lễ nghĩa sống hòa mình, hòa thuận với mọi người. Nều mình lỡ có lầm lỗi thì phải ăn năn và chịu thiệt thòi.
  2. Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, phải quên mình để giúp cho việc của người khác được có kết quả. Giúp người khác tu tập, sống đúng với Đạo, đừng bao giờ nhớ tới cừu hận riêng của mình; chớ trù ếm, vùi lấp người hiền đức, có năng lực.
  3. Bạc tiền xuất nhập rõ ràng, chính xác; đừng vay mượn rồi không chịu trả. Đừng bao giờ xem thường hoặc khinh dễ người trên lẫn kẻ dưới; nếu mình là người trên thì phải giữ lễ trong khi dạy kẻ dưới. Nếu mình là kẻ dưới thì phải khiêm tốn và cung kính khi can gián người trên.
  4. Đối xử với ai thì dù trước mặt hay sau lưng họ, lúc nào cũng phải có thái độ trước sau như một, đừng có trước thì kính trọng, sau thì khinh khi người ta.

Tóm lại, trong việc cư xử với người và đời đều phải lấy lòng khiêm nhượng và cung kính làm đầu. Tinh thần của lễ là kính. Nếu đã kính người thì luôn luôn hết lòng kính và tin, dù có mặt người đó hay không cũng vậy. Đừng thấy giàu sang mà quí trọng, chẳng nên thấy nghèo khó mà khinh thường. Nên dùng lời nói nhỏ nhẹ mà khuyên bạn hữu làm điều thiện. Phải hết lòng tôn trọng và tuân giữ phép nước và luật đạo. Đó là phương pháp tự mình tu sửa bản thân và lập công đức vậy.

  1. LUYỆN TAM BỬU, THIỀN ĐỊNH, v.v.

Đậy là phương pháp luyện Tinh, Khí, Thần và Tọa thiền cùng nhiều Bí pháp khác dành cho hạng Thượng thừa.

Luyện Tam Bảo (Bửu) tức là luyện Tam hoa tụ đỉnh. Tam hoa, cũng gọi là Tam Bảo, gồm (1) Tinh; (2) Khí; và (3) Thần, ba cái tốt đẹp của con người. Tinh là chất tinh túy của xác thân; Khí là khí chất bổ dưỡng theo máu, luân lưu nuôi dưỡng cơ thể; Thần là trí não, sự sáng suốt hiểu biết.

Tam hoa tụ đỉnh là luyện cho Tinh Khí Thần hiệp nhất, tụ lại nơi đỉnh đầu, gọi là Nê Hoàn cung. Muốn được như vậy, hành giả trước hết phải bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần; kế đó, phải luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần hoàn (hườn) Hư. Tới khi Tam Bảo hiệp nhất nơi Nê Hoàn cung, thì mới tạo được Chân (chơn) thần huyền diệu, xuất nhập thể xác qua cửa Nê Hoàn cung mà vân du giao tiếp với quí vị ở cõi thiêng liêng.

Thiền định, còn gọi là Thuyền định, nghĩa là đặt mình trong trạng thái tĩnh lặng, để được giải thoát hoàn toàn và giác ngộ viên mãn.

Hành giả (người theo thiền định) khi sinh hoạt bất cứ việc gì thì cũng giữ cho con tâm của mình chú ý, hồn nhiên và an tịnh. Nếu Tọa thiền thì ngồi theo tư thế kiết già – còn gọi là tư thế hoa sen – thở bụng, rất sâu rất nhẹ và đều, tay giữ Thiền ấn, và giữ cho lòng được trống không – tâm vô niệm – đó cũng là chánh niệm. Đức Đông Phương Lão tổ giáng cơ định nghĩa rằng:”Vô niệm là gì? Vô niệm đây là không niệm những gì ưu tư phiền não, buồn giận ghét ưa theo cơ quan ngũ tặc, mà phải bế lại thâu (thu) vào bên trong, độc hành chánh niệm… Chánh niệm là gì? Cái vô niệm chẳng phải là không cho chánh niệm, mà là không cho tà niệm… Chỗ gọi là tà niệm là dục niệm. Cho nên vô niệm là tâm không nhiễm trước, không tà không dục”.

CHƯƠNG IV: NGHI LỄ VÀ THỜ PHỤNG

So với các tôn giáo khác, nghi lễ và cách thức thờ phụng của đạo Cao Đài thuộc loại giản dị nhất, tuy thế, vẫn đạt tới mức thành tâm và trang trọng nhất. Tín đồ chỉ cần hằng ngày cầu nguyện ở trong riêng của mình nhà mình (tư gia) hay ở thánh thất của cộng đoàn.

Theo nguyên tắc, tín đồ không được xây bàn, cầu cơ và cầu đồng, để tránh sự lợi dụng thần quyền của những kẻ dựa vào cơ bút, đồng bóng. Không có phép xưng tội như bên Thiên Chúa giáo. Số lượng chức sắc chỉ vừa đủ để giảng đạo, để khuyên nhủ tín đồ sống đúng với luật Đạo được qui định cụ thể trong giáo lý.

Hình ảnh thờ phụng tượng trưng cho Ngọc hoàng Thượng đế Đấng Chí tôn là Thiên Nhãn.

Tại thánh thất, việc thiết lập bàn thờ thì tùy vào khung cảnh của thánh thất và của chi phái mình, nhưng trên cao, ở nơi trang trọng nhất, vẫn phải là hình Thiên Nhãn.

Tại tư gia, bàn thờ cũng bày biện tùy theo chi phái và hoàn cảnh gia đình. Nhưng phải có đủ các khí cụ thờ phụng để khi hành lễ thì thắp nến, thắp hương, và trang trọng hơn thì đốt trầm.

Hằng ngày, tín đồ đạo Cao Đài hành lễ bốn lần, gọi là cúng tứ thời, vào : 1/ giờ Tí – 24 giờ nửa đêm; 2/ giờ Mẹo (6 giờ sáng); 3/ giờ Ngọ (12 giờ trưa); và 4/ giờ Dậu (6 giờ chiều). Việc hành lễ hằng ngày cũng là phương pháp hàm dưỡng tâm tính cho bản thân mình và toàn cả gia đình. Thân nhân của tín hữu Cao Đài còn tụ họp để kinh nguyện trong các dịp thờ phụng tổ tiên, lễ lạc của gia đình và giỗ húy nhật.

Mỗi tháng hai ngày. (1) Ngày Mùng một đầu tháng (sóc) và (2) ngày Rằm trăng tròn (vọng), các tín hữu phải tề tựu tới thánh thất để làm lễ, dưới sự chủ lễ của một chức sắc. Ngoài ra còn có những ngày đại lễ, cũng như những dịp hôn phối, lễ nhập đạo của dâu rễ hoặc con cái.

Lễ vật dâng cúng trong những buổi hành lễ rất đơn sơ, chủ yếu là hoa, rượu và trà, tượng trưng cho Tinh, Khí và Thần. Sáng sớm và buổi chiều cúng dâng nước trà, trưa và đêm thì dâng rượu lễ chưng cất bằng trái nho. Những ngày sóc và vọng hay đại lễ, kỵ giỗ, thì có thêm phần cúng lễ bằng hoa quả.

Trong lúc thờ phụng các tín hữu đọc kinh hoặc hát thánh ca theo trong sách đã soạn sẵn cho từng dịp lễ. Về nhạc lễ, các thể điệu được dùng trong đạo Cao Đài phần nhiều rất giống bài bản thường dùng trong lễ nhạc dân gian miền nam Việt Nam với bát âm và các nhạc cụ dân tộc như trống, chiêng, mõ, đàn, kèn, tiêu, thiều,v.v.

CHƯƠNG IV: TỔ CHỨC CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

Một cách tổng quát, đạo Cao Đài được tổ chức rất chặt chẽ với những sinh hoạt và quản lý rất có tính nội bộ – có phần giống với hệ thống tổ chức và phẩm trật tăng lữ của giáo hội Công giáo La Mã – với một Tòa thánh ở trung ương và ba ngành giống như tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp và tư pháp), cùng các cơ sở tôn giáo hàng dọc (hạ tầng cơ sở) ở cấp tỉnh, thành phố, thị trấn, làng xã, tương ứng với các cấp chính quyền trong một nước; từ trên xuống dưới, nếu đầy đủ thì có năm cấp. Ở hạ tầng cơ sở thì có Tỉnh đạo (hoặc Châu đạo), xuống tới Họ đạo (ở quận hoặc xã tùy vào số lượng phát triển tín đồ) Cao Đài, có các chức việc gọi là Ban Trị sự; còn việc tế tự tại thánh thất của Họ đạo (cũng có khi gọi theo lối dân giã là “chùa”) thì thường là một vị Lễ sinh cử xướng, do từ bên trên phong và cử xuống.

Đạo Cao Đài có các tu viện, được gọi là tịnh thất, dành cho những tín đồ muốn đến ở nội trú mà thường trực tu luyện ngày đêm.

Ngoài tầng lớp tín đồ, đạo Cao Đài có giới tăng lữ – không phân biệt nam nữ – bao gồm những vị Thiên phong từ phẩm trật Giáo hữu (để dễ hiểu, có thể so sánh với chức thánh Linh mục, Mục sư của Thiên Chúa giáo hay Tì kheo của Phật giáo) trở lên; cũng có chi phái gồm cả chức Lễ sinh vào giới tăng lữ.

Sách Lược sử Đạo Cao Đài của Hội thánh Truyền giáo Cao Đài có mô tả một cách chi tiết hệ thống tổ chức của Giáo hội, các cơ quan dành cho tăng lữ và dành cho quần chúng tín đồ với những danh xưng, chức năng và thẩm quyền tương ứng như dưới đây.

Để giáo hóa nhân sinh và quảng bá. rao truyền chân đạo, đạo Cao Đài thể theo ba yếu tố cấu tạo càn khôn sự vật là Lý, Khí, Hình hay Tinh, Khí, Thần, mà tổ chức Giáo Hội gồm có ba đài:

– Bát quái đài;  

      – Cửu trùng đài;

      – Hiệp thiên đài.

  1. Bát quái đài (Octogonal Divine Palace), hay là Vô vi đài, tượng trưng cho hồn của Đạo. Bát quái đài do Đức Thượng đế Chí tôn thống ngự, chưởng quản toàn thể Phật, Thánh, Tiên, Thần và nắm quyền siêu rỗi toàn linh.
  2. Cửu trùng đài (Palace of Nine Degrees of the Episcopal Hierachy), hay Hữu hình đài, tượng trưng cho xác của Đạo, hồn phải dựa vào xác để vận dụng cơ năng sinh hoạt hầu được tiến hóa. Bát quái đài cũng vậy, cần có Cửu trùng đài để làm cơ sở giáo hóa phổ độ chúng sinh. Cửu trùng đài có công năng mở đường giải thoát cho nhân sinh để thành Tiên tác Phật. Cửu trùng đài do Giáo tông (Pope) chưởng quản, tùng quyền điều độ lập pháp của Bát quái đài. Dưới Giáo tông có các cấp như:

3 vị Chưởng pháp (Legis-Cardinal; Censor Cardinal)

3 vị Đầu sư (Cardinal)

36 vị Phối sư (Archbishop)

72 vị Giáo sư (Bishop)

3.000 Giáo hữu (Priest)

  • Lễ sinh (không giới hạn số lượ‹ng) (Student-Priest)
  • Chức việc (Chánh, Phó Trị sự và Thông sự)
  • Nhân sinh tín đồ.

Từ Giáo tông đến tín đồ gồm có chín phẩm, gọi chung là Hội thánh Cửu trùng Đài. Chức sắc Cửu trùng đài gồm: — Ba chức Thiên phong là 1/ Lễ sinh [để dễ hiểu, cương vị như chức Phó tế của Thiên Chúa giáo); 2/ Giáo hữu (cương vị như chức Linh mục, Mục sư, Tì kheo]; và 3/ Giáo sư (cương vị như chức Giám Mục của TCG]. — Ba chức Đại Thiên phong là 1/ Phối sư [cương vị như chức Tổng Giám mục của TCG); 2/ Đầu sư (cương vị như chức Hồng y của TCG]; và 3/ Giáo tông ‘tại thế’ (cương vị như chức Giáo Hoàng của TCG).

Chức sắc Đại Thiên phong hành sự tại Tòa thánh Trung ương.

Các chức sắc Thiên phong đi hành đạo khắp nơi, hoặc giữ các cơ quan hành sự trong Đạo.

Chức sắc Cửu trùng đài có 3 phái: 1) Thái; 2) Thượng; và 3) Ngọc. Cả ba được phân công phụ trách các cơ quan của Hội thánh để nâng đỡ tín đồ về các phương diện: a) nhân đức; b) nhân sinh; và c) nhân trí. Ba chữ Thái (Phật giáo), Ngọc (Khổng giáo), Thượng (Lão giáo) đứng trước tên thế gian của một tín đồ cộng với chữ Thanh làm thành thánh danh (tên thánh) của đạo hữu; cho thấy tôn giáo gốc của người đó trước ngày gia nhập đạo Cao Đài. Thí dụ Thái Hữu Thanh, Ngọc Quân Thanh, Thượng Huệ Thanh.

  1. Hiệp thiên đài (Palace of Meeting Between God and Mankind; Temple of the Divine Alliance) là cơ quan bán hữu hình, làm trung gian giữa Bát quái đài và Cửu trùng đài, làm môi giới giữa vô vi và hữu hình. Hiệp thiên đài là nơi Giáo tông đến thông công cùng Đức Thượng đế và Chư Phật, Thánh, Tiên để điều độ đúng đường cơ phổ độ và siêu rỗi toàn linh.

Bát quái đài ban pháp lập đạo. Cửu trùng đài cầm pháp hành đạo. Hiệp thiên đài bảo pháp hộ đạo và cũng là cơ quan chuyên trách việc đàn cơ hiệp với Đấng Chí tôn trong tinh thần ‘Thiên Nhân hiệp nhất’.

Hiệp thiên đài đặt dưới quyền chưởng quản của Đức Hộ pháp (The Maintainer of the rules and laws; The Chief of Temple of Divine Alliance).

Dưới Đức Hộ pháp có 2 vị Thượng phẩm (Chief of the Sacerdotal Body) và Thượng sinh (Chief of All the Lessen Order of the Religion) cùng 12 Thời quân (Cardinal), phân ra ba chi 1) Thế (Life); 2) Pháp (Laws); và 3) Đạo (Religion).

Ngoài ra, trong hoạt động của Đạo, các quyết định hệ trọng đều do các hội cộng đồng quyết nghị, theo thứ tự từ dưới lên trên.

  1. Hội Nhân sinh (The Popular Council) : gồm từ hàng Lễ sinh xuống đến tín đồ nam nữ.
  2. Hội thánh (Sacerdotal Council, Assembly of Saints) : gồm từ Giáo hữu đến Phối sư
  3. Thượng hội (The Superior Council) : gồm các chức sắc từ Chánh Phối sư trở lên.
  4. Đại hội Vạn linh (The General Assembly of All the Souls) : gồm chung các Hội Nhân sinh, Hội thánh và Thượng hội, tức là toàn thể Giáo hội quyết định và cầu Đức Chí tôn phê chuẩn, theo lẽ Nhân ý hiệp cùng Thiên ý, tức là ‘Thiên Nhân hiệp nhất’. Vậy nên đạo Cao Đài không có tính cách thần quyền tuyệt đối.

Về giới luật tu hành, toàn thể giáo đồ đạo Cao Đài được chia thành bốn hạng:

  1. Chức sắc Cửu trùng đài từ Lễ sinh trở lên, tất cả phải phế đời [bỏ việc đời qua một bên] hành đạo, trường trai thủ giới.
  2. Chức sắc Hiệp thiên đài phải trường trai tuyệt dục giữ thân tâm thanh tịnh để chấp cơ tiếp xúc Thiêng liêng giáo hóa nhân sinh.
  3. Tín đồ nam nữ giữ ngũ giới cấm, tứ đại điều qui, thiết Thiên bàn thờ tại nhà, lễ bái mỗi ngày bốn buổi (Tý, Ngọ, Mẹo [Mão], Dậu).
  4. Hạng tối thượng nhất thừa không phân biệt chức sắc hay giáo đồ, hành đạo lâu năm, công viên quả mãn, ly gia cắt ái, được vào tịnh thất (hay thánh tịnh) tu luyện theo Thiên Đạo để siêu phàm nhập Thánh.

Như những gì được trình bày ở trên, đạo Cao Đài được tổ chức có qui củ, theo một qui mô chặt chẽ, rộng lớn, để có đủ khả năng và công dụng truyền bá chân (chơn) đạo khắp hoàn vũ (địa cầu).

CHƯƠNG V: THỜI KỲ MỞ MANG VÀ PHÂN CHIA CHI PHÁI

Theo cuốn Lược Sử Đạo Cao Đài đã dẫn thì

“Đạo càng ngày càng bành trướng, nhơn sinh tín ngưỡng càng thêm đông, thì sự mở rộng pháp môn để thêm nhiều phương tiện độ dẫn nhơn sinh tùy theo căn cơ trình độ mỗi người là việc tất nhiên. Do đó, đạo phân chia ra nhiều chi phái, mỗi chi phái tích cực hoạt động theo đường lối mình và đã đem mối đạo truyền rộng khắp các nơi.

“Sau khi đạo đã công khai tổ chức xong, Đức Ngô Minh Chiêu nhường cơ Phổ độ cho Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt [Lê Văn Trung] để trở về Cần Thơ chuyên lo việc tịnh luyện, truyền dạy khoa nội giáo bí truyền, để đạt cơ siêu phàm nhập Thánh. Về sau Ngài qui liễu, môn đệ của Ngài lập thành phái đạo Chiếu Minh.”

Sự phân chia ngày càng nhiều, chính có phụ có. Để giúp tín đồ Cao Đài hiểu biết nhau hơn, chúng tôi có thể tạm thời liệt kê như sau :

  1. Chiếu Minh: cũng gọi là Chiếu Minh Tam Thanh, do tiền bối Ngô Minh Chiêu thành lập, sau khi Ngài tách rời khỏi cơ Phổ độ về ở Cần Thơ ngày 24.04.1926. Về sau gọi là Chiếu Minh Vô vi vì chủ trương tu đơn (đan) và phân thành Chiếu Minh Long Châu, Cao Đài Thượng đế Hội giáo hay là Chiếu Minh đàn. (Việc trần thiết Thiên bàn của phái Chiếu Minh khác với bên Phổ độ; trên thờ Thiên Nhãn, dưới có tam bửu nhang đèn, thêm hình ngài Ngô). Về sau, phái Chiếu Minh cũng chia thành nhiều chi như: Khăn Trắng, Khăn Đen, Long Châu.
  2. Minh Chơn Lý (1931-1935): đặt tại Cầu Vỹ (Định Tường) do tiền bối Nguyễn Văn Ca (Ngài Thái Ca Thanh) thành lập. Phái này hoạt động với sự cộng tác của phái Cầu Kho của tiền bối Trần Đạo Quang gồm quí vị chức sắc và đạo hữu hai miền Tiền Giang, Trung Giang và Hậu Giang như quí vị Lê Kim Tỵ, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Thiệu, v…v..

Phái Minh Chơn Lý theo đuổi ba mục đích : 1) chấn chỉnh nền đạo; 2) lo phổ độ người vào cửa đạo; và 3) ra kinh sách khuyến thiện như kinh Tu chơn thiệp quyếtChánh giáo thánh truyềnChánh tà yếu lý; Giác mê khải ngộ. Các bài kinh nhật tụng bằng chữ quốc ngữ như Kinh xưng tụng Thầy, Mẹ, Tam giáo.

Phái này ban đầu hoạt động rất qui mô, nhưng về sau thu hẹp dần nên sự phát triển rất hạn chế.

  1. Tiên Thiên: do Ngài Giáo hữu Thượng Chính Thanh thành lập năm 1931, trụ sở trung ương tại Sóc Sải (Bến Tre). Trước ngày khai đạo, tiền bối đã theo học Đạo tại Toà thánh Tây Ninh. Sau tiền bối lập đồng tử riêng để cầu cơ nên rời khỏi Thánh địa Tây Ninh. Tiền bối về quê nhà làng Phước Mỹ Tây, quận Cái Bè (Định Tường) lập ra phái Tiên Thiên. Tiền bối hành đạo theo lối riêng của mình.

Vào khoảng hai năm 1932 và 1933 có một số chức sắc Minh Chơn Lý [chân lý] thích nghe thiên cơ nên gia nhập vào phái Tiên Thiên như quí vị Lê Kim Tỵ, Nguyễn Văn Tòng, v…v. Phái này lập Thất thập nhị tịnh và ấn tống nhiều kinh sách như Tiếng trống giác mê; Minh giáo thánh truyền; Thi văn diệu lý; Ngọc minh kinh; Diệu minh kinh; Bát bộ chơn kinh; Thánh đức chơn kinh, v.v..

Cơ bút phái Tiên Thiên phong cho tiền bối Thượng Chính Thanh làm Ngọc Chưởng pháp và chỉ định Vĩnh Nguyên Tự làm hội quán Hiệp thiên đài dưới quyền chưởng quản của tiền bối Ngọc Lịch Nguyệt (1890-1947).

Phái Tiên Thiên có một sắc thái riêng biệt, hoạt động rất rộng do nhiều chức sắc tài ba lỗi lạc, nên đã tạo tác được gần đủ 72 thánh tịnh, và sau cùng là xây dựng được một cơ sở có tầm mức quan trọng, lãnh sứ mạng đem Đạo về miền Trung thành công. Phái này chỉ phục sức toàn màu trắng.

  1. 4Minh Chơn Đạo hay Cộng đồng Hội giáo: Đặt tại Giồng Bướm, quận Phước Long (Bạc Liêu), tên gọi là Toà thánh Ngọc Minh hay là Toà thánh Hậu Giang. Phái này do ba vị Đại Thiên phong của phái Minh Chơn Lý chủ trì là chư vị tiền bối Trần Đạo Quang, Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Thiệu. Tiền bối Phát thụ phong Thái Chưởng Pháp. Sau Toà thánh Tây Ninh, phái Minh Chơn Lý, Ban Chỉnh Đạo, phái Tiên Thiên, phái Minh Chơn Đạo có một số thánh thất và nhiều đạo hữu rải rác khắp các tỉnh miền Hậu Giang. Phái này hành y theo Tân Luật  Pháp Chánh Truyền, lo việc phổ độ nhân sinh. Nhưng về sau, chuyển hướng, thờ Trái tim và Thập ngũ linh đăng.
  2. Ban Chỉnh Đạo: Được thành lập vào năm Giáp Tuất (1934) do Ngài Đầu sư Ngọc Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương), trụ sở trung ương tại Bến Tre. Ngài Đầu sư Ngọc Tương Thanh là vị Giáo phẩm đã rời Tòa thánh Tây Ninh sau cùng, khi sự hàn gắn nội bộ bị rạn nứt, không thể cứu vãn được nữa. Ngài về An Hội thuộc Châu Thành tỉnh Bến Tre, cùng với hai vị tiền bối Thiên phong là Lê Bá Trang và Nguyễn Văn Lai, lập ra Ban Chỉnh Đạo với tâm nguyện là lấy hậu thuẫn nhân sinh để chính đốn lại công việc của nền Đạo, nhưng ngược lại, lại đưa tới việc trở thành một Hội thánh biệt lập. Về sau gọi là Hội thánh Bến Tre mà tiền bối Nguyễn Ngọc Tương là Giáo tông. Tiền bối Lê Bá Trang được thăng lên chức Chưởng pháp.

Sau Toà thánh Tây Ninh, phái Bến Tre có tới mấy trăm thánh thất cùng mấy trăm ngàn tín hữu. Phái này hành đạo theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và Thánh ngôn Hợp tuyển như buổi ban sơ. Tiền bối Tương nhập tịnh năm 1942  và qui vị năm 1951.

  1. Bạch Y Liên đoàn: Do Ngài Đầu sư Ngọc Tài Thanh (Nguyễn Bửu Tài) thành lập năm Bính Tý (1936), trụ sở tại Rạch Giá.
  2. Cầu Kho : thành lập năm 1930. Ban đầu chỉ có tên là tiểu Thánh thất Cầu Kho (Sài Gòn). Nơi đây từng là nơi sinh hoạt sớm nhất của các vị chức sắc tiền bối khi còn là nhà tư của cụ Đốc học Đoàn Văn Bản ở miệt Cầu Kho. Thánh thất này có chủ trương trung lập, dung hòa mọi chi phái, nhưng sau khi các phái đã thành hình và có sự hoạt động riêng rồi thì nơi đây lại cũng mặc nhiên trở thành một phái.

Thánh thất Cầu Kho nay đổi tên là Nam Thành Thánh thất, ở đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn. Đây là trung tâm tu học, thuyết pháp ra sách, báo chí, phổ độ nhân sinh.

Lãnh đạo phái này có quí vị tiền bối Đoàn Văn Bản, Vương Quan Kỳ, Võ Văn Tường, Trần Quang Minh, Huỳnh Trung Tuất, Nguyễn Phát Trước (tự Tư Mắc). Về sau thêm quí vị tiền bối Lương Văn Bồi, Phan Trường Mạnh, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Phùng….

Một số quí vị Thời quân Hiệp thiên đài ở Toà thánh Tây Ninh cũng từng đến đây hội đàm Đạo sự như quí tiền bối Nguyễn Bảo Pháp, Lê Bảo Thế, v.v.

  1. Tây Ninh: Tòa thánh Tây Ninh chính là Tổ đình Trung ương của Đạo Cao Đài, không mang sắc thái của một phái. Nhưng vì đang lúc trong cơ phát triển, nội bộ Tòa thánh đã có sự bất đồng về chủ trương; về sau càng ngày càng rạn nứt nghiêm trọng. Cuối cùng các vị Đại Thiên phong chức sắc cao cấp lần lựợt ra đi để thành lập phái riêng hầu mong chấn chỉnh lại Tòa thánh, nhưng rồi rốt cuộc Tòa thánh cũng mặc nhiên thành một phái.
  2. Hội thánh Truyền giáo Cao Đài: Được chính thức thành lập vào ngày 01.02 Bính Thân (1956), là hậu thân của Quyền Hội thánh Trung kỳ vốn được thành lập vào ngày 15.07 Kỷ Mão (1939). Đây là một giáo sở tiêu biểu cho sự phát triển rầm rộ không ngừng của nền Đại Đạo, đã do hầu hết các chi phái đạo ở miền Nam chung tay góp sức làm nên. Do đó, Hội thánh Truyền giáo Cao Đài tự thân không phải là một chi phái đối diện với các chi phái miền Nam, mà trái lại, Hội thánh Truyền giáo Cao Đài là hiện thân sự hòa hiệp của mọi chi phái Đạo, đúng như bản chất cố hữu mà Thánh giáo đã minh họa là “chung sức rán vun nền đạo đức”.

Sau đó, cơ Đạo miền Trung đã lần lượt hình thành qua các giai đoạn thời gian dưới sự hướng dẫn của Đấng Thiêng liêng, và nơi đây có một phương châm sinh hoạt thuần nhất, đó là giữ vai trò trung lập ”Không chi phái, không địa phương, chỉ một lòng phụng sự Đạo Trời”. Tuy nhiên, với phương châm ấy rồi cũng có một sắc thái đặc biệt của nó, cho nên cuối cùng Hội thánh Truyền giáo Cao Đài tại Đà Nẵng cũng đứng riêng thành một phái để chờ ngày hội hiệp với toàn thể. Hội thánh Truyền giáo Cao Đài đã trải qua ba giai đoạn phát triển để có được sự hiện hiện như ngày nay, đều đã được điều độ trên cơ sở Pháp Chánh truyền, Tân Luật và Thánh ngôn Hợp tuyển.

  1. Thông Thiên Đài: do quí vị tiền bối Nguyễn Văn Nhã (bác sĩ), Lê Quang Hộ (đốc phủ) và Quách Văn Nghĩa (Đại điền chủ) lập nên. Ngoài ba vị ấy, còn có chín vị khác như tiền bối Huê Chương (tiền bối Thân), Nguyên Ngọc (tiền bối Đức), Cẩm Đình, Quảng Vân ..v…v.

Phái Thông Thiên Đài có liên lạc với Tòa thánh Tây Ninh nhưng không chịu qui về Toà thánh. Thánh thất phái này đặt tại Đông Sơn, tổng Hoà Đồng thượng (tỉnh Gò Công).

  1. Liên Hoà Tông Phái: hay Liên Hoà Tổng hội đặt tại Thánh thất Cầu Kho (Sài Gòn) do tiền bối Nguyễn Phan Long và tiền bối Trần Văn Quế lập nên năm 1935. Vì nhận thấy sự chia rẻ chi phái làm tổn thương quá nhiều uy tín của nền Đạo nên phái này lập ra để liên hoà.
  2. Trung Hoà Học Phái: hay Nữ Trung hoà (Trong sách Histoire et Philosophie du Caodaisme của Gabriel Gobron ghi lầm là hai phái) do quí tiền bối Phan Trường Manh, Trương Kế An tổ chức có tính cách thanh niên. Chú trọng vào sự học tập, hành đạo hơn là một chi phái có nhiệm vụ hành chính và phổ độ. Tiền bối An thụ phong Bảo Y Quân (1972)

Trung Hoà Học Phái đặt tại Thánh thất Minh Đức (Kiên Giang) do bà Nữ Đầu Sư Ngọc Nhiên Hương Chưởng quản. Hiện nay đặt tại Sài Gòn.

  1. Tây Tông Vô Cực: do tiền bối Nguyễn Bửu Tài lập nên, trụ sở đặt tại thánh tịnh Tây tông Vô Cực cung ở làng Chẹt Sây (Kiến Hoà).

Phái này cũng như phái Tiên Thiên gồm các bậc chân tu, trường trai, tuyệt dục, ly gia cắt ái, chuyên luyện kim đan theo lối cổ. Sở dĩ gọi là Tây Tông nhằm đối lại với phái Đông Tông của tiền bối Ngô Minh Chiêu từ Phú Quốc dời về Sài Gòn (phía đông Nam phần).

  1. Tuyệt Cốc: do hai tiền bối Nhuận và Ruộng (Nguyễn Ngọc Điền) trước làm công quả tại Toà thánh Tây Ninh, sau đó tách riêng với một số người xuống tóc, mặc áo dài tuyệt cốc (không ăn ngũ cốc) rồi cùng nhau vào đại điện của Đền (Tòa) thánh (Tây Ninh) lên ngồi trên bảy cái ngai trước Bát quái đài (gồm 1 ngai Giáo tông, 3 ngai Chưởng pháp và 3 ngai Đầu sư) (theo Hoài Nhân, Bốn mươi năm lịch sử đạo Cao Đài [1926-2966] Biên Hoà 1966). Chi phái này chưa có chức sắc, thánh thất, hành đạo và truyền đạo.

oOo

Thực tế, ngày nay con số thánh thất tự trị lập nên rất nhiều; lắm nơi lớn mạnh, trong khi 14 chi phái vừa kể thì có một số hầu như chẳng còn dấu vết gì. Ngoài 14 phái trên, còn có các phái đáng kể thểm là :

  1. Bạch Y Chơn Lý: Do quí vị tiền bối Nguyễn Văn Tòng, Tô Bửu Tài lập thành thánh thất tại Mông Thọ (Kiên Giang) gọi là Hội thánh Bạch Y chuyên lo phổ độ chúng sinh, củng cố nội bộ theo Tân luật, Pháp Chánh truyền, nhưng chỉ vận toàn đồ trắng.
  2. Tam Kỳ Nguyên Bản: được thành lập bởi Ngũ vị Thiên sư của phái Minh Chơn Lý tách ra làm thành một nhóm gồm quí vị tiền bối Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Phấn và nhiều vị nữa. Phái này đã đi đến chỗ siêu hình siêu tướng về cách thờ phụng, trên Thiên bàn không có hình tượng dấu hiệu gì cả. Thánh thất đặt tại Tiên An với lối kiến trúc đặc biệt, số lượng tín đồ ít.
  3. Toà Thánh Nhị Giang: đặt tại Châu Đốc (An Giang). Toà Thánh này thi hành theo Tân Luật  Pháp Chánh truyền, và cũng có Hội thánh lưỡng đài.
  4. Toà Thánh Tiền Giang: đặt tại thánh tịnh Minh Kiến Đài thuộc làng Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp (Gia Định).

CHƯƠNG VI: VIỆC HIỆP NHẤT CÁC CHI PHÁI

Vào khoảng các năm 1945-1946 quí vị tiền bối Nguyễn Hữu Đắc, Lê Kim Tỵ thành lập cơ quan Cao Đài Hiệp nhất để qui hiệp các chi phái. Về sau, Cựu Quốc trưởng Phan Khắc Sửu (1893-1979) thành lập Cao Đài Thống nhất cũng để qui tụ các chi phái, nhưng việc vẫn không thành.

Vào 15 tháng 6 năm Giáp Thìn (1964) một cuộc đại hội của Đại diện Hội Thánh các chi phái đạo Cao Đài tại Tam giáo điện Minh Tân (Sài Gòn) gồm có Đại diện của bảy Hội Thánh và Đại diện của chín tổ chức (cơ quan) Đạo, mục đích là tìm phương pháp qui hiệp thống nhất các chi phái Cao Đài về Toà thánh Tây Ninh. Đại hội giao cho tiền bối Phan Khắc Sửu chủ toạ phiên họp.

Đại hội quyết định thành lập ban vận động lấy hiệu là Tổng hợp Chi phái Cao Đài, tạm thời uỷ quyền cho tiền bối Trần Văn Quế (1902-1980) phụ trách việc tiếp xúc với các Hội thánh.

Đại hội Tổng hợp Chi phái Cao Đài họp ngày 16 tháng 7 năm Giáp Thìn (tức 23.8.1964) tại thánh thất Nam Thành gồm có bảy đại diện các Hội thánh. Sau khi bàn thảo, thành lập Ban Chấp hành Lâm thời với danh hiệu  Ban Vận động Tổng hợp Chi phái Cao Đài. Vị Tổng Thư ký là tiền bối Trần Văn Quế (Tiền bối Trần Văn Quế thụ phẩm Giáo sư tại Toà thánh vào năm 1948 và có chân trong Khảo Cứu vụ, đại diện Hội thánh Truyền giáo). Những chức vụ khác chia cho các chi phái sau đây: Hội thánh Nhị Giang, Toà thánh Tây Ninh, Bạch Y Liên đoàn, Cộng đồng Hội giáo, v.v. Về sau tiền bối Trần Văn Quế có hướng dẫn phái đoàn về Toà thánh Tây Ninh để thống nhất nhưng bất thành, vì còn có một số ý kiến chưa tương hợp.

oOo

Như thế, tuy phân thành nhiều chi phái nhưng nói chung, việc tổ chức, thờ phụng và kinh sách vẫn tương đối không khác nhau nhiều. Cơ bản, các chi phái đều tôn trọng Thánh ngôn Hợp tuyển, Tân Luật và Pháp Chánh truyền.

Tác giả Huệ Minh đã trình bày thực trạng ấy với lòng thiết tha, cảm khái và những cái nhìn lạc quan như sau, trong bài “ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ: SÁNG KHAI – HÌNH THÀNH – PHÁT TRIỂN”, đăng ở báo Sống Đạo số 6, Xuân Quí Mùi 2003, tr. 60-61, như sau:

“Sự hình thành chi phái quá sức trầm trọng như kể trên, nhất định trong chúng ta không ai mong muốn cả. Tuy nhiên nếu tĩnh tâm mà phán xét thì trong sự phân chi phái ấy đã có một tác dụng lớn lao mà kết quả là cơ phát triển nền Đạo rất khả quan. Tác dụng này chỉ được phát sinh trong một thời gian tương đối ngắn, nhưng thành quả thì rất to lớn ngoạn mục. Thành quả này đối với con người, dù cá nhân ấy có tài trí đến bao nhiêu cũng khó đạt được.

“Ngoài ra, phái chi trong đạo Cao Đài tuy đã phơi bày một sự thực không kém phần chua chát, một tình huống quyết liệt đau buồn, thế mà trong đó hầu hết mọi người tín hữu Cao Đài của mọi chi phái tuyệt đối không có ý tỵ hiềm nhau, không có đối nghịch, hoặc hơn thế nữa, họ còn quí mến nhau và tỏ ra vui mừng vồn vã khi có dịp hội diện nhau.

“Một đặc điểm cao quí nhất trong các chi phái Cao Đài là vẫn thờ một Thầy là Thượng đế Chí tôn, vẫn thờ một Thánh tượng Thiên Nhãn, vẫn tụng một bài Chí tôn Bữu cáo như nhau và luôn luôn cầu nguyện cho nhau đến ngày triệt tiêu hết mọi hàng rào chi phái, thậm chí những hàng Chức sắc, Chức việc và Đạo tâm nam nữ đã tự ý tạo điều kiện cho nhau để được sinh hoạt chung dưới các hội trường thánh thất của nhau trong tinh thần cảm thông sâu sắc.

“Những sự thật đó khiến cho mọi người chúng ta tưởng chừng như đạo Cao Đài chưa bao giờ phân chia chi phái. Có lẽ hiện tượng đó là chân thật tự đáy lòng mọi người, nó là những ước mơ có thể trở thành thực sự trong một tương lai gần đây. Đó là niềm tin chính đáng mặc dù không kêu gọi thống nhất, nhưng vẫn có cơ sở đúng đắn, cho nên Đức Chí tôn dạy rằng:

“Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa

            Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

“Tóm lại, cơ phát triển của đạo Cao Đài đương diễn tiến không ngừng bằng nhiều cách, bằng nhiều yếu tố, nhiều nhịp độ khác nhau mà chúng ta với một khả năng hữu hạn của con người không thể nào nhìn thấy được, đó là điều hiển nhiên rất mầu nhiệm.”

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6114/feed 0
CỐT LÕI KINH KIM CANG VÀ DUY THỨC Thích Minh Không https://thuonghylenien.org/luu-tru/6088 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6088#respond Thu, 25 Apr 2024 06:29:03 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6088 CỐT LÕI KINH KIM CANG VÀ DUY THỨC
Thích Minh Không

kinh kim cang

Kinh kim cang và duy thức từ trên 2000 năm nay đã được bàn ngang bàn dọc rất nhiều do đó ngày hôm nay tôi chỉ đưa ra một cái nhìn cá nhân vào cốt lõi cúa 2 môn học thọat nhìn thì tương phản nhưng thật ra bổ túc và ôm ngoàm nhau như âm và dương, có và không. Trước khi đi vào chủ đề, tôi cũng nhấn mạnh và nhắc lại  tính chất bất định  và vô lượng nghĩa của phật pháp : nền tảng là giúp ta tiến triễn trên đường Đạo nhưng cái mà ta cho là chân lý có thể khác nhau tùy theo mỗi người, và ngay cả một con người cũng thay đối cái nhìn qua thời gian qua quá trình tu tậpChúng ta chỉ là những người mù sờ voi cho đến khi nào mở mắt (giác ngộ) thì mới thấy Chân Lý toàn vẹn.

Cốt lõi của kinh kim cang là tâm bình đẵng. Bình đẵng giữa con người với con người, bình đẵng giữa con người và chúng sinh khác, bình đẵng giữa chúng sinh và chư Phật. Bình đẵng là vì đồng nhất về thể tánh dù rằng khác nhau về tướng trạng và nghiệp thức. Nhưng thực hiện được tâm bình đẵng là thể hiện được tánh không.Nhưng không thể nào hiểu tánh không nếu cứ bám víu vào những cái có ; bám vào những gì gọi là sở đắc dù là vật chất hay tâm linh. Khi nhìn về tánh không nào là tánh không duyên khởi hay chân không diệu hữu vv..thì cũng khó mà sống được tinh thần tánh không. Có thể giản dị hơn khi nói rằng tánh không nói lên cái không nắm bắt được, cái vô sở hữu của mọi pháp từ vật chất tới tâm linh, từ đó phát triễn tâm xả bỏ, thực hiện tinh thần ‘ưng vô sở trụ…Cốt lõi của kinh kim cang nằm ở sự hiểu tứ tướng (hay tứ kiến) : tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả.

Tướng ngã là tướng chấp ngã  ; do tướng chấp ngã nên sản sinh ra chấp nhân tức là người khác, sinh ra chấp chúng sinh là tượng trưng cho những không gian ; bị ràng buộc vào một không gian nào đó ;  sinh ra chấp thọ giả là tượng trưng cho thời gian bị ràng buộc trong một thời hạn nhất định. Nói tóm lại vì cái nhân chấp ngã mà sinh ra các quả ; quả chấp ngã là ý thức phân biệt ta – người và nói rộng ra là ý thức nhị nguyên nhìn nhận những xấu tốt, thiện áclợi hại vv…, quả chúng sinh là ý thức biện biệt này cột chặc và giới hạn vào những không gian của lục đạo luân hồi (25 cảnh giới ), quả thọ giả là quả tượng trưng cho thời gian tức là cũng bị cột chặc vào thời gian mà không thoát được dù ngay cả sinh ra trong cõi trời đời sống có thể tới hàng vạn năm hoặc trong thoáng chốc như vài loài sinh vật…

Như vậy từ sự chấp ngã mà ý thức phân biệt dẫn ta đi lòng vòng hết kiếp này tới kiếp khác, sinh tử tiếp nối.

Cốt lõi của duy thức nhằm ở sự khẵng định ở nơi 8 thức tâm vương ( và cũng có thể hiểu rộng ra là ở mọi tâm thức dù là tâm sở…) được cấu thành do 4 yếu tố : kiến phầntướng phầntự chứng phầnchứng tự chứng phầnKiến phần hay gọi là chủ thể hay gọi là năng. Tướng phần hay gọi là đối tượng hay gọi là sở. Tự chứng phần và chứng tự chứng phần là nghiệp thức và chia ra biệt nghiệp ( cái nghiệp riêng) và cộng nghiệp ( cái nghiệp chung của loài đó hay của nhóm đó). Tám thức tâm vương là nhãn thứcnhĩ thứctỉ thức, thiệt, thân , ý, mạt na thứca lại da thức ( còn gọi là tàng thức).Thí dụ như nhãn thức hình thành qua căn mắt tiềp xúc với sắc trần nhưng vẫn nằm trong vòng kiềm toả của nghiệp chẵng hạn cộng nghiệp là nghiệp loài người ( nhãn thức hình thành giới hạn ở một độ xa gần , sáng tối, hay đối tượng sắc của loài người…)  và biệt nghiệp là nghiệp riêng của người đó ( mỗi cá nhân có nhãn thức khác nhau nhưng cũng không vượt qua được cái khả năng cuả cộng nghiệp) Trong kinh có diễn tả mắt con người thấy sông là nước trong khi loài ngạ quỷ thấy sông là lửa trong khi loài trời thấy sông là lưu ly, là ngọc quý…Cũng vậy nhĩ thức ở cộng nghiệp loài người, căn nhĩ sẽ chỉ nghe được những âm thanh ở những tần số và décibel nhất định và biệt nghiệp là những khả năng riêng cho cá nhân đó. Ở đây tôi cũng nhấn mạnh là nghiệp tác đông không phải chỉ đơn thuần là vật lý mà là toàn bộ tâm thức. Cũng vì vậy mà có người thích loài hoa này trong khi người khác thích loài hoa khác. Sự cảm nhận về chân, thiện, mỹ trong biêt nghiệp đưa đến những cái nhìn khác nhau, những quan niệm khác nhau.Và những thức tâm vương khác cũng như vậy.Đó là cái cộng nghiệp riêng của từng loài và biệt nghiệp riêng của từng cá nhân.

Cũng cùng một cái nhìn như vậy, trong đại thừa khởi tín luận,ngài Mã Minh đã nói về tam tế : năng, sở, nghiệp…năng tương ưng với kiến phần, sở tương ưng với tướng phần, nghiệp tương ưng với chứng phần và chứng tự chứng phần. Nghiệp mà Mã Minh nói tới được  chia chẻ  thành biệt nghiệp và cộng nghiệp trong duy thức. Trong cái biệt nghiệp còn chia chẻ thành chánh báo và y báoChánh báo chính là cái thân và tâm của chính mình còn y báo là cái môi trường mà mình sống trong đó. Cộng nghiệp thì cũng có thể nhìn qua nhiều mức độ chẵng hạn cộng nghiệp là loài người ; cộng nghiệp là người VN ; cộng nghiệp là dân chúng cùng sống ở một thành phố nào đó và từ đó tương ưng những biệt nghiệp khác nhau.

Khi nói về thập bát giới ; 6 căn ( nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với 6 trần ( sắc, thanh hương, vị, xúc, pháp)  qua 6 thức ( nhãn thứcnhĩ thứctỉ thứcthiệt thứcthân thứcý thức) thì 6 thức này hình thành do cộng nghiệp và biệt nghiệp. Và rồi tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời này đều không ra khỏi ‘thập bát giới’ này. Nên hiểu chữ giới trong thập bát giới là cái giới hạn mà ta không thoát ra được khi chưa giác ngộ, khi chưa giải thoát

Kinh kim cang là tiền đề để đi vào tánh không : gọi là tìền đề vì bước đầu kinh kim cang bắt đầu bằng thể hiện tánh huyễn ; cái vô thường thoáng chốc ( sát na vô thường) như trong câu : nhất thiết hữu vi pháp, như mộng,huyễn,bào, ảnh ; như lộ diệc như điện ; ưng tác như thị quán ( các pháp hữu vi như mộng,như huyễn,như bọt nước,như sương mai,như điện chớp ; cần phải quán như vậy.). Nhưng trong cái sát na vô thường đó thì luôn luôn có mặt cái thường hằng bất biến là chủ thể. Thường, lạc, ngã, tịnh trong kinh đại bát niết bàn nói lên những tính chất của tính chân như đó.  King kim cang cũng có nói nhiều về tính giả danh theo công thức như cái đó không phải là cái đó nên gọi là cái đó…núi không phải là núi nên gọi là núi vv… Đó là tiến trình : có-không-không-có.                                                                                                       Duy thức thể hiện tánh có, tùng tướng nhập tánh là theo cái tướng mà đi vào cái tánh. Duy thức phân tích những trạng thái của tâm, chỉ rõ những nguyên nhân và điều kiện của sự hình thành và tiêu diệt của từng trạng thái tâm thứcKim cang hòa nhập với duy thức thể hiện tinh thần vừa là ‘tánh không duyên khởi ‘  vừa là ‘ chân không diệu hữu ‘ Cái diệu hữu cuả duy thức hình thành từ 94 tâm hữu vi đi tới  6  tâm pháp vô vi. Rồi thì nhờ sự tu tập bằng cách tác động trên những chủng tử để chuyển hoá thì từ từ  các thức tâm vương chuyển ra thuần tịnh và từ đó chuyển hoá thành trí. Tiền ngũ thức (nhãn thứcnhĩ thứctỉ thứcthiệt thứcthân thức) chuyển ra ‘ thành sở tác trí’ . Ý thức chuyển thành ‘diệu quan sát trí. Mạt na thức chuyển thành ‘bình đẵng tánh trí (tâm chấp ngã trở thành vô ngãA lại da thức chuyển thành ‘đại viên cảnh trí ‘ . Có thể nói tứ trí này là ‘diệu hữu ‘ cuả ‘không’.

Trên đây là vài cái nhìn riêng về cốt lõi của kinh kim cang và duy thức. Mong rằng các đạo hữu tự đào sâu và soi rọi theo tinh thần ‘tự đốt đuốc lên mà đi ‘.

 

Khanhtranhoang, 22.11.2018.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6088/feed 0
Tôn giáo từ góc nhìn lịch sử https://thuonghylenien.org/luu-tru/6004 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6004#respond Thu, 22 Feb 2024 07:41:17 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6004 Tôn giáo từ góc nhìn lịch sử

Nguyễn Hữu Đổng

Tôn giáo là gì? Tôn giáo có nguồn gốc từ đâu? Đây là các câu hỏi chưa được giới nghiên cứu làm rõ về học thuật. Bằng tư duy từ góc nhìn lịch sử, bài viết phân tích làm sáng tỏ thực chất, hạn chế hiểu biết tôn giáo và nguồn gốc tôn giáo, đề xuất giải pháp nhận thức đúng đắn giáo, lịch sử tôn giáo và xây dựng chính sách phát triển tôn giáo.

Thực chất tôn giáo từ góc nhìn lịch sử

Tôn giáo từ góc nhìn lịch sử gồm có các thuật ngữ, khái niệm chủ yếu là “tôn”, “giáo” và “góc nhìn lịch sử”. Các thuật ngữ, khái niệm này có mối quan hệ với nhau như sau: Tôn biểu hiện góc nhìn lịch sử chưa phát triển; giáo biểu hiện góc nhìn lịch sử không phát triển; tôn giáo biểu hiện góc nhìn lịch sử phát triển. Lịch sử chưa phát triển là chưa cân đối môi sinh, chưa công bằng của nhóm người; lịch sử không phát triển là không cân bằng môi trường, không bình đẳng của cá nhân; lịch sử phát triển là cân đối cân bằng hài hoà môi trường sống, công bằng bình đẳng công lý của các cá nhân nhóm cộng đồng người. Điều đó có nghĩa là, tôn giáo biểu hiện thực chất phát triển cân đối cân bằng hài hoà môi trường sống, công bằng bình đẳng công lý của các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong quốc gia, xã hội loài người.

Khái niệm nêu trên cho thấy rằng, tôn giáo gắn liền với văn hoá và phát triển; tức tôn giáo là sự chân thực (chân thật) của con người hay biểu hiện tình yêu thương con người. Điều đó thể hiện như sau: tôn giáo chưa chân thật chưa phát triển tự nhiên, tôn giáo chưa được độc lập; tôn giáo không chân thật không phát triển xã hội, tôn giáo không được tự do; tôn giáo chân thật phát triển tự nhiên xã hội, tôn giáo được độc lập tự do hạnh phúc. Nói cách khác, tôn giáo gắn với phát triển thế giới tự nhiên và xã hội loài người, hay gắn với độc lập tự do hạnh phúc. Loài người không phát triển là không có tôn giáo, hay loài người thiếu công bằng bình đẳng công lý (or humannity lacks equality and justice), loài người không được độc lập tự do hạnh phúc (humanity is not independent, free and happy).

So sánh tôn giáo với các chữ số tự nhiên trong toán học cho thấy rằng, tôn chưa chân thật là số âm chưa phát triển; giáo không chân thật là số dương không phát triển; còn tôn giáo chân thật là số thực phát triển. Tôn chưa phát triển, loài người chưa sinh ra; giáo không phát triển, loài người không sinh ra; còn tôn giáo phát triển thì loài người sinh ra. Tức là, tôn giáo có nguồn gốc từ lịch sử phát triển (religion has its roots in historical development), không có lịch sử phát triển chẳng có tôn giáo (without historical development, there is no religion). Nói cách khác, tôn giáo gắn liền với lịch sử phát triển; lịch sử không phát triển là không có tôn giáo (history without development is without religion).

Hạn chế nhận thức tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam

  1. Hạn chế trên thế giới:

Tôn giáo gắn với đời sống xã hội loài người. Tuy nhiên, người dân nói chung, giới nghiên cứu nói riêng ở nhiều quốc gia nhận thức tôn giáo còn hạn chế. Chẳng hạn, khi phân tích khái niệm này, giới nghiên cứu chỉ nhìn bản chất tôn “gần” (bên trong), tính chất giáo “xa” (bên ngoài), chứ không nhìn tôn giáo giữa gần và xa (rather than looking at religion between near and far); hay khi phân tích tìm hiểu “lịch sử”, giới nghiên cứu chỉ nhìn sử không phát triển, bản chất lịch chưa phát triển, chứ không nhìn thực chất lịch sử phát triển (rather than looking at the actual historical development).

Nhận thức không rõ tôn giáo làm cho nhiều người bị u mê, như: “vấn nạn mê tín” [1], “Sùng bái thiên thần”, “sùng bái Thần Trời” [2], “sùng bái voi trắng” [3], hay niềm tin thiếu khoa học về “Lãnh tụ bất tử” [4]; giới nghiên cứu thiếu hiểu biết nguồn gốc sự sống và loài người, hay thiếu hiểu biết mối liên hệ giữa tính chất tôn giáo không khoa học, bản chất tôn giáo chưa khoa học, thực chất tôn giáo khoa học (the essence scientific religion); nhiều người không hiểu rằng, Thiên Chúa giáng sinh chính là “trái đất xoay vần phát triển hài hoà tạo hoá ra người”, “Thiên Chúa gắn với trái đất xoay vần cân đối cân bằng hài hoà xung quanh nó và xoay xung quanh mặt trời; trái đất xoay không cân đối cân bằng hài hoà, xoay quá nhanh, quá chậm không có Thiên Chúa (spinning too fast, too slow there is no God), hay trái đất không tạo hoá ra loài người (or the earth did not create humans), cũng như Thiên Chúa không tạo hoá ra người (just as God did not create humans)” [5]; nhiều người cũng không hiểu rõ rằng, kính Chúa là kính trọng con người, là tôn trọng sự thật lịch sử loài người (is to respect the truth of human history).

Nhận thức không rõ tôn giáo dẫn đến tư duy sai lầm của nhiều người nghiên cứu, như Ph. Ăngghen ở thế kỷ 19 đã sai khi cho rằng “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ” [6], còn C. Mác thì cho rằng “tôn giáo là thuốc phiện”, “tôn giáo là thế giới đảo ngược” [7], hay một số người nghiên cứu khác cho rằng, “con người sáng tạo ra thần linh chứ không phải thần linh tạo ra con người” [8], và do đó “phải tôn thờ Thượng Đế” (and it is necessary “to worship God”) [9]; dẫn đến các hành động bạo lực, như: sử dụng vũ khí, vũ lực, dùng sức mạnh “lá phiếu” trong bầu cử (use the power of “votes” in elections) cả sức mạnh vũ trang để xâm chiếm lãnh thổ (even armed power to invade the territory), xâm phạm chủ quyền, vi phạm pháp luật quốc gia và quốc tế, giết người, nội chiến, chiến tranh gây đau khổ cho cộng đồng nhân loại.

  1. Hạn chế ở Việt Nam:

Nhận thức tôn giáo của người dân nói chung, giới nghiên cứu nói riêng còn nhiều hạn chế; bởi vì, giới nghiên cứu chưa nhìn nhận rõ tính chất hình thức không phát triển, bản chất nội dung chưa phát triển, thực chất nguyên lý phát triển của lịch sử, tôn giáo. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2005), lịch sử chỉ được người nghiên cứu nhìn nhận là quá trình “phát sinh, phát triển đã qua hay cho đến tiêu vong của một hiện tượng, một sự vật nào đó” chứ không nhìn nhận là sự thật về hiện thực phát triển; còn tôn giáo chỉ được người nghiên cứu nhìn nhận khái quát là “Chúa Trời”, chứ không nhìn nhận là người chân thật, hiền lành yêu thương con người.

Hạn chế nhận thức tôn giáo làm cho giới nghiên cứu không hiểu biết rõ tính chất Thiên Chúa không phát triển, bản chất Thiên Chúa chưa phát triển, thực chất Thiên Chúa phát triển; không hiểu rõ “Thiên biểu hiện vật chất sống (phần xác – đất nước)”, “Chúa biểu hiện tinh thần sống (phần hồn – khí trời)”, “Thiên Chúa biểu hiện ý thức sống (cuộc sống – con người)” [10]; không phân biệt rõ mối liên hệ giữa tính chất tiến hoá gắn với lịch sử không phát triển, bản chất chưa tạo hoá gắn với lịch sử chưa phát triển, thực chất tạo hoá gắn với lịch sử phát triển (in essence, creation is linked to historical development); hay “không hiểu rõ rằng, “luật phát triển” cần thiết trong quốc gia và quốc tế; không hiểu rõ “yêu nước” là yêu nhóm người (tập thể người), còn “yêu dân” là yêu cộng đồng người (“loving the people” means loving the human community)” [11].

Hạn chế nhận thức tôn giáo còn làm cho nhiều người không phân biệt rõ “sự khác nhau giữa tiến hoá (không sinh ra, không bình đẳng) gắn với sức sống không phát triển, chưa tạo hoá (chưa sinh ra, chưa bình đẳng) gắn với sự sống chưa phát triển, “tạo hoá” (sinh ra bình đẳng) gắn với cuộc sống phát triển” [12]; không phân biệt rõ mối liên hệ giữa tính chất người không yêu người không hết chiến tranh, bản chất người chưa yêu người chưa hết chiến tranh, còn người biết yêu người thì hết chiến tranh (and those who know how to love others will end the war).

Đặc biệt hạn chế nhận thức tôn giáo là nguyên nhân dẫn đến xung đột, tư tưởng và hành động bạo lực, bệnh giả dối, bắt oan người vô tội trong đời sống xã hội; chẳng hạn, như: “người bị giam giữ oan trong cải cách ruộng đất” [13], “Phá đình chùa, triệt tiêu kinh tế tư nhân” trước năm 1975 [14]; hiện nay diễn ra “tệ giả dối trong một bộ phận không nhỏ của người Việt” [15]; xã hội có nhiều “cái ác lộng hành” [16], thậm chí có cả “tử tù oan” [17], “Nạn sư giả” [18] và “luật sư lừa đảo” [19].

Giải pháp nhận thức đúng đắn giáo, lịch sử tôn giáo và xây dựng chính sách phát triển tôn giáo

1) Nhận thức đúng đắn “giáo”:

Tôn giáo gắn liền với “giáo”. Tuy nhiên, giáo chưa được giới nghiên cứu nhận thức đúng về học thuật. Giáo bao hàm các mặt chủ yếu sau: tính chất giáo biểu hiện cá nhân không chân thật; bản chất giáo biểu hiện nhóm chưa chân thật; thực chất giáo biểu hiện cộng đồng chân thật. Tức là, để nhận thức đúng đắn giáo đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu rõ quan hệ giữa các mặt sau: bản chất giáo không chân thật; tính chất giáo cũng không chân thật; thực chất giáo là chân thực (in essence, the teachings are true), hay tôn giáo là chân thật (or religion is true), dạng mô hình: bản chất giáo không chân thật – thực chất giáo là chân thực – tính chất giáo không chân thật. Nói cách khác, nhận thức đúng đắn giáo gắn liền với sự chân thật của con người; người không chân thực không nhận thức rõ giáo (innauthentic people do not clearly understand the teachings).

2) Nhận thức đúng đắn lịch sử tôn giáo:

Tôn giáo gắn liền với lịch sử tôn giáo. Tuy nhiên, lịch sử tôn giáo chưa được giới nghiên cứu nhận thức đúng về học thuật. Lịch sử tôn giáo bao hàm các mặt chủ yếu sau: thuật ngữ lịch và tôn biểu hiện nhóm chưa phát triển; thuật ngữ giáo và sử biểu hiện cá nhân không phát triển, còn lịch sử tôn giáo là cộng đồng phát triển hay xã hội phát triển, dạng mô hình: bản chất lịch sử tôn giáo thiếu phát triển – thực chất lịch sử tôn giáo phát triển – tính chất lịch sử tôn giáo không phát triển. Tức là, để nhận thức đúng đắn lịch sử tôn giáo đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu rõ quan hệ giữa các mặt sau: bản chất và tính chất tôn giáo không phát triển; thực chất tôn giáo phát triển (the essence of religion). Nói cách khác, cần phải nhận thức tôn giáo chân thực hay tôn giáo có văn hoá; không nhận thức đúng lịch sử không hiểu tôn giáo (not properly aware of history and not understanding religion); tôn giáo không chân thực tôn giáo không phát triển (religion is not authentic, religion  does not develop).

3) Xây dựng chính sách phát triển tôn giáo:

Tôn giáo gắn liền với chính sách phát triển (religion is closely associated with development politicy); chính sách không phát triển tôn giáo không chân thật (policy of not developing inauthentic religions). Tuy nhiên, giới nghiên cứu chưa hiểu rõ mối liên hệ giữa tôn giáo và chính sách phát triển như sau: chính sách chưa phát triển chưa phát triển tôn giáo; chính sách không phát triển không phát triển tôn giáo; có chính sách phát triển là tôn giáo phát triển, dạng mô hình: bản chất chính sách chưa phát triển tôn giáo – thực chất chính sách phát triển tôn giáo – tính chất chính sách không phát triển tôn giáo. Tức là, để xây dựng chính sách phát triển tôn giáo, giới nghiên cứu cần phải có góc nhìn lịch sử, hay tôn trọng sự thật sử học; thiếu sử không có chính sách phát triển tôn giáo (there is no policy to develop religion).

Kết luận

Tôn giáo là sự chân thật của con người hay tình yêu thương con người trong xã hội. Hiện nay, tôn giáo chưa được giới nghiên cứu chỉ ra tính chất hình thức không khoa học phát triển, bản chất nội dung chưa khoa học phát triển, thực chất nguyên lý khoa học phát triển. Đây là nguyên nhân dẫn đến thiếu học thuật về tôn giáo, thiếu nhận thức đúng Đạo giáo hay Thiên Chúa giáng sinh. Do đó, để phát triển tôn giáo, kính chúa yêu nước thương dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững, bảo đảm cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân, giới nghiên cứu, lãnh đạo cần phải có góc nhìn lịch sử, nhận thức đúng đắn giáo, lịch sử tôn giáo và xây dựng chính sách phát triển tôn giáo.

………………………..

Tài liệu trích dẫn:

[1] Lê Công Vũ (Tổng hợp), Trừ tà – vấn nạn mê tín của phương Tây, https://cand.com.vn/Ho-so-mat/tru-ta-van-nan-me-tin-cua-phuong-tay-i654489/, ngày 23/05/2022.

[2] Nguyễn Thuý Vân, Khái quát tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, https://thuvienso.dau.edu.vn:88/bitstream/DHKTDN/8679/.

[3] Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp), Sùng bái voi trắng của người Myanmar, https://cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Tuc-sung-bai-voi-trang-cua-nguoi-Myanmar-i533474/, ngày 25/08/2019.

[4] Đà Trang – Thái Lộc, Triều Tiên đất nước lạ kỳ – Kỳ 2: Lãnh tụ bất tử, https://tuoitre.vn/trieu-tien-dat-nuoc-la-ky-ky-2-lanh-tu-bat-tu-1191439.htm, ngày 20/10/2016.

[5], [11] Nguyễn Hữu Đổng, Nhận thức Thiên Chúa từ góc nhìn phát triển, https://vanhoavaphattrien.vn/nhan-thuc-thien-chua-tu-goc-nhin-phat-trien-a22367.html, ngày 20/12/2023.

[6] C. Mác và Ph. Ăngghen, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t. 20, tr. 437.

[7], [8] Mâu Trung Giám (Trung Quốc), Lược dịch: Nguyễn Hải Hoành, Về “Thuyết đấu tranh” với tôn giáo của Lenin, https://nghiencuuquocte.org/2020/03/17/ve-thuyet-dau-tranh-voi-ton-giao-cua-lenin/, ngày 17/03/ 2020.

[9] Mục sư Trần Hữu Thành, Sự Thờ Phượng Được Thượng Đế Chấp Nhận, https://vietchristian.com/tinlanh/reader.asp?pid=,src=/tinlanh/tinlanh.txt,name=Bai,enc=2,id=2

[10] Nguyễn Hữu Đổng, Chúa Phật và phát triển văn hoá, https://vanhoavaphattrien.vn/chua-phat-va-phat-trien-van-hoa-a16944.html, ngày 19/12/2022.

[12] Nguyễn Hữu Đổng, Nguồn gốc loài người từ góc nhìn văn hoá, https://vanhoavaphattrien.vn/nguon-goc-loai-nguoi-tu-goc-nhin-van-hoa-a22217.html, ngày 13/12/2023.

[13] Văn kiện Quốc hội Toàn tập, Tập 1, 1945-1960, https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=521, (Báo Nhân dân số 1290 ra ngày 20/09/1957).

[14] Bình Minh, “Cuốn gia phả bị thất lạc” và một góc nhìn khác về cải cách ruộng đất, https://vietnamnet.vn/cuon-gia-pha-bi-that-lac-va-mot-goc-nhin-khac-ve-cai-cach-ruong-dat-2203956.html, ngày 02/10/2023

[15] Trung Ngôn, Đánh vào “sào huyệt” giả dối, https://www.qdnd.vn/van-hoa/van-hoc-nghe-thuat/danh-vao-sao-huyet-gia-doi-667607, ngày 06/08/2021.

[16] Diệu Thông, Vì đâu cái ác lộng hành? https://www.phunuonline.com.vn/vu-chu-shop-quan-ao-o-thanh-hoa-hanh-ha-nu-sinh-hay-len-tieng-khi-bi-bao-luc-a1452199.html, ngày 04/12/2021.

[17] Nguyễn Hải, Cuộc sống hiện tại của cụ ông từng mang thân phận tử tù oan suốt 43 năm, https://dantri.com.vn/xa-hoi/cuoc-song-hien-tai-cua-cu-ong-tung-mang-than-phan-tu-tu-oan-suot-43-nam-20230219010148162.htm, ngày 20/02/2023.

[18] Trần Mỹ Hiền, Nạn sư giả, đồ lễ quay vòng: Đừng để lòng tin bị lợi dụng, https://cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Nan-su-gia-do-le-quay-vong-Dung-de-long-tin-bi-loi-dung-i551690/, ngày 21/01/2020.

[19] BT, Loạt đối tượng giả danh công an, nhà báo, luật sư lừa đảo xa lưới, https://antv.gov.vn/other/quang-ngai-loat-doi-tuong-gia-danh-cong-an-nha-bao-luat-su-lua-dao-chay-viec-sa-luoi-A7F111C68.html, ngày 15/07/2023.

…………………

Ngày 22/12/2023

NHĐ

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6004/feed 0
Đạo pháp của đức Phật có phải là triết học hay không – Tác giả: HOÀNG PHONG https://thuonghylenien.org/luu-tru/5992 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5992#respond Tue, 20 Feb 2024 06:52:58 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5992 Đạo pháp của đức Phật có phải là triết học hay không – Tác giả: HOÀNG PHONG

uốn nhìn Phật giáo dười khía cạnh triết học thì nên hiểu theo nghĩa Triết học Hy Lạp cổ đại hơn là triết học ngày nay . Suy tư và nghiên cứu là những gì cần thiết cho triết học và cả Phật giáo , thế nhưng đối với Phật giáo thì những thứ ấy phải được xây dựng trên lòng từ bi và được phát huy bằng một kỹ thuật thật đặc thù là thiền định.

 

Để trả lời cho câu hỏi trên đây, trước hết chúng ta cần tìm hiểu triết học là gì. Chữ Triết học – Philosophia – phát sinh từ nền văn hóa cổ đại Hy- Lạp mang ý nghĩa là “ yêu chuộng sự hiểu biết và khôn khéo ”. Nền văn hóa đó sản sinh một ngành triết học có chủ đích nêu lên những thắc mắc những suy tư về thế giới này, về sự hiện hữu của con người, tìm hiểu cái đẹp, ý nghĩa của sự sống, khái niệm về hạnh phúc …Tóm lại , các triết gia theo ý nghĩa đó là những vị “ Thầy” tượng trưng cho một lối sống nào đó.

 

Thế nhưng, qua thời gian triết học cổ đại theo ý nghĩa trên cũng đã bị biến đổi nhiều. Triết học ngày nay được xây dựng trên căn bản của lý luận và trí thông minh hơn là lý tưởng tinh thần và đạo đức của triết học cổ đại. Triết học ngày nay nghiêng hẳn về lý thuyết và đôi khi mang tính cách khá cực đoan hoặc không tưởng. Nếu trong thời cổ đại triết học nêu lên một lý tưởng một lối sống thanh cao nào đó, thì ngày nay một số luận thuyết và tư tướng triết học hiện đại đôi khi mang lại những ứng dụng lệch lạc, chẳng hạn như chủ nghĩa phát xít ( facism ), chủ nghĩa quốc xả ( nazism ), chủ nghĩa tư bản ( capitalism ), chủ nghĩa xã hội ( socialism ), chủ nghĩa cộng sản  (communism )…Hơn thế nữa người ta còn thêm chữ “ ism ” vào tên một số nhân vật để chỉ định các chủ thuyết như Marxism, Leninism, Maoism …và biết đâu cũng có thể tặng thêm chữ “ism”cho Pol Pot để gọi một thứ diệt chủng là Polpotism !

 

Như vậy nếu muốn nhìn Phật giáo dười khía cạnh triết học thì nên hiểu theo nghĩa Triết học Hy Lạp cổ đại hơn là triết học ngày nay. Suy tư và nghiên cứu là những gì cần thiết cho triết học và cả Phật giáo, thế nhưng đối với Phật giáo thì những thứ ấy phải được xây dựng trên lòng từ bi và được phát huy bằng một kỹ thuật thật đặc thù là thiền định. Đấy là những gì mà không một nền triết học nào có được. Tóm lại, Dharma hay đạo pháp của Đức Phật mang tính cách thực dụng, tự nó hàm chứa một cứu cánh rõ rệt, không phải là mộ triết học đơn thuần chỉ căn cứ vào lý trí.

 

Rất nhiều kinh sách Phật giáo phủ nhận tính cách tự biện và thuần lý liên quan đến các chủ đề triết học, trong số này có các bộ kinh đáng chú ý nhất : Sabbasava-suttaPotthapada-sutta, Brahmaijala-sutta, Cula- Malunkya-sutta …Các kinh này nêu lên các quan điểm sai lầm hoặc không hàm chứa một chủ đích thiết thực nào cả, chẳng hạn như sự sáng tạo ra thế giới này, sự trường tồn bất biến của cái ngã, tính cách vô tận của vũ trụ, những gì sẽ xảy ra sau khi chết đối với người đã đạt được giác ngộ v.v…

 

Kinh Cula-Malunkya-sutta liệt kê “ các câu hỏi vô ích ”do một đệ tử của Phật tên là Malunkyaputta nêu lên để hỏi Đức Phật. Ngài không trả lời trực tiếp những câu hỏi ấy, nhưng hướng những thắc mắc của Malunkyaputta vào những gì thiết thực hơn : những khổ đau đang diễn ra trước mặt và những gì đang làm cho Malunkyaputta phải bấn loạn tâm thần :

 

“ Này Malunkyaputta, mặc dù có một quan điểm theo đó vũ trụ vô tận và có một quan điểm khác theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải hiểu rằng có sinh, có già, có chết, có khổ, có than khóc, có đớn đau, xót xa và tuyệt vọng. Đối với Ta, Ta chỉ giảng cho con về sự chấm dứt những thứ ấy trong thế giới này. Vì thế Malunkyaputta, hãy giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng, đúng như Ta đã giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như Ta không giảng … ”

 

Đức Phật không giảng những gì vô ích tức là những tự biện triết học mà chỉ giảng những gì thật thiết thực : đấy là khổ đau, nguồn gốc của khổ đau, và con đường mang lại sự chầm dứt khổ đau. Những lời giáo huấn ấy có vẽ vô cùng “ đơn giản ”so với những luận thuyết và những tự biện thuần lý hoặc mang nặng tính cáh thiêng liêng của các vị Thầy khác cùng thời với Đức Phật. Thế nhưng phải hiểu rằng, sự chấm dứt khổ đau trong Phật giáo không phải đơn giản là sự chấm dứt khổ nhọc và lo buồn, sự chấm dứt ấy ( tiếng Phạn gọi là nirodha tức sự đình chỉ )tượng trưng cho sự Giải thóat hoàn toàn, một thể trạng tự do Tuyệt đối còn gọi là Niết- bàn ( Nirvana ).

 

Chính thể dạng Tuyệt đối đó đã phản ảnh khía cạnh triết học siêu hính ( metaphysic ) trong đạo pháp của Đức Phật – Dharma.Jean-Fracois Revel ( 1924-2006 ), thân phụ của nhà sư Ricard Matthieu , là một triết gia, học giả và là thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp, trong quyển sách viết chung với con mình ( Một nhà sư và một triết gia –Le Moine et le Philosophe ) đã phát biểu về Phật giáo như sau : “…Đấy là một triết học nang nhiều đường nét thật quan trọng về siêu hình, quả đúng Phật giáo là một ngành triết học siêu hình thuộc chung trong triết học, thế nhưng không mng tính cách thần khải ”. Nếu một triết gia không Phật giáo tầm cở J.F Revel chỉ nhìn thấy khía cạnh siêu hình trong đạo pháp thì một học giả Phật giáo lỗi lạc khác là Edward Conze ( 1904-1974 ) lại nhìn thấy một khía cạnh triết học khác : Trong quyển Bouddhism , ông mô tả Phật giáo như là một “ triết học biện chứng mang tính cách thực dụng ” ( Dialectical prag,atism ), nghieng hẳn vể tâm lý học ”

 

Trên đây chỉ là hai trích dẫn tiêu biều trong vô số những phát biều của các triết gia và học giả khác khi họ tìm cách đánh giá Phật giáo trên phương diện triết học. Bên cạnh đó, cũng có một số triết gia và học giả đã vay mượn đạo pháp để xây dựng hệ thồng tư tưởng của họ. Trong trường hợp này có thể kể ra Arthur Schopenhauer ( 1788-1860 ) chủ trương một hệ thống tư tưởng gắn với Phật giáo. Ông veit61 về Phật giáo vào tiến bán thế kỷ XIX khi mà các tư liệu và sự hiểu biết về Phật giáo tại Tây phương còn thiếu sót và không chính xác. Thế nhưng, mặt khác nhờ vào uy tín của ông mà Phật giáo được nhiều người biết đến. Một thí dụ thứ hai là triết gia Pháp hiện đại André Compte de Sponville ( sinh năm 1952 ) được chính phủ Pháp mời tham gia Ủy Ban Tư Vấn Quốc Gia về Đạo đức, kể từ năm 2008. Ông là một triết gia vô thần, không tin vào luân hồi nhưng lại xây dựng trên nền móng tư tưởng và đạo đức của mình trên Bát chánh đạo.

 

Những gì vừa được trình bày trên đây cho thấy phía sau tính cách thực dụng, Dharma còn hàm chứa một bối cảnh hay nền móng triết học vô cùng sâu sắc và đa dạng. Tính cách triết học được thế hiện qua thật nhiều tông phái và học phái khác nhau, chẳng hạn như :

 

– Chủ trương hiện thực ( realism ) : Đại diện bởi học phái Nhất thiết hữu bộ ( Sarvastivada ).

 

– Chủ trương sự hiện hữu thật của vật chất, còn gọi là thuyết nguyên tử ( atomism): thí dụ như học phái Kinh Lượng bộ ( Sautranatika )

 

– Tính cách “ lý tưởng ”( idealism ) có nghĩa là tất cả đều do tâm thức mà có : thí dụ như Duy thức tông ( yogacara – Cittamatra )

 

– Chủ trương hoài nghi, tức không thật ( Screptism ), tất cả chỉ là tên gọi mà thôi ( thuyết duy danh – nomisnalism ) : thí dụ như Trung quán tông ( Madhyamaka ) v.v..

 

Khi nhìn lại nền móng của đạo pháp tức là Bốn sự thật cao quý, người ta nhận thấy gì ? khổ đau là sự thật thứ nhất, thế nhưng Sự thật ấy không phải đơn giản chỉ là sự thật về những thứ khổ đau xảy ra hằng ngày trên thân xác và trong tâm thức con người mà còn tượng trưng cho bản chất tất yếu và căn bản của thế giới hiện tượng mà thuật ngữ nhà Phật gọi là thế giới ta-bà hay luân hồi. Bản chất khổ đau mang tính cách bao quát và toàn cầu trên đây là một sự “ khám phá ” thuộc lĩnh vực triết học gọi là Hiện tượng học ( Phenomenology ). Theo định nghĩa của triết gia G.W. F.Hegel ( 1770-1831 ) thì Hiện tượng học là một phương thức tiếp cận triết học nhằm khám phá các hiện tượng hầu nắm bắt bản chất,, tính cách tuyệt đối ý nghĩa siêu hình và luận lý của hiện tượng ấy. Nếu hiểu theo triết gia Johann Gottlieb Fiche ( 1762- 1814 ) thì hiện tượng học là Học thuyết về sự hiển hiệnmột phương cách hiện tượng hóa sự hiểu biết tuyệt đối. Khám phá ra bản chất sâu kín của thế giới hiện tượng là hiện tượng hóa bản chất ấy thành Sự thật cao quý thứ nhất trong Tứ diệu đế là một khám phá mang tính cách triết học vô cùng quan trọng.Khám phá đó nắm giữ một vị trí then chốt trong toàn bộ giáo lý của Đức Phật.

 

Sự thật cao quý thứ hai là Nguồn gốc của khổ đau tức nguyên nhân làm phát sinh ra khổ đau. Đối với Dharma, nguyên nhân ấy chính là sự nhận thức sai lầm bản chất của hiện thực, xem những biểu hiện ảo giác của mọi hiện tượng là thật và cái ngã của mình cũng là thật. Khám phá ra nguyên nhân sâu kín ấy của khổ đau tượng trưng bởi Sự thật Thứ hai là một khám phá thuộc lĩnh vực của Triết học về sự hiểu biết ( Epistemology  hay Philosophy Of Science, tiếng Việt gọi là Khoa học luận và chúng ta cũng nên hiều chữ khoa học tiếng La tinh là scientia có nghĩa là sự hiểu biết ).

 

Sự thật cao quý thứ ba là Sự chấm dứt khổ đau ; nghĩa là, đối với Phật giáo khổ đau không phải là một định mệnh, một thứ hình phạt phải nhận chịu một cách thụ động và ngoan ngoãn. Đấy chỉ là hậu quả tất yếu phát sinh từ một nguyên nhân nào đó. Khi loại bỏ được nguyên nhân ấy thì khổ đau sẽ chấm dứt. Vì thề bản chất của khổ đau không mang bản chất tự tại. Sự khám phá ấy của Đức Phật có thể được xem như thuộc lãnh vực của bản thể học ( Ontology ).

 

Bản thể học nguyên là một nghành triết học siêu hình mang chủ đích nêu lên tính cách “ siêu nhiên ”nhắm vào việc tìm hiểu về sự hiện hữu tronh khuôn khổ Thần học.Một số triết gia thần học như Decartes, Spinoza, Leibniz …luân phiên đề nghị và khai triển cách suy luận gọi là “ Luận chứng về bản thể học ”( argument ontologique –ontological argument ) nhằm chứng minh sự hiện hữu cần thiết và bắt buộc của một vị Trới. Thế nhưng khổ đau trong Sự thật Thứ ba không phải là một hình phạt hay định mệnh do một đấng tối cao áp đặt mà chính là do con người tự tạo ra cho mình và chính con người có thể loại bỏ được nó. Bản thể của sự hiện hữu và khổ đau không mang tính cách thần khải ( revelation – divine truth ) mà giản dị là sản phẩm của con người. Khám phá đó của Đức Phật thuộc lãnh vực Bản thể học, thế nhưng đã vượt rất xa và lên trên chủ đích nguyên thủy của ngành học ấy.

 

Tóm lại. sự chấm dứt khổ đau trong Sự thật Thứ ba mang chiều hướng “ vô thần ”ấy cũng là bối cảnh chung của toàn thể giáo lý nhà Phật. Có nghĩa là con người tự tạo ra khổ đau cho mình và nếu muốn con người cũng phải tự giải thoát cho mình. Câu sau đây trong Tà kiến kinh ( Ditthi –sutta ) thuộc Tăng chi bộ kinh ( Anguttara Nikaya, 10.93 ) nêu lên một cách minh bạch và dứt khoát bản chất vô thần đối với bản thể của sự hiện hữu :

 

“ Tất cả những gì hiện tại hiện ra như một hiện hữu chỉ là kết quả phát sinh từ nhiều điều kiện, từ ác ý và sự tương liên ( lý duyên khởi ). Tất cả những thứ ấy đều vô thường. Những gì vô thường đều bất toại nguyện, (tức khổ đau ) Tất cả những gì bất toại nguyện ( khổ đau ) không phải là cái tôi, cái của tôi, không phải là một cái “ngã ”.

 

Tóm lại những gì được trình bày  trên đây cho thấy đạo pháp – Dharma – ngoài tính cách thực dụng còn hàm chứa nhiều khía cạnh triết học thật sâu sắc. Các khía cạnh triết học đó nổi bật trong một số khái niệm do Đức Phật trực tiếp nêu lên và sau đó được các vị đại sư khai triển thêm trên các dòng lịch sử tiến hóa của Phật giáo. Sau đây là một vài khái niệm triết học quan trọng trong đạo pháp : quy luật tương liên ( Pratiya samucpada –lý duyên khởi ), tất cả các hiện tượng cấu hợp đều vô thường ( antiya sarva samskarah ) tất cả các hiện tượng cấu hợp đều là khổ đau ( dukkha sarva samskarh ), tính cách vô thực thể của “ cái ngã ” ( anatman ), tánh không của mọi hiện tượng ( sunyata ), khái niệm về ngũ uẫn ( skandha ) v.v  và  v.v

 

Sau khi Đức Phật tịch diệt, các khía cạnh triết học Phật giáo được khai triển sâu rộng qua nhiều học phái, tiêu biểu nhất là Duy Thức tông ( yogakara- Cittamatra ) và Trung quán tông ( Madhyamaka ) Duy thức chủ trương tất cả mọi hiện tượng đều mang tính cách chủ quan một cách tuyệt đối, chỉ có tri thức ( consciousness) là thực thể duy nhất, thế giới và mọi cá thể chỉ là phóng ảnh của trí thức. Tánh không đối với Duy thức là sự vắng mặt hay vắng bóng của tính cách nhị nguyên phân tách chủ thể và đối tượng. Khi Bản-thể -của-Phật hay Phật-tính rơi vào tình trạng “ cá biệt hóa ” để trở thành một trí thức mang tính cách cá nhân nó sẽ trở thành một chủ thể “ sáng tạo ”ra thế giới. sự kiện “ quên mất ”bản thể nguyên thủy của mình ( tức Phật tính ) khiến cho trí thức cá thể trên đây rơi vào một hệ thống kết nối chằng chịt của vô số nguyên nhân và hậu quả ( karma )qua sự ‘sáng tạo’ hay khả năng ‘ phóng tưởng ’của chính nó .

 

Kinh Lăng già ( Lankavatara –sutra ) rất gắn với thiền học thế nhưng đồng thời cũng phản ảnh mật thiết và trung thực. Duy thức tông chẳng hạn như qua câu sau đây :

 

“ Mọi vật thể giống như ảo ảnh hay những giấc mơ,

 

Chúng không có sinh, cũng không hàm chứa một bản thể tự tại nào.

 

[ Vì thế ] Từ bản chất chúng là những thứ gí trống rỗng,

 

Chúng không hiện lên từ sự hiên hữu cũng như từ hư vô ”

 

Trung quán tông xây dựng toàn bộ “ hệ thống triết học ”gọi là Trung đạo ở giữa hai thái cực là sự hiện hữu và thể dạng hư vô. Nói một cách khác, thể dạng phi-đối-nghịch chính là con đường Trung đạo. Sự đối nghịch nhất định cần thiết cho sự phân biệt, thế nhưng những gì phát sinh từ những sự phân biệt ấy chỉ tượng trưng cho những thể dạng khác nhau của một thực thể duy nhất. Thể dạng phi-đối-nghịch chỉ định tính cách đồng nhât hay nhất thể của thực thể ấy.

 

Long Thụ ( thế kỷ thứ II- III ) người sáng lập ra Trung quán, cho rằng vì bản chất siêu nhiên và không thăm dò được của Bản-thể -Phật cho nên chúng ta không thể nào nắm bắt được cái Bản thể ấy. Vì thế nên triết học vững chắc duy nhất và có giá trị là “ sự phủ nhận tuyệt đối ” đó là nền triết học duy nhất có thể chứng minh được Bản-thể -Phật, dựa vào nguyên tắc phủ nhận tuyệt đối đó. Long Thụ bình giải và khai triển rộng rãi một hệ thống luận lý mà Đức Phật đã nêu lên gọi là  “Tứ đoạn luận ”:

 

-không thề xác định iện thực : “ có một cái gì đó ”

 

-không thể xác định hiện thực “ có một cái gì đó  lại vừa không có một cái gì cả ”

 

-không thể xác định hiện thực “ không có một cái gì cả  lại vừa không phải là không có một cái gì cả ”

 

Một cách đương nhiên và tất yếu hệ thống triết học luận lý xây dựng trên tứ đoạn luận trên đây đưa đến giáo lý về tánh không tuyệt đối của mọi hiện tượng. Cũng xin nhắc thêm là hệ thống luận lý của  Aristote cũng là tam đoạn luận là hệ thống luận lý thông dụng chi phối sự suy luận của con người từ Tây sang Đông , thế nhưng hệ thống này chỉ nói lên được “sự thật tương đối ” của hiện thực, nhưng hoàn toàn bất lực trước “ sự thật tuyệt đối ”của hiện thực do Phật giáo chủ trương.

 

Xin trở lại Con đường “ Trung Đạo ” với hai trích dẫn sau đây : Trong kinh Giác ngộ Viên mãn, tiếng Phạn : Mahavaipulia Purnabuddhasutra Prassanartha Suttra – bản dịch tiếng Hán là Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đà La Liễu Nghĩa Kinh, gọi tắt là Viên Giác kinh có một đoạn như sau :

 

“ Không có sự đống nhất, cũng không có sự khác biệt, không có sự trói buộc, cũng không có sự giải thoát. Vì thế nên hiểu rằng tất cả chúng sinh có giác cảm từ nguyên thủy đều là những chúng sinh hoàn toàn Giác ngộ , Ta-bà và Niết-bàn là một giấc mơ hiện ra trong giấc ngủ vào đêm hôm qua, thì cũng phải hiểu rằng, đối với Ta-bà và Niết-bàn không có gì để rời, cũng chẳng có gì để hòa nhập. Trong sự thật không có gì để  “ cố gắng ”, không có gì để “ lơ là ”, không có sự “ đình chỉ tư duy ” hay “ loại bỏ dục vọng ”. Trong sự thực hiện không có chủ thể cũng không có đối tượng trên một cấp bậc sâu xa không có Thực hiện  cũng không có Hoàn tất. Bản thể ( sâu kín) của mọi hiện tượng đêu giống như nhau và bất hoại. ”[ tức là tánh không ]  (theo bản dịch của Charles Muller ).

 

Trong kinh Kaccayanagotta –sutta ( Samyutta Nikaya-Tạp A Hàm, 15.12 thuộc Tương Ưng Bộ Kinh  có một câu như sau :

 

“ Thế giới này được hổ trợ [ chồng đỡ, đứng vững ] bởi nguyên tắc nhị nguyên, đấy là sự hiện- hữu và phi- hiện- hữu, khi đã nhìn thấy thật chính xác nguồn gốc của thế giới đúng như thế [ sẽ hiểu rằng] phi-hiện-hữu không phải là một thuật ngữ thích nghi [ để chỉ định nói ] ”, ( theo bản dịch của Bhikkhu Thanissaro )

 

Tóm lại, đạo pháp – Dharma – mang tính cách thực dụng và vô cùng thực tế, đồng thời cũng hàm chứa và bàn bạc thật nhiều khía cạnh triết học cao siêu, hàm chứa những giá trị toàn cầu. Thế nhưng, kho tìm hiều sâu xa hơn về các khía cạnh triết học ấy người ta lại càng nhận thấy đạo pháp vượt xa hơn và cao hơn tất cả mọi hệ thống triết học và tư tưởng của con người.

 

Nguồn: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5992/feed 0
Bà La Môn Giáo Và Triết Học Phật Giáo – Như Thị https://thuonghylenien.org/luu-tru/5943 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5943#respond Fri, 02 Feb 2024 04:28:09 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5943 BÀ LA MÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
Như Thị

Là một phần trong cái hùng vĩ nền triết học Ấn Độ, Bà-la-môn giáo và Phật giáo đã có sự đóng góp to lớn, không những trên bình diện triết lý u huyền mà còn để lại những ảnh hưởng sâu đậm trong từng nếp nghĩ, cử chỉ hay quan niệm sống của toàn thể dân tộc Ấn Độ. Và cũng vì là hai thực thể có cùng chung một dòng máu nên trong quá trình phát triển, cả hai đều đã có những ảnh hưởng nhất định lên nhau. Nhưng vì ra đời muộn hơn nên đã có không ít quan niệm cho rằng Phật giáo là sự hệ thống lại các tư tưởng Ấn độ giáo, hoặc cũng có ý kiến cho rằng đạo Phật là phản biện của chủ nghĩa tôn giáo Ấn… Còn có rất nhiều nữa những quan niệm hoặc là thế này hoặc là thế kia để so sánh những mệnh đề đã tồn tại từ lâu trong lòng của hai khối tư tưởng một thời đã từng được xem là đối kháng của nhau.

Với tư cách là một thành viên của Phật giáochúng ta đã có suy nghĩ gì về những lời bàn luận trên? Thiết nghĩ, muốn hiểu được, có lẽ chúng ta phải hiểu được bản chất triết học của Bà-la-môn là gì. Nhưng bằng cách nào? Ở đây, người viết xin thông qua những phạm trù nhận thức căn bản nhất của Phật giáo để xem Bà-la-môn giáo đã được hiểu như thế nào? Tuy nhiên, với những giới hạn nhất định của một bài viết – không phải là một bài khảo cứu chuyên nghành – nên sự cho phép ở đây chỉ được giới hạn trong những điểm cơ bản nhất mà người viết cho rằng thật cần thiết để đánh giá về một trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm đối với Phật giáo trong suốt chiều dài lịch sử.

Sơ lược về tư tưởng Bà-la-môn giáo

Nói đến Bà-la-môn giáo là nói đến cả một hệ thống tôn giáo bao gồm cả hai mặtTôn giáo tính và triết lý tính vô cùng đa dạng và phức tạp. Nếu căn cứ vào sự tịnh tiến theo chiều ngang của thời gian, Bà-la-môn giáo được xem là sự tích hợp của một quá trình đi lên và trưởng thành của dân tộc Ấn, mà trong đó, các thế hệ đi qua luôn là tiền đề để cho người sau kế tục. Có lẽ chính vì vậy mà nhà nghiên cứu văn hóa Ấn Macdonell đã nhận xét: “Ngoài Trung Quốc ra, không còn nước nào trên thế giới có thể tìm được nguồn gốc ngôn ngữvăn họctín ngưỡng và lễ nghi tôn giáo cùng những tập tục tập quán xã hội của mình qua một sự phát triển không ngừng trong hơn 3000 năm như ở Ấn Độ”.

Thật vậy! Kể từ khi thiết lập nền văn hóa Veda tại vùng Ngũ Hà rồi tiến xuống định cư tại vùng đồng bằng Ấn – Hằng, người Aryen đã từng bước xây dựng một Ấn Độ hết sức đặc sắc mà trước hết là sự hình thành nên các bộ Veda để làm nền tảng. Từ những gì còn được biết ngày hôm nay cho thấy rằng sự phát triển tư tưởng Ấn được đánh dấu bằng sự ra đời của các bộ kinh Veda (1000-600 B.C) gồm Rig-Veda, Sama-Veda, Yajur-Veda, Athava-Veda, sau đó nhờ sự khai triển của các thế hệ người Aryan mà các bộ sớ giải lần lượt ra đời cùng với sự phóng thích nguồn tư tưởng đã được ẩn chứa trong đó. Chẳng hạn như sự ra đời của Brahmanas (1000-800 B.C) giải thích những nghi lễ trong Veda. Nó có nhiệm vụ giải thích tại sao một người Bà-la-môn phải làm như vậy.

Bộ Àranyaka (600-200 B.C) lại giải thích và phụ chú về bộ Brahmanas. Cuối cùng là những bộ Upanishads (800-500 B.C), đây là phần tinh hoa nhất của giáo lý Veda. Nó ẩn chứa nhiều thông tin liên quan dến triết học của Bà-la-môn. Chính sự hoàn thiện của Upanishads đã làm chỗ y cứ để các thế hệ của Veda giáo triển khai. Hầu như mọi kiến giải về nó được xem là vô tận. Mỗi thời sẽ có những bậc đạo sư khác thừa kế và mở rộng. Kết quả là có vô số các tập giải thích và đã được hệ thống trở lại thành những pho mà ngày nay nó vẫn còn được người Ấn coi đó là một trong những công trình vĩ đại của toàn tri thức Ấn. Cho nên, có thể nói không quá rằng, nguồn cảm hứng của sự phong phú trong tư tưởng Ấn Độ chính là ở đây.

Theo Chandradhar Sharma, tiến sĩ triết học trường Đại học Banaras Hindu, trước khi Upanisads ra đời, các bộ Veda ít mang tính triết học. Nó chủ yếu được hình thành từ lòng sùng kính đối với tín ngưỡng thần linh. Nội dung của các bài ca trong Rig-Veda cho thấy, đời sống tinh thần của người Ấn vẫn còn rất phức tạp nhưng lại đang ở trên bình diện của sự sơ khaiít nhất là cho đến lúc người Aryen định cư tại Ấn Hằng. Những thắc mắc giản đơn về thế giới tự nhiên đã đem đến cho họ những kích thích nhất định.

Tuy nhiên, sự hoảng sợ trước sức mạnh của thiên nhiên đã buộc họ phải quan niệm rằng đứng đằng sau các hiện tượng kia phải là một thế lức có sức mạnh ghê ghớm. Và thế là khái niệm thần linh ra đời, nó trở thành một thế giới quan chung nhất cho tất cả thành viên của Veda giáo. Sự ra đời quan niệm thế giới thần linh được mở rộng về số lượng và vai trò của các vị thần đối với đời sống con người. Chính điều đó làm cho nó trở thành một tôn giáo của đa thần. Dần dần, với sự góp mặt của sự tiến bộ nhận thứcthế giới thần linh được đẩy lên bình diện cao hơn, đó là xu hướng về siêu hình học và triết lý thần học mà điển hình là các khái niệm về Purusa – chúa tể các vị thần. Từ căn bản này, Upanisads đã phát triển lên biểu tượng Đấng sáng tạo-Brahman.

Tuy nhiên, sự hình thành đấng tối cao của Veda giáo không được hiểu theo nghĩa tập quyền về tay của Đấng tạo hóa mà phải được xác định ở sự biểu hiện thông qua hình ảnh các vị thần khác của Ấn giáo. Nói như Mark Muller thì thay vì đi tìm khái niệm cho một đấng tối cao, Veda đã tôn kính đấng sáng tạo dựa trên sự tôn kính các vị thần khác. Cho nên Chandradhar Sharma kết luận rằng không có sự phát triển từ Đa thần sang Đơn thần rồi đến Nhất nguyên luận của Upanisads mà nó là sự thống nhất tư tưởng từ các Mantra đầu tiên sang Upanisads, nghĩa là nó là sự tiến bộ từ quan niệm hình tượng sang tư tưởng triết học.

Điều này thật rõ ràng khi ta biết rằng giữa những hệ thống lễ nghi phức tạp của tập Bràhmana là sự hiện hữu của vô vàn các triết lý mà các tập Upanisads đã hệ thống một cách đáng khâm phục. Mối quan hệ giữa Mantra và Upanisads luôn là một biến số mà trong đó kết quả lại đưa về nhất nguyên luận với các tập Upanisads là đỉnh cao chứa đựng những tư tưởng này. Như nhà hiền triết Narada đã hỏi Sanatkumàra: Thưa ngài, tôi biết Rig-Veda, Yajuh,… Với tất cả điều này giúp tôi hiểu các Mantra và những cuốn sách thánh, nhưng tôi không biết về cái Tôi bản ngã.. Tôi nghe nhiều người như Ngài nói rằng, chỉ những ai biết được cái Tôi này mới thoát khỏi ưu phiền. Hay như Munkada đã nói: “Có hai loại tri thức mà con người phải thấu hiểu… Loại tri thức thấp là những gì mà Rig-veda, Yajur,… mang đến, còn tri thức cao chỉ Brahman bất tử mới biết”.

Như vậy, đi tìm bản chất của bản ngã cùng các quy luật của nó chính là nội dung mà bao thế hệ Veda đã và đang nỗ lực xây dựng nhằm hoàn thiện thiên chức thiêng liêng mà Đấng tối cao Brahman đã giáo phó. Và cũng từ những quan kiến về Bản ngã này mà toàn bộ hệ thống triết lý Bà-la-môn giáo được hoàn thiện. Nói khác hơn, triết học Bà-la-môn lấy tư duy hướng ngã làm cơ sở. Đây chính là phạm trù căn bản để từ đó cho phép chúng ta nhận xét về những đặc tính mà các tư tưởng khác hoặc là kế thừa, hoặc là phản đối.

Mối quan hệ giữa Phật giáo và Bà-la-môn giáo

Cùng bắt nguồn trên mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo không thể nào không có những mối quan hệ sâu đậm được. Nhưng, đó là quan hệ gì? Từ xưa đã có rất nhiều ý kiếnnhận xét được đưa ra để biện giải cho vấn đề này. Trong đó, với mục đích phân biệt rõ hơn về hai trào lưu tư tưởng mà đã có ý kiến cho rằng Phật giáo là một trào lưu độc lập và đã phủ nhận sự minh triết của Bà-la-môn giáo tồn tại trong Phật giáo. Ngược lại, cũng có người khi nhìn thấy những điểm chung nhất giữa hai giáo phái đã vội cho rằng Phật giáo là sự tổng hợp đỉnh cao của Bà-la-môn giáo. Nói khác hơn, một bên nỗ lực tách riêng còn một bên cố gắng đưa đến sự hợp nhất mà trong đó cả Phật giáo và Bà-la-môn giáo chỉ là hai mặt của tư tưởng Ấn.

Tuy nhiên phủ nhận hay khẳng định sự chính xác của một hoặc hai xu hướng trên không phải là vấn đề ở đây. Vì sao? Vì nếu là phủ nhận hoặc khẳng định thì điếu đó đã cho thấy rằng nó ít nhiều không khỏi có sự hiện hữu của sự phiến diện. Nó có thể xuất phát từ những tự ái cá nhân hoặc tự ái tôn giáo để rồi đưa đến sự thiếu khách quan trong nhận định. Cho nên, ở đây, mối quan hệ tác động sẽ là đối tượng để chúng ta đề cập.

Lịch sử đã cho thấy rằng, Phật giáo xuất phát chậm hơn các trào lưu tư tưởng của Bà-la-môn giáo. Nói cho chính xác thì khi Phật giáo ra đời, nền triết học Bà-la-môn giáo đã đạt đến đỉnh cao của nhận thức tính và nó đang đi vào sự suy sụp do khuynh hướng của tôn giáo hình thức chi phối tính triết lý hàm súc trong văn học Veda. Trong khung cảnh sa sút ấy, Phật giáo ra đời và được xem là sự cải cách lớn nhất đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Ấn. Mọi giá trị của Bà-la-môn giáo đã được xem xét lại khi thời bấy giờ Phật giáo đưa ra nhiều kiến giải mang tính đột phá cao. Chẳng hạn, chỉ bằng vào sự phủ nhận tính thực hữu của bản thể Brahman và thay vào đó là tự tính vô hữu ngã thôi, Phật giáo gần như đánh đổ cả hệ thống giáo lý của Veda, ít nhất là trên bình diện triết họcNgoài ra, ở các phạm trù khác đều tìm thấy những dấu vết của sự bất đồng của Phật giáo đối với Bà-la-môn giáo.

Thế nhưng, nếu căn cứ vào đó mà cho rằng Phật giáo không có sự liên hệ nào cả với Bà-la-môn giáo thì chưa chính xác. Vì, khi đi sâu vào nội dung của Phật giáo ta rất dễ dàng tìm thấy nhiều yếu tố của Bà-la-môn giáo mà chính xác hơn là của Veda. Và điểm chung nhất mà ta có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trong giáo lý Phật giáo so với Bà-la-môn giáo là sự xu hướng của quan niệm là tư tưởng luân hồi khổ đau và tìm cầu giải thoát. Có thể nói đây là hai phạm trù không riêng gì giáo phái nào mà hầu như tất cả những trào lưu tư tưởng Ấn đều đặc biệt quan tâm và luôn tìm cách tiếp cận. Và do xuất phát từ xu hướng đó mà gần như những danh từ, những thuộc tính, những phương pháp thi thiết của cả hai giáo phái đều có biểu hiện cho thấy nó rất gần gũi mà đã không ít người gần như không còn phân biệt được đâu là của Phật giáo, đâu là của Bà-la-môn giáo. Về điểm này, Kimura Taken đã nhận xét như sau:

Khi Phật đối đáp với người Bà-La-Môn, Ngài không thể gạt hẳn tín ngưỡng của họ ra một bên; vả lại, đứng trên lập trường thần thoại mà nói thì Phạm Thiên cũng luôn luôn được biểu hiện trong Phật giáolý do chính là ở đó. Hơn nữa, theo sự suy định của tôi, tín ngưỡng Văn ThùQuan Âm của Đại thừa Phật giáo sau này phần lớn cũng do thần thoại Phạm Thiên mà ra, về sau đã đóng vai trò rất trọng yếu trong Phật giáo về mọi phương diện. Do đó khi nói đến Phạm Thiên là vị nhân – cách – thần trung tâm ở thời đại Phật đã hàm ngụ một ý nghĩa rất trọng yếu trong bề mặt nghiên cứu Phật giáo sử Ấn Độ.

Một điểm nữa cho thấy rằng tư tưởng Phật giáo có quan hệ gần gũi với Bà-la-môn giáo, đó là việc Đức Thích Ca Mâu Ni Phậtgiáo chủ khai sáng Đạo Phật, là một người được giáo dục trong môi trường của Veda. Từ khi sinh ra, lớn lên và thậm chí cả khi đi xuất gia tu hành, ngài cũng trang bị cho bản thân bằng những kinh nghiệm đã được hấp thu từ nền giáo dục của truyền thống Veda. Sự tham cầu học và đạt được những kết quả tối cao trong phương pháp của hai đạo sĩ A-la-la và Uất-đầu-ca, sự tìm cầu giải thoát bằng đường hướng khổ hạnh khốc liệt,… đã cho thấy rõ điều đó. Và mặc dầu, khi đã giác ngộ được con đường giải thoát hoàn toàn khác với giáo lý Veda, nhưng để diễn đạt được những gì mà ngài đã tìm được sau hơn 6 năm tìm kiếm đến với chúng sanh thì bắt buộc ngài phải sử dụng những thuộc từ phổ thông cho dù theo truyền thống của Veda thì nó có thể được hiểu ở nghĩa khác.

Tóm lại, từ những sự tương đồng và dị biệt cơ bản trên cho thấy giữa Bà-la-môn giáo và Phật giáo đã có sự liên hệ hết sức mật thiết về cả ngôn ngữ lẫn tư tưởng triết lý. Chỉ có điều cần phải nhắc lại rằng, bất cứ sự đánh đồng nào giữa hai tư tưởng này đều không có nghĩa là nó thuộc về nhau. Vì sao? Vì ngay trong mục đích căn bản mà mỗi xu hướng đều cho thấy nó hoàn toàn không phải là một hay có sự vay mượn nào cả, ngoại trừ sau này, khi Hindu giáo được chấn chỉnh thì mới có sự tổ hợp một số tư tưởng phi Veda, như Phật giáoThiên chúa giáoHồi giáo. . . được đưa vào và giải thích theo phong cách của Hindu để có thể hiểu được như là một khía cạnh chính thống của Veda. Một Phật giáo chủ trương vô thật ngã và xây dựng nền đạo học trên cơ sở ấy, còn một bên là Bà-la-môn giáo thừa kế tư tưởng đề cao Bản Ngã tuyệt đối và tìm cách lý giải về điều đó thì làm sao có thể là một hay vay mượn tư tưởng được. Và nếu có đi nữa thì cũng chỉ là giao thoa trên bình diện ngôn ngữ mà thôi.

Bà-la-môn giáo với hiện tượng luận Phật giáo

Xuất phát từ một nền triết học mang nặng thiên hướng tâm linh nên lẽ tất nhiên các giá trị về vũ trụ hiện tượng không phải là đối tượng đáng được các nhà hiền triết của Veda chú ý. Bởi lý do đó mà mặc dù Ấn Độ đã có lịch sử lâu đời, và họ cũnh chính là người đã đóng góp những phát minh quan trọng nhưng sự chuyên sâu trong những lĩnh vực về vũ trụ hiện tượng nhưng vẫn không thể nào bì được với các nền văn hóa phương Tây. Đó chính là một hạn chế nhất định của văn minh Ấn vậy.

Thế nhưng, bù lại, nền triết học Ấn lại giúp cho nhân loại khám phá được những quy luật của hiện tượng. Chính những quy luật này, thông qua cách triết lý của Ấn Độ, nó đã hình thành nên những quan niệm về thế giới hiện tượng mà trong đó trục xoay chính là con người và đời sống của họ. Riêng Bà-la-môn giáo còn đi xa hơn khi đã tạo nên một khung cảnh vũ trụ mà trong đó nó chịu sự đạo diễn bởi các thần linh. Chính các thần linh này khi đã được hình tượng hóa thì đã lộ rõ một bức tranh của cuộc sống con người không hơn không kém.

Và có lẽ dựa trên nền tảng này mà Upanisads đã để cho Atman – đại diện cho con người – được đồng nhất tính với Brahman – biểu trưng cho vũ trụ. Sự đồng nhất này, trước hết vẫn là một biểu tượng vị nhân của triết lý Ấn. Trong Chàndoya Upanisad, đạo sĩ Uddàlaka trả lời Svetaketu: “Như vậy, con ơi! Cái thực thể tế vi mà con không nhận thức được, chính nhờ cái thực thể tế vi ấy mà cây lớn này đã mọc và tồn tại được. Con ơi! Con hãy tin rằng, cái thực thể tế vi ấy tràn ngập trong toàn thể vũ trụ. Đấy là chân lý. đấy là Tự ngã. Cái ấy là Con, hỡi Svetaketu”.

Như vậy, đứng trên lập trường nhân sinh để quy định tính chất vũ trụ, Bà-la-môn giáo đã diễn dịch một hệ thống vũ trụ to lớn nằm trọn trong tiểu vũ trụ là con người. Một điều thú vị là Phật giáo cũng nhất trí rằng vạn pháp đều do tâm con người biểu hiện. Tư tưởng này từ lâu đã nổi tiếng với câu kệ của kinh Hoa Nghiêm:

Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy Tâm tạo.

Nói cách khác, sự nhất quán về nhân sinh chủ quan giữa Bà-la-môn giáo và Phật giáo là một sự thật không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, nếu như Bà-la-môn giáo với đặc trưng là tư tưởng Veda đã cho sự cấu thành của hiện tượng nằm trong những quy luật của thần thánh thì sự khác biệt của Phật giáo lại thuộc về quy luật nhân duyên. Atharva Veda nói: “… Chỉ hơi thở của Người đủ thành sinh khí cho toàn đại vũ trụ, đủ tạo nên vạn vật, sự chi phối hoàn bị đến độ đều nằm sẵn trong từng cá thể vi ti nhỏ nhặt nhất”. Trong Yajur Veda cũng bảo rằng: “… Vạn vật phát hiện tự nơi ngài và vũ trụ đã có sẵn trong ngài…. cũng như cây sồi có sẵn trong hạt sồi, cũng như trái cây có sẵn trong mầm hạt cây, sẵn sàng nảy nở và phát triển, muôn vật hữu hình đã có sẵn ở Brahman và mọi mầm mống đều phát sinh tự nơi Ngài”. Ngược lại những quan niệm đó, kinh Phật Tự Thuyết, nguyên lý Duyên khởi được Thế Tôn tóm tắt:

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do cái này diệt nên cái kia diệt.

Quy luật nhân duyên là mối quan hệ chính yếu mà Phật giáo đề cập khi biện giải về hiện hữu hữu thể. Nó cho biết rằng tất cả các hình thái biểu hiện của hiện hữu đều nằm trong một tổ hợp và các giá trị trong tổ hợp đó hoàn toàn không được khẳng định ở sự thực hữu, mà ngược lại nó mang trên mình những biến thiên nhất định tùy thuộc vào những điều kiện có liên quan.

Trong Bà-la-môn giáo, sự khắng khít theo quy luật nhân duyên không phải là không được tìm thấy. Nếu như trong Phật giáo, sự liên hệ nhân duyên đưa đến các biểu tướng sanh, trụ, dị, diệt thì trong Bà-la-môn giáo sự biểu hiện đó lại thuộc về ba ảnh dụ của ba vị thần Brhamas – tượng trưng cho sáng tạo (sanh), Vishnu – vị thần bảo hộ (trụ và dị) và Shiva – vị thần hủy diệt (diệt). Chính sự đấu tranh của ba vị thần này cho thấy rất rõ về quy luật tác động lên nhau của Bà-la-môn giáo khi quan niệm về hiện tượng là nguyên lý thứ hai tồn tại song song với nguyên lý tối cao thứ nhất.

Và gần như một quy tắc, chính sự tranh đấu trong nguyên lý thứ hai mà thế giới hiện tượng được liên tục hình thành và biến chuyển. Chỉ có điều, sự biến chuyển này, theo Veda giáo thì con người không thể thấu triệt được bản chất của nó, vì đơn giản là nó thuộc về những quy tắc của nguyên lý tuyệt đối, mà đã là như vậy thì hiển nhiên chỉ có Brahman mới có đủ thẩm quyền để biết mà thôi. Sự triết lý như thế thì những quy luật thần thánh chính là cơ sở để có thể thuyết minh về hiện tượngmặc dầu nó vẫn đi theo quy luật của nhân duyên.

Phật giáo thì khác hơn khi xác nhận sự vận động trong phạm vi của luật nhân duyên, các hiện hữu không được hiểu là do một năng lực tiên nghiệm nào sáng tạo và duy trì. Nó là kết quả của các năng lực được tích hợp từ vô số các trạng huống mà các nhân duyên đã không ngừng vận độngBản thân của các yếu tố được gọi là nhân, là duyên lại một lần nữa không có các thực hữu thể. Và Phật giáo kết luận Không tánh là thực tánh của các pháp. Đức Phật đã hơn một lần khẳng định về điều đó:

Chư Phật, Lưỡng Túc Tôn
Tri pháp thường vô tánh
Phật chủng tùy duyên sanh
Thị cố thuyết nhất thừa.

Vì là không tánh nên quy luật nhân duyên được vận hành và trở thành năng lực chi phối sự vận động của các pháp. Sự chuyển vận này làm kéo theo các hệ quả mà sanh trụ dị diệt, có, không,… là những biểu tướng phải có.
Thế nên, trên bình diện tổng quát, hiện tượng luận của Bà-la-môn giáo vẫn được hiểu bằng quy luật nhân duyên của Phật giáo. Nhưng sự khác biệt vẫn nằm ở bản chất nền tảng của Bà-la-môn giáo được quy nạp vào quy luật thần tính và sự bất khả tri của con người. Chính điều đó làm cho sự vận động mất đi tính khách quan vốn có và đưa nó trở thành phụ thuộc vào ngoại tại tuyệt đối. Đây là điểm khác biệt rõ nhất khi Phật giáo chủ trương các pháp vận động phụ thuộc vào chính những điều kiện nằm trong hệ quy chiếu mà nó đang hiện hữuThiết nghĩ, khi so sánh về phạm trù ấy, chúng ta chắc hẳn phải lưu ý đến điểm này.

Bà-la-môn giáo và Bản thể luận Phật giáo

hư đã nói ở trên, thế giới hiện tượng trong Bà-la-môn giáo chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện của bản thể Brahman, sự xu hướng về Thực thể Tiên nghiệm đã làm cho nó hoàn toàn đồng nhất tính với nguyên lý tuyệt đối và không bao giờ đi ra khỏi sự chi phối của nguyên lý đó. Advaita Swami Dayananda, đạo sĩ nổi tiếng của Advaita Vedanta, một hình thức cách tân của Bà-la-môn giáo, đã tán dương như sau:

Cả thế giới vũ trụ chỉ là Một. Cái Một đó là Brahman và cái Một đó là đơn nhất và toàn bộ chứ không phải được cấu thành bằng những bộ phận hay yếu tố nào hết. Đó là Brahman, cái tuyệt đối. Và bản thân anh, người đang tìm tòi Brahman cũng là Brahman. Bởi lẽ Brahman khác biệt với anh thì Brahman sẽ không còn là Brahman nữa, và sẽ là nhị nguyên, không phải nhất nguyên. Anh sẽ là chủ thể và Brahman là khách thể. Anh không còn là cái toàn bộ (the Whole).

Triết thuyết Advaita bắt nguồn từ các Thánh điển Vedas, mà truyền thống xem là sách thần khải, được trao truyền cho các bậc minh triết thời xưa, gọi là rishis. Sách Upanisads là bộ phận kết thúc của thánh điển Vedas, không những bàn luận về Brahman mà còn giảng dạy một cách có hệ thống về Brahman nữa… Theo tôi, nghiên cứu thánh điển Upanisads chính là phương pháp trực tiếp để thành tựu cái Ta chân thật, tức Atman, cũng tức là Brahman. Và thành tựu cái Ta thật tức là phát hiện cái Ta thật đó chính là cái toàn bộ, là Thượng đế, là cội nguồn của tất cả.

Theo Chandradhar Sharma phạm trù Brahman được hiểu theo hai nghĩa. Một, nó được xem là sự rộng lớn, hiểu thấu tất cả, bao hàm tất cả các tính chất tốt đẹp – Saprapancha, Saguna và Savishesa. Nó được Shankaràchàrya cho là thuộc về thượng đế hữu hình hay là Brahman cấp thấp. Ngược lại, nghĩa thứ hai cho rằng, Brahman là tầm thường, không có gì đặc biệtmơ hồ không rõ ràng, và nó được xem là lý tánh tuyệt đối. Nếu như ý nghĩa về Thượng đế là biểu trưng cho quan niệm vật chất của cái tuyệt đối thì ý nghĩa tuyệt đối lại là bản thể của hiện tượng.

Cả hai đan xen vào nhau, như là Một mà không phải một; tuy không phải một nhưng chính là Một. Nhưng làm sao để có thể từ một cái bản ngã Atman mà lại đồng nhất với đại ngã Brahman? Câu trả lời đơn giản chỉ ví cả bản ngã lẫn đại ngã đều thuộc về những biểu hiện của cái tuyệt đối mà thôi. Sự nhận biết cái tuyệt đối bằng Ý thức tự ngã là việc bất khả thi và là một điều kiêng kỵ của người Bà-la-môn mỗi khi phải lý giải về điều này.

Cho nên có thể thấy rằng, sự đồng nhất tất cả hiện tượng là kết quả của một Brahman duy nhất. Từ đó, mọi sự khu biệt dù đang ở dạng nào thì nó vẫn chỉ là sự biến động về hiện tượng nhưng trong sâu thẳm của tuyệt đối, nó vẫn cứ là một phần không thể thiếu của quy luật đồng nhất tính. Đây chính là cơ sở mà theo Giáo sư Lương Duy Thứ nhận định rằng, nó là của tất cả nguyên lý khác thuộc triết học Bà-la-môn giáo.

Riêng Phật giáoquan niệm Bản thể luận chỉ thật sự được chú trọng khi trào lưu phân hóa tư tưởng đã bước vào đỉnh cao. Chính trong thời đại đó, các phạm trù triết học Phật giáo như Duyên KhởiTánh KhôngChân NhưNiết Bàn,… được đẩy mạnh về phương diện triết lý hóa và làm xuất hiện nhiều luận giải có giá trị và ảnh hưởng rất lớn cùng các bậc luận sư nổi tiếng một thời như Mã MinhLong Thọ, Vô, Trước, Thế Thân,… Từ trong trào lưu đó, bản thể luận của Phật giáođặc biệt là truyền thống Bắc truyền, đã giải thích và biện luận về con đường được các nhà Đại thừa xem là phản ánh chân chính những lời dạy của Phật.

Nó cho rằng, các pháp không phải chỉ được biểu hiện bằng sự vô thường, khổ, không như lập luận của Tiểu thừa Phật giáo, mà còn có khả năng được thể nhập nếu đương sự siêu vượt được khái niệm về tính tương đối và tuyệt đối của vạn vật. Trong Kinh Kim CangĐức Phật dạy rằng: Nhữ đẳng Tỳ-kheo, tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp . Nghĩa là: Này các Tỳ Kheo, các ông phải biết rằng, pháp của Như Lai nói ra giống như chiếc bè qua sông vậy. Chánh pháp còn phải “bỏ” huống gì là không phải chánh pháp.

Sự siêu vượt này còn được đề cập trong rất nhiều kinh luận khác nhau. và có điều thú vị là hình như điều đó có mối quan hệ nào đó khi ta so sánh với tư tưởng về bản thể luận của Bà-la-môn giáo ở trên. Điều này cũng được Kimura Taken tán đồng rằng:

Phật giáo tuy không thừa nhận Thần và Phạm là thật tại hình nhi thượng nhưng trên thực chất, lại có cái khí vị tự giác và an lập hình nhi thượng học: “Ta là Phạm”(Aham Brahmàsmi) và “cái ấy là ngươi”(Tat tvam aci) của Áo-Nghĩa-Thư; và Phật tự xưng là Phạm Thân(Brahmakaya) và Phạm Thành(Brahmabhuto) lý do cũng chính là ở đó. như vậy, ta thấy, một mặt Phật giáo đối kháng Bà-la-môn, mặt khác lại dùng ngôn ngữ của Bà-la-môn giáo để biểu minh sự tự giác có tính chất hình nhi thượng… Sau này, tư tưởng Pháp Thân dần dần đã mang đầy đủ ý nghĩa hình nhi thượng học chính là đã lấy tư tưởng trên làm bối cảnh.

Tuy nhiên, sự giống nhau về các phạm trù được xu hướng là điều dĩ nhiên một khi nó đã được đẩy lên bình diện của sự siêu vượt khái niệm. Trong hệ quy chiếu mà không còn có trục xoay, hay nói đúng hơn là không còn chỗ trụ – như Kinh Kim Cang đã nói: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” – thì tất cả sự so sánh đều không còn có ý nghĩa. Và chúng ta có thể gọi nó là gì cũng được hoặc là Brahman hay Phật tánhChân Như, Thiên chúa hay Đạo,… thì nó vẫn không vì thế mà bị đặt để vào trong sự bất đồng của chúng ta. Điều quan trọng ở đây chính là phải nhận biết được rằng, với Bà-la-môn giáo, quy tắc đồng nhất giữa bản thể và hiện tượng được quy định bởi tư tưởng thật hữu và tất nhiên phương cách đưa ra vẫn chủ yếu là sự hướng về, trở về với thực hữu tuyệt đối ấy.

Còn trong Phật giáo, sự đồng nhất lại chính là sự nhận ra chứ không phải trở về. Vì sao? Vì Đức Phật đã khẳng định rằng: “Các ngươi là Phật sẽ thành/ Ta đây là Phật đã thành”. Và vì thế nên Kinh Pháp Hoa mới nói rằng: “Chư Phật Thế tôn vì nhất đại sự nhân duyên xuất hiện ư thế, Khai thị chúng sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”. Thật không còn gì để mà hướng đến khi đệ tử Phật biết rằng chính bản thân mình đã là một bản thể hoàn chỉnh.

Đây chính là điểm đặc sắc và tiến bộ nhất làm cho Phật giáo tuy đã có sự tương đồng với Bà-la-môn giáo về mặt danh từ của Hình nhi thượng nhưng vẫn khẳng định được đặc tính tự lực thể nghiệm và thành tựu Pháp thân Phật của chính mỗi người. Và cũng chính vì thế mà trong Phật giáo, những giá trị tế lễ, cầu cúng hay van xin để được hoàn thiện đều bị phủ nhận, mà điều đó lại chính là phương pháp rất được các thế hệ Bà-la-môn giáo, không những từ thời sơ khai mà còn tận hôm nay, đặc biệt ưa chuộng và xem đó như là một con đường đưa đến sự hội nhập với bản tánh Brahman.

Quan điểm giải thoát của Bà-la-môn với Phật giáo

Đi từ trong bản thể luận đến hiện tượng luận, cả Phật giáo lẫn Bà-la-môn giáo đều thống nhất rằng, cuộc đời này là sự giả tạm, là đau khổ. Bởi thế cho nênsự giải thoát khỏi lĩnh vực đó chính là yêu cầu cấp thiết nhất mà tất cả các thế hệ tư tưởng Ấn Độ đều nỗ lực tìm kiếmTuy nhiên, do sự thú hướng của tư tưởng khác nhau nên lịch sử Ấn đã cho thấy có rất nhiều những quan niêm về lĩnh vực này.

Đối với Bà-la-môn giáo, sự giải thoát chính là sự trở về với bản thể Phạm Thiên. Nhưng tại sao phải trở về? Bởi vì tiểu ngã Atman đã ngày càng đi ra khỏi những quy luật của Đấng sáng tạoNguyên nhân là do linh hồn đã bị vô minhdục vọng làm ô nhiễm để rồi bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi không bao giờ trở về được nữa. Muốn diệt được dục vọngvô minh thì không gì khác hơn là dùng Yoga để đạt được những trạng thái thiền định.

Chính trạng thái thiền định này giúp cho người Bà-la-môn hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng của Ý thức, cái mà họ cho rằng chính nó là nguyên nhân của sự phân biệt đối đãivô minhham muốn. Bởi thế, Bà-la-môn giáo chủ trương dùng trí tuệ đạt được bằng cách thể nhập các loại định Yoga để loại bỏ sự kiềm tỏa của Ý thức, lúc đó sự giải thoát mới có thể được xảy ra và bản ngã hoàn toàn được thể nhập vào đại ngã Brahman. Một ảnh dụ thường được các Bà-la-môn dùng để ám chỉ điều này là sự không mộng mị của một giấc ngủ. Câu chuyện giữa Indra và Prajàpati trong Upanisads kể lại trong một lần đối đáp, Prajàpati đã trả lời câu hỏi của Indra rằng, người được hưởng giấc ngủ say không mộng mị là bản ngã.

Còn đối với Phật giáophạm trù giải thoát bao gồm: đối tượng để giải thoátphương pháp và kết quả:

1. Đối tượng để giải thoát

Về đối tượng, Phật giáo đồng ý với Bà-la-môn giáo khi cho rằng cuộc đời của con người là đau khổ. Và nỗi khổ này không có nguyên nhân nào khác ngoài vô minhái dục. Muốn hết khổ thì phải loại bỏ những nguyên nhân ấy. Tuy nhiênquan điểm về vô minh của Phật giáo khác với Bà-la-môn giáo ở chỗ, nếu Bà-la-môn cho rằng vô minh là do mối quan hệ giữa Ý thức và cảm giác hiện tượng quá sâu đậm dẫn đến sự mê đắm mà đánh mất tính chất thanh cao của Bản ngã nên bị luân hồi sanh tử, thì Phật giáo lại cho rằng “Bất tri Đệ nhất nghĩa đế vị chi vô minh”.

Theo Phật giáo Nam truyền giải thíchvô minh là không liễu tri được Tứ Đế, còn Bắc truyền Phật giáo thì cho rằng không giác ngộ được bản chất như thật của các pháp gọi là vô minhBản chất như thật ở đây tức là bản chất không thật tánh của các pháp và Phật tánh viên dung của chúng sanh. Và Phật giáo cho rằng muốn giải thoát thì trước hết phải liễu tri được Đệ nhất nghĩa đế ấy. Cho nên, đối tượng giải thoát tất nhiên là con người, nhưng đi sâu vào nội dung thì Bà-la-môn giáo chú trọng ở vấn đề đưa bản ngã con người ra khỏi tầm ảnh hưởng của Ý thức, còn Phật giáo thì lại phát triển Ý thức lên đỉnh điểm của nhận thức, tức là Diệu Quan Sát Trí để chuyển hóa tâm thức và giác ngộ thật tánh các pháp.

2. Phương pháp giải thoát

Do hướng đến sự thể nhập của bản ngã vào Đại ngã làm đối tượng nên các phương pháp của Bà-la-môn giáo để tiếp cận bao gồm thực hành các lễ nghinghiên cứu Veda và thực hành Yoga với mục đích hạn chế Ý thức để đạt được giải thoát. Trong khi đó, Phật giáo lại cho rằng giác ngộ được các pháp như thật “nó đang là” mới được gọi là giải thoát. Điều này đã được đức Phật dạy rằng: “Yah pratìtysamutpàdam paysyati so dharmam pasyati, yo dharmam pasyati so buddham pasyati” (Ai thấy lý Duyên khởi, người ấy thấy Pháp. Ai thấy Pháp, người ấy thấy Phật”). Bởi vậy, trong Phật giáo, các pháp môn, dù là lễ bái, dù là niệm Phật, hay tọa thiềnđả thất,… tất cả đều lấy việc việc nâng cao sự nhận thức của tâm thức lên đến tột đỉnh của sự giác ngộ. Nói khác hơn, tất cả chỉ vì hoàn thiện tính năng tự hoạt của tâm, mà một trong các đại diện của cái tâm ấy là Ý thức.

3. Kết quả

Để nói về kết quả của sự giải thoát, Bà-la-môn giáo và Phật giáo đều rất ít nói về kết quả. Bởi đấy là chuyện “ẩm thủy tự tri” cho nên thật khó để có thể trình bày những gì mà cả hai trào lưu tư tưởng đã đạt đến.
Trong Bà-la-môn giáo, Chàndogya Upanisads đã phải dùng đến câu chuyện giữa Prajapati và Indra. Trong câu chuyện này đề cập đến 4 giai đoạn thể nghiệm Atman của Indra. Bốn giai đoạn đó là:

– Thức(Vishva)
– Mộng(Taijasa)
– Ngủ say không mộng(Pràjna)
– Ý thức tâm linh(Turiya)

Với sự hoàn tất cả bốn giai đoạn trên, người Bà-la-môn có thể được đồng nhất Atman với Brahman đồng thời tận hưởng hạnh phúc của sự vĩnh hằng. Đây là thực tại mà theo Bà-la-môn giáo, nó không thuộc về phạm vi của ngôn từ. Cho nên, mọi sự cố gắng để diễn tả về nó đều vô ích.

Trong Phật giáosự giải thoát tuy là rất khó nói nhưng không phải mang màu sắc của huyền thoại như trong Veda. Nó đã được đức Phật và chư vị Đại đệ tử Phật chứng ngộ một cách rõ ràng. Trong kinh Trung Bộđức Phật đã mô tả lại những gì Ngài đã thành tựu được sau 49 ngày nhập định quán sát. Nó có thể được tóm tắt vào những giai đoạn:

– Giai đoạn Sơ thiềndiệt trừ dục và các bất thiện pháp, đi kèm với tầm và tứ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh.
– Giai đoạn Nhị thiền: diệt tầm và tứ, phát triển nội tĩnh và nhất tâm, một trạng thái hỷ lạc do định sanh.
– Giai đoạn Tam thiền: diệt hỷ, chánh niệm tỉnh giác với một lạc thọ về thân.
– Giai đoạn Tứ thiềndiệt trừ các cảm thọ lạc và khổ, ly hỷ và ưu, phát triển xả và niệm thanh tịnh.

Sau khi đã thanh tịnh tâm, Ngài phát triển tâm về các phạm trù mà nó đã đem đến cho những thành tựu mà sau này được gọi là sự chứng ngộ của bậc Thánh.

Như vậy, sự chứng ngộ trạng thái giải thoát trong Phật giáo là một sự thật rất rõ ràng như là một kinh nghiệm đã được từng trải. Nhưng Phật giáo rất ít khi nói về điều đó, hay nói khác hơn, đạo Phật ít quan trọng đến việc trình bày trạng thái ấy như là một cái gì. Tại sao? Thứ nhất là kinh nghiệm giác ngộ trong Phật giáo có nhiều tầng bậc khác nhau tùy thuộc vào nỗ lực dụng công thanh lọc tâm của hành giả nên nó không có một tiêu chuẩn nhất địnhvì vậy, nếu trình bày những kinh nghiệm chứng ngộ ấy tất sẽ có hại cho những người chưa có sự trải nghiệm và dẫn đến sự phỉ báng hay cố chấp. Thứ hai là nó thuộc về lĩnh vực của thực nghiệm, nên sự nói về sẽ có thể trở ngại cho người học. Bởi thế nên trong Phật giáo rất thận trọng khi nói về những kinh nghiệm này.

Kết luận

Tóm lại, căn cứ trên cái nhìn của Phật giáo, Bà-la-môn giáo với tư tưởng Veda vẫn xứng đáng là nguồn cảm hứng cho sự bộc phát những tư tưởng triết học của dân tộc Ấn. Và Phật giáo cũng nhìn nhận rằng, trong một giới hạn nào đó, giữa Bà-la-môn và Phật giáo đã tìm thấy nhau ở những điểm chung:

– Công nhận cuộc đời là đau khổ và đưa ra những phương pháp để hỗ trợ chúng nhân được giải thoát khỏi những đau khổ ấy.

– Lấy con người làm trung tâm để khảo sát mặc dù Bà-la-môn giáo vẫn cho rằng con người là một phần thuộc về cái Tuyệt đối.

– Đều lấy sự phát triển trí tuệ làm cơ sở để diệt trừ vô minh ái dục, là những nguyên nhân đưa con người vào vòng sinh tử luân hồi.

– Đối với hiện tượng và nhân sinh, cả hai đều chấp nhận quy luật nhân duyên nghiệp báo chi phối cuộc sống con người.

– Sự chung đụng về ngôn ngữ đã dẫn đến những sự giao thoa không thể tránh khỏi khi cả hai cùng phát triển trên một mảnh đất của triết lý này.

Tất cả những điểm trên đây, dù chưa được đầy đủ, nhưng rõ ràng là một sự thật không thể nào chối cải được. Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho rằng Phật giáo là một phần của hệ tư tưởng Bà-la-môn như có nhiều người đã lầm tưởng. Vì sao? Vì dù đã phát triển chậm hơn và phải chịu những tác động của hệ tư tưởng này nhưng Phật giáo vẫn không ngừng thể hiện mình trong toàn bộ những gì còn để lại của nền triết học Ấn Độ. Và để phản ánh được những cái riêng của mình trong một tổng thể to lớn của nền văn minh Ấn Độ ngàn năm, Phật giáo đã phải thể hiện mình ở những nét đặc sắc nhất.

Chính những nét đặc sắc đó đã nói lên rằng giữa Phật giáo và Bà-la-môn giáo vẫn là hai trào lưu tư tưởng với hai mục đích khác nhau, nhưng lại giống nhau ở xu hướng. Đó là khẳng định khả năng thành tựu mục đích tối hậu của con người ở sự giải thoát khỏi mọi khổ đau, nhưng để đạt được mục đích đó thì mỗi trào lưu lại đưa ra một phong cách rất khác nhau như đã phân tích ở trên. Vì vậy không có lý do gì để cho rằng Phật giáo là sự tổng hợp đỉnh cao của tư tưởng Ấn Độ.

Để kết thúc xin được mượn lời của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh để khẳng định lại tính cách của một Phật giáo đúng nghĩa:

Ở bất cứ một giáo hệ nào của Phật giáo, ta cũng thấy rằng tính cách thực dụng linh động của đạo Phật. Ta không bao giờ thấy những câu như: “Chân lý là thế nầy, chân lý là thế kia”, mà chỉ thấy tinh thần của những câu như: “Nếu làm như thế nầy, ta sẽ đến chỗ này; nếu làm như thế kia, ta sẽ đạt đến chỗ kia”, hay “Nếu muốn đi đến đó thì phải hành động như thế này, nếu muốn đi đến chỗ kia thì phải hành động như thế kia”. Lìa tính cách thực dụng ấy, tất cả những lý thuyết nào được mệnh danh là Phật giáo đều không phải đích thực là Phật giáo

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5943/feed 0
Bhagavadgītā: Vài Đặc Điểm Đạo Đức Trong Sự So Sánh Với Phật Giáo https://thuonghylenien.org/luu-tru/5941 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5941#respond Fri, 02 Feb 2024 04:25:22 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5941 BHAGAVADGĪTĀ:
VÀI ĐẶC ĐIỂM ĐẠO ĐỨC TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHẬT GIÁO
Thích Nguyên Hiệp

hoa sen 125Bhagavadgītā là một trong những thánh điển quan trọng của Ấn giáo. Tuy xuất hiện sau các Veda và một vài Upanishad nhưng Bhagavadgītā có một vị trí đáng kể trong hệ thống triết học và có ảnh hưởng lớn vào quan điểm xã hội của tôn giáo này. Bhagavadgītā được sáng tác vào khoảng thể kỷ thứ II (tr. TL)[1]; nhưng theo S. Radhakrishnan, niên đại của nó vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thế kỷ III (tr. TL)[2].

Bhagavadgītā nằm trong bộ Mahabharatagồm có 18 chương với 700 khổ thơ, nội dung xoay quanh cuộc đối thoại giữa thần Krishna và vị hoàng tử Arjuna, khi vị hoàng tử này đang ở trước bãi chiến trường để chuẩn bị cho cuộc chiến Kurukshetra, một cuộc chiến xảy ra giữa hai đám hậu duệ của Bharata là Pandava và Kaurava. Arjuna là người lãnh đạo đội quân Pandava. Lúc sắp bước vào cuộc chiến, Arjuna cảm thấy vô cùng bối rối và đau khổ khi phải đối diện với một cuộc tàn sát đối phương mà họ là những người thân, thầy giáo và bạn bè. Vào lúc đó, thần Krishna, qua hiện thân làm người đánh ngựa của Arjuna, đã khuyên Arjuna nên thực hiện đúng vai trò xã hội của mình như là một thành viên của tầng lớp chiến sĩ. Và thông qua cuộc đối thoại này, triết học về đời sống, những nguyên tắc đạo đức và những phương pháp thực hành yoga để đạt lấy giải thoát đã được đặt ra.

Triết học của Bhagavadgītā chính yếu tập trung vào ba phương pháp thực hành Yoga: Jnāna-yoga, Bhakti yoga và Karma yoga. Jnāna-yoga là trí tuệ nhận biết được thực tại cuối cùng, đó là Phạm thiên (Brahman). Bhakti yoga là thể hiện sự sùng kính đến một vị thần đặc biệt nào đó, trong Bhagavadgītā là thần Krishna, vị hóa thân của thần Vishnu. Theo Bhagavadgītā, sự sùng kính thần linh được xem là con đường dễ dàng nhưng lại cao nhất cho việc đạt lấy giải thoát. Karma yoga, chỉ cho cách thức mà người ta cần biết để hành động trong đời sống thường nhật; tức là người ta nên biết các nhiệm vụ và bổn phận của mình, và cần nên thực hiện chúng với một tinh thần như thế nào. Và thêm vào, làm nền tảng cho ba phương pháp yoga ở trên là thiền địnhđiều kiện bắt buộc phải có trước khi thực hiện ba phép yoga nói trên.

Về cơ bản, triết học của Bhagavadgītā cũng tương tự với triết học Upanishads, cùng thuộc chủ đề Vedanta. Nó thiết lập một mối liên hệ giữa thần linh và con người, và một sự hợp nhất cả hai. Mối liên hệ giữa Krishna và Arjuna là mối liên hệ giữa thần linh và con người, giữa Brahman và Atman. Tuy nhiên sự khác nhau giữa hai hệ thống này là, trong khi Upanishads nhấn mạnh vào tri thức, xem đó như là điều kiện và phương tiện tiên quyết để nhận chân thực tại cuối cùng là Brahman, Bhagavadgītā nhấn mạnh vào sự sùng bái thần linh, xem đây như là con đường tâm linh mà người ta phải có trong việc nhận ra thực tại sau cùng. Thờ phụng và sùng bái thần linh là điều kiện cần cho việc đạt lấy giải thoátTri thức mà không có sự sùng kính là không thể đủ để đạt đến giải thoát, và không thể nào có một trí tuệ toàn vẹn nếu không có sự sùng kính thần linh. Do đó người ta nên giữ Thần linh ở vị trí trung tâm trong thái độ và nhận thức của mình, chấp nhận thần linh như là người thực hiện, người điều khiển, và con người chỉ là công cụ thực thi hành động.

Về phương diện xã hội, Bhagavadgītā đưa ra một lối sống phần nào tích cực khi nó chủ trương một phương thức hành động dựa trên thái độ xả kỷ, và xem hành động là tốt hơn không hành động. Bhagavadgītā đề xuất một lối sống xả bỏ, không thủ chấp, tuy nhiên không phải là lối sống từ bỏ xã hội hay cuộc đờiQuan điểm này lại khác với Upanishad mà nó xem việc từ bỏ cuộc đời và sống ở trong rừng như là điều kiện cần cho việc đạt lấy trí tuệ siêu việtTuy nhiên cũng giống với Upanishad, Bhagavadgītā nhấn mạnh vào sự vô nghĩa của thân xác vật lý và sự bất tử của linh hồn (atman). Và mục đích tối hậu của đời người là đưa linh hồn bất tử của mình quay về lại với Brahman.

Như vậy, mục đích tối thượng của đời người là đưa linh hồn (at- man) của mình trở về lại nơi nó đã xuất phátTuy nhiên không nên hiểu Brahman và Atman như hai thành phần tách biệt và cần phải đưa cái này nhập vào cái kia. Atman chỉ là một sự hiện thể của Brahman, và nó là một và không khác với Brahman, “Vào sự khởi đầu thế giới này, duy nhất chỉ có Linh hồn (atman) trong hình thức một con người. Lúc nhìn quanh, anh ta không nhìn thấy ai khác ngoài chính mình.”[3] Và, “Quả thực, điều được gọi là Brahma – điều đó giống như khoảng không bên ngoài con người. Quả thực, những gì là khoảng không bên ngoài một con người – điều đó giống như khoảng không bên trong một con người.”[4]

Atman có thể tạm so sánh như nhánh của một dòng sông. Sự luân hồi của atman vào những cảnh giới khác nhau là kết quả của việc nó tách ra khỏi Brahman; và nó vẫn mãi còn trôi nổi trong sanh tử nếu mỗi khi nó còn tách mình ra khỏi Brahman. Mỗi khi nó nhận ra được thực tại cuối cùng bên trong chính nó và đạt được một trí tuệ về Brah- man, lúc đó nó sẽ đạt được sự giải thoát.

Như đã nói ở trước, Bhagavadgītā xem sự sùng kính Thần linh là điều kiện tiên quyết cho người ta tìm đến giải thoát cuối cùng. Cũng nằm trong dòng chính Bà-la-môn giáo, Bhagavadgītā đưa ra một sự nối kết mật thiết giữa con người và thần linh. Mọi bổn phận và nghĩa vụ của con người, việc thực hiện những điều được cho là nên làm trong đời sống trần tục này… tất cả không ngoài mục đích được thể nhập lại với Thần linhĐạo đức học của Bhagavadgītā do đó là một loại đạo đức siêu hình và duy thần. Người ta thực hiện các bổn phận và làm theo những quy định nên làm, mục đích không phải vì con người mà vì thần linhhay nói cách khác, người ta làm những điều ấy vì đó là cơ hội để có thể đạt được giải thoát sau cùng. Và những bổn phận cùng những quy định đó, chúng không phải đến từ xã hội con người, mà xuất phát từ thần linh qua những lời mặc khải, “Do đó, hãy xem thánh điển là kẻ có thẩm quyền trong việc quyết định những gì nên làm và những gì không nên làm.”[5] Những chuẩn mực đạo đức, do đó là một thứ thiên luật. Tất cả những gì hiện hữu ở cõi đời này, đều do từ Thần linh mà có, “Ta là nguồn gốc của tất cả, từ nơi Ta vạn vật tiến hóa.”[6]

Bhagavadgītā thừa kế truyền thống đẳng cấp mà nó có bóng dáng ở trong Rig Veda, và sau đó được nói rõ hơn ở Upanisads. Bổn phận trong Bhagavadgītā do đó dính liền với hệ thống đẳng cấp. Các đẳng cấp không có những bổn phận giống nhau, và các đẳng cấp chỉ được thực hành những bổn phận dành riêng cho mình mà không được phép xen vào bổn phận và công việc của những đẳng cấp khác. Xã hội sẽ trở nên bình yên và ổn định khi mỗi đẳng cấp thực hiện đúng theo những bổn phận và quy định dành cho mình. Bổn phận ở đây được xem như pháp (dharma) mà nó là một loại nguyên tắc tối cao hướng dẫn con người và xã hội. Nếu người ta vượt qua giới hạn của pháp, là vượt qua những quy định giữa người với người, và cũng đang phạm phải thiên luật, đi ngược lại ý muốn của thần linh. Sống đúng theo bổn phận (dharma) của mình và không nghĩ đến kết quả của hành động, thì dù có làm gì cũng không gây nên tội lỗi, “Ngươi hay chiến đấu vì mục đích chiến đấu, không nghĩ đến hạnh phúc hay khổ đau, được hay mất, thắng hay bại; và bằng việc làm như vậy, ngươi không bao giờ mắc phải tội lỗi.”[7]

Như vậy, rõ ràng rằng người ta thực hành đạo đức là vì muốn đạt đến sự giải thoát cuối cùng trong sự hợp nhất với Brahman. Tuy nhiên, cho dù là một loại đạo đức siêu hình và duy thần, và người ta thực hành những bổn phận mục đích chính không phải vì con người mà vì muốn được hợp nhất với thần linh, thì những ảnh hưởng của việc thực hành đạo đức ấy không phải không có sự ảnh hưởng đến đời sống con người và xã hội. Và thực rađạo đức nếu thiếu đi tính siêu hình cũng không phải là điều hay!

Tuy nhiên, bởi vì cấu trúc xã hội theo Ấn giáo được dựa trên hệ thống đẳng cấp, do đó bổn phận (pháp) mà người ta cần thực thi không có sự giống nhau, và như vậy không có những giá trị phổ quát trong đạo đức học của Bhagavadgītā nói riêng và hệ thống Bà-la-môn giáo nói chung. Con người không có những quyền và bổn phận giống nhau ở cuộc đời này. Sự bình đẳng về các quyền chỉ có được ở một cõi khác khi người ta thực hiện đúng những bổn phận dành cho mình ở cõi trần thế này. Cũng chính vì đạo đức được xây dựng trên hệ thống đẳng cấp và nó là một thứ quy định xuất phát từ thần linh thiếu xét đến bản chất tự nhiên của con người, Bà-la-môn giáo được xem là “không có mặt khái niệm luật tự nhiên”[8] ở trong hệ thống của nó.

Trong Veda, sự phân chia từng nhóm người được phân định theo vị trí trên cơ thể của con người vũ trụ (purusa) mà từ đó họ được sinh ra. Thuật ngữ ở trong Rig Veda mà nó liên quan đến hệ thống đẳng cấp là varṇa (màu sắc); và o đây, dường như rằng, từ lúc đầu sự phân chia nhóm người chỉ liên quan đến sắc da hơn là về bản chất. Nhưng với Bhagavadgītā thì khác, ở đây sự giải thích về hệ thống đẳng cấp được dựa trên sự phân loại đặc tính (guṇa) con người. Bhagavadgītā cho rằng con người mang trong mình ba đặc tính căn bản, đó là tính sáng suốt (sattva)linh động (rajas) và tối tăm (tamas)[9]Đặc tính đầu hình thành nên các Bà-la-môn. Cái thứ hai dành cho các Sát-đế-lợi. Và cái cuối cùng là thành phần bản chất của Vệ-xá và Thủ- đà-la. Do vì đặc tính trong mỗi nhóm người là không giống nhau, cho nên bổn phận cho mỗi nhóm cần phải khác nhau.[10]

Bhagavadgītā có lẽ được sáng tác tại một thời điểm khi mà vị  trí của tầng lớp Bà-la-môn đang suy giảm và vai trò của tầng lớp Sát-đế-lợi đang có ưu thế. Qua những giảng giải của thần Kishna, Bhagavadgītā muốn tái xác định lại vị trí xã hội của từng đẳng cấp. Một mặt nó vừa giữ lại những gì của truyền thống Ba-la-môn, nhưng mặt khác lại canh tân những phương pháp thực hành tôn giáoSự giải thoát có thể đạt được thông qua việc thực hành bổn phận dành cho mình và niềm tin vào thần linh vừa như để giữ lại hệ thống đẳng cấp, nhưng cũng như muốn “phổ quát hóa” con đường giải thoát cho mọi đẳng cấp. Sự thực hành bổn phận không nghĩ đến kết quả của hành động, trong khi nó nêu cao tinh thần xả kỷ và không thủ chấp, nêu cao tinh thần sống giữa cõi đời nhưng không bị cõi đời trói buộc, thì mặt khác nó cũng nhằm an bài từng đẳng cấp với từng bổn phận cụ thể và không được phép thay đổi đi trật tự đó.

Ở trên là một vài nét về Bhagavadgītā và đặc điểm đạo đức của nó. Từ đây chúng ta đi đến một vài liên hệ đạo đức học của nó với đạo đức học Phật giáo.

Như đã nói ở trước, nếu ta xem việc thực hành các bổn phận và một vài nguyên tắc sống trong Bhagavadgītā là những chuẩn mực đạo đức, thì việc thực hiện đạo đức là một phương tiện cho việc đạt lấy một mục đích cao hơn là giải thoát, hay sự thể nhập với thần linh.

Phật giáo xem việc thực hành đạo đức (giới) và làm những điều thiện là bước quan trọng hỗ trợ cho việc thực hành thiền định và để đạt đến trí tuệ và giải thoátĐạo đức do đó cũng là phương tiện để người ta tiến lên một mục đích cao hơn. Tuy nhiên, trong khi những chuẩn mực đạo đức trong Bhagavadgītā có nguồn gốc từ thần linh, và đạo đức học của nó là siêu hình và duy thần[11]đạo đức Phật giáo là những chuẩn tắc rút ra từ kinh nghiệm mà nó cần thiết cho việc thực hành thiền định để đạt đến giải thoát. Như vậy việc áp dụng những nguyên tắc đạo đức chỉ là một bước tạm thời cho việc tiến lên một mục đích cao hơn. Ngay cả việc chọn lấy một đời sống thánh hạnh, nó là phương tiện người ta cần đến để vượt qua khỏi đời sống thánh hạnhĐạo đức sẽ đánh mất ý nghĩa của nó khi người ta vượt qua khỏi đời sống xã hội.

Karmayoga là một phương cách hành động xã hội trong Bhagavadgītā. Nhưng dù đặt ra khái niệm karma (hành động), Bhagavadgītā xem karmayoga vượt qua khỏi phạm trù đạo đức thông thường là tốt và xấu, đúng và sai, cũng như trách nhiệm cá nhân, bởi vì người thực hành karmayoga không còn nghĩ đến động cơ và mục đích, nếu có động cơ thì đó là động cơ thể hiện sự sùng kính để thể nhập với thần linh. Bởi vì linh hồn (atman) không bao giờ bị giết chết mà chỉ có thân xác vật lý bị giết chết, và người ta thực hiện hành động theo đúng bổn phận của mình sẽ không tạo nên tội lỗi, vì họ thực hiện hành động đó thay cho thần linhtrách nhiệm cá nhân không được đặt ra ở đây, “Người thoát khỏi ý niệm vị kỷ, trí óc không bị uế nhiễm (bởi tốt hay xấu), thì cho dù anh ta giết những người này, anh ta không giết và không bị trói buộc (bởi hành động).[12]

Giáo lý nghiệp của Phật giáo đặt ra một trách nhiệm cá nhânLuật nhân quả trong Phật giáo như là một thứ luật tự nhiên, không có sự can thiệp của thần linh; và người ta sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình theo sự “quyết định” của định luật nhân quả mà không phải bởi thần linh. Người ta không thể thoát khỏi nghiệp quả mỗi khi đã tạo ra nghiệp nhân, “Không trên trời, giữa biển/ Không lánh vào động núi/ Không chỗ nào trên đời/ Trốn được quả ác nghiệp.” (Pháp cú 127). Tuy nhiên, cách giải thích về nghiệp nhân và cách giải thoát nghiệp quả trong Phật giáo có sự khác nhau ở từng thời kỳ phát triển Phật giáo.

Bhagavadgītā chủ trương một lối sống hành động, xem hành động là phương cách tốt hơn không hành động; và người ta nên hành động bằng một tinh thần xả kỷ, “Quyền của ngươi là thực hiện bổn phận được quy định cho ngươi, mà không có quyền đối với kết quả của hành động. Chớ xem kết quả của hành động là động cơ của ngươi, và cũng đừng để bị trói buộc để không thực hiện bổn phận của ngươi.”[13]

Quan điểm hành động với thái độ xả kỷ sẽ không gây tội lỗi của Bhagavadgītā phần nào gần với quan điểm hành động vì lòng đại từ bi của Đại thừa. Hành động của một vị Bồ-tát xuất phát từ tâm Bồ-đề, và khi hành động đó được dẫn dắt bởi một tâm thức thuần tịnh, không thủ chấp và vì lợi ích của chúng sanh, thì việc làm của Bồ-tát được coi là thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp, hoặc chỉ tạo nên nghiệp nhỏ. Cũng có trường hợp rằng Bồ-tát sẵn lòng tạo nên nghiệp ác nếu hành động đó đem lại lợi ích cho số đông. Chúng ta có thể tìm thấy quan điểm này nơi chuyện kể về vua Anala ở kinh Hoa Nghiêm (phẩm Nhập pháp giới), hay câu chuyện về vị đứng đầu đoàn thương buôn năm trăm người ở kinh Phương Tiện (Upāyakauśalya Sūtra)Tuy nhiên điểm khác nhau căn bản là, trong khi Bhagavadgītā coi điều kiện tiên quyết cho một hành động không gây nên tội lỗi là sự quên thân và hiến mình cho thần linhĐại thừa xem điều kiện tiên quyết là tâm Bồ-đề và vì lợi ích của những chúng sanh khác.

Nền tảng chính của đạo đức Phật giáo là lòng từ bi phổ quát được đặt cơ sở trên tâm vô ngãĐại thừa cho rằng sự thấu triệt về tánh không là để phát khởi lòng từ bi. Ở góc độ khác, hiểu rõ tánh không để nhận ra sự bình đẳng trong bản chất giữa mọi chúng sanh. Và bởi vì chúng sanh không khác nhau trong bản chất (dù nghiệp khác nhau), người ta cần thương yêu kẻ khác như yêu bản thân mình. Hành động xả kỷ và sự hy sinh như vậy là vì lòng từ bi chứ không phải vì sự sùng kính thần linh. Trong Nhập Bồ-đề Hành luận của Tịch Thiên quan điểm này được thể hiện rất rõ. Tịch Thiên còn cho rằng việc làm lợi ích cho chúng sanh phước đức còn lớn hơn việc cúng Phật. Hẳn nhiên rằng việc thực hành lòng từ bi của Bồ-tát cũng là phương tiện cho việc đạt đến Phật quảđạo đức do vậy cũng là bước khởi đầu để Bồ-tát bước đến một mục đích cao hơn.

Một điểm quan trọng khác trong đạo đức học mà những tôn giáo phát xuất từ Ấn độ đều nhấn mạnh đó là tinh thần bất bạo động và không gây hại (ahimsa). Với những lời khuyên của thần Krishna, thúc giục Arjuna hãy nên chiến đâu, Bhagavadgītā như vậy đã cổ xúy chiến tranh và bạo lực. Tuy nhiên nhiều đoạn trong Bhagavadgītā, tinh thần bất bạo động cũng được nêu ra[14]. Sự thúc giục chiến đấu vì vậy đôi khi được giải thích như là “cái cớ” để qua đó Bhagavadgītā muốn đưa ra lý thuyết về hành động và phương cách đạt đến giải thoát của mình (giải thích này của M. Ghandhi).

Phật giáo, dù Theravada hay Đại thừa, không bao giờ ca ngợi chiến tranh và bạo lực. Chiến tranh, dù thắng hay bại đều gây nên khổ đau cho con người. Không làm tổn hại con người và muôn vật là tinh thần xuyên suốt lịch sử Phật giáo. Và không những đề cao tinh thần không gây hại, Phật giáo còn khuyến khích nên hành động vì lợi ích của tha nhân và những loài sống khác.

Ở trước là một vài xem xét vắn tắt về Bhagavadgītā và một vài so sánh nhỏ với Phật giáo. Một hệ thống triết học, ngay khi nó xuất hiện không phải đều được mọi người đón nhận, và trong hiện tại hẳn không nhận được một sự đánh giá giống nhau. Và một hệ thống triết học giá trị của nó được thể hiện như thế nào vào đời sống xã hội còn tùy thuộc và sự hiểu và cách ứng dụng của những người theo nó. Đối với nhiều người, Bhagavadgītā quá nhấn mạnh vào đẳng cấp và bổn phận, do đó tất yếu gây nên sự chia rẽ xã hội và tạo ra sự bất bình đẵng, và điều này thực tế đã thể hiện quá rõ nơi đời sống xã hội Ấn. Tuy nhiên đối với người khác, một số nguyên tắc trong thánh điển này cần nên được ứng dụng để làm tốt đẹp cuộc đời. Trong thực tế, hành động xả kỷ (karmayoga) mà nó được nhấn mạnh trong Bhagavadgītā đã được M. Gandhi áp dụng vào trong đời sống và công cuộc tranh đấu của ông, tuy nhiên sự xả kỷ và hi sinh của M. Gandhi là vì con người chứ không phải vì thần linh. Và trong khi bất bạo động (ahimsa) và lẽ phải (satya) là hai nguyên tắc dù không được đề cao trong Bhagavadgītā, đã được M. Gandhi nhấn mạnh và trở thành lẽ sống của ông và nhiều người.

Sách tham khảo:

  • The Thirteen Principal Upanishads, bản dịch tiếng Anh của R. E. Hume, Ox- ford: Oxford University Press,
  • Bhagavadgītā, bản dịch tiếng Anh của Sri Swami Sivananda, Himalayas: The Divine Life Trust Society,
  • Max Weber, The Religion of India (The Sociology of Hinduism and Buddhism), Delhi: Motilal Banarsidass,
  • Radhakrishnan, Indian Philosophy, Oxford University Press, 2008.
  • David J. Kalupahana, Ethics in Early Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass, 2008.
  • Kashi Nath Upadhyaya, Early Buddhism and The Bhagavadgita, Delhi: Moti- lal Banarsidass, 2008.
  • Roderick Hindery, Comparative Ethics in Hindu and Buddhist Tradition, New Delhi: Motilal

[1] Constance A. Jones and James D. Ryan, Encyclopedia of Hinduism, New Yord: Facts On File, 2007, 73.

[2] Radhakrishnan, Indian Philosophy, tr. 524.

[3] Brhadāranyaka Upanisad, trong The Thirteen Principal Upanishads, E. Hume dịch, Oxford: Oxford University Press, 1921, tr. 81.

[4] Chāndoyagya Upanisad, trong The Thirteen Principal Upanishads, E. Hume dịch, Oxford: Oxford University Press, 1921, tr. 208.

[5] Bhagavagita, XVI, 119.

[6] Bhagavadgita, Sri Swami Sivananda, Himalayas: The Divine Life Trust Society, 2000, 79.

[7] Bhagavadgita, II:38, 24.

[8] Max Weber, The Religion of In (The Sociology of Hinduism and Buddhism), tr. 143.

[9] Ba đặc tính này còn được giải thíchSattva là sự thuần khiếtthoát khỏi những điều xấu; Rajas là xúc cảm, sinh ra ham muốn và dục vọngRajas là sự ngu muội và thô bạo bên trong con người.

[10] Xem, David J. Kalupahana, Ethics in Early Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass, 2008, 9.

[11] Kashi Nath Upadhyaya, Early Buddhism and The Bhagavadgita, Delhi: Motilal Banarsidass, 2008, xem các trang 409-422.

[12] Bhagavadgita, XVIII: 17, 127.

[13] Bhagavadgita II:47. 25.

[14] Xem thêm Bhagavadgita, chương XVI:1-3 115-116. Một vài nguyên tắc sống được đặt ra ở đây là: bố thí, tự chế, thực hiện tế lễ, nghiên cứu Vệ-đà, khổ hạnh và giản đơn, không bạo lực, chân thật, không giận dữ, xả bỏ, bình thản, thương yêu các sinh vật, khiêm tốn, tha thứ, không căm thù, không kiêu ngạo…

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5941/feed 0
CHÂN KHÔNG HÓA CẢM XÚC https://thuonghylenien.org/luu-tru/5856 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5856#respond Thu, 18 Jan 2024 07:17:20 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5856 CHÂN KHÔNG HÓA CẢM XÚC

Chân Không Hóa Cảm Xúc

Khi chúng ta ném quả banh cực mạnh vào bức tường, thì quả banh sẽ văng ngược lại bằng tốc độ tương đương. Nếu cảm xúc chúng ta là môi trường chân không, rõ ràng không bị vật lý cản trở thì sự ném nỗi khổ niềm đau vào trong con người không làm cho con người đó bị khổ đau, vì cảm xúc của người đó không lưu giữ lại điều gì không có lợi. Nỗi đau đó sẽ rút vào chân không của cảm xúc, cho đến lúc nó chấm dứt sự vận hành, do lực tác dụng đã không còn nữa.

Nói cách khác, quán không có thọ giả là cách thức tạo ra trạng thái chân không trong dòng cảm xúc. Duy trì trạng thái chân không đối với cảm xúc sẽ giúp cho hành giả không bị vướng vào chỗ nào của khổ đau cả. Bất cứ những gì diễn ra, người biết quán không thọ giả vẫn nghiễm nhiên nở nụ cười hoan hỷ. Dĩ nhiên, điều đó rất khó.

Đức Phật dạy cách ứng xử như vậy trong kinh điển và có rất nhiều vị Bồ-tát đã hành trì thành công. Nếu con người có bản lĩnh, dám làm và nỗ lực có phương pháp, vẫn có thể đạt được thành công như các Ngài.

Ngành y học hiện đại có tiến bộ lớn khi chế ra chất gây tê làm cho hệ thống trung khu thần kinh không còn cảm giác đau đớn trong lúc mổ. Nhờ vậy, việc mổ xẻ chữa bệnh không để lại ấn tượng về cơn đau hoành hành thân thể và cảm xúc của bệnh nhân. Trước khi thực hiện ca mổ, bệnh nhân phải chấp nhận tiêm thuốc gây mê. Chất thuốc này được hoạt dụng để làm tê liệt cảm giác đau đớn. Tê liệt cảm xúc là cách thức làm quên nỗi đau. Phản ứng phụ của nó có thể tạo ra sự mất trí nhớ, ảnh hưởng đến não trạng, tim mạch, sức khỏe của các chi phần còn lại trên cơ thể. Do đó, nó không phải là giải pháp cần thiết và tốt nhất.

Chân không hoá cảm xúc là cách thức gây tê nỗi đau, để vô hiệu hoá nỗi đau vật lý. Nhờ đó, tinh thần vẫn vững chãi trong nỗi đau vật lý của thân.

Nhà Phật giới thiệu pháp môn thiền định đặc biệt, được gọi là Diệt thọ tưởng định. Hành giả khi rơi vào trạng thái định này thì dòng cảm xúc và ý niệm hoá không còn hoạt động nữa. Các hoạt động của thân (thân hành), lời nói (khẩu hành) và ý thức (ý hành) đã lắng dịu hoàn toàn. Mặc dù các giác quan vẫn rất sáng suốt trong trầm mặc, mà con người vẫn điềm nhiên trước mọi biến cố trong đời, không hề bị bất cứ cái gì làm cho lay động.

Đức Phật Thích Ca thiền định bất động dưới gốc cội bồ đề 49 ngày, tổ Bồ-đề Đạt-ma xoay mặt vào vách núi chín năm, chính là trạng thái Diệt thọ tưởng định. Đức Phật dạy không nên dừng lại ở loại thiền định này, vì như vậy hành giả sẽ rơi vào ngộ nhận khi cho rằng sự vắng mặt của dòng cảm xúc và ý niệm hoá là giác ngộ tối hậu. Ngài tiếp tục dạy rằng các hành giả phải biết cách chuyển tâm về tam minh và tứ trí, mới có thể chứng đắc sự giác ngộ và giải thoát. Các hành giả Bà-la-môn giáo cho đó là trạng thái an lạc giải thoát cuối cùng, nên họ tu hoài mà không đạt được an vui.

Thiền Diệt thọ tưởng định chỉ có giá trị an lạc tạm thời, bởi nó tĩnh tại trong suốt thời gian con người đạt được trạng thái không còn ý niệm và cảm giác, nên mọi khổ đau có cũng trở thành không.

Khi buông trạng thái đó ra thì nỗi khổ đau của cảm xúc vẫn tiếp tục xuất hiện chinh phục, khống chế, tác động đến đời sống con người. Do vậy, nó không phải là giải pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả đối với đại đa số quần chúng.

Tuy nhiên, trong trường hợp của nỗi đau, chỉ cần hành giả áp dụng một phần của loại thiền định này, đã có khả năng tách rời nỗi khổ đau thân thể ra khỏi dòng cảm xúc. Như vừa nói, nỗi khổ đau đặt trên nền tảng của thân thể và cảm xúc. Khi vô hiệu hoá cảm xúc và ý niệm hoá thì nỗi đau có cũng như không. Cũng giống như luồng điện hiện hữu trong một bóng đèn. Khi bóng đèn bị vỡ thì ánh sáng không còn mà dòng điện vẫn còn tồn tại.

Khi bị bế tắc trong quan hệ tình cảm, hay làm ăn buôn bán, thì nỗi khổ niềm đau cảm xúc gia tăng lớn. Trong tình huống như vậy, chỉ cần tách rời dòng cảm xúc và thân thể ra làm hai thì vấn đề khổ đau được giải quyết. Bởi dòng cảm xúc chỉ có thể tồn tại trên thân thể. Khi thân thể đã tách rời khỏi cảm xúc thì nỗi đau có chỗ đâu mà bám víu.

Chúng ta có thể vận dụng phương pháp quán sát thân thể con người gồm có bốn thành tố: đất, nước, gió, lửa. Các thành tố vật lý này không phải là của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi, và tôi không lệ thuộc vào bốn thành tố thân thể vật lý ấy.

Nhờ quán sát như vậy khổ đau được chấm dứt.

Trong kinh Trung Bộ, đức Phật dạy rằng cho đến khi nào dòng cảm xúc vẫn còn có mặt thì nỗi khổ đau vẫn còn theo đuổi. Khi nào chúng ta không còn dòng cảm xúc nữa, lúc đó sẽ đạt được hạnh phúc lâu bền. Cách quán không có cảm giác và ý niệm trong nỗi đau thực chất là vô hiệu hoá nỗi đau, bằng cách tách rời dòng cảm xúc ra khỏi thân và do đó không có chỗ để bám víu.

Trong trạng thái Diệt thọ tưởng định con người sẽ được an nhiên tự tại và hạnh phúc. Đó là cách thức mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã ngồi chín năm xoay mặt vào vách, không hề ăn uống mà cái chết vẫn không diễn ra, sự sống vẫn tiếp tục tồn tại, vì ở đó, ý thức về thời gian, không gian, nỗi khổ, niềm đau đều đã tan biến vào hư không. Con người kéo dài mạng sống trong trạng thái tĩnh tại. Trạng thái này có mặt trong lúc nhập định, còn khi xuất thiền thì chúng ta vẫn trở về với thế giới thực tại, với rất nhiều phiền não nghiệp chướng và nghịch cảnh. Lúc đó chưa chắc chúng ta đã được thành công.

Chính vì vậy đức Phật đã dạy thiền minh sát (Vipassana), giúp cho hành giả nhìn thẩm thấu mọi sự vật đang diễn ra như chúng đang là. Nhờ trang bị hành trang minh sát trong đời sống, hành giả không để dòng cảm xúc thương, ghét, nhị nguyên can thiệp và sai xử, chẳng hạn như theo khuynh hướng thích hợp với mình thì tán đồng, không thích thì loại trừ, chống đối thế này thế kia. Quán tưởng nhiều lần rằng dòng cảm xúc vốn không có một thực thể cảm xúc nào được diễn ra, không có tác giả cố tình gây tạo, lại cũng không có thọ giả để chịu nhận, thì nỗi khổ niềm đau dễ dàng tan biến.

Ngày 11-6-1963, nhiều người trên thế giới đã chứng kiến cảnh tượng Bồ-tát Thích Quảng Đức ngồi thiêu thân tại ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng nay là Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Đình Chiểu. Sự kiện đã gây chấn động khắp thế giới. Vì người ta đã nhìn thấy một vị sư rất thong dong, tự tại bước xuống chiếc xe hơi nhỏ, rồi cầm can xăng 20 lít tưới tẩm toàn thân, sau đó ngồi trong tư thế kiết già bất động. Điềm tĩnh lấy trong tay áo hậu ra một cái hộp quẹt bật lửa, hộp quẹt không cháy, vị Tăng trẻ khác đưa cái hộp quẹt thứ hai đến cho Ngài. Ngài điềm nhiên bật lửa lên, lửa cháy phủ thân thể suốt 15 phút. Ngài vẫn ngồi an nhiên.

Hòa thượng đã bất động 15 phút. Khi thịt da của Ngài đã cháy đen, thân thể mới ngã xuống phía trước nhè nhẹ, an lành và tĩnh tại. Sau đó phần nhục thân của Ngài được đưa đến hỏa thiêu tại An Dưỡng Địa. Điều kỳ diệu đã diễn ra khi thiêu. Hơn 40 ký giả, báo chí và truyền hình nước ngoài hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến quả tim của Ngài vẫn nguyên vẹn, mặc dù lửa thiêu lên đến 4000oC. Quả tim ấy được gọi là “Quả tim bất diệt”.

Có thể nói từ sự kiện đó, dẫn tới việc chế độ độc tài Ngô Đình Diệm bị sụp đổ. Sự kiện đó cũng đã làm cho tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ, Kenndy đã phải thốt lên lời than rằng Việt Nam đã có một bạo chúa. Nói theo Phật giáo, do có ông bạo chúa Ngô Đình Diệm mà Bồ-tát Thích Quảng Đức đã xuất hiện, vị Bồ-tát của tình thương.

Nhiều người cho rằng những vị chân tu qua đời, khi thiêu thường để lại những viên xá-lợi nhỏ nằm dọc theo xương sườn.

Tại sao một quả tim bất diệt trong lửa đỏ 4000oC mà xá-lợi lại không thấy. Hãy trở về quá khứ đã từng có một vị Tổ tên là Cưuma-la-thập dịch rất nhiều kinh điển mà ngày nay Phật tử chúng ta thường tụng như kinh A Di Đà, theo cấu trúc thứ tự văn chương rất mạch lạc, nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ thuộc. Khi sắp viên tịch, Ngài phát nguyện: “Nếu như tất cả những lời tôi giảng kinh, thuyết pháp và dịch thuật kinh điển đúng với bản hoài của chư Phật, thì xin có một điều gì đó làm chứng sau khi tôi chết”. Đến khi Ngài viên tịch, thân thể của Ngài được hoả thiêu. Tất cả đều cháy hết, duy chỉ có cái lưỡi của Ngài vẫn còn nguyên vẹn.

Đó là một sự thật lịch sử. Còn đối với Bồ-tát Quảng Đức, nếu chúng ta suy gẫm lời di chúc của Ngài: “Xin Tổng thống Ngô Đình Diệm hãy sử dụng lòng từ bi và bác ái để ứng xử với muôn dân trong đó có tín đồ của đạo Phật”. Bác ái là đối với những người Thiên Chúa giáo, còn từ bi là đối với đạo Phật. Đã là từ bi thì ứng xử không phân biệt tôn giáo. Ngài kêu gọi Ngô Đình Diệm chỉ cần dùng lòng bác ái cũng đã tốt lắm rồi. Còn tốt hơn nữa, nếu ông có lòng từ bi, thì dân tộc Việt Nam sẽ không còn khổ đau nữa.

Ngài xuất phát từ lòng từ bi, chứ không phải là lòng sân hận nên trong trạng thái của Diệt thọ tưởng định cộng với lòng từ bi, kết thành quả tim bất diệt. Bởi quả tim tượng trưng cho tình thương và lòng từ bi không bao giờ bị tan biến trong lửa dữ của sân hận, trong tất cả những biến cố của cuộc đời.

Nếu hành giả duy trì được trạng thái quán tưởng Hoả quang tam muội hay thiền từ bi trong những nỗi khổ niềm đau, thì trạng thái không thọ giả sẽ được tồn tại. Giống như trạng thái của người mẹ sẵn sàng chịu nỗi khổ niềm đau cho con của mình. Còn khi mà tình thương không có, thì khó mà chịu đựng nổi.

Anh em giúp đỡ lẫn nhau có giới hạn, ông bà đối với con cháu cũng có giới hạn. Cha mẹ thì giới hạn được rút ngắn ở mức tối đa. Lòng từ bi đã giúp cho Bồ-tát Quảng Đức quán được không thọ giả trong lửa dữ suốt 15 phút và khi thiêu với 4000oC quả tim của Ngài vẫn không hề hấn gì.

Kinh Đại Bát Niết Bàn có ghi lại những ngày cuối cùng của đức Phật Thích Ca. Vào những ngày cuối đời, khổ thọ của thân đang diễn ra khốc liệt, Ngài phải nghiêng người qua bên trái rồi nghiêng qua bên phải, nghiêng tới nghiêng lui vẫn không khỏi đau. Lúc đó, Ngài mới nhập vào thiền định, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền rồi sau đó là bốn thiền vô sắc giới rồi diệt thọ tưởng định, mới có tác dụng. Ngài phải lập đi lập lại tiến trình chín định đến 28 lần, nhờ đó, ngài vượt qua hoàn toàn cảm giác đau đớn của thân.

Trong thiền quán, hành giả có thể vô hiệu hoá cảm xúc bằng cách vượt lên trên hoạt dụng dòng cảm xúc tại trung khu cảm giác, chứ không cần phải làm tê liệt như y học. Tê liệt là trạng thái ức chế. Vượt lên trên nghĩa là tạo ra cái hỷ lạc trong thân. Trạng thái hỷ lạc này Ngài đã dạy rất rõ trong 16 pháp quán niệm. Ngài dạy khi hít một hơi thở vào thật sâu hay thở ra một hơi thở nhẹ nhàng, chúng ta liên tưởng trạng thái hỷ và lạc đang tồn tại khắp toàn thân. Toàn thân được hiểu là nó có mặt trong từng xớ thịt, làn da, tế bào, gân cốt, mạch máu. Nếu niềm hỷ lạc tồn tại và xâm chiếm khắp toàn thân thì dòng cảm xúc của khổ đau nếu có cũng được tan biến đi.

Quán tưởng như vậy sẽ chiến thắng được cảm xúc khổ đau mà không cần dùng đến những loại thuốc gây tê hay gây mê.

Nhập vào dòng thiền Diệt thọ tưởng định chỉ vô hiệu hoá khổ đau trong một thời gian ngắn. Vận dụng phương pháp quán về tĩnh tại hỷ lạc đang tồn tại toàn thân, an lạc toàn thân tôi thở vào, an lạc toàn thân tôi thở ra, thì lúc đó hành giả có thể vượt qua được khổ đau. Phương pháp này là một trong những nghệ thuật rất hay mà chúng ta có thể áp dụng. Nếu áp dụng chắc chắn sẽ thành công.

Câu chuyện cuối cuộc đời của Phật nói lên một sự thật là đừng nghĩ rằng các đức Phật, các vị Bồ-tát, A-la-hán, bậc Thánh tăng, các vị xuất gia chân chánh không bao giờ bị bệnh.

Các Ngài cũng bị bệnh, vì có thân thể vật lý thì nó phải bệnh.

Trong kinh Di Giáo, đức Phật dùng từ rất ấn tượng, diễn tả về chiếc thân già nua vô thường: “Thân thể ta đang sử dụng nay nó như một chiếc xe đã cũ. 80 năm rồi còn gì”.

Theo quy luật, sự vật tồn tại ít hơn mạng sống con người.

Chúng ta thường nói: “Một đời ta ba đời nó”. Đức Phật nói thân thể này Ngài đã dùng 80 năm rồi, cũng như một chiếc xe, theo quy luật, nó phải cũ, cũ thì phải hư, hư thì phải ngừng hoạt động. Khi phải giã từ với chiếc xe cũ với mấy mươi năm kỷ niệm, hành giả nên quan niệm rằng ta đang có cơ hội sử dụng một chiếc xe mới. Nhờ vậy, hành giả không còn khổ đau về những cảm giác bất thuận lợi do thân thể vật lý đang đến hồi hoại diệt gây ra. Chỉ cần quan niệm được như vậy thôi là đã có thể tháo gỡ niềm đau cảm xúc nhiều lắm rồi.

Nghĩ được như vậy, thì đừng than với Phật “Phật ơi! Gia hộ cho con hết khổ”. Cầu nguyện không hết khổ đâu. Con người phải làm rất nhiều công đức, nhất là công đức về tuổi thọ và sức khỏe thì mới sống khoẻ và sống thọ được. Nhờ có phước của tuổi thọ đã gieo trồng trước đây, lời cầu nguyện về tuổi thọ và sức khỏe sẽ làm cho hạt giống tuổi thọ kéo dài mạng sống của người cầu nguyện, dưới tác động của năng lực hồi hướng.

Giống như trong tài khoản có tiền, bây giờ chuyển khoản tiền đó cho thân nhân của mình, thì người kia mới nhận được.

Nếu trong tài khoản ta không có đồng nào hết thì chắc chắn chúng ta không thể nào chuyển được cho ai và cũng không giao hoán tài sản cho bất kỳ ai.

Muốn cho nỗi khổ niềm đau không có mặt, thì phải gieo trồng phước báu của tuổi thọ và sức khỏe, chúng ta mới vượt khỏi. Nếu không gieo trồng phước báu ấy, thì nỗi khổ niềm đau vẫn tiếp tục gia tăng, nếu không vững tâm, chúng ta trở nên tiêu cực, chán nản, thất vọng, bế tắc.

Một phương pháp quán khác được đề cập trong kinh điển là quán chỉ đơn thuần là cảm xúc. Quý vị lưu ý từ “Chỉ đơn thuần”.

Trong ngữ cảnh của thuật ngữ hành trì này, “đơn thuần” có nghĩa là trong dòng chảy của cảm xúc không mang theo hạnh phúc và khổ đau. Khi dòng cảm xúc xuất hiện, hành giả chỉ ghi nhận nó xuất hiện như vậy thôi. Không đánh giá cảm xúc, chẳng hạn: đau khổ bao nhiêu, đau con mắt hay lỗ tai, cái chân, đau này là của hàm răng, bao tử. Nghĩa là trong phương pháp quán này, hành giả không nên chấp vào tướng chung và tướng riêng của cảm xúc đau khổ hay hạnh phúc. Tướng chung của cảm xúc là các biểu hiện thái độ đồng tình hay không đồng tình trước hai đối tượng thích hoặc không thích. Trong khi tướng riêng của cảm xúc chính là dòng cảm xúc đặc thù đối với phản ứng giác quan vừa được khởi lên.

Khi soi gương thấy cái má bị sưng phù, thì biết cái đau này liên hệ đến hàm răng. Nhìn thấy cái đau ở hàm răng là nhìn cái tướng chung của cảm xúc đau, ở đây là đau răng. Đối với cái riêng của cảm xúc đau răng, chính là cái biết về cái đau răng này là ở cái răng cùng, răng khôn hay răng cửa v.v… Khi nhìn tướng chung hay tướng riêng của cảm xúc thì chúng ta sẽ không chiến thắng được cảm xúc. Ngược lại chỉ quan sát nó đơn thuần là cảm xúc thôi, mới có thể vượt lên trên nó và tháo gỡ những bế tắc.

Để làm được điều đó cần phải có những sự hỗ trợ. Đầu tiên là chăm sóc các giác quan của mình, làm thế nào để các giác quan hoạt động tuân thủ và phục vụ cho đời sống của mình, chớ không nên lệ thuộc vào nó. Thứ hai là không nuông chiều giác quan, theo kiểu nó yêu cầu gì thì mình đáp ứng ngay. Các giác quan chỉ đóng vai chức năng và là công cụ phục vụ cuộc sống và sự hành trì, chứ hành giả không nên trở thành kẻ phục vụ cho giác quan. Nếu biến giác quan thành kẻ phục vụ hay đầy tớ trung thành, thì con người được hạnh phúc. Nếu biến bản ngã thành kẻ đầy tớ trung thành của giác quan thì con người bị khổ đau. Cảm xúc thiên biến vạn hóa. Chạy theo nó, chúng ta sẽ không có được giây phút thảnh thơi.

Do đó, phải tạo những nhịp ngắt và để nó hoạt động theo cách mình muốn. Nhờ vậy, chúng ta mới quán thành công rằng cảm xúc chỉ đơn thuần là cảm xúc; ở đây, không có ý niệm về cảm giác hạnh phúc, khổ đau hay trung tính. Nhờ quán niệm như vậy, thế giới cảm xúc của hành giả sẽ không rơi vào tình trạng khi trương phình, lúc xẹp lép, khi quá thấp, lúc quá cao, khi quá nóng, lúc lại quá lạnh.

Phương diện hỗ trợ thứ hai là quán sát nhìn thấy được dòng cảm giác tiêu cực đang diễn ra trong cơ thể của mình, nêu quyết tâm trừ bỏ cảm giác khổ đau cũ. Không để cho cảm thọ khổ đau mới diễn ra. Phải nêu quyết tâm với ý thức rõ ràng trong khi tự điều phục tâm, để tâm nhìn thấy bản chất dòng cảm xúc như một dòng chảy. Giống như dòng chảy của nước không có sóng, đục, trong, mà chỉ đơn thuần là dòng nước.

Nói chung, phương pháp quán này nhằm giúp chúng ta không nên trụ mắc vào dòng cảm xúc, để mọi biến thiên của cảm xúc không ảnh hưởng đến sự an lạc và tĩnh tại của con người.

Tóm lại, có rất nhiều cách để chiến thắng được nỗi khổ niềm đau của cảm xúc. Khi ứng dụng hành trì, hãy lấy giá trị của an lạc làm thước đo. Nếu thực hành thời gian ngắn mà có kết quả, thì chúng ta biết là hành trì đúng. Còn nếu thực hành sau năm bảy tháng vẫn không có kết quả, nỗi khổ niềm đau vẫn gia tăng, như mặc cảm tự ti, thất vọng, chán nản, trầm uất vẫn có mặt, lòng sân, si vẫn xuất hiện, nỗi buồn vẫn len lõi, sợ hãi vẫn hoạt động, thì chúng ta biết mình chưa hành trì đúng lời Phật dạy.

Hãy vận dụng cách quán không tác giả hoặc quán không thọ giả hay quán đơn thuần là dòng chảy của các giác quan thì mới chuyển hóa được các cảm xúc tiêu cực. Hình ảnh “Cha trẻ con già” trong kinh Pháp Hoa là một ảnh dụ, nhằm nói lên rằng kết quả của sự thực tập không lệ thuộc vào thời gian và tuổi tác.

Phương pháp tu tập là một trong những cách thức rút ngắn thời gian tu tập. Quá trình và thành quả tu tập không nên được tính đếm tỷ lệ thuận với thời gian, mà nó phải tỷ lệ thuận với phương pháp hành trì và năng lực tâm trong sự hành trì đó.

Nếu tâm lực đặt trên nền tảng của lòng vô ngã, vị tha thì sự hành trì này thăng tiến nhanh.

Nếu đặt trên nền tảng của danh vọng, quyền lợi, cạnh tranh, lấy le với thiên hạ thì chắc chắn qua mỗi sự hành trì, bản ngã sẽ được nuôi lớn. Cảm giác hạnh phúc nếu có lúc đó cũng chỉ là cảm giác tạm thời, chứ không phải hạnh phúc thật. Lao theo hạnh phúc của bản ngã thì nỗi khổ niềm đau sẽ gia tăng.

Đôi lúc có người tự hỏi: “Tại sao tôi làm Phật sự mấy mươi năm mà phiền não cứ có mặt”. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là thái độ vô ngã trong Phật sự chưa được trọn vẹn, cho nên gai góc của nghịch cảnh càng phát sinh.

Để chuyển hoá cảm xúc tiêu cực, trước nhất ta phải tu tập vô ngã trong nhận thức và trong tâm lý. Ứng xử hành trì với trạng thái vô ngã nhiều chừng nào, thì đi tới đâu hành giả được hanh thông tới đó. Vô ngã vượt qua khỏi biên giới của chủ nghĩa hình thức, cũng không lệ thuộc vào chủ nghĩa học thuyết nào. Nó vừa là hoạt dụng tâm lý không chấp trước, tuỳ duyên và vô cầu. Hành đạo và sống đạo bằng tâm lý vô ngã, hành giả gặp nhiều hoàn cảnh thuận lợi. Còn nếu bám vào danh tướng nào đó, chẳng hạn như cho rằng phải là danh nghĩa này mới làm đạo được, còn những danh nghĩa khác thì không làm đạo được, như vậy hành giả đã đi sai con đường hành trì tuỳ duyên của nhà Phật. Nhà Phật không quan trọng danh nghĩa mà quan trọng ở cách thức dụng tâm. Khi dụng tâm đúng thì kết quả an vui tất sẽ có mặt.

Trích: Chuyển Hóa Cảm Xúc – Thích Nhật Từ

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5856/feed 0
TÌM VỀ SỰ THẬT – THỨC TỈNH TÂM LINH https://thuonghylenien.org/luu-tru/5846 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5846#respond Thu, 18 Jan 2024 07:01:53 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5846 TÌM VỀ SỰ THẬT – THỨC TỈNH TÂM LINH

Tìm Về Sự Thật - Thức Tỉnh Tâm Linh

TÌM VỀ SỰ THẬT – THỨC TỈNH TÂM LINH

Ngày nay con người vẫn cho là tâm linh thì huyền bí, khó chứng minh, thông tin nhiễu loạn không biết đâu là thật đâu là giả. Cách đây 6 tháng tôi cũng như bao người ở vào tình trạng nửa tin nửa ngờ. Tin vì qua hàng chục năm chứng kiến quá nhiều những điều huyền bí, ngờ vì mình chưa bao giờ thực sự trải qua nên vẫn chỉ tin được 50%.

Tôi hơn 30 năm qua vốn là con người của khoa học, phàm những gì không thể chứng minh hoặc chưa tự mình trải qua tôi chẳng bao giờ tin. Đơn giản nếu cái gì người ta nói ra tôi cũng tin ngay thì hóa ra mình là kẻ khờ. Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu tôi xin chia sẻ với các bạn về cái mà tôi hiện đang nghiên cứu: “KHOA HỌC TÂM LINH”. Chúng ta cùng bắt đầu nhé:

Vấn đề số 1: ai trong chúng ta ít nhiều cũng biết về các lời tiên tri từ các nhà tiên tri vĩ đại như: chúa Jesu, đức phật Như Lai, trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vanga, Edgar Cayce, Nostradamus… Câu hỏi đặt ra là tại sao các lời tiên tri hầu hết đều trở thành sự thực?

Vấn đề số 2: chúng ta người việt nam ai cũng ít nhiều đã có đôi lần đi xem bói. Thầy bói thường đọc được quá khứ và tương lai của chúng ta. Tại sao họ làm được điều này? Cuộc đời ta từ lúc sinh ra đến lúc mất đi chẳng lẽ đã được sắp đặt?

Vấn đề số 3: chúng ta hẳn ai cũng biết đến một vài bộ môn có hơi hướng khoa học đó là: tử vi, chỉ tay và tướng số. Tại sao xem tử vi có thể đọc được ra số mệnh của một người đúng đến 80%? Tại sao khoa tướng số có câu: nhìn mặt mà bắt hình dong. Người tốt, người xấu, tính cách của họ chỉ nhìn nhân tướng và khí chất mà có thể đoán biết được. Các cụ có câu tâm sinh tướng. Tâm tốt thì tướng đẹp, tâm ác thì tướng ác, tâm gian tướng gian. Tại sao lại như vậy?

Tổng hợp 1,2,3: vậy hẳn mỗi người sinh ra đã có số mệnh. Số mệnh của 8 tỉ người chính là số mệnh của toàn nhân loại. Từ trong sự loạn động của 8 tỉ con người mà các nhà tiên tri vẫn có thể dự đoán tương lai nhân loại một các vô cùng chuẩn xác đến vậy? Đó là bởi vì luật nhân quả chi phối số phận của mỗi sinh mệnh. Từ lúc sinh ra đến lúc mất đi một người chắc chắn phải đi từ điểm A đến B, C, D.X, Y, Z. Khi nhìn vào nhân quả của một người chúng ta có thể thấy các cột mốc sự kiện mà người đó sẽ phải trải qua trong đời. 8 tỉ con người với sự giao thoa nhân quả lẫn nhau dẫn đến các sự kiện bắt buộc sẽ xảy ra trên thế giới. Từ đó mà tương lai hình thành.

Tại sao lại như vậy? Theo quan điểm của đạo Phật luật nhân quả là một luật cơ bản trong vũ trụ của chúng ta. Gieo nhân nào gặt quả ấy. Có những nhân quả xảy ra ngay trong kiếp này, có những nhân quả kéo dài đến kiếp sau và nhiều kiếp sau nữa. Cuộc đời của chúng ta ở kiếp này phụ thuộc vào nhân quả các kiếp trước.

Nếu đã tin vào nhân quả thì đương nhiên phải tin vào luân hồi. Vì có những việc chúng ta làm kiếp này nhưng chưa có cơ hội để trả nghiệp mà đã hết thọ nguyên thì sẽ được bảo lưu sang các kiếp sau.

Nếu đã tin vào luân hồi thì chúng ta phải nhìn thấy một sự thực là: Linh hồn thì bất tử. Tại sao linh hồn lại bất tử? Chúng ta cùng nhau quay về lịch sử tìm hiểu về nguồn gốc của linh hồn.

Từ thủa hồng hoang khi vũ trụ chưa hình thành vẫn luôn có một sinh mệnh bất tử đó là thượng đế. Thượng đế là đấng toàn tri, toàn năng, toàn giác, đấng sáng tạo, là ông trời, là chúa, đấng sinh thành ra muôn loài vạn vật chúng sanh, vị cha già vĩ đại, đấng hằng hữu đời đời, không sinh cũng không diệt. Thượng đế khi nhận thức được sự hiện hữu của mình thì vũ trụ này vẫn chưa thành hình. Vì vũ trụ chưa thành hình nên chẳng có cái định nghĩa nào tồn tại hết. Ví dụ như thế nào là (sáng, tối), thế nào là (cao, thấp), thế nào là (yêu, ghét), thế nào là (buồn, vui)…

Đến thượng đế ở thời điểm đó cũng chẳng định nghĩa được bởi vì thượng đế cũng chưa thực sự trải qua những điều đó vì thượng đế chỉ có mỗi một mình trong không gian vũ trụ bao la. Cũng chẳng có ai để nói chuyện, chẳng có gì để khám phá, không có gì để tìm hiểu chỉ có tự trò chuyện với chính mình. Cuộc sống như vậy thì có gì thú vị? Tuy nhiên rất may thượng đế là đấng sáng tạo, ngài có mọi quyền năng và ngài bắt đầu hành trình sáng tạo của mình. Chúng ta cùng tìm hiểu nguồn gốc của vũ trụ nhé: (Trích từ tứ đại pháp kinh cha giảng)

Vũ trụ từ đâu mà có? Vật chất hình thành như thế nào? Nhỏ hơn nguyên tử là hạt tử (hạt điện tử âm, dương, trung hòa). Ngoài ra còn nhiều loại hạt tử nữa như Meson, Pi, Hadron, Nentri, Neutrino… tức là các hạt nhẹ, cực nhẹ hoặc là nặng, cực nặng khác. Dưới các hạt tử còn loại nào nhỏ hơn không? Chúng có đời sống không?

Sau đây, CHA sẽ lần lượt giảng giải cho các con thấu hiểu về vấn đề này hơn.

Các con ơi! Theo luật biến động tuần hoàn tiến hóa cấp, tức luật tiến hóa trong giới tự nhiên (ngoài ra, còn luật tiến hóa trong sinh giới, luật tiến hóa trong xã hội loài người, luật tiến hóa trong tư tưởng triết lý, ngôn ngữ, văn tự… và quan trọng nhất là luật tiến hóa về tâm linh, tức luật luân hồi nhơn quả của linh hồn…); vật chất tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhất dạng đến đa dạng. Nói chung, NHỮNG CÁI PHỨC TẠP VĨ ĐẠI NHẤT ĐỀU TỪ NHỮNG CÁI ĐƠN GIẢN TẾ VI NHẤT MÀ THÀNH, con!!!

Vũ trụ là cái vĩ đại, bao la, đa dạng, phức tạp nhất. Nhưng nó lại từ nguyên hạt đồng nhất mà ra cả (danh từ này có lẽ các con mới nghe lần đầu? CHA tạm giải thích sơ cho các con hiểu: NGUYÊN HẠT ÐỒNG NHẤT có nghĩa là hạt nhỏ nhất, nguyên vẹn, không thể phân chia nhỏ được nữa, bằng các lực hữu vi như: lực cơ học, lực điện học, lực trường điện từ, kể cả lực hạt nhân phóng xạ…)

NGUYÊN HẠT ÐỒNG NHẤT này tức là các hạt ánh sáng, có tên khoa học là Photon đó con! Ðó là viên gạch của cấu trúc vật chất, là nguyên lượng của khối lượng, là nguyên lượng của trường, là nguyên lượng của nhiệt. Ở khía cạnh “trường” nó là nguyên trường đồng nhất (tức là trường nhỏ nhất, không thể chia nhỏ hơn nữa về mặt vật lý học).

Các loại hạt tử như điện tử âm (électron), điện tử dương (proton), trung hòa tử (neutron) và nhiều loại hạt khác cũng đều hình thành từ nó (Photons).

Cho đến trên 100 loại nguyên tử khác ở địa cầu, hàng vạn loại phân tử ở trái đất, chí đến hàng ngàn loại nguyên tử trong vũ trụ, hàng triệu loại phân tử trong Càn Khôn, cũng đều từ NGUYÊN HẠT ÐỒNG NHẤT mà ra.

Ðiều đó có lẽ khó tưởng tượng nổi. Nhưng thực tế vẫn là thực tế thôi con! Kể cả kim thạch, thảo mộc, xác các loài cầm thú, điểu, ngư, loài người, cho đến vi trùng, vi khuẩn, các loài tế bào, nói chung tất cả những thứ gì ở cõi hữu vi này cũng đều từ một cấu trúc là NGUYÊN HẠT ÐỒNG NHẤT, tức Quang tử mà ra cả.

Bây giờ các con hãy nghe CHA giảng về cơ cấu vật chất và biến động vũ trụ, một vấn đề khá lý thú mà các nhà thiên văn học, vật lý học, hóa học xưa nay đã tốn không biết bao nhiêu công lao để đưa ra một lý thuyết thống nhất về vấn đề này, nhưng cũng chưa thấm vào đâu cả.

Vũ trụ là một tổng thể thống nhất, đó là một tập hợp bao gồm nhiều cấp quán hệ thống (các hệ chuyển động đều, tương đối với nhau). Các quán hệ thống cấp thấp quay chung quanh các quán hệ thống cấp cao, theo những quỹ đạo ngày càng nới rộng và rất phức tạp.

Khởi đầu, vũ trụ hình thành từ électron ở ngoại biên vũ trụ rơi về phối hợp với Proton ở gần trung tâm vũ trụ tạo thành nguyên tử Hydrogen, chúng cọ xát xoay trộn, ban đầu yếu, sau mạnh dần đến độ một vận tốc kinh hồn, nhiệt độ lên đến hàng trăm ngàn tỷ độ, thời bắt đầu bắn phá ra các đại thiên hệ. Khi dang ra xa các đại thiên hệ tiếp tục cọ xát xoay trộn, nhưng với hình thức yếu hơn, nhỏ hơn vũ trụ mẹ của chúng. Ðồng thời bắn phá ra các Thiên hệ, các Thiên hệ cũng tiếp tục như thế bắn phá ra các Thiên hà. Các Thiên hà bắn phá ra các khối nóng, co rút, xoay trộn, sau thành các vì sao (mặt trời chúng con là một trong những vì sao đó). Từ mặt trời, lúc còn là tinh vân nóng đỏ, bắn phá ra các khối tinh vân con, sau nguội dần thành các hành tinh (như địa cầu các con đang sống ngày nay). Các hành tinh lúc còn nóng, áp suất còn cao, nó vỡ ra thành các khối nhỏ hơn tạo thành vệ tinh (mặt trăng ngày nay).

Vệ tinh là một quán hệ thống cấp 1, quay quanh địa cầu là quán hệ thống cấp 2, địa cầu quay quanh mặt trời là quán hệ thống cấp 3, mặt trời quay quanh Thiên hà là quán hệ thống cấp 4, Thiên hà quay quanh Thiên hệ là quán hệ thống cấp 5, Thiên hệ quay quanh đại thiên hệ là quán hệ thống cấp 6, và cuối cùng đại thiên hệ quay quanh một trung tâm mà các con gọi là Vũ trụ, là quán hệ thống cấp 7, còn gọi là quán hệ thống Cái.

Thiên hà, như ngân hà các con thường thấy, dòng sông bạc ban đêm, nằm vắt ngang trên bầu trời, là một tập hợp chứa hàng trăm tỷ ngôi sao.

Thiên hệ, là một tập hợp bao gồm hàng nghìn tỷ Thiên hà.

Ðại Thiên hệ, là tập hợp bao gồm nhiều triệu tỷ Thiên hệ.

Vũ trụ, là một tập hợp bao gồm hàng tỷ tỷ Ðại Thiên Hệ.

Có lẽ các con thắc mắc rằng: Các âm điện tử (élec-tron) do đâu mà có? Ở ngoài biên vũ trụ, rơi vào phối hợp quay tít mù quanh dương điện tử (Proton), ở trung tâm vũ trụ để hình thành vũ trụ. Rồi các quán hệ thống càng ngày càng nới ra xa mãi hay sao?

Ðây các con hãy nghe CHA giảng tiếp:

Các quán hệ thống ngày càng nới rộng ra xa, song song với sự nới ra xa này, chúng bức xạ tức phát ra ánh sáng do sức đốt nóng bởi các phản ứng nhiệt hạch tâm trong ruột của các vì sao. Các hạt ánh sáng này khi ra khỏi vũ trụ chúng nó bị hấp dẫn trường cực mạnh của vũ trụ giữ chúng lại, làm cho chúng quay quanh vũ trụ. Tập hợp các Photons này ngày càng rời xa vũ trụ, vì trường hấp dẫn vũ trụ ngày càng yếu, do sức bức xạ hủy phá vật chất (tức các hạt tử) biến thành ánh sáng phóng ra ngoài vũ trụ, làm cho khối lượng vũ trụ càng lúc càng giảm dần.

Ðến một lúc nào đó, dần dần các vì sao yếu hẳn đi đến lụn tàn rồi tắt hẳn (do các phản ứng nhiệt hạch tâm đã cạn) kéo theo sự tắt hẳn các Thiên hệ. Sự tắt hẳn các Thiên hệ kéo theo sự tắt hẳn của Ðại Thiên hệ. Sự tắt hẳn của các Ðại Thiên hệ kéo theo sự tắt hẳn của vũ trụ.

Lúc mà vũ trụ tắt hẳn, nguội lạnh, thì sự gì sẽ xảy ra các con? Có lẽ các con nghĩ rằng: Vũ trụ chết luôn, Càn Khôn sụp đổ, không còn sự sống nữa, trần gian chỉ còn là cái xác không hồn, âm u lạnh lẽo trong giấc cô miên bất tận.

Không đâu các con! Các con quên rồi sao? Ðã có sinh thời có diệt, có thành thì có hoại, qua khỏi giai đoạn diệt hoại thời đến giai đoạn sinh thành.

Trước khi CHA nói qua giai đoạn sinh thành, làm cho vũ trụ sống lại, CHA sẽ làm cho các con hiểu về cơ cấu vật chất và sự hoạt động của chúng thì con mới hiểu được tại sao vũ trụ sống lại?

Theo trình độ hữu vi, nguyên hạt là CHẤT không định nghĩa được. Chúng có tính hấp dẫn, gọi là TRƯỜNG. Trường và chất là hai danh từ phân chia một dạng ra. Thực tế là Chất mang Trường. Trường là một đặc tính của Chất hay nói đúng hơn TRƯỜNG là CHẤT mà CHẤT cũng là TRƯỜNG, tách riêng Trường và Chất là đã xa lìa thực tại vật lý học.

Hàng triệu hạt nguyên trường đồng nhất này (Photons) tích tụ lại thành hạt âm điện tử (électron).

Hàng tỷ hạt nguyên trường đồng nhất này kết tụ lại thanh hạt dương điện tử (Photon).

Từ hai hạt này tương tác lẫn nhau thành Trung hòa tử (neutron). Rồi chúng tương tác phá hủy lẫn nhau để hình thành hàng trăm loại hạt tử, hàng nghìn loại nguyên tử, hàng triệu loại phân tử phân phối khắp cùng vũ trụ trong các quán hệ thống.

Do đâu mà quang tử tích tụ lại thành âm điện tử và dương điện tử để phối hợp thành nguyên tử Hydrogen và các loại nguyên tử khác?

Muốn hiểu được vấn đề này, các con nhớ lại là CHẤT có mang TRƯỜNG mà Trường thì có tính hấp dẫn, chính TRƯỜNG là nguyên nhân làm cho các nguyên hạt kết tụ lại thành các hạt tử đó con.

Chúng kết tụ lại theo nguyên tắc sau:

– Hai nội trường tương đương đẩy nhau.

– Hai nội trường chênh lệch hút nhau.

Thế nên âm điện tử gặp âm điện tử đẩy nhau, dương điện tử gặp dương điện tử đẩy nhau. Dương diện tử gặp âm điện tử hút nhau. Thực tế chúng hút nhau cả, chứ không đẩy nhau. Ðẩy nhau chỉ là hình thức khác của hút nhau mà thôi.

Ðể các con dễ hiểu chỗ này, CHA ví dụ cho các con tạm hình dung sự kiện như sau đây:

Hai người A và B kéo nhau bằng dây thì diễn tiến sẽ xảy ra như thế nào? Nó sẽ xảy ra các hiện tượng sau:

* Nếu A và B bằng sức nhau, thì không bao giờ A gần B được mà có khuynh hướng dang ra xa giống như đẩy nhau.

* Nếu B yếu sức hơn A, thời A kéo mạnh hơn, thu dây ngắn lại, làm cho B nhũi dần về A, giống như A hút B về mình.

* Nếu A và B quá mạnh, mạnh đến nỗi vượt quá sức chịu đựng của dây, thời dây đứt làm cho mỗi đứa mỗi ngã.

* Nếu A yếu sức hơn B, khi B thu hết chiều dài của dây, thời A và B dính sát lại với nhau, như nhập một khối.

Bởi thế, nên các hạt tử trùng tên NỘI TRƯỜNG TƯƠNG ÐƯƠNG NHAU không thể gần nhau được, có khuynh hướng đẩy nhau. Các hạt tử khác tên NỘI TRƯỜNG LỆCH NHAU có khuynh hướng hút nhau, làm cho chúng gần nhau được.

Bây giờ, CHA trở lại vấn đề, tại sao Vũ trụ sống lại, hoạt động lại như cũ?

Sau khi vũ trụ tắt hẳn, nguội lạnh, ở trạng thái này: nhiệt độ vũ trụ xuống đến 00T (0 độ tuyệt đối) nên trường hấp dẫn giữa các quán hệ thống tăng lên, có khuynh hướng hút nhau, khiến chúng đi lại gần nhau hơn. Sự kiện này các con thường thấy hằng ngày như hơi nước ở nhiệt độ lạnh, trường hấp dẫn chúng tăng hơn hút lại gần nhau thành chất lỏng, nước lỏng đun sôi tức gặp nhiệt độ cao, làm cho trường hấp dẫn tức sức hút giữa các các phân tử H2O yếu hơn làm cho chúng bốc thành hơi bay ra xa nhau và các chất khác cũng vậy: đồng, sắt, kẽm, chì… tuy cứng chắc như thế mà đến khi gặp nhiệt độ cao cũng nóng chảy lỏng, nếu gặp nhiệt độ quá cao thì bốc thành hơi. CHA nhắc lại, do trường hấp dẫn tăng dần khiến cho các quán hệ thống có khuynh hướng rơi vào nhau, từ cấp thấp đến cấp cao, ban đầu yếu, chậm, sau mạnh nhanh dần.

Các vệ tinh rơi về các hành tinh, các hành tinh rơi về mặt trời, các vì sao (lúc này tắt hẳn) rơi về trung tâm Thiên hà, các Thiên hà rơi về trung tâm Thiên hệ, các Thiên hệ rơi về trung tâm Ðại Thiên hệ, và cuối cùng các Ðại Thiên Hệ rơi về trung tâm Vũ trụ. Cùng lúc đó, các hạt ánh sáng ở ngoại biên vũ trụ hấp dẫn kết tụ lại thành âm điện tử (do nhiệt độ qúa thấp dưới 00T làm cho chúng tích tụ lại dần dần thành hạt âm điện tử). Khi đó, gần trung tâm vũ trụ, các hạt ánh sáng kết tụ thành dương điện tử.

Trường hấp dẫn vũ trụ lúc này cực mạnh, làm cho các hạt âm điện tử thành lập ở ngoài biên rơi vào trung tâm vũ trụ lọt vào lực hấp dẫn của hạt điện dương quay tít mù tạo thành nguyên tử Hydrogen, hoặc trúng thẳng vào Proton để tạo thành hạt neutron, rồi tương tác lẫn nhau để tạo thành nhiều loại hạt khác.

Khi các Ðại Thiên Hệ rơi về trung tâm vũ trụ đến một vận tốc kinh hồn (nhanh hơn vận tốc ánh sáng cả trăm lần). À! CHA quên mất! Nếu bảo nhanh hơn vận tốc ánh sáng (300.000 km/giây) cả trăm lần thì có vẻ phản khoa kọc quá, vì trái với học thuyết tương đối của Einstein, nhưng điều này chẳng có gì là phản khoa học cả con! Sau này, khi khoa học hữu vi tiến đến giai đoạn đó, thời những điều CHA giảng hôm nay sẽ thành hết sức khoa học.

CHA trở lại vấn đề vũ trụ, khi các đại thiên hệ hút rơi về trung tâm vũ trụ đến một vận tốc kinh hồn, nhanh hơn vận tốc ánh sáng cả trăm lần, xoáy trộn, cọ xát vào nhau tạo nên một nhiệt độ kinh khủng (hàng triệu tỷ độ) nhiệt độ vũ trụ lên quá sức cao nên áp suất tăng quá mạnh, chúng bắt đầu trở lại trạng thái hình thành vũ trụ như CHA đã giảng đoạn trước là bắn phá ra các quán hệ thống từ cao đến thấp. Vũ trụ bắn phá ra các Đại Thiên hệ, từ Đại Thiên hệ bắn phá ra các Thiên hệ, từ Thiên hệ bắn phá ra các Thiên hà (CHA sẽ so sánh cho các con biết hiện giờ trình độ hữu vi khoa học ở cõi trần chỉ quan sát được một vùng nhỏ của Thiên hệ, tức vài ba nghìn triệu Thiên hà, trong số hàng nghìn nghìn triệu Thiên hà của Thiên hệ). Thiên hà bắn phá ra các vì sao, mặt trời (một trong các vì sao) bắn phá ra các hành tinh quay chung quanh. Hành tinh bắn phá ra các vệ tinh (như mặt trăng của các con).

Thế là vũ trụ đã bắt đầu chuyển mình, sinh động lên và hoạt động trở lại, tạo ra thế giới hữu vi, mà các con đang sống ngày nay.

Ðến đây, các con đã thấy cái Cực-thô-đại của vũ trụ bao la cũng như cái Cực-tế-vi của quang tử, tức NGUYÊN HẠT ÐỒNG NHẤT. Nhưng cũng có những con còn thắc mắc, không biết bên ngoài vũ trụ còn những gì nữa không? Trong ruột quang tử đặc hay rỗng? Có cái gì nhỏ hơn quang tử nữa hay không?

Còn chứ con! Bên ngoài vũ trụ các con còn có hằng hà sa số vũ trụ bạn đang biến động không ngừng theo chu kỳ như vũ trụ của các con vậy. Có cái nhỏ hơn vũ trụ các con, và cũng có cái to hơn nữa con!

Trong khi vũ trụ này đang hình thành, thì vũ trụ kia đi vào thời hoại diệt. Có cái thành, có cái trụ, có cái hoại, có cái không. Khi cái này đang sinh thời cái kia đang diệt; lúc cái nọ đang trụ, thời cái khác đang hoại v.v…

Chúng hoạt động theo chu kỳ (đời sống một chu kỳ của vũ trụ cả hàng ngàn tỷ năm), phình ra xộp vào như những hơi thở của Thượng Ðế vậy con!

Vũ trụ là những tế bào trong vô lượng tế bào hoạt động trong không gian vô biên, để hình thành siêu đại bản thể hữu vi của Thượng Ðế vậy con!

Thế nên CHA hằng hữu đời đời, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh với thời gian không gian vô tận vô cùng vô chung vô thỉ.

Còn trong ruột quang tử thì sao? CHA nhắc lại, hạt ánh sáng là nguyên hạt đồng nhất, nên không có lực hữu vi nào có thể hủy phá được, hủy hoại, phân tán chúng nhỏ ra được nữa, vì nó được Thượng Ðế dùng thần lực vô vi nung hợp từ hàng tỷ hạt ẨN TINH NGỌC mà thành.

Ẩn Tinh Ngọc lại có các cấu trúc phức tạp từ các loại khí trên cõi vô vi như: Thanh khí, Thượng thanh khí, Thái khí, Âm dương khí, Thiên khí. Các loại khí này do CHA dùng Đại thần lực vô vi (không thể nghĩ bàn) tinh luyện từ Tiên Thiên Khí ra.

TIÊN THIÊN KHÍ (Tổ Khí) tức HỔN NGƯƠN KHÍ còn gọi là KHÍ HẠO NHIÊN tức khí có trước khi vũ trụ càn khôn hình thành, và tồn tại mãi mãi cho đến sau khi càn khôn hủy diệt! Có mãi mãi hoài hoài, vô cùng đến nỗi thoát khỏi ý niệm CÓ và KHÔNG siêu việt trên cả danh từ lý luận của phàm trần.

Thế giới vô vi vô cùng tráng lệ, kỳ ảo, nhẹ nhàng, thanh thoát mà CHA chưa thể giảng ra cho các con hiểu được. Bài hữu vi, các con chưa học xong, chưa hiểu trọn, thời làm sao các con hiểu được bài vô vi? Là những thể vô hình, siêu linh mà các con chưa nghe thấy bao giờ (trừ một số con tu cao, xuất hồn ra khỏi xác dạo chơi để tìm hiểu về thế giới vô vi, tức Ðại Bản Thể vô vi mà cũng là Ðại Hồn Vũ Trụ, đại ngã, đại tinh quang, linh hồn CHA đó vậy!)

Nếu các con muốn nghe CHA giảng về thế giới vô vi, thì các con phải tinh tấn, siêng năng hành pháp, công phu luyện đạo, để tiến nhanh trên con đường giải thoát, tiến lên cảnh giới cao, để nghe CHA giảng về cơ cấu hoạt động của thế giới vô vi, bằng ngôn ngữ vô vi siêu thoát.

Nguồn: http://khoahoctamlinh.vn/tu-dai-phap-kinh-loi-noi-au-629.html

Vậy tóm lại chúng ta là các linh hồn được chiết thân ra từ thượng đế, linh hồn là bất tử, là thiêng liêng, là sinh mệnh ánh sáng, là quyền năng vô hạn, là giống với cha của mình (thượng đế). Tại sao chúng ta cứ phải trôi lăn trong luân hồi, chịu khổ vô lượng kiếp để làm gì? Đã bao giờ bạn tự đặt ra câu hỏi như vậy? Các linh hồn ánh sáng vốn cùng 1 điểm xuất phát, là giống nhau về mặt tính chất, giống với cha của mình và có đầy đủ quyền năng như cha của mình. Chúng ta chỉ khác nhau là có linh hồn non trẻ và linh hồn già dặn, linh hồn tiến hóa và linh hồn tiến hóa hơn. Luật tự nhiên là luật tiến hóa. Vạn vật chúng sinh đều tiến hóa và linh hồn cũng vậy.

Linh hồn chúng ta tiến hóa như thế nào? Chúng ta bắt đầu hành trình sống của mình bắt đầu từ những thứ nhỏ nhất (photon, phân tử, nguyên tử, electron…) rồi lên đến kim thạch, thảo mộc, cầm thú, động vật, động vật có trí khôn, làm người, thần, thánh, tiên, phật, đấng sáng tạo… Chúng ta dần dần trải qua các kiếp sống từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến văn minh, các giác quan cũng phát triển từ ít giác quan đến nhiều giác quan, từ thô đến vi tế, từ cảnh giới thấp đến cảnh giới cao, từ đơn chiều kích đến đa chiều kích.

Cuộc sống dần dần càng ngày càng trở nên phong phú, từ điển của chúng ta ngày một nhiều lên. Hiện tại chúng ta đang sống trong thế giới nhị nguyên, bao giờ cũng có 2 mặt của một vấn đề như là 2 mặt của đồng xu vậy. Sáng và tối, vui và buồn, nóng và lạnh, cao và thấp, mềm mại và thô ráp, thiện và ác, nhẹ và nặng, cứng và mềm, sướng và khổ, tự hào và tự ti, dũng cảm và hèn nhát, mạnh mẽ và yếu đuối, cao thượng và đớn hèn… Linh hồn trôi lăn trong luân hồi cũng chỉ để học và nhận biết các trạng thái cảm xúc của thân và tâm. Vì nếu không biết được cái này thì chẳng định nghĩa được cái kia.

Thế nên cuộc đời là các bài học. Khi chúng ta học các bài học chúng ta bị vướng vào nghiệp quả. Nay chúng ta làm người đau khổ mai người sẽ làm chúng ta đau khổ. Chúng ta gieo nhân lành chúng ta hái quả ngọt. Nhân gian có một hiện tượng là: “HỒI QUANG PHẢN CHIẾU” hiện tượng trước khi chết đi một người sẽ được nhìn lại toàn bộ hành trình của cuộc đời. Tại sao có hiện tượng này? Chúng ta sẽ được nhìn lại hành trình cuộc đời của mình. Trong đó là vô vàn các bài học, chúng ta nhận ra bao nhiêu bài học trong đó. Những bài học này đã học xong nhưng chúng ta liệu đã biết rút kinh nghiệm hay chưa? Chúng ta có cần học lại các bài học này ở những kiếp sau?

Cứ thế có những bài học chúng ta học mãi mà không thuộc. Chúng ta cứ học nữa, học mãi, học đến phát sợ vì những điều xấu chúng ta gây ra và bây giờ chúng ta phải gánh chịu. Đến khi chúng ta mệt mỏi với cuộc sống nhiều muộn phiền và đau đớn, chúng ta nhận ra và tin vào nhân quả, luân hồi, chúng ta thức tỉnh và nhận ra các bài học của mình. Chúng ta bắt đầu biết sống thiện lành, hoàn thiện đạo đức, nhân cách và chúng ta bắt đầu tiến hóa. Từ ngàn xưa đến nay Thượng đế đã không biết bao nhiêu lần cắt cử người xuống truyền đạo cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Các bạn cũng thấy có không biết bao nhiêu đạo được sinh ra ở khắp nơi trên thế giới và tất cả chánh đạo đều dạy con người hướng thiện, sống có đạo đức. Bởi vì chỉ có sống thiện lành, có đạo đức chúng ta mới có thể tiến hóa đi lên thành Thần, Thánh, Tiên, Phật, Đấng sáng tạo (Người có thể tạo ra cả 1 vũ trụ).

Thời nay kỳ tận thế đã đến. Tất cả những lời tiên tri đã nói về thời kỳ này, đó là những lời cảnh tỉnh đối với nhân loại, hãy tu tâm dưỡng tính. Luật trời vốn không có mắt, nhân quả nó tự vận hành. Không ai có thể thoát ra khỏi quy luật của nhân quả trừ những người đã thức tỉnh. Tại sao vậy? Các cụ có câu non sông dễ đổi bản tánh khó dời. Người thức tỉnh là người nhận ra bản chất chân thật của đời sống này. Quyết tâm, quyết chí tu tâm sửa tính thay đổi vận mệnh. Ấy gọi là nhân định thắng thiên tức vận mệnh của mình do mình định đoạt. Không có thần, phật tiên thánh nào quyết định hộ mình được, cũng không ai có thể can thiệp hoặc thay đổi cuộc đời mình ngoài chính mình. Đó là quyền tự do ý chí của mỗi người.

Quay lại vấn đề làm thế nào để có thể vượt qua được thời mạt kiếp (theo cách nói của đạo phật) hay kỳ tận thế (theo cách nói của đạo thiên chúa)? Việc đầu tiên cần phải nhắc lại về việc tại sao lại có thời kỳ này? Bởi vì thượng thiên để cho con người có quyền tự do ý chí, tự do phát triển. Số người có thể tự nhận thức hoặc quy thuận với đạo để học theo chánh pháp thì quá ít, những người vị kỷ phát triển cái tôi cá nhân lại quá nhiều nên người ác luôn nhiều hơn người thiện. Trái đất là trường học lớn để cho vạn linh học tập và tiến hóa. Mỗi linh hồn của chúng ta đã trôi lăn trong luân hồi mấy trăm ngàn năm qua. Tuy nhiên học mãi thì cũng đến lúc phải thi. Kỳ tận thế này chính là kỳ thi cuối cấp cho mỗi linh hồn. Đây là kỳ thi thứ 3 của các linh hồn trên hành tinh gọi là trái đất. Sau thời kỳ này sẽ là thời kỳ Bảo Bình hay còn gọi là Thượng ngươn Thánh Đức, tức là niết bàn chốn nhân gian, thiên đường chốn hạ giới. Thế giới mới với cuộc sống bất tử, phong phú và rực rỡ nhưng lại chỉ dành cho những người nào thi đậu. Những linh hồn nào thi rớt sẽ được đầu thai đến một hành tinh khác tương đồng với Trái đất của chúng ta để tiếp tục học hỏi tiến hóa và sẽ lại được thi thố sau một vài triệu năm hoặc có thể lâu hơn.

Như chúng ta đã biết Phật nếu còn nghiệp thì sẽ không thể lên được niết bàn. Thế giới mới là niết bàn chốn nhân gian, tức là những người còn nghiệp không thể tồn tại ở thế giới mới. Vấn đề của chúng ta cần làm là thanh lý hết nghiệp để vượt qua kỳ tận thế đang diễn ra này. Làm thế nào để thanh lý hết nghiệp? Tất nhiên bạn chẳng cần làm gì thì nghiệp nó cũng tự kéo đến vì thời nay là thời nhồi nghiệp. Ai cũng như ai, nghiệp bắt buộc phải trả hết. Nếu chưa trả hết mà đã bị nghiệp nó quật chết thì được đi đầu thai chỗ khác. Những người nghiệp nhẹ thì dễ (không có nghiệp sát). Người có nghiệp sát tức là nghiệp chắc chắn phải chết thì khá khó. Những người này phải lập công bồi đức, tu tâm sửa tính, tu thiền mỗi ngày, phải tụng kinh sám hối, phải phóng sinh, phải cúng dường, phải làm mọi cách để nghiệp sát nó nhẹ đi hoặc có thể tiêu trừ hoàn toàn là tốt nhất.

Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu Sấm bất hủ như sau:

“Mười phần chết bảy còn ba

Chết hai còn một mới ra thái bình”

Nói thế để chúng ta thấy là lượng người được ở lại vốn rất ít. Mỗi chúng ta đều có vô lượng nghiệp đến từ vô lượng kiếp. Kỳ tận thế đang diễn ra và sẽ kéo dài 10 năm cho đến năm 2030. Những ai nhanh thì còn kịp, chậm thì cũng chớ nên than thân trách phận vì có kỳ tận thế thì có cơ cứu thế. Thượng thiên đã cho chúng ta không biết bao nhiêu lời tiên tri? Bao nhiêu “Chánh Pháp” hoằng truyền, bao nhiêu vĩ nhân rao giảng kêu gọi mọi người tu đi. Nhưng mấy ai buông bỏ được mà tu, mấy ai nghe ra, thậm chí còn quay ra phỉ báng. Vậy cơ hội tới mà không nắm bắt thì cũng không nên than thân trách phận. Cuộc đời vốn không dài. Sinh ra làm người đã là quý(chỉ con người mới có thể tu – Vì chốn này khổ đau buồn vui có đủ), sinh ra vào thời có chánh pháp để tu học càng quý, sinh ra vào thời kỳ chuyển đổi, lên level cả một hành tinh là chuyện 110 triệu năm mới có một lần. Nếu còn không biết trân quý thì cũng phí đi một kiếp làm người.

Xin được trích dẫn một câu nói của vị chân sư dành tặng các bạn:

“Không cần thêm gì, chỉ cần bớt đi

Không cần học gì, chỉ cần nhớ lại

Không cần đi đâu, chỉ cần trở về”

Người thầy lớn nhất là người thầy trong tâm của chúng ta. Chúc các bạn sớm tìm được vị chân sư của mình

NGUYỆN CHO THẾ GIỚI ĐƯỢC BÌNH AN

NGUYỆN CHO MỌI CHÚNG SINH ĐƯỢC AN LẠC, HẠNH PHÚC

NGUYỆN ĐEM CÔNG ĐỨC NÀY HỒI HƯỚNG CHO THẬP PHƯƠNG PHÁP GIỚI CHÚNG SANH

Hoàng Nhật Minh

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5846/feed 0
BIỆN CHỨNG BÁT NHà VÀ LONG THỌ Tác Giả: Vũ Thế Ngọc https://thuonghylenien.org/luu-tru/5831 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5831#respond Fri, 12 Jan 2024 04:19:44 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5831 BIỆN CHỨNG BÁT NHàVÀ LONG THỌ
Tác GiảVũ Thế Ngọc

Khi nghiên cứu về kinh Kim Cương năng đoạn bát nhã ba la mật (Vajracchedika-prajnaparamita) với so sánh cả năm bản Hán dịch từ La Thập đến Huyền Trang với tồn bản Sanskrit[1], tôi có viết một chương về “Biện chứng bát nhã”, trong có đề cập đến Long Thọ. Sau đó lại hướng dẫn đại đức J.J Lai viết luận án so sánh về hai chú giải Trung Luận (Mulamadhyamakakarika) của Nguyệt Xứng (theo tồn bản Tây Tạng) và của Thanh Mục (qua bản Hán dịch của La Thập), tôi nghĩ mình phải viết thêm về Long ThọVì vậy, tiểu luận nhỏ Biện chứng pháp bát nhã và Long Thọ này thành hình và dự định sẽ xuất bản cùng với Nghiên cứu về Trung Luận khi có cơ duyên. Phần sau đây là phần giới thiệu về biện chứng bát nhã, các phần sau về Long Thọ sẽ xin được giới thiệu lần lượt trên Suối nguồn.

Biện chứng bát nhã

Trong kinh Kim cương bát nhã có loại ngôn ngữ khác thường mà người mới học thấy rất khó hiểu: Như thế giải thoát cho vô số vô biên chúng sinh, nhưng thực ra không có chúng sinh nào được giải thoát (đoạn 3). Không thể lấy thân tướng mà nhận ra Như Lai. Vì tại sao? Như Lai nói thân tướng không phải là thân tướng (đoạn 5). Những vi trần ấy, Như Lai nói chẳng phải là vi trần, nên gọi là vi trần (đoạn 13)Như Lai nói thế giới cũng chẳng phải là thế giới, nên gọi là thế giới (đoạn 13). Như Lai nói ba mươi hai tướng không phải là ba mươi hai tướng, nên gọi là ba mươi hai tướng (đoạn 13)Như lai nói bát nhã ba la mật tức không phải là bát nhã ba la mật, nên gọi là bát nhã ba la mật (đoạn 17). Này Tu Bồ Đề! Nói tất cả pháp, tức không phải tất cả pháp, nên gọi là tất cả pháp (đoạn 17). Vì Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, nên gọi là trang nghiêm (đoạn 17) v.v.

Vì phương thức diễn đạt này lặp đi lặp lại, chúng ta có thể gọi là “lý luận ba câu” (theo bản dịch của La Thập) theo mô thức như sau:

(1) Sở ngôn (2) Tức phi (3) Thị danh

Thị phúc đứctức phi phúc đức tính, thị cố Như Lai thuyết phúc đức đa (đoạn 8)

Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm (đoạn 10)

Phật thuyết bát nhã ba la mậttức phi bát nhã ba la mật, thị danh bát nhã ba la mật (đoạn 13)

Chư vi trầnNhư Lai thuyết phi vi trần, thị danh vi trần (đoạn 13)

Như Lai thuyết tam thập nhị tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng (đoạn 13)

Thị thật tướng giả, tức phi thị tướng, thị cố Như Lai thuyết danh thật tướng (đoạn 14)

Như Lai thuyết đệ nhất ba la mậttức phi đệ nhất ba la mật, thị danh đệ nhất ba la mật (đoạn 14)

Nhẫn nhục ba la mậtNhư Lai thuyết phi nhẫn nhục ba la mật, thị danh nhẫn nhục ba la mật (đoạn 14)

Sở ngôn nhất thiết pháp giả, tức phi nhất thiết phápthị cố danh Nhất thiết pháp (đoạn 17)

Như Lai thuyết nhân thân trường đại, tắc vi phi đại thân, thị danh đại thân (đ 17)

Như Lai thuyết trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm (đoạn 17)

Như Lai thuyết chư tướng cụ túctức phi cụ túc, thị danh chư tướng cụ túc (đoạn 20)

Chúng sinh giả, Như Lai thuyết phi chúng sinh, thị danh chúng sinh (đoạn 21)

Sở ngôn thiện pháp giả, Như Lai thuyết tức phi thiện pháp, thị danh thiện pháp (đoạn 23)

Phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu, thị danh phàm phu (đoạn 25)

Phật thuyết vi trần chúng, tức phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng (đoạn 30)

Như Lai thuyết nhất hiệp tướng, tức phi nhất hiệp tướng, thị danh nhất hiệp tuớng (đoạn 30)

Sở ngôn pháp tướng giả, Như Lai thuyết tức phi pháp tướng giả, thị danh pháp tướng (đoạn 31)

Hoặc các câu cú chỉ có 2/3 mô thức trên:

Sở thuyết thân tướngtức phi thân tướng (đoạn 5)

Sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp (đoạn 8)

Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân (đoạn 10)

Như Lai thuyết nhất thiết chư tướng, tức thị phi tướng (đoạn 14)

Hựu thuyết nhất thiết chúng sanhtức phi chúng sanh (đoạn 14)

Stcherbatsky của trường phái Phật học Leningrad có viết bộ Buddhist logic[2]danh tiếng, nhưng rất tiếc đã không nói gì nhiều về mô thức luận lý này, ngoài việc cung cấp cơ sở thảo luận cho lý luận phủ nhận ông gọi là negative syllogism. Danh từ “biện chứng” (dialectic) trong tựa đề Biện chứng bát nhã của tiêu đề tôi đặt ở đây đơn giản chỉ nói đến lối diễn tả ngôn ngữ phủ định của kinh Kim cương bát nhã như một cách diễn tả phủ định tiền đề (thesis) để tạo ra một nhận thức mới (mặc dù một “synthesis” không nhất thiết phải bao trùm cả chính đề và phản đề theo từ nghĩa syn) theo định nghĩa cơ bản tam đoạn luận cổ điển.

Trong kinh Kim cương bát nhãđức Phật phải dùng loại lý luận phủ định chỉ vì giáo lý mà ngài dạy ở đây là tính không của ngã và vạn pháp. Đây là loại giáo pháp siêu thoát cho hàng bồ tát nên rất cao siêu vi diệu mà các bậc cổ đức thường gọi là không thể nghĩ bàn, không thể giải thích (bất khả tư nghị, bất khả ngôn thuyết). Người đọc kinh điển bát nhã cần chú ý theo những lời cảnh giác của Long Thọ “đức Phật biết rằng giáo pháp này rất cao sâu vi diệu, người thiếu căn cơ không thể hiểu đuợc, nên đã từng không muốn thuyết giáo”[3], cho thấy giáo lý này khó có thể dùng lý luận hay ngôn thuyết để giải thích một cách dễ dàng. Nên đức Phật thường phải dùng cách lý luận phủ định để có thể tạm chuyên chở ý nghĩa cao siêu này cho quần chúng. Đây cũng không phải là luận lý riêng của Phật giáotruyền thống triết lý Ấn Độ thường có một phương pháp dùng phủ định để giải thích các ý tưởng siêu hình gọi là neti neti (không phải cái này mà cũng không phải cái kia).

Lý luận ba câu : Giải thích theo Long Thọ 

Thí dụ như câu “Vì Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, nên gọi là trang nghiêm”, thì phần lớn các luận sư Trung Hoa thường giải thích theo luận cương của Long Thọ. Có nghĩa là ý thức được chân lý thực tướng của tuyệt đối (chân đế hay đệ nhất nghĩa đế) khác biệt với giá trị tổng quát giới hạn của thế giới tương đối (tục đế), nhưng vẫn phải nhờ tục đế để biểu hiện chân đế[4]. Có nghĩa rằng (1) cái mà thế giới tương đối gọi là trang nghiêm [Sở ngôn] → (2) theo nghĩa tuyệt đối không có gì là trang nghiêm cả vì trong chân lý vạn pháp vốn không tịchthực tế trang nghiêm cõi Phật cũng chỉ là hư huyễn [Tức phi] → (3) Nhưng vì thuận theo chúng sanh, nói theo ngôn ngữ của thế giới tương đối nên tạm chấp nhận cũng gọi là trang nghiêm [Thị danh]. Đây là lý luận mà Long Thọ gọi là dùng tục đế để giải thích chân đế (chư Phật y nhị đế, vị chúng sanh thuyết pháp). Các luận sư thường gọi đơn giản là “lý luận ba câu” là theo ý nghĩa này.

Tuy nhiên giải thích “Lý luận ba câu” (cái người ta gọi là A, Phật gọi là -A, và do đó Phật gọi là A) bằng lập trường “an lập nhị đế để thuyết minh chân lý” hay “chẳng hoại giả danh mà trình bày thật tướng” của Long Thọ cũng chưa nói lên được cái siêu việt của mệnh đề thứ ba trong kinh Kim cang bát nhã. Vì “cái A” của mệnh đề thứ ba không hoàn toàn còn là “cái A” của mệnh đề thứ nhất. Thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín có thể giải thích giúp ta một phần: “Khi chưa tu tôi thấy núi là núi, sông là sông. Khi bắt đầu tu thì tôi thấy núi không còn là núi, sông không còn là sông. Nay ngộ ra thì núi lại là núi, sông là sông”[5].

Cũng cách đây 30 năm (1981) chính tác giả đã giải thích “Ở giai đoạn thứ nhất là thế giới đối đãi nhị nguyênLẽ dĩ nhiên ở thế giới này màu xanh là màu xanh, đỏ là màu đỏ, núi là núi, sông là sông … Ở giai đoạn thứ hai của thế giới bất phân biệt của hành giả trong quá trình tu học và thí nghiệm. Ở thế giới này tất cả chỉ là tương đối (A có vì B có, A không có vì B không có v.v.) và tạm thời (ví như nhà hóa học nhìn đâu cũng chỉ thấy các cấu trúc nguyên tử…). Đó là giai đoạn mà người hành giả vừa có vẻ rơi vào cảnh giới vô phân biệt, rồi có vẻ như ở trạng thái ngờ vực tất cả. Đó là lúc “dường như có dường như không” (Tuyệt quán luận)[6]… lúc này núi không còn là núi, sông không còn là sông (…) Người ngộ thì vượt qua giai đoạn này để trở lại trạng thái “núi là núi, sông là sông” nhưng bây giờ từng vật, từng việc hiện hữu một cách tự tạiHành giả bây giờ đồng hóa với lý vô ngãvô thường trong từng cử động, trong từng ý niệm… trong một trạng thái được diễn tả như tận cùng tự dotự tại, thuần nhiên, tố phác”[7].

Bây giờ, ba mươi năm sau, tôi cũng không muốn viết gì thêm, chỉ chú thích ở đây là giai đoạn thứ nhất và thứ ba của công án Thanh Nguyên Duy Tín rất giống với mệnh đề thứ nhất và mệnh đề thứ ba của “lý luận ba câu”, nhưng giai đoạn thứ hai của công án thì khác với mệnh đề thứ hai của “lý luận ba câu”.

Ở công án thì giai đoạn thứ hai như tôi đã viết ở trên là “dường như có dường như không” đúng là lời của Bồ Đề Đạt Ma trong Tuyệt quán luận, còn mệnh đề thứ hai của “lý luận ba câu” thì khác hơn.

Mệnh đề thứ hai “A là -A” của “lý luận ba câu” thì huyền diệu hơn. Trước hết, trên cơ bản lý luận toán học, mệnh đề thứ hai “A là -A” là một chứng định (verify) cho mệnh đề thứ nhất “A là A”.

Theo lý luận này thì A không thể là A[8] nếu không có A là -A[9]Thí dụ từ “trắng” thì “trắng” không thể diễn đạt cho cảm nghiệm về tất cả các hiện tượng và hiện vật trắng. Vì các hiện tượng và hiện vật trắng này vừa quá nhiều mà từ “trắng” cũng không thể diễn đạt được “sự trắng” (whiteness) của chúng. Nghĩa là “trắng” vừa không thể xác định cho số lượng trắng mà cũng không thể xác định cho cả phẩm lượng trắng.[10] Nhưng khi nói “không trắng” thì bây giờ tất cả những sự trắng đều biểu lộ. Cho nên tại sao tôi nói “A không thể là A nếu không có A là -A”. Nói như Stcherbatsky trong Buddhist logic “The white is cognized through the non-white, and the non-white through the white”[11] hoặc “Without negatition they express nothing, they can express something only dialecticaly”[12]. Đó là về mặt lý luận toán học.

Nhìn sự vật dưới ánh sáng duyên khởi thì A không phải là A vì A chỉ là do các yếu tố -A mà hiện hữu (Hãy nhớ bài học duyên khởi căn bản chúng ta vừa học ở trên các pháp hiện hữu vì tựa vào nhau mà có “cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh”). Cho nên chúng ta mới nói A không phải là A, không phải để phủ nhận A mà làm cho A hiển lộHiển lộ dưới một ánh sáng mới, không còn là vọng tưởng về A, mà là nhìn ra chân tướng của A. Tức là A trong mệnh đề thứ ba không chỉ là A của cái A trong mệnh đề thứ nhất mà là một cái A mới, A mới không loại trừ cái A cũ, mà cũng là xác định vị trí và giới hạn cái A.

Bây giờ, chúng ta đọc lại đoạn 17 với câu “Tu Bồ Đề! Sở ngôn nhất thiết pháp giả tức phinhất thiết pháp giả, thị cố danh nhất thiết pháp” (Tu Bồ Đề! cái nói là “nhất thiết pháp” tức không “nhất thiết pháp” cho nên gọi là “nhất thiết pháp”). Ta sẽ thấy “cái gọi là A tức là các pháp” (thí dụ như cầu vồng) dưới ánh sáng của tuệ trí bát nhã thì chúng đều không có thực (-A) vì chúng không có tự ngã mà đều do các nhân duyên khác hợp lại mà thành (cầu vồng do ánh sáng chiếu qua màn hơi nước mà thành), chúng cũng không cố định lâu bền vì các nhân duyên đó luôn luôn thay đổi, mà bất cứ một nhân duyên nào biến chuyển thì chúng không còn tồn tại (hơi nước đang tan và sẽ tan rất nhanh và ánh sáng buổi chiều đang xuống và cũng xuống rất nhanh, và một khi một trong hai yếu tố chính đó biến động thì cầu vồng không còn tồn tại). Biết A là -A nhưng chúng ta không phủ nhận A (cho nên gọi là A) nhưng bây giờ cái thấy của chúng ta bao trùm toàn thực tướng của các pháp: xác định A nhờ có -A, nên thấy được toàn diện A (thấy cả A, những cái A, và những cái -A). Có nghĩa là chúng ta vẫn nhìn thấy cầu vồng, không phủ nhận không có cầu vồng, nhưng hiểu được toàn diện về cầu vồng, từ lý do của nó hiện hữu đến việc hiểu nó sẽ biến mất. Điều lý thú ở đây là không vì biết sự hiểu biết về cầu vồng mà chúng ta bớt thích thú cầu vồng. Giống như biết là vô ngã, biết sự thật ngắn ngủi vô thường của cái ngã thì không phải ta sẽ đau khổ vì sợ hãi cái chết, hay tự tung tự tác cuống cuồng hưởng lạc làm bậy vô lối vì biết ta rồi cũng phải về với vô thường, hay rủ nhau đi tự tử (cái đoạn kiến hư vô mà đạo lý vô ngã lên án); mà trái lại, càng trân trọng sự sống của chính ta trong từng giây phút và tôn trọng sự sống mọi loài và cả thế giới thiên nhiên ngoài ta. Và vì vô ngã nên dù cho chúng ta đang đối diện với bất cứ nghịch cảnh nào, thì chúng ta cũng không còn quá lo âu sợ hãi hay hận thù như lúc trước.

 

VTN

 

 


[1]Vũ Thế Ngọc, Trí tuệ giải thoátNghiên cứu kinh kim cuơng bát nhã, Nxb Thời ĐạiViệt Nam 2012

[2]. Buddhist logic, Biliotheca Buddhica series volume xxvi [1930], New York: Dover 1962

[3]. “Thếtôn tri thịpháp, thậm thâm vi diệu tướng, phi đốn căn sởcập, thịcốbất dục thuyết” Trung Lun, XXIV-12.

[4]. “Nhược bất y tục đế, bất đắc đệ nhất nghĩa; bất đắc đệ nhất nghĩa, tắc bất đắc niết bàn” Trung Luận, XXIV-10.

[5]. Lão tăng tam thập niên tiền, vịtu thiền thời, kiến sơn thịsơn, kiến thủy thịthủy; cập chítu lai thịkiến thiện tri thức hữu cánhân xứkiến sơn bất thịsơn, kiến thủy bất thịthủy. Nhi kim đắc cáthểbiệt xứ, y nhiên, kiến sơn chi thịsơn, kiến thủy chi thịthủy. VũThếNgọc, Vômôn quan, [1983], Nxb. Tổng Hợp, Việt Nam tái bản 2006, tr. 63.

[6]. VũThếNgọc, Bồ Đề Đạt Ma Tuyt Quán Lun, [1983], Nxb Văn NghệViệt Nam tái bản 2006.

[7]. VũthếNgọc, VôMôn Quan, Sđd, tr. 65-66.

[8]. Trong tác phẩm The Buddhist teaching of totality (Penn State University Press 1971) Garma Chang cố gắng thử chứng minh định đề A=A nhưng thất bại, và tự giải thích là luật đồng nhất không thể chứng minh được trong một nội hàm mà dùng chính nó để làm tiêu chuẩn chứng minh (Since the law of identity cannot be verified within a system that uses its own contents as a criterion for verify, to prove or disprove the Law of Identity) tr. 104

[9]. Ở đây không thể không nhớ lại lời dạy của Long Thọ trong Trung luận “Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành, nhược vô không nghĩa giả, nhất thiết pháp bất thành” (Bởi vì có nghĩa không, nên các pháp hình thành. Nếu không có nghĩa không, thì mọi pháp chẳng thành)

[10]. Chang (Sđd, tr. 106) dùng thí dụ đơn giản và phi toán học nhưng dễ hiểu: “USA is USA” không thể đúng, nếu USA trước là USA 1880 và USA sau là USA 1968.

[11]. Stcherbatsky, Buddhist logic, Sđd, tr. 460. Đây chính là giá trị lý luận biện chứng Hegel mà Stcherbatsky gọi là”Negativity is the soul of the universe” (Tính phủ định làlinh hồn của vũtrụ)

[12]. Ibid, tr. 471

(Suối Nguồn-Trung Tâm Dịch Thuật Hán Nôm Huệ Quang)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5831/feed 0
BIỆN CHỨNG LONG THỌ Tác Giả: Vũ Thế Ngọc https://thuonghylenien.org/luu-tru/5829 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5829#respond Fri, 12 Jan 2024 04:18:09 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5829 BIỆN CHỨNG LONG THỌ
Vũ Thế Ngọc

Long Thọ (Nagarjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika)[1] mà ngài còn được coi là vị Phật thứ hai sau đức Thế Tôn trong lịch sử phát triển Phật giáo. Trong các thần tượng bồ tát chỉ có duy nhất tượng của ngài được tạc vẽ với nhục kế (usnisa), vốn là một tướng tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Bắc tông suy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì truyền thuyết nói rằng ngài là người đã mang kinh điển Đại thừa từ long cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự của ngài trong các tông phái Đại thừa. Tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản đều nhận ngài là tổ sư của mình. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepal, Mông Cổ từ chùa viện đến tư gia đều đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước mà Phật giáo đã bị tiêu diệt, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ngài là một trong bảy đại minh sư của truyền thống triết học tâm linh quốc gia.

Trong thời hiện đại, từ thế kỷ trước, nhiều giáo sư, học giảđạo sư của các đại học và trung tâm nghiên cứu quốc tế đã có nhiều nghiên cứu kinh viện quan trọng về Long Thọ và Trung luận (Madhyamika), nhưng rất tiếc, giới nghiên cứu Phật học Việt Nam chưa mấy ai quan tâm[2]. Chủ điểm của các nghiên cứu này thường tập trung vào một tác phẩm quan trọng nhất của Long Thọ là Mūlamadhyamakakārikā(Căn bản Trung quán luận tụng). Bản Mūlamadhyamakakārikāchữ Sanskrit được học giới coi là sách quan trọng nhất và cũng là tác phẩm nguyên bản của Long Thọ còn giữ trong Prasannapada (Minh cú luận) của Nguyệt Xứng (Chandrakirti)[3]. Ở Á Đông, tác phẩm này được biết dưới tên Trung luận (Trung quán luận) có trong sớ luận của Phạm Chí Thanh Mục đã được Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn vào khoảng năm 405[4]. Tại Việt Nam trước kia, các vị cựu đức chỉ đọc bản Hán dịch này, và chỉ gần đây chúng ta mới có bản dịch chữ quốc ngữ mà thôi.

Bài “Biện chứng Long Thọ” này khởi từ một chương trong luận văn Nghiên cứu Trung quán của tôi sẽ được xuất bản khi có thuận duyên. Bài gồm hai phần: Phần thứ nhất giới thiệu về “Ngôn Ngữ Trung Luận” và phần thứ hai đi thẳng vào đề tài “Biện chứng Long Thọ”. Phần thứ nhất ở đây không viết về những thông tin thường thức mà chúng ta có thể tìm thấy trong số sách phổ thông đã được phổ biến và đang có sẵn trên internet mà chúng ta có thể đọc được bất cứ lúc nào. Thay vào đó, tôi xin được giới thiệu lại bản dịch và chú giải về chương thứ nhất của Mūla-madhyamaka-kārikāh đã được in trước đây khá lâu[5], nay được sửa chữa lại và có thêm bản Anh dịch mới của tôi (trong sách cũ dùng bản Anh dịch của P.L. Vaidya[6]). Sở dĩ cần có phần này trước khi lý giải Biện chứng Long Thọ vì chúng ta cần phải dùng đến ngôn ngữ Long Thọ có nguồn gốc Sanskrit, một ngôn ngữ khá lạ với ngôn ngữ mà người đọc vốn chỉ quen biết với văn bản Hán dịch và Việt ngữ. Hơn nữa trong phần này còn có các đoạn lược khảo căn bản hai chìa khóa quan trọng của tư tưởng Long Thọ là lý bát bất và duyên khởi.

Là một lời nói thừa nhưng cuối cùng cũng phải nói ở đây. Đó là lời cảm ơn ban chủ trương Suối Nguồn đã giúp chúng tôi, những người nghiên cứu độc lập, có cơ hội phổ biến các công trình nghiên cứu sơ cơ (với rất nhiều sơ sót) của mình bằng ngôn ngữ mẹ đẻ để được chia sẻ vói những thiện trí thức đồng hành.

Giới thiệu Madhyamakakārikāḥ 中論

anirodham anutpādam anucchedam aśāśvatam |

anekārtham anānārtham anāgamam anirgamam |

yaḥ pratītyasamutpādaṃprapañcopaśamaṃśivam |

deśayām āsa saṃbuddhas taṃvande vadatāṃvaram |[7]

I prostrate to the Buddha, the most sublime of speakers who taught that the dependent co-arising has no ceasing and no arising, no annihilation and no permanence, no unity and no pluality, no coming and no going; that is quiescent all conceptual constructions, that is blissful.

不生亦不滅 Bất sinh diệc bất diệt,

不常亦不斷 Bất thường diệc bất đoạn.

不一亦不異 Bất nhất diệc bất dị,

不來亦不出 Bất lai diệc bất xuất.

能說是因緣 Năng thuyết thị nhân duyên,

善滅諸戲論 Thiện diệt chư hí luận,

我稽首禮佛 Ngã khể thủ lễ Phật,

諸說中第一[8] Chư thuyết trung đệ nhất.

Không sinh khởi cũng không hoại diệt, không thường hằng cũng không đứt đoạn, không đồng nhất cũng không dị biệt, không từ đâu đến cũng không đi mất. Tôi cúi đầu đảnh lễ đức Thế Tôn, Người đã thuyết giảng về chuỗi nguyên nhân và điều kiện tạo tác vô tận, diệt tận ngọn nguồn mọi hí luận. Đó là giáo lý vô thượng trong tất cả mọi giáo lý.

VĂN BẢN:

Pratītyasamutpāda được Huyền Trang dịch ra Hán văn là duyên khởi 緣起Các từ tương đương khác làduyên sinh 緣生, lý duyên khởi 理緣起. Anh ngữ dịch dễ hiểu hơn là dependent arising hoặcconditioned co-production. CCả ba từ Phạn Hán Anh đều chỉ ý mọi sự hiện hữu hay hiện tượng sở dĩ hiện hữu chỉ vì có liên hệ hỗ tương với các yếu tố khác, gọi là duyên (pratyaya: hoàn cảnh hay điều kiện, condition). Mọi sự hiện hữu (bhàva) đều do duyên hợp nên hiện, khi duyên tan thì tán. Lý duyên khởi có thể nói là tóm thâu toàn luận Trung quán, một bộ luận tập trung vào lý thuyết cho rằng mọi hiện hữu (bhàva) đều không có tự hữu hay tự ngã (svabhàva) riêng của chúng. Chúng hiện hữu vì do tương quan với các duyên (pratyaya) khác i.e. “everything is eternally arising”; nên Long Thọ kết luận là chúng đều không thật có. Nói cách khác, duyên sinhduyên khởi haylý duyên khởi là chủ đề trọng tâm của Trung luận. Tất cả các chủ đề trong các phẩm (chương) khác trong sách Trung luận chỉ triển khai ý niệm cơ bản này.

Pratītyasamutpādatrong kệ này La Thập dịch là 因緣(nhân duyên) thì không chính xác bằng chữ duyên khởi của Huyền Trang. Trong khi đó ở câu kệ thứ hai của phẩm I (luận giải về duyên) La Thập dùng nhân duyên để dịch chữ hetu-pratyaya, thì rất đúng. Trong trang sau chúng ta sẽ thảo luận thêm ở phần văn bản của câu kệ thứ hai về hai từ pratyaya (duyên) và Pratītyasamutpāda (duyên khởi). Một số học giả Tây Phương[9] dựa theo Prasannapada (Minh cú luận) của Nguyệt Xứng cho rằng Pratītyasamutpāda là nột chữ kép (Pratītya-samutpāda). Họ muốn giải thích ý nghĩa danh từ này bằng cách phân tích ý nghĩa của cả hai từ. Theo đó pratītya có nghĩa vươn tới (ngữ căn i chỉ ý chuyển động với tiếp đầu ngữ prati chỉ ý hướng tới). Như vậy pratītya có nghĩa là hướng tới trong sự lệ thuộc có điều kiện. Còn chữ thứ hai, samutpāda có nghĩa là xuất hiện, biểu lộKết luận theo phân tích đó thì Pratītyasamutpāda là “sự hiện hữu hay biểu lộ các thực tại trong sự tương quan với các nguyên nhân và điều kiện khiến nó hiện hữu” (hetu-praytyaỳàpekso bhàvànàm utpàdah pratiyasamu padarthah). Tôi nghĩ rằng, Nguyệt Xứng và những người theo ông đi quá xa thành ra lạc vào biện thuyết ngôn từ mà quên đi cái cốt lõiChúng ta nên hiểu pratītyasamutpāda theo nghĩa tập hợp hơn là phân tích từ nguyên của thành phần, nên cách dịch duyên khởi hay duyên sinh là vừa đơn giản mà cũng chính xác.

Chữ thiện trong thiện diệt 善滅(diệt tốt, diệt gọn) chưa mạnh bằng nguyên tự sivam (bless, auspicious theo bản dịch Anh ngữ). Sivam trong Sanskrit còn có nghĩa là an tĩnhtốt đẹpyên ổn. Thành ra ‘thiện diệt chư hí luận’ nên hiểu là “tiêu trừ trọn vẹn yên ổn mọi hí luận” thì đúng hơn.

Prapañcađược La Thập dịch là hí luận 戲論(lý luận chơi cho vui, nhàn ngôn ngữ) trong câu cuối thiện diệt chư hí luận và nisprapañca là diệt hí luậnHí luận là từ được dùng nhiều trong Trung luận đã trở thành một thuật ngữ Phật học Trung Hoa và tôi cũng sẽ dùng (và đặc biệt sẽ dùng trong cụm từ giảm trừ hí luận reductio ad absurdum) nên cần được giải thích kỹ hơn ở đây. Từ hí luận không chuyên chở hết được ý nghĩa chữ prapañca. Trong ngôn ngữ Sanskrit prapañca có đến ba nghĩa chính: 1.ngụy biện, 2.sự tranh luận vô nghĩa vô ích, 3.việc không thật, việc tưởng tượng. Dịch prapañca là hí luận có thể không chuyên chở được đầy đủ cả ba nghĩa trên nên khi dịch, La Thập đã dùng danh từ số nhiều chư hí luận (mọi hí luận) thì có lẽ ngài cũng muốn bổ nghĩa cho chữ hí luận chưa được đắc vị. Các luận sư Trung Hoa sau này lại còn muốn phân biệt hí luận thành ra hai loại ái hí luận và kiến hí luậnÁi hí luận là loại hí luận có nguồn gốc ở sự tham trước luyến ái nên sinh ra có nhận thức sai lầm, và kiến hí luận là hí luận do nhận thức chủ quan. Sự phân biệt này không cần thiết, có lẽ chỉ phản ảnh tâm thức trọng danh tướng có gốc rễ trong văn hóa Trung Hoa. Nhưng dù sao thì cả hai loại hí luận này đều cho rằng chúng khởi từ vô minh, thì cũng không xa nguyên nghĩa từ prapañca.

GIẢNG GIẢI

Hai bài kệ trên được coi là tổng luận toàn bộ nội dung ý nghĩa của Trung luận. Bản Hán dịch của La Thập sắp hai bài kệ này vào đầu phẩm (chương) thứ nhất. Nhưng học giả ngày nay theo bản Sanskrit nên sắp hai bài kệ này riêng ra như là phần mở đầu của Trung luậnBài kệ “bất sanh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất dị, bất lai bất xuất” được gọi là bát bất, tóm lược tư tưởng cốt lõi không chỉ của Trung luận mà còn là tư tưởng trung tâm của giáo pháp Đại thừa: lấy không làm tướng để vượt thoát nhị biên. Theo Long Thọbát bất là chân thực nghĩa không của các pháp (tất cả mọi hiện hữu trên thế gian) và cũng là định nghĩa của trung đạo (con đường vượt trên mọi biên kiến hí luận manh mún)[10]Vô minh là gốc của sinh tử luân hồi, theo Long Thọ chính là những nhận thức không nhận ra, hay chỉ thấy một phần chân thực nghĩa của ý niệm không này[11].

Bát bất được gọi là tư tưởng trung tâm của giáo pháp vì Long Thọ đã lấy chân nghĩa này mà an định được tình hình phân liệt vì các luận chiến giữa các tông môn nội bộ Phật giáo cũng như với các tôn giáo ngoài Phật giáo đương thời. Lúc bấy giờ, các tông môn phân hóa vì chỉ thấy được chỗ bảo thủ của mình: các tông môn Tiểu thừa nói chung thiên về sinh diệt, các tông môn Đại thừa nói chung thu vào không tịchBà la môn thì thiên về thườngDuy vật Thuận thế thì thiên về đoạnSố luận thì tin vào nhân quả nhất nhưThắng luận thì thấy nhân quả bất nhất v.v.. Những cái thấy biên kiến này Long Thọ gọi là hí luậnĐólà nhữnggiáo lý chỉ nhìn ra cái đúng một mặt, chỉ có thể diệt bỏ bằng chân nghĩa của pháp bát bất trung đạo, một giáo pháp giải thoát vượt qua mọi biên kiến của chính đức Phật mà Long Thọ ca tụng là “giáo lý vô thượng trong tất cả mọi giáo lý” trong bài kệ đầu tiên (bản dịch La Thập sắp thành bài kệ thứ hai sau bài kệ bát bất, xem bản dịch của La Thập).

Bát bất trung đạo từ đó theo thời gian đã trở thành lập cước chung của Phật giáo Đại thừa. Có lẽ từ cơ sở tư tưởng quan trọng này đã phát triển thành quan điểm cho rằng Long Thọ là người sáng lập ra Đại thừaTruyền thuyết Long Thọ mang kinh điển Đại Thừa từ thủy cung lên một phần cũng dựa theo đạo lý này. Tuy nhiên chúng ta cần biết Long Thọ là một luận sư vĩ đại, có công nghiệp lớn lao nên được coi là vị Phật thứ hai trong lịch sử phát triển Phật giáo, nhưng lịch sử hình thành Phật giáo Đại thừa thật ra là cả một diễn trình lâu dài. Tuy vậy, vị trí Long Thọ trong lịch sử phát triển Phật giáo Đại thừa dù giống nhưng thực chất quan trọng hơn vị trí của Bồ Đề Đạt Ma trong Thiền tông sau này (Trước khi Bồ Đề Đạt Ma qua Đông Độ thì dù Thiền chưa mang tên Thiền tông nhưng tư tưởng Thiền tông đã có gốc rễ ngay từ thời đức Phật như chúng ta đã trình bầy rõ ràng trong Nghiên cứu Lục tổ đàn kinh [12]). Nói tóm lạichúng ta có thể nói rằng bài kệ bát bất là một tư tưởng cốt lõi xuyên suốt làm nền tảng cho Phật giáo Đại thừa. Bản Tâm kinh bát nhã cũng từng diễn tả tư tưởng không tướng bát bất bằng một ngôn từ khác mà chúng ta rất quen thuộc “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…”

Long Thọ mở đầu Trung luận bằng bài kệ: “Tôi cúi đầu đảnh lễ đức Thế Tôn, Người đã thuyết giảng về chuỗi nguyên nhân và điều kiện tạo tác vô tận, diệt tận ngọn nguồn mọi hí luận. Đó là giáo lý vô thượng trong tất cả mọi giáo lý”. Bài kệ này có nghĩa là Long Thọ khẳng định tất cả các luận điểm của ngài trong Trung luận là phát xuất từ tư tưởng kinh điển của Đức Phật, như trong nhiều bộ kinh lớn đức Phật từng tuyên bố: “ta không dạy gì khác, ta chỉ nói về duyên khởi”. Từ lâu nhiều pháp sưhọc giả đông tây thường không thấy tầm quan trọng của kệ mở đầu này, nên hầu hết chỉ coi bài kệ này như một bài kệ “tán thán đức Phật”. Đúng hơn, chúng ta phải coi bài kệ này là một khẳng định cơ bản của Long Thọ. Vì chúng ta sẽ thấy Trung luận “phủ nhận” toàn diện các giáo điều cơ bản của Phật giáo mà cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều giảng dạy như bát chánh đạothập nhị nhân duyêntứ diệu đế. Đây cũng là lý do nhiều tự viện tùng lâm ngày trước chỉ cho tụng các kinh Bát nhã như là các chân ngôn và không tập trung vào việc nghiên cứu Trung luận. Ngày nay, chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa quan trọng của tinh thần phủ định quyết liệt của kinh điển Bát nhã mà Trung luận có thể coi là phần tổng luận. Và cũng hiểu rõ hơn về câu thoại quen thuộc của các cổ đức “thà chấp hữu lớn như núi Tu Di còn hơn là chấp khôngnhỏ như hạt cải”. Ngày trước, người ta cho rằng các ngài sợ học nhân đọc tụng Bát nhã và Trung luận sẽ dễ rơi vào quan điểm “chấp không”. Có lẽ đúng hơn là các ngài cho rằng Bát nhã và Trung luận là những phương thuốc quá nặng cho con bệnh còn quá yếu. Cho nên ngày nay khi học Trung luậnchúng ta nên quan tâm đến sự cẩn trọng này và càng cần phải thấu triệt pháp bát bất duyên khởi cho đến nơi đến chốn. Quả thật, trước đây nhiều thế hệ vì không thấu đáo ý nghĩa rốt ráo này nên đã sản sinh ra rất nhiều tà sư ngôn thuyết, biến Trung luận trở thành võ khí cho họ mặc tình hí luậnTu sĩ thì ngông cuồng coi thường giới luật, giới trí thức văn nhân thì càng dễ lạc vào trận đồ hoang tưởng “có có không không mơ màng”. Có lẽ hiểu được sự nghi ngại này, cho nên vừa để giảỉ thích vừa để trấn an, ngay từ kệ đầu tiên, Long Thọ đã phải long trọng khẳng định các điều ngài luận trong Trung luận là đúng tông chỉ duyên khởi của đức Phật, là phát xuất từ tư tưởng cốt lõi giáo pháp mà đức Phật truyền dạy.

Ngay ở đây, tôi cũng cần phải giải thích ngay nhận định vừa viết ở trên. Khi nói “Trung luận ‘phủ nhận’ các giáo điều cơ bản của Phật giáo” chỉ là một cách nói. Thật ra sự “phủ nhận” này đúng hơn là một cách vượt thoát khỏi ngôn ngữ nhị nguyên, là một lối xiển dương Phật pháp cao thâm như kinh Trí tuệ giải thoát kim cương bát nhã đã tuyên dương. Trong Trung luận, bằng luận giải phủ nhận Long Thọ đã xiển dương phần cốt lõi quan trọng nhất của tư tưởng Phật pháp. Khi phá hủy hay phủ nhận, thực ra Long Thọ chỉ cố gắng bày tỏ điều chúng ta thường gọi là đệ nhất nghĩa đế bất khả ngôn thuyếtbất khả tư nghì. Phủ nhận tất cả, buông bỏ tất cả (như kinh Trí tuệ giải thoát kim cưong năng đoạn) chỉ là một điều kiện bắt buộc để hành giả vượt qua được tất cả khuôn mẫu tư duy nhị nguyên quen thuộc của thế giới tri thức bờ bên này để vượt thoát đến được bờ bên kia của trí tuệ giải thoát (bát nhã ba la mật). Tuy nhiên chưa có căn cơ tu học chứng nghiệm, mà học đòi theo giáo pháp bát bất một cách ngôn thuyết máy móc thì cũng ví như người chưa học bơi mà nhảy xuống nước, như trẻ con chưa học căn bản mà đã đòi bắt chước theo các thi hào phủ nhận phá bỏ văn phạm ngữ pháp, thì chỉ tự hại mình hại người mà thôi.

Tại sao cho tư tưởng bát bất duyên khởi là cơ bản lập cước của Trung luậnChúng ta từng nghe các bậc cổ đức ca tụng về bát bất duyên khởi. Nhưng đến khi các giảng sư lập lại các lời ca tụng này một cách máy móc thì chỉ khiến độc giảthính giả mua được một số từ ngữ ngôn thuyết rất to lớn, nhưng thực chất là cả người giảng lẫn thính chúng chỉ sa đọa vào thế giới ngôn từ trống rỗng, mà mới đây chúng ta từng chứng kiến cả một thế hệ “thiền Zen và tánh không emptiness” của một thời Beatnik rồi Hippies không những chỉ ồn ào ở Tây Phương mà còn tiếp tục rơi rớt về lại Á Đông[13]thai sinh ra những “triết gia thi sĩ thiền nhân” “có có không không mơ màng” ở khắp nơi. Chính vì để đáp ứng lại tình trạng khủng hoảng tâm lý chung của thế giới hiện nay, đúng như kinh Hoa nghiêm đã tiên đoán, “tà sư nhiều như cát sông Hằng” có tài ngôn thuyết và giỏi tâm lý quần chúng đã xuất hiện khắp nơi. Đây là một thời khá giống với thời kỳ hỗn mang ở quê hương đức Phật hai ngàn năm trước, nhưng rất may mắn đó cũng là lúc có ngài Long Thọ xuất hiện để xiển dương chính phápChúng ta thiếu may mắn hơn, vì vậy hơn bao giờ hết, người học Phật trong thời gian này càng cần phải hiểu rõ tận nguồn gốc và ý nghĩa của giáo pháp bát bất duyên khởi để hiểu được nền tảng lập cước của tư tưởng Phật giáo chân chính trước cuồng lũ hủy diệt của giai đoạn mà các bậc long tượng thường gọi là thời mạt pháp.

Long Thọ đưa ra bát bất duyên khởi để cứu vãn chính pháp trong thời đại của chính ngài[14]Thời kỳ này, Ấn Độ về chính trị xã hội có nhiều thay đổi. Bên ngoài thì các tông phái ngoại đạo đều đang phát triển mạnh, bên trong thì Phật giáo bị phân liệt bởi các luận chiến giữa các bộ phái mà nội dung lại thiếu sức sống vì tư tưởng cục bộ. Tạm bỏ qua các tên tông phái và tên các nhà luận sư đương thời chỉ quan trọng cho những người nghiên cứu lịch sử. Theo nội dung triết lý của các tông phái đương thời thì Phật học đang bị khủng hoảng giữa hai tư tưởng căn bản cực đoan: phe hữu chủ trương vạn hữu có thật còn phe tả thì vạn pháp giai không dù cả hai đều lý luận trên lý duyên khởiLong Thọ đã soạn Trung luận trong tình thế tứ diện thọ địch này để xiển dương lại chính pháp. Ở đây chúng ta chỉ chú ý về hai lãnh vực chính lập cước của Trung luận: một mặt Long Thọ cố gắng tiếp thu lại các phương pháp tích cực của Đại thừa như niết bàn vô trụTam giải thoát môn (không, vô tướngvô nguyện) của tư tưởng Bát nhã để xiển dương lại chân nghĩa lý duyên khởi với mục đích phá quan điểm biên kiến của Tiểu thừa Hữu tông. Mặt khác, Long Thọ cũng không ngần ngại điểm mặt thói quen lộng ngôn mà thiếu công phu tu trì và thiếu trí tuệ của các tông môn Đại thừa, vốn chỉ đưa giáo pháp duyên khởi vào ngõ hẹp “duy không” cực đoan của phủ định, của con số không vô nghĩa. Phẩm 14 “Quán tứ đế” đã nói rõ, “duy có” thì là rời xa chính pháp, còn “duy không” mà không hiểu được chân nghĩa của duyên khởi, chỉ là cách phá hoại tam bảo, phủ nhận tứ đế và phá hủy chính giáo lý duyên khởi. Để tóm lược đạo lý mà Trung luận đã phá cả hai tư tưởng cực đoan này, chúng ta có thể đọc trước bài kệ 18 lừng danh của phẩm 14, mà chúng ta sẽ có dịp thảo luận:

yaḥpratītyasamutpādaḥśūnyatāṃtāṃpracakṣmahe |

sā prajñaptir upādāya pratipat saiva madhyamā ||

眾因緣生法 Chúng nhân duyên sinh pháp,

我說即是無 Ngã thuyết tức thị vô.

亦為是假名 Diệc vi thị giả danh,

亦是中道義 Diệc thị trung đạo nghĩa.[15]

“Mọi hiện hữu do nhân duyên khởi sinh, tôi nói đều là không, cái không này cũng chỉ là ngôn từ tạm mượn để nói. Cái không thật phải là không theo nghĩa trung đạo”.

Trở lại kệ nhập đề và sau đó là phẩm thứ nhất. Đây chính là nội dung lý luận mà Trung luận dùng để phá hủy nhận thức của Hữu bộ và các tông môn chủ trương nhất thiết hữu (tất cả đều thật có). Nên biết Hữu bộ và các bộ phái này cũng lấy duyên khởi làm căn cứ, nhưng họ căn cứ vào sáu nhân bốn duyên như đã giảng trong A tỳ đàm, rồi cho rằng các pháp (mọi hiện hữu) đều có thực với lý luận rằng mọi hiện hữu (bhava) có thực vì do duyên sinh mà có. Là tông môn Phật giáo nên họ vẫn tin vào giáo lý vô ngã của Phật giáo, có nghĩa là cái ngã sắc ngũ uẩn thì không có thật, nhưng vẫn chủ trương các pháp hiện hữu vì có sinh từ nhân duyênLý luận này có thể tóm lược như sau, vì: 1.Đã nhận có nhân duyên, thì không thể phủ nhận nhân duyên là không thật. 2.Chấp nhận các hiện hữu đều có sinh (từ nhân duyên) thì đương nhiên phải chấp nhận nó có thật [16]Trung luận đã phủ nhận lý luận này ra sao? Đó là nội dung của phẩm thứ nhất “Luận giải về duyên”.

Phẩm thứ nhất. Luận giải về duyên

pratyayaparīkṣā nāma prathamaṃprakaraṇaṃ||

Investigation of Conditions

1.

na svato nāpi parato na dvābhyāṃnāpy ahetutaḥ|

utpannā jātu vidyante bhāvāḥkva cana ke cana ||1||

No thing anywhere is ever born from itself, from another, from both or without a cause.

諸法不自生 Chư pháp bất tự sinh,

亦不從他生 Diệc bất tùng tha sinh.

不共不無因 Bất cộng bất vô nhân,

是故知無生 Thị cố tri vô sinh.

Tất cả mọi sự hiện hữu (hiện tượng) đều không tự sinh, không do cái khác sinh ra, không do gồm cả hai sinh ra, cũng không từ một nhân tố nào đó mà sinh ra. Vì vậy nên biết rằng (tất cả) đều vô sinh.

VĂN BẢN

Pratyayalà một từ mà hầu như các học giả Hoa ngữ trong đó có La Thập đều nhất trí dịch là duyên 緣hiểu theo nghĩa là điều kiện tạo tác (Anh ngữ dịch là condition). Tôi thích dùng điều kiện tạo tác nhưng đôi khi để cho ngắn gọn cũng dùng lại chữ duyên (duyên vừa là danh từ vừa là động từ). Vì vậy chương này tên gọi là “Luận giải về duyên” (pratyayaparīkṣā) thay vì theo Hán văn “Phá nhân duyên” hay “Quán về nhân duyên”. Tuy nhiên bản Hán dịch Trung luận của La Thập, trong kệ đầu tiên đảnh lễ Phật và trong phẩm này La Thập dịch pratyaya là nhân duyên 因緣. Theo chữ Hán nhân duyên là từ kép gồm hai danh từ nhân và duyên có nghĩa hơi khác nhau nên đã gây ra một vấn đề được các học giả tiếp tục phân tích và giải thích. Trước hết, vì muốn phân biệt sự khác biệt giữa nhân (hetu) và duyên (pratyaya), nên một số học giả phân biệt duyên 緣là điều kiệntạo tác và nhân 因là yếu tố tạo tác là cái lực có khả năng gây ra. Cách phân tích như vậy thật đúng theo ngôn ngữ Hán, vì nhân tương đương với từ hetu (Anh ngữ dịch là cause là theo nghĩa aition (nguyên 元) theo truyền thống Aristote). Nhân duyên theo nghĩa aition thì chỉ như trường hợp chữ nguyên nhân 元因mà chúng ta thường dùngTuy nhiên thật ra chữ nhân duyên nếu dùng để dịch từ hetu-pratyaya thì đúng hơn và chính xác hơn như chính La Thập đã dịch trong bài kệ tiếp theo (I.2). Trong kệ I.2 nhân duyên chỉ là một trong bốn loại duyên (cũng nên biết hetupratyaya là một danh từ và ý niệm có nguồn gốc ngoài Phật giáo). Cũng vì hai chữ nhân duyên nên có học giả cho rằng chính Long Thọ đã phân biệt nhân (hetu/ cause) và duyên (pratyaya/ condition). Nhưng theo Long Thọ thì chính ngài cho rằng mọi sựhiện hữu (bhàva) đều không có nguyên nhân. Trong mười bốn bài kệ của phẩm này (“Luận giải về duyên”) Long Thọ sẽ nói đầy đủ về lý luận trên. Tiếp theo trong hai mươi bài kệ của phẩm 20 (“Luận giải về hòa hợp”) Long Thọ còn tiếp tục khước từ cả nhân với duyên.

Sự việc Long Thọ sắp đặt chương “Luận giải về duyên” lên đầu sách Trung luận còn có lý do lịch sử của có. Nên hiểu Sarvastivada (Nhất thuyết pháp hữu) chủ trương tất cả mọi sự-hữu (bhava/ vạn pháp) đều hiện hữu và có thật. Nên Sarvastivada chủ trương nhân với duyên khác nhau chỉ là để đi đến kết luận là tự hữu (svabhàva/ tự ngã) và tự sinh khởi (svata-utpatti) đều thật có. Đây là một chủ đề mà Long Thọ luôn luôn phủ nhận. Cho nên trọng điểm của cả chương thứ nhất chỉ để cho Long Thọ bày tỏ rằng quan niệm cho nhân và quả đều thật hữu là một hí luận sai lầm và không hợp với thật nghĩa bát bất duyên khởi. Cũng vì lý giải này mà trong Nhập trung quán luận (Madhyamàvatara), Nguyệt Xứng đã dùng đến một phần mười số trang của quyển luận chỉ để thảo luận về chương “Luận giải về duyên” của Trung luận.

Trở về nguyên ngữ Sanskrit thì chữ nhân-duyên La Thập dịch trong kệ này chỉ là chữ pratyaya (duyên). Chỉ có vài trường hợp La Thập dịch pratyaya thành nhân duyên như chúng ta vừa trình bày ở trên, còn trong nhiều trường hợp khác La Thập đều dịch pratyaya là duyên và chỉ dùng chữ nhân duyên để dịch chữ hetu-pratyaysVì vậy khi đọc bản Hán dịch của La Thập gặp chữ nhân duyên chúng ta phải cảnh giác đối chiếu với bản Sanskrit để tránh tình trạng bối rối trước từ này[17]. Cũng nên nhớ tên của chương thứ nhất là “Luận giải về duyên” (Pratyayaparīkṣā) nên trong chương này Long Thọ chỉ tập trung nói về duyên (pratyaya) không chú trọng về nguyên nhân hay nhân (hetu). Tổng quát về nội dung toàn bộ Trung luậnchúng ta sẽ thấy Long Thọ không bao giờ lẫn lộn duyên (pratyaya) với nhân (hetu). Khi Long Thọ viết đến nhân (hetu) thì chữ này chỉ có nghĩa là nguyên nhân như trong ngôn ngữ bình thường, mà không liên quan gì với luận điểm triết học hay Phật học của mình. Sự luận bàn nhân duyên với duyên khởi dường như chỉ trở thành vấn đề với các luận sư chỉ đọc Hán văn nên thấy có sự khác biệt gữa 因緣(nhân duyên) và 緣(duyên) mà không so với Phạn ngữ. Thật ra trong nhiều trường hợp thì duyên có nghĩa là điều kiện tạo tác/ condition thì cũng là nhân tố tạo tác/ cause thành ra duyên cũng là nhân, như trong kệ tiếp sau của chương này chúng ta sẽ thấy rõ hơn.

Bhavàh(sự hiện hữu/ sein/ being) và bhavahta (bản chất của hiện hữu) ở kệ này La Thập đều dịch là pháp (法). Pháp là một từ hết sức trừu tượng trong ngôn ngữ Phật học mà tôi đã có dịp nói đến rất nhiều lần. Nên nhớ trong Hán ngữ, chữ pháp vốn đã là một chữ rất nhiều nghĩa. Khi Phật học dùng chữ này để dịch chữ dharma thì lại càng có thêm nhiều nghĩa. Trong Phật học chữ pháp đã là một “định ngữ” dùng để dịch chữ dharma vốn là một chữ có thể chỉ đủ mọi sự vật hiện tượng cụ thể lẫn trừu tượng trong thế giới. Ở đây La Thập dịch bhavà lại là pháp (không sai, vì pháp là bất cứ cái gì) nhưng khó hiểu, trước hết không phải chỉ có bản dịch của La Thập mà nhiều bản Hán văn không những chỉ dịch vừa bhavah lẫn dharma là pháp mà còn dịch nhiều chữ khác đều là pháp (xem phần phụ lục về chữ dharma trong quyểnTrí tuệ giải thoát)[18]Tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ cần hiểu hai nghĩa chính: 1.Tất cả mọi “sự hiện hữu” dù là hiện tượng cụ thể hay trừu tượng trong thế giới đều là dharma (pháp/ 法). 2.Chân lýgiáo pháp của đức Phật thì dùng chữ Dharma viết hoa (nhưng kẹt là chữ 法trong Hán văn họ chỉ có một cách viết). Chữ pháp trong Hán ngữ Phật học còn là một đại từ (đại danh từ) cho chính chữ pháp nên càng khó hiểu khó dịch. Tóm lại rất khó dịch chữ pháp ra Việt văn, trừ trường hợp lại phải trở về dùng chính chữ phápThực ra nguyên nhân cách dùng tùy tiện chữ pháp chỉ là cách để cho các tác giả, dịch giả Trung Hoa ẩn náu dễ dàng. Thay vì nặn óc khó khăn để tìm chữ có ý nghĩa vốn rất vi tế, các dịch giả Trung Hoa dùng chữ pháp như là một cách tránh né vạn năng. Người Trung Hoa lại vốn có truyền thống quen thuộc với ngôn ngữ trừu tượng thi ca hơn là loại ngôn ngữ triết lý chính xác, nên cũng có cảm giác thoải mái với lối dịch này. Đây là lý do chính làm cho các học giả thời nay rất lúng túngđặc biệt là học giả và quần chúng Việt Nam quá lệ thuộc vào danh từ Hán Việt. Một số học giả Việt Nam gần đây vì có được ảnh hưởng văn pháp khoa học và chính xác của ngôn ngữ hiện đại đã cố gắng dịch bhava là hiện hữu, sự hữu, hiện tồn, tồn tạihiện tồn, hiện tượng thay vì pháp (và do đósvabhavah tự hữu thay vìtự tánh quen thuộc). Trong bài này, tùy theo trường hợp, tôi sẽ dịch bhavah là sự hiện hữuhiện tượng, tự hữu…(và các từ svabhavah sẽ là tự hữu, tự tánhtự tánh của hiện hữu còn từ parabhavah sẽ làtha tính, tha hữu).

Câu cuối của kệ này “Thế nên biết các hiện hữu (bhavah) vốn vô duyên sinh” (thị cố tri vô sinh/ 是故知無生) là câu không có trong Sanskrit. Câu này có lẽ do La Thập thêm vào nhưng rất độc đáo đắc vị, tương tự như câu “như như bất động” mà La Thập thêm vào trong đoạn cuối cùng của kinhKim cương năng đoạn.

GIẢNG GIẢI

Trong bài kệ đầu tiên Long Thọ trình bày quan điểm tổng quát cơ bản về nguyên nhân và nguồn gốc của mọi sự vật theo lý duyên khởi: “Tất cả mọi hiện hữu (bhavah) đều không tự nó sinh ra nó, không do cái khác sinh ra nó, không do gồm cả hai sinh ra, cũng không từ một nhân tố nào đó mà sinh ra. (Vì vậy nên biết rằng mọi vật hiện hữu đều vô sinh)”. Từ khái niệm này, Trung luận khẳng định là mọi hiện tượng không thực sự có sinh có diệt, quan niệm dù là tự sinh hay tha sinh (sinh từ cái gì khác chính nó) đều sai lầm vì khởi từ tư tưởng cho rằng các hiện tượng sự vật là thật có, còn theo đúng lý duyên khởi thì phải luận rằng muôn vật hiện hữu chỉ vì do các điều kiện (duyên) hòa hợp[19]. Nên nhớ ở đây chỉ nói về vế đầu tiên “bất sinh” của bát bất (bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất dị, bất lai bất xuất). Xin nhắc lại khi đọc kinh luận Đại thừachúng ta phải dùng tôn chỉ bát bất làm cơ sở quán chiếu, cho nên khi thấy kinh luận dạy rằng vô sinh thì lập tức phải hiểu “vô sinh” đi kèm với “vô diệt” trong cơ sở bát bất trung đạo (bất sinh bất diệt bất thường…) chứ “vô sinh” không đứng một mình.

Pháp duyên khởi luận rằng tất cả hiện tượng vạn vật cụ thể và trừu tượng không thể tự sinh từ chính nó mà vì các duyên cảnh điều kiện khác hòa hợp nên có. Xưa thì người ta thường lấy ví dụ như hột (gọi là nhân) thì sẽ thành cây (gọi là quả). Nhưng hột thì không đủ làm nhân cho việc sinh thành cây vì cần phải hội đủ các duyên (điều kiện tạo tác) như người trồng, ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ làm duyên thì mới sinh khởi ra mầm cây. Khoa học hiện nay thấy rằng ngay loài sơ đẳng nhất là loại “dép cỏ” (toàn thân chỉ gồm có một tế bào) cũng cần phải có điều kiện tạo tác như nhiệt độ, môi trường v.v.. mới có thể tự phân (sinh). Vì vậyvạn vật không thể tự sinh. Còn nói sinh từ cái khác nào đó (tha sinh) thì lại là một mâu thuẫn căn bản, cái tự (tự nó) đã không thì có thể nào có cái tha (không phải là nó). Như có nhà chú giải mang thí dụ đứa con do người mẹ sinh ra để thí dụ về tha sinh thì cũng không phải, vì tự (con) và tha (mẹ) rõ ràng là hai thực thể khác biệt. Còn nói vừa tự vừa tha thì lại càng là một trùng trùng hí luận, cái mâu thuẫn lại tăng lên gấp đôi. Còn quan niệm thứ tư vô nhân sinh (sinh khởi không cần nhân duyên) thì rõ ràng là một quan niệm hư vô (chấp không) khi cho rằng giữa trùng trùng vô tận tất cả các hiện hữu không có một cái gì có liên hệ hay ảnh hưởng đến cái gì khác.

Sự thật Trung luận đưa vấn đề “chư pháp bất tự sinh” (các sự hữu đang hiện hữu không tự sinh) vì phản ứng lại quan điểm hữu ngã (cái atman[20] có thật) trong kinh điển hữu thần của Upanisads bà la môn đang là tư tưởng dòng chính (main tream) lúc bấy giờ. Nhiều trường phái Phật giáo như Sarvastivadin (Nhất thiết Pháp hữu) là một tông phái Phật giáo lớn cũng bị ảnh hưởng. Tuy các tông môn này vẫn tin vào giáo lý vô ngã (an-atman) của truyền thống Phật giáo nhưng họ chấp nhận cái “tự tính của hiện hữu” (svabhàva) là thực có, rồi có tông môn như Vatsiputriya (Độc tử bộ) từ cho rằng svabhàva thực có đã đưa họ đến việc chấp nhận quan điểm cái ngã (pudgala)[21] là thật có. Long Thọ đưa luận thuyết duyên khởi (cho rằng mọi hiện hữu chỉ hiện hữu vì các nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi) ở ngay phẩm đầu tiên chính cũng là một phê phán mãnh liệt với đức tin vào sự tự sinh của một thượng đế uyên nguyên của các giáo lý hữu thần thời đó.

Trái ngược với đức tin thượng đế tự sinh là quan điểm vô nhân sinh của Vô thần luận cho rằng không có nguyên nhân mà vạn vật cứ sinh. Đây là quan điểm không tin vào nhân quảVô nhân duyên là một hí luận cực đoan (biên kiếnhoàn toàn trái ngược với quan điểm Nhất thần luận (Long Thọ theo đức Phật phủ nhận cả hai). Quan điểm vô nhân duyên còn gây tác động vào nền tảng đạo đức tôn giáo, trong đó có Phật giáo. Vì quan điểm vô nhân duyên không chỉ là một luận thuyết triết lý mà còn dễ trở thành một cơ bản lý luận, trở nên một đức tin có hậu quả là phá bỏ mọi trách nhiệm đức lý, bài bác tất cả cố gắng giới luật tôn giáo lẫn đạo đức thế gian. Đây chính là một biên tế (cực đoan) mà Phật giáo không chấp nhận và ở đây Trung luận trên bình diện xiển dương ý nghĩa trung đạo cũng lý luận để phản bác quan điểm vô nhân sinh như đã phản bác quan điểm tự sinh ở trên. Vì vậy thói thường cho rằng Trung luận chủ xướng vô sinh chỉ gây ra tình trạng chấp không phá bỏ giới luật là một quan điểm không có cơ sở.

2.

catvāraḥpratyayā hetur cārambaṇam anantaram |

tathaivādhipateyaṃca pratyayo nāsti pañcamaḥ||2||

There are four conditions: primary, objective, immediate, and dominant.

There is no fifth condition.

因緣次第緣 Nhân duyên thứ đệ duyên,

緣緣增上緣 Duyên duyên tăng thượng duyên.

四緣生諸法 Tứ duyên sinh chư pháp,

更無第五緣 Cánh vô đệ ngũ duyên.

Có bốn duyên (điều kiện) là 1.nhân duyên (điều kiện nguyên nhân), 2.thứ đệ duyên (điều kiện cần từ điều kiện khác), 3.sở duyên duyên (điều kiện từ điều kiện tạo tác), và 4.tăng thượng duyên (điều kiện thúc đẩy tạo tác). Không còn duyên (điều kiệnthứ năm nào khác.

VĂN BẢN

Hetu-pratyayā (duyên nhân, cause, the cause in general, the primary condition) ở đây La Thập dịch là nhân duyên 因緣 thì chính xác, không phải là chữ pratìtyasamutpada (duyên khởi 緣起) của kệ trước. Theo Trung luận thì chỉ có bốn loại duyên (pratyayà), loại thứ nhất gọi là nhân duyên. Danh từ nhân duyên này trong thông ngữ chỉ là một danh từ tổng quát nói chung về bốn loại duyên (pratyayā). (Giống như nói vô ngã là một cách nói tắt, nói đầy đủ theo kinh Trí tuệ giải thoát kim cương bát nhã phải nói cả tứ tướng của ngã là vô ngãvô thọ giảvô nhân và vô chúng sinh).

La Thập dịch alambana–pratyaya là sở duyên duyên 所緣緣 nên có thể làm người ta nghĩ alambana là duyên nên dễ gây khó hiểu. Đúng hơn nên dịch alambana-pratyaya là phàn duyên thì dễ hiểu hơn.

GIẢNG GIẢI

Theo Trung luận có bốn điều kiện (duyên) để phát sinh ra một hiện tượng, đó là: 1.điều kiện nhân tạo tác (nhân duyên 因緣), 2.điều kiện tiếp theo điều kiện tạo tác khác (thứ đệ duyên 次第緣), 3.điều kiện có từ điều kiện tạo tác (sở duyên duyên 所緣緣), và 4.điều kiện yếu tố thúc đẩy tạo tác (tăng thượng duyên 增上緣). Không có điều kiện hay duyên thứ năm nào khác.

Đây không phải là nhận định của Long Thọ mà Nguyệt Xứng trong Prasannapadà đã phát biểuSự thật là lý thuyết về bốn duyên này đã được Abhidharmamikas nói đến từ xưa[22]. Vài học giả hiện đại như Kalupahan còn cho rằng Nguyệt Xứng khi giải thích về kệ này cũng đã không phân biệt được sự khác biệt giữa lý thuyết của A Tỳ Đạt Ma với những luận chú của Nhất thuyết pháp hữu và Kinh lượng bộ [23]Bốn duyên trong kệ này theo thứ tự là:

Hetu-pratyayā (nhân duyên 因緣– primary condition, cause-condition): Duyên thứ nhất La Thập gọi là nhân duyên, danh từ tổng quát nói chung về duyên (pratyaya). Như ở phần trên, chúng ta đã phân biệt duyên là điều kiện tạo tác – condition và nhân là nguyên nhân tạo tác – cause. Nhưng trong nhiều trường hợp điều kiện tạo tác cũng là nguyên nhân tạo tác. Và vì vậy duyên thứ nhất gọi là nhân duyên. Đây là loại duyên hay những điều kiệnnguyên nhân trực tiếp phát sinh ra một cái gì.

Samanantara-pratyayā La Thập dịch là thứ đệ duyên 次第緣(next number condition). Trong kinh điển Hán văn còn gọi là đẳng vô gián duyên. Là loại duyên như thể có một quá trình liên tục có lớp lang thứ tự (thứ đệ), khởi từ điều kiện tác động này cho đến điều kiện tác động khác theo một thứ tự, giống như một dòng chảy liên tục mà mỗi điểm là một điều kiện tạo tác khác nhau.

Alambana-pratyayā La Thập dịch là sở duyên duyên 所緣緣(condition condition, conditioned condition). Đây là loại duyên hay những điều kiện làm điểm tựa, cơ sở (sở duyên) gâyduyên cho việc tạo tác khác (the immediate condition for the prodution of a result is the evanescence of its material cause)

Adhipati-pratyayā La Thập dịch là tăng thượng duyên 增上緣(increase-over condition). Anh ngữ thường dịch là dominant condition. Đây là loại duyên hay những điều kiện tạo tác thúc đẩy (tăng) và quan yếu (thượng) cho những điều kiện tạo tác khác.

Việc phân chia các loại duyên thành bốn loại ở đây không phải là của Long Thọ. Trong bài kệ này Long Thọ chỉ lặp lại lý thuyết về duyên (pratyayā) của Abhidharma (A Tì Đàm)[24] rằng tất cả mọi sự hữu (bhàva) hay hiện tượng trong thế giới đều được thành hình bởi các điều kiện (duyên). Các loại duyên này đều có thể quy kết vào bốn loại duyên như trên trong tương quan duyên khởi nhân quả, và không thể có loại thứ năm nào khác. Có lẽ đây là lý thuyết phân loại các duyên trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy được ghi nhận từ xa xưa. Long Thọ góp nhặt chúng lại có thứ tự và phần đóng góp của Long Thọ là trong các kệ sau khi ngài phá bỏ các lý thuyết này để tuyên triệu lại tư tưởng căn yếu thật sự của bát bất duyên khởi.

Nên chú ý là trong kệ này (I.3) Trung luận liệt kê bốn loại duyên còn ở kệ trước (I.2) Trung luận luận giải về bốn nguồn gốc sinh khởi của các sự hữu (tự sinh, tha sinh, tự sinh lẫn tha sinh, và vô sinh). Hai đề tài của hai kệ hoàn toàn khác nhau.

(còn tiếp)

 


[1]Madhyamika hay Madhyamaka? Vài học giả Tây Phương thường có phân biệt giữa hai chữ và hay dùng madhymika như tính từ và madhyamaka như danh từ là điều không cần thiết. Tôi dùng cả hai chữ lẫn lộn là theo T.R.V. Murti và Sanskrit Commission (do chính phủ Ấn Độ thiết lập năm 1959). Xem thêm Introduction to the Middle Way: Chandrakirti’s Madhyamakavatara của the Padmakara Translation Group (London: Shambhala, 2002) tr. 354.

[2]Nghiên cứu về Long Thọ và Trung luận một cách kinh viện có thể được đánh dấu bằng việc Nga xuất bản bộ Phật giáo văn khố (Biliotheca Buddhica) vào thập niên 1901-1913, trong đó Poussin có dịch Prasannapada (nội dung gồm Madhyamika và chú thích của Nguyệt Xứng). Qua ba thập niên đầu của thế kỷ 20 với các nghiên cứu của LJ Smimidt, Burnuf, Oldenberg, Nanjo, T. Stcherbatsky… Rồi đến thế hệ của T.R.V. Murti, P.L. Vaidya, R. Robinson, K. Inada, D. Kalupahana… thì công cuộc nghiên cứu kinh viện này đã có những bước căn bản. Trong bốn thập niên vừa qua thì có thể nói là giai đoạn trăm hoa đua nở với nhiều nghiên cứu quan trọng khác, đặc biệt là còn có sự xuất hiện của các trung tâm nghiên cứu tập trung nhiều học giả tu sĩ Tây Tạng như The Institute of Buddhist Dialectics, the Central Institute of Higher Tibetan Studies (nên nhớ tất cả kinh sách Trung luận của Long Thọ và các đại sư Trung quán tông Ấn Độ và Tây Tạng còn lại hiện nay bằng Sanskrit hay Tạng ngữ chỉ còn giữ lại được ở Tây Tạng). Trong công cuộc nghiên cứu mới này, học giới Nhật Bản cho đến nay vẫn tiếp tục đóng góp nhiều nghiên cứu giá trịHọc giới Trung Hoa cũng từng có đóng góp như các luận của hòa thượng Ấn Thuận nhưng hiện nay dường như không còn học giả nào tiếp tục có các công trình đáng kể. Riêng công cuộc nghiên cứu đối chiếu giữa Madhyamaka và Tam luận tông Trung Hoa là một đề tài được học giới chờ đợi vẫn còn bỏ trống.

[3]Nguyệt Xứng (Candrakirti hay Chandrakirti), thế kỷ thứ 7, được coi là người chú giải Trung luận thành công nhất và được coi là sơ tổ trung hưng của tông Madhyamaka. Ở Tây Tạng, hai tác phẩm Prasannapada (Minh cú luận) và Madhyamakavatara (Nhập trung quán) của ông là hai tác phẩm giáo khoa mà các lạt ma đều phải học.

[4]Đại chánh tân tu Đại tạng kinh , tr. 1564.

[5]Vũ Thế Ngọc, Introduction to Nagarjuna, Eastwest Institute, 1991.

[6]Madhyamikasastra of Nagarjuna with the Commentary: Prasannapada by Candrrakiti, P.L. Vaidya dịch và chú thích, Darbhanga: The Mithila Institute, 1960.

[7]. Bản Sanskrit này dựa trên hai bản có trong Madhymikavrtti (Madhyamakakàrikàa) do L. de la Vallée Pousin biên tập (Bibliotheca Buddhica 4.) St.petersurg: The Imperial Academy of Science, 1903-1913) và bản dịch của P.L. Vaidya đã dẫn ở trên. Những kệ thiếu chữ phải bổ khuyết bằng bản tiếng Tây Tạng và các kệ thiếu thừa so với bản Hán văn của La Thập sẽ được chú thích rõ, và sẽ có bản dịch Việt văn khi in thành sách.

[8]. Bản Hán văn do La Thập dịch có trong Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, tr. 1564.

[9]. Th. Stcherbatsky, The Conception of Buddhist Nirvana, [1923] Second Indian Edition, Delhi, 1977, tr. 78.

[10]. Phần lớn các luận sư giải thích trung đạo là con đường giữa, con đường không thiên lệch giữa hai thái cực là chỉ hiểu một phần trung đạo theo nghĩa danh từ.

[11]. Các nhận thức biên kiến này Trung luận gọi tên là hí luận. và mục tiêu của Trung luận là diệt trừ các hí luận để tỏ sáng tư tưởng bát bất trung đạo.

[12]Vũ Thế Ngọc, Nghiên cứu Lục tổ đàn kinh, NXB. Phương Đông, 2010.

[13]. Xem bài viết “Hành trình về Đông Phương” của Vũ Thế Ngọc và cuộc hội thảo đầu tiên về Hippies trên tuần báo Đời (Số đặc biệt về Hippy Việt Nam, Sài Gòn, 1971). Có in lại trên Mùa thu hoa vàng viễn mộng xanh, San Jose 1989, tr. 151-160.

[14]. Xem chương “Thời đại Long Thọ”.

[15]Trung quán: Phẩm 24, kệ 18.

[16]. Cho nên, bát bất phải tuyên bố kiểu song trùng “bất sinh bất diệt … bất khứ bất lai” để diệt cả hai tư tưởng nhị nguyên sinh/diệt, thường/đoạn… Hữu bộ chỉ thấy một phía (có sinh) nên mới luận giải “đã chấp nhận có sinh là phải chấp nhận có thật vì nếu không làm sao có sinh”.

[17]Thí dụ như bài kệ thứ 11 của phẩm thứ nhất La Thập cũng dùng chữ nhân duyên để dịch chữ pratyaya nên thường kéo theo sự phân tích khá lạc đề của nhiều vị chú giải Trung luận (bản Hán văn).

[18]Vũ Thế Ngọc, “Biện chứng bát nhã,” Trí tuệ giải thoátNghiên cứu kinh kim cương bát nhã, Hà Nội: NXB. Thời Đại, 2012, tr. 99-131.

[19]. Lý duyên khởi không phủ nhận cái có trên bình diện tri thức phổ biến (tục đế), nhưng trên bình diện tri thức tuyệt đối (chân đế) thì gọi đó là giả có, có nghiã là “tạm gọi là có vì cái gọi là có đó đang biến đổi và luôn luôn biến đổi” không phải luôn luôn cóBiện chứng Long Thọ luận giải lý này rất rõ ràng và chi tiết.

[20]. Atman (tiểu ngãthần ngã của từng con người cá thể) là một chuyên từ xuất phát từ kinh điển bà la mônÝ nghĩamục đích cao cả của con người là tu học xả bỏ mọi vọng tưởng (maya) để trở về đồng nhất với bradman (đại ngãthực tại vũ trụ). Xem Vũ Thế Ngọc, Nghiên cứu Lục Tổ đàn kinh, sđd, tr. 14-15

[21]. Pudgala (siêu ngã, kinh Kim cương bát nhã gọi là nhân, là một trong bốn hình tướng của ngã: tứ tướng gồm nhân, ngã, thọ giả, và chúng sinh). Xem “Tư tưởng hữu ngã trong Phật học” trong Trí tuệ giải thoát của Vũ Thế Ngọc, 2012, tr. 337-558.

[22]. P.S. Jaini (ed.) Abbidharmadìpa With Vibhàsàprabhàvrtti, Patna: K.P. Jayaswal Research Institute, 1959, (2.61-62). A Tỳ Đàm nói đến sáu loại nhân duyên.

[23]. David Kalupahan, Nagarjuna, The Philosophy of the Miđle Way, Albany, State University of New York. Press. 1986, tr.106.

[24]A Tỳ Đàm phân thành sáu loại duyên. Xem phần giảng luận kệ 7 ở sau.

(Suối Nguồn)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5829/feed 0