HỌC THUẬT- ĐẠO GIÁO – MINH TRIẾT THẾ GIỚI – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Tue, 13 Jul 2021 02:04:25 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 CHỨNG ĐẠO CA – VĨNH GIA HUYỀN GIÁC đại sư https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416#respond Tue, 13 Jul 2021 02:01:49 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4416 CHỨNG ĐẠO CA

– VĨNH GIA HUYỀN GIÁC đại sư.

 

Anh thấy chăng?
Hết học, vô vi, nhàn đạo nhân
Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân
Thực tánh vô minh tức Phật tánh
Thân Không ảo hóa tức Pháp thân.

Pháp thân giác rồi không một vật
Tự tánh bổn nguyên thiên chân Phật
Năm ấm mây trôi rỗng đến đi
Ba độc bọt nước giả tan khởi

Chứng thực tướng không nhân pháp
Sát na diệt sạch a tỳ nghiệp
Nếu đem lời vọng dối chúng sanh
Tự mời (tội) rút lưỡi trần sa kiếp

Đốn giác rõ Như Lai thiền
Sáu độ muôn hạnh thể toàn viên
Trong mộng nhập nhòa có sáu nẻo
Tỉnh giấc rỗng rang không đại thiên

Không tội phước, không thêm bớt
Trong tánh tịch diệt chớ tìm hỏi
Xưa nay gương bụi chửa từng lau
Ngay đây rõ ràng cần phân định

Ai vô niệm, ai vô sanh?
Nếu thật vô sanh, không chẳng sanh
Gọi người gỗ hỏi cơ quan ấy
Cầu Phật ra công sớm muộn thành?

Buông bốn đại, chớ nắm bắt
Trong tánh tịch diệt tùy ăn uống
Các hành vô thường tất cả Không
Đó là Như Lai đại viên giác

Nói quyết định, hiểu chân thừa
Có người chẳng chịu cứ nghiên tầm
Thẳng suốt căn nguyên là Phật ấn
Trích lá tìm cành ta chẳng ưa

Ngọc ma ni, người chẳng biết
Trong tạng Như Lai thâu trọn hết
Sáu phần thần dụng không chẳng không
Một điểm viên quang sắc chẳng sắc

Tịnh năm mắt, được năm lực
Chỉ chứng mới hay không thể lượng
Trong gương xem ảnh thấy khó chi
Trong nước bắt trăng không thể đắc

Thường độc hành, thường độc bộ
Người đạt đồng đi Niết bàn lộ
Điệu xưa thần nhẹ phong thái cao
Dáng gầy xương cứng người chẳng thấy

Bần Thích tử, miệng xưng nghèo
Thực ra thân nghèo đạo chẳng nghèo
Nghèo thì thân thường áo chắp vá
Đạo ắt tâm tàng vô giá châu

Báu vô giá, dùng vô tận
Lợi vật ứng cơ mãi chẳng cùng
Ba thân bốn trí thể tròn nguyên
Tám giải, sáu thông tâm địa ấn

Bậc thượng một quyết tất cả xong
Bậc hạ nghe nhiều, nhiều nghi ngại
Chỉ tự trong lòng cởi áo bẩn
Tinh tấn hướng ngoại khoe nào ích

Tùy ai bác, mặc ai chê
Châm lửa đốt trời tự nhọc sức
Ta nghe như uống cam lồ vậy
Tiêu tan liền nhập (cái) chẳng nghĩ bàn

Quán lời ác là công đức
Với ta đó mới thiện tri thức
Chẳng do phỉ báng khởi oán, thân
Sao hiện vô sanh từ nhẫn lực

Tông cũng thông, nói cũng thông,
Định huệ sáng tròn chẳng trệ không
Chẳng phải riêng ta nay đạt đấy
Hằng sa chư Phật thể đều đồng

Sư tử hống, vô úy nói
Trăm thú nghe qua xé óc não
Voi chạy lung tung mất hết uy
Thiên long im nghe sanh hoan hỷ

Chơi sông biển, dạo núi rừng
Tìm thầy hỏi đạo hành tham thiền
Từ khi rõ nẽo Tào Khê ấy
Mới hay sanh tử chẳng tương can

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền
Nói im động tĩnh thể an nhiên
Dầu gặp gươm đao thường rỗng rỗng
Dù cho thuốc độc vẫn nhàn nhàn

Thầy ta từ gặp Nhiên Đăng Phật
Nhiều kiếp từng làm tiên nhẫn nhục
Sanh mấy hồi, tử mấy hồi
Sanh tử triền miên không định dứt

Từ khi đốn ngộ rõ vô sanh
Nơi vinh nhục có gì vui, sợ
Vào rừng sâu, ở Lan nhã
Núi sâu rừng lặng gốc tùng già
Thong dong ngồi tĩnh chùa hoang dã
Tĩnh mịch an cư thực khoái thay.

Giác tức trọn, chẳng thi công
Tất cả hữu vi pháp chẳng đồng
Bố thí trụ tướng sanh thiên phước
Giống như bắn tên lên hư không
Thế lực hết, tên lại rơi
Đời sau lại có bất như ý
Sao bằng thật tướng môn vô vi
Một siêu thẳng vào Như Lai địa

Chỉ được gốc, lo chi cành
Như tịnh lưu ly ngậm trăng thanh
Đã rõ được đây ngọc như ý
Tự lợi, lợi người không hề ngưng
Sông trăng chiếu, gió trong tùng
Đêm trường thanh vắng có làm gì?

Ngọc Phật tánh giới tâm địa ấn
Cầu vồng mây gió y trên thân
Bát thâu rồng, gậy giải cọp
Hai vòng khoen vàng khua lảnh lót
Phải đâu hư sự giữ làm vì
Gậy báu Như Lai còn dấu vết

Chẳng cầu chân, chẳng dứt vọng
Rõ ràng hai pháp Không, vô tướng
Vô tướng, vô không vô chẳng không
Tức là Như Lai chân thực tướng

Tâm gương sáng, soi không ngại
Rỗng không sáng tột hằng sa cõi
Muôn tượng đa dạng ảnh hiện trong
Một điểm viên quang không nội ngoại

Đạt không trơ, bác nhân quả
Thô tháo, rối bời mời tai họa
Bỏ có, bám không vẫn bệnh thôi
Khác nào tránh nước lao vào lửa

Bỏ vọng tâm, giữ chân lý
Tâm hay nắm bỏ thành xảo ngụy
Người học không hay, dùng tu hành
Chân thành nhận giặc làm con đẻ

Hao pháp tài, hoại công đức
Tất cả đều do tâm, ý, thức
Thế nên thiền dạy buông bỏ tâm
Đốn nhập vô sanh tri kiến lực

Đại trượng phu, cầm gươm huệ
Mũi Bát nhã, hề, sáng kim cương
Không chỉ hay bạt ngoại đạo tâm
Sớm khiến thiên ma lùi khiếp vía.
Nổi sấm pháp, đánh trống pháp
Bủa rộng mây từ, rưới cam lồ
Long tượng gặp vô biên nhuần thấm
Ba thừa năm tánh đều tỉnh ngộ

Cỏ quý Tuyết sơn không hỗn tạp
Thuần cho đề hồ ta thường dùng
Một tánh viên thông tất cả tánh
Một pháp gồm khắp tất cả pháp

Một trăng khắp hiện (trong) tất cả nước
Tất cả trăng (trong) nước nhiếp (vào) một trăng
Pháp thân chư Phật vào tánh ta
Tánh ta đồng cùng Như Lai hiệp

Một địa đầy đủ tất cả địa
Chẳng sắc, chẳng tâm, chẳng hạnh nghiệp
Búng tay viên thành tám vạn môn
Sát na diệt hết ba kỳ kiếp
Thảy cả văn tự, chẳng văn tự
Với tánh giác ta nào giao thiệp?

Chẳng thể chê, chẳng thể khen
Thể như hư không vô bờ bến
Chẳng lìa đương xứ thường trong vắt
Tìm, tức biết anh chưa thể thấy.
Nắm chẳng được, bỏ chẳng được
Trong chẳng thể đắc, được cái gì?
Im là nói, nói là im
Đại thí mở toang không vướng mắc

Có người hỏi ta giải tông nào
Thưa rằng Ma Ha Bát Nhã lực
Hoặc phải, chẳng phải người đâu biết
Làm thuận, làm nghịch trời sao lường

Ta sớm từng trải nhiều kiếp tu
Chẳng phải đem lời dối gạt nhau
Dựng pháp tràng, lập tông chỉ
Rõ ràng Phật dạy, ứng Tào Khê

Thứ nhất Ca Diếp giữ đèn truyền
Hăm tám đời tổ ở Tây thiên
Pháp sang đông, vào đất này
Bồ đề Đạt ma là sơ tổ
Sáu đời truyền y thiên hạ nghe
Người sau đắc đạo nhiều vô kể.

Chân chẳng lập, vọng vốn không
Hữu vô đều dứt, chẳng không không
Hai chục cửa không nguyên chẳng bám
Một tánh Như Lai thể tự đồng

Tâm là căn, pháp là trần
Cả hai ngấn bụi bám gương trong
Ngấn bụi hết rồi quang mới hiện
Tâm, pháp mất tiêu, tánh tức chân

Ôi mạt pháp, ác thời thế
Chúng sanh phước mỏng khó điều chế
Hiền thánh xa rồi tà kiến sâu
Ma mạnh pháp yếu nhiều oán hại
Nghe nói Như Lai đốn giáo môn
Hận chẳng nghiền tan như ngói bể

Làm tại tâm, họa tại thân
Trách móc người ta ấy chẳng nên
Muốn khỏi chiêu mời vô gián nghiệp
Chớ báng Như Lai chánh pháp luân

Rừng chiên đàn không cây tạp
Sâu kín rậm màu sư tử ở
Cảnh vắng giữa rừng một mình chơi
Thú chạy chim bay trốn xa tắp

Sư tử con, chúng theo sau
Lên ba bèn có thể rống to
Nếu chó rừng có theo vương pháp
Yêu quái trăm năm mở miệng suông.

Viên đốn giáo không thường tình
Có nghi chẳng quyết phải phân minh
Chẳng phải sơn tăng thích nhân ngã
Tu hành sợ lạc hố đoạn thường

Phi chẳng phi, thị chẳng thị
Sai một mảy tơ mất ngàn dặm
Thị tức Long Nữ đốn thành Phật
Phi là Thiện Tinh sanh đọa lạc

Ta tuổi nhỏ đã gom học vấn
Cũng từng viết sớ, tìm kinh luận
Phân biệt danh tướng chẳng biết ngưng
Vào biển đếm cát tự khổ hận
Đáng bị Như Lai phải la trách
Đếm châu báu người có ích chi
Trước nay nắn nót uổng công hành
Nhiều năm làm mãi phong trần khách.

Chủng tánh tà, lầm hiểu biết
Chẳng đạt Như Lai viên đốn pháp
Nhị thừa tinh tấn thiếu đạo tâm
Ngoại đạo thông minh không trí huệ
Như ngu si, như trẻ nít
Trên nắm tay không sanh hiểu thật
Chấp (ngón) tay là nguyệt uổng thi công
Căn cảnh dụi mắt vọng thấy quái.

Chẳng thấy một pháp tức Như Lai
Mới được gọi là Quán Tự Tại
Rõ tức nghiệp chướng bổn lai không
Chưa rõ nợ xưa phải hoàn trả

Đói gặp tiệc vua không thể ăn
Bệnh ngờ y vương sao được khỏi
Dục giới hành thiền lực tri kiến
Sen sanh trong lửa rốt chẳng hoại
Dõng Thí phạm tội ngộ vô sanh
Sớm thành Phật đạo ở cõi này

Sư tử rống, thuyết vô úy
Thương thay người dày nặng căn khí
Chỉ cho phạm tội, chướng Bồ đề
Chẳng thấy Như Lai khai bí quyết

Có hai tỳ kheo phạm dâm sát
Lửa đóm Ba Li thêm tội buộc
Duy Ma đại sĩ đốn trừ nghi
Như mặt trời hừng tiêu sương tuyết

Chẳng nghĩ bàn, giải thoát lực
Diệu dụng hằng sa không cùng cực
Bốn sự cúng dường cảm công lao
Muôn lượng vàng ròng cũng tiêu được
Tan thân xương nát chưa đáp đền
Một câu thấu suốt siêu trăm ức.

Pháp này vua, là tối thắng
Hằng sa Như Lai đồng cùng chứng
Nay đây ta giải như ý châu
Người nào tin nhận đều tương ứng

Thấy rành rành, không một vật
Cũng không người, cũng không Phật
Thế giới ba ngàn bọt đại dương
Tất cả thánh hiền như điện phất

Giả sử vòng lửa quay trên tóc
Định huệ sáng tròn luôn chẳng mất
Nhật thành lạnh, nguyệt thành lò
Chúng ma không thể hoại chân thuyết
Xe voi vững tiến đường cao ngất
Làm sao bọ ngựa ngăn bước đi

Voi lớn không đi trên đường thỏ
Đại ngộ tự do, không tiểu tiết
Chớ dòm ống trúc, báng trời xanh
Chưa rõ ta vì anh xác quyết.

📙Ban dịch thuật Thiện Tri Thức.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4416/feed 0
THIỀN SƯ BÁC SƠN KHAI THỊ VỀ GIẢI NGỘ VÀ CHỨNG NGỘ https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412#respond Tue, 13 Jul 2021 01:51:41 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4412 THIỀN SƯ BÁC SƠN KHAI THỊ VỀ GIẢI NGỘ VÀ CHỨNG NGỘ.

Một chữ ngộ, môn hạ Tổ Sư gọi là thuốc độc, hãy còn chẳng lưu lại, huống là ngộ ư? Nay chẳng tránh phạm húy, mà nói đến chữ ngộ, khiến trí ngu có chỗ so chọn, tông giáo có chỗ phân chia, hành giả chẳng sa vào con đường hiểm trở, thật là sự giúp ích trên đường tu hành.

 

Luận về thiền có hai thứ ngộ môn: Một là từ trong văn tự ngữ ngôn được giải ngộ. Hai là từ trên phân minh tham cứu được triệt ngộ. Người giải ngộ sức yếu. Người triệt ngộ sức mạnh. Người giải ngộ như nghe người nói vật. Người triệt ngộ như chính con mắt mình thấy vật. Nghe, thấy tuy một, mà nghi và chẳng nghi, thật cách xa như trời với đất. Người từ trong văn tự giải chưa được triệt ngộ có hai thứ chướng: Một là văn tự chứng, hai là lý chướng. Văn tự chướng như người ăn mật, càng ăn càng thấy ngọt; tìm cầu chân lý sâu mầu ở trong mười hai phần giáo, không dính dáng gì với việc thoát ly sanh tử, cho nên gọi là chướng. Lý chướng nghĩa là thật tế đối với lý địa in tuồng rõ ràng, như toàn thân là châu báu song chẳng được thật dụng, đối với việc sanh tử cũng không dính dáng, cho nên gọi là chướng.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ, có hai thứ mạn: Một là ngã mạn, hai là tăng thượng mạn. Ngã mạn nghĩa là cho rằng ta đã ngộ, chúng sanh ở trong mê, như chỗ ta thấy, người khác chẳng biết, do đây khởi mạn. Tăng thượng mạn nghĩa là cho rằng ta đã vào địa vị Thánh, trên không không có Phật để cầu, dưới không có chúng sanh để độ, một chữ Phật ta chẳng thích nghe, do đây khởi mạn.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ áo hai thứ tâm khiếp nhược: Một là ta thấy lý đã tột, mà hạnh chẳng theo kịp, ở trong địa vị Hiền Thánh chưa được chỗ thực tiễn, do đây khởi tâm khiếp nhược. Hai là chỗ thấy của ta cùng Phật đồng mà thật chẳng được quả dụng Phật, nên ta không có diệu dụng thần thông quang minh, do đây khởi tâm khiếp nhược.

Người trong văn tự giải chưa được triệt ngộ, có hai thứ tưởng an ổn: Một là cho rằng thật tế lý địa chẳng thọ nhứt trần, núi sông đất đai chẳng ngại nhãn quang; lại nói: “Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư”, trong thể đại viên tìm sư sanh tử qua lại trọn chẳng thể được, do đây khởi tưởng an ổn. Hai là thấy lý tuy rõ mà chẳng thể thân chứng. Trong các giáo thừa phần đông quy hướng Tịnh Độ, cho rằng chỉ có niệm Phật vãng sanh là ổn đáng hơn hết, do đây khởi tưởng an ổn.

(Từ trên đến đây đều là thiền bệnh).

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải cho hai thứ thật thọ dụng: Một là được chư Phật hóa nghi. Hai là được chư Phật quả dụng. Hóa nghi nghĩa là trong cõi tịnh, cõi uế của chư Phật, quyến thuộc của Bồ tát, quyến thuộc Thanh văn, mây hương, mây hoa, mây tràng phan bảo cái và thiên long bát bộ cùng ta đồng đẳng không khác. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn. Hai là được chư Phật quả dụng, nghĩa là ba mươi hai tướng, tám mươi vẽ đẹp cho đến chín mươi bảy thứ và Pháp thân thanh tịnh và thần thông quang minh, thuyết pháp… cùng ta đồng đẳng, không hai, không khác. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải, đầy đủ diệu hạnh của các Bồ tát, nghĩa là chư Bồ tát quá khứ, chư Bồ tát vị lai, chư Bồ tát hiện tại, diệu hạnh các Ngài đã làm trong số kiếp bất khả thuyết thời đồng, xứ đồng, thân đồng, hạnh đồng, trong khoảng một sát na, một vị trần thảy đều đầy đủ. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ chẳng lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loại chúng sanh đồng một thể tánh, thân mình nhập vào thân người, thân người nhập vào thân mình, một thân nhập vào một thân, nhiều thân nhập vào một thân, thế giới kia nhập vào thế giới này, thế giới này nhập vào thế giới kia, thế giới nhập vào tự thân, tự thân nhập vào thế giới, nhập vào tự thân chẳng thấy có thế giới, nhập vào thế giới chẳng thấy có tự thân, nhiếp lẫn nhau, dung lẫn nhau, không hoại, không tạp. Lại ở trong phần chúng sanh đồng một bi ngưỡng. Lại ở trong phần chúng sanh khởi đồng thể đại bi, nghĩa là thiện và ác đều không tự tánh, đều là tự tâm hiện lượng, đã không có cảnh ngoài tâm, dùng vô tác để hứng từ vận bi chẳng ngại ở trong cái thể vô tánh mà giải thoát chúng sanh vô tánh. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.

Người quả thật triệt ngộ không lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loài chúng sanh đồng một huyễn hóa, nghĩa là duyên sanh vô tánh, sanh vốn vô sanh; vô tánh duyên sanh, chúng sanh đâu có thật như huyễn hóa, ta cùng với chúng sanh ở chung. Nếu chẳng như thế chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.
(Đoạn trên là nói sự thọ dụng của người ngộ tâm, chẳng phải người giải có thể biết).

Lại nữa, người từ trong ngữ ngôn giải nên không được triệt ngộ sanh ra vô biên cuồng giải; có người lấy “Hằng ngày việc không khác, chỉ ta tự biết hay” ma sanh cuồng giải. Có người lấy “theo dòng nhận được tánh, không mừng cũng không lo” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “thần thông và diệu dụng, gánh nước và bửa củi” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “đối cảnh tâm luôn khởi, Bồ đề làm sao lớn” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “núi sông và đất đai, toàn lộ thân pháp vương” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “vào cửa liền đánh” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “cơ phong đáp hỏi đầu môi lanh lợi” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “chẳng cần tham cứu, ngay đó lập tức gánh vác” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “vào cửa liền mừng” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “tập học thi phú từ chương, công xảo, kỹ nghiệp” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “buông bỏ lại buông bỏ, mở miệng tức là sai lầm” mà sanh cuồng giải.

Than ôi! Món ăn đề hồ được thế gian trân quý, gặp bọn người này trở thành thuốc độc. Do vì chánh pháp suy đồi, tà ma hưng thạnh quyến thuộc nối nhau đầy cả thế gian; người lưu tâm tới việc sanh tử chẳng thể chẳng trước tiên soi thấu cảnh giới hư vọng này.

Lại có ba câu Cát đằng chẳng thể nói trắng ra cho cư sĩ rõ. Cổ Đức nói:

1- Thế nào là thiền?
– Con khỉ leo cây quơ cái đuôi.

2- Thế nào là thiền?
– Lửa hực đổ thêm dầu.

3- Thế nào là thiền?
-Cục gạch.

Những lời này là cát đằng của Tổ Sư truyền, tuy nhiên phân minh như thế song nói với ông tưởng cũng rất khó.
(Đáp Thái sư Ngô Quán Ngã hỏi về sự khác nhau giữa Tông và Giáo).

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4412/feed 0
NGỘ TÁNH LUẬN – TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA https://thuonghylenien.org/luu-tru/4385 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4385#respond Thu, 14 Jan 2021 02:17:21 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4385

NGỘ TÁNH LUẬN – TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Khi mắt thấy sắc, chẳng nhiễm nơi sắc, khi tai nghe tiếng chẳng nhiễm nơi tiếng thì đều là giải thoát cả. Mắt chẳng vướng sắc, mắt là cửa Thiền, tai chẳng vướng tiếng, tai là cửa Thiền. Nói tóm, thấy sắc trước mắt mà thấy tánh của sắc, bèn chẳng vướng mà thường giải thoát. Còn nếu thấy tướng của sắc thì thường bị trói buộc,chẳng bị phiền não trói buộc đó gọi là giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác ngoài chuyện ấy. Khéo quán thấy sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm chẳng sanh sắc, tức là sắc và tâm đều thanh tịnh.

Khi không có vọng tưởng, một tâm là một cõi Phật, khi có vọng tưởng, một tâm là một địa ngục. Chúng sanh tạo tác vọng tưởng, dùng tâm sanh tâm nên thường ở địa ngục. Bồ tát quán sát vọng tưởng, chẳng lấy tâm sanh tâm, ắt tâm tâm nhập Không, niệm niệm về tĩnh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm, ắt tâm tâm chẳng tĩnh, niệm niệm về động, từ một địa ngục đến một địa ngục. Nếu một niệm tâm khởi, bèn có hai nghiệp, thiện ác, có thiên đường địa ngục. Nếu một niệm tâm chẳng khởi, tức là không có hai nghiệp thiện ác, cũng không có thiên đường địa ngục.

Thể thì chẳng phải có chẳng phải không. ở phàm là có, ở thánh là không. Thánh nhân không có tâm ấy nên thân tâm trống không, bao la như bầu trời.

Sau đây là sự chứng nhập Đại Đạo, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu và Tiểu thừa.

Khi tâm đắc Niết bàn thì chẳng thấy có Niết bàn. Vì sao thế ? Tâm là Niết bàn. Nếu ngoài tâm mà thấy Niết bàn, đó gọi là vướng mắc tà kiến.

Tất cả phiền não là hạt giống tâm Như Lai, vì do phiền não mà đắc trí huệ. Chỉ có thể nói phiền não sanh Như Lai, không thể nói phiền não là Như Lai. Thế nên, thâm tâm là ruộng đất, phiền não là hạt giống, trí huệ là mầm chồi, Như Lai ví như lúa đậu.
Phật ở trong tâm, như hương ở trong cây. Phiền não mà hết thì Phật từ tâm xuất hiện, mục nát mà hết thì hương từ cây phát ra. Tức biết ngoài cây không có hương, ngoài tâm không có Phật. Nếu ngoài cây có hương, đó là hương khác, ngoài tâm có Phật , đó là Phật khác.

Trong tâm có ba độc, đó gọi là cõi nước dơ xấu. Trong tâm không có ba độc, đó gọi là cõi nước thanh tịnh. Kinh nói: “ Nếu làm cho cõi nước chẳng tịnh, dơ xấu đầy dẫy, chư Phật Thế Tôn ở trong đó mà xuất hiện, thì không có chuyện ấy.” Chẳng tịnh, dơ xấu là vô minh ba độc vậy. Chư Phật Thế Tôn chính là tâm thanh tịnh giác ngộ vậy.

Tất cả ngôn ngữ không có cái gì chẳng phải là Phật Pháp. Nếu có thể không có gì để nói mà suốt ngày nói thì đó là đạo. Nếu có gì để nói mà suốt ngày im lặng thì cũng chẳng phải là đạo. Thế nên Như Lai nói mà chẳng dựa vào im, im mà chẳng dựa vào nói, nói cũng chẳng lìa im. Ngộ như vậy thì nói hay im đều ở trong Tam muội. Nếu biết thời mà nói, thì nói cũng giải thoát. Nếu không biết thời mà im, thì im cũng trói buộc. Thế nên nói mà lìa tướng, thì nói cũng là giải thoát, im mà bám tướng thì im tức là trói buộc. Bản tánh văn tự vốn giải thoát, văn tự chẳng hề làm ra trói buộc, trói buộc xưa nay chưa thành ra văn tự.

Pháp vốn không cao thấp, nếu thấy cao thấp thì không có Pháp vậy. Pháp chẳng phải là bè, nhưng pháp vì người mà làm bè. Người đi bè ấy thì vượt khỏi phi pháp, đó là pháp vậy.

Theo thế tục mà nói thì có nam nữ, sang hèn. Nơi đạo mà nói thì không có nam nữ, sang hèn. Do đó khi thiên nữ ngộ đạo chẳng đổi thay hình nữ, Xa Nặc hiểu chân, không đổi cách xưng hô. Cái ấy chẳng phải nam nữ sang hèn, đều là Một Tướng vậy. Thiên nữ trong mười hai năm tìm cầu tướng nữ mà rốt ráo chẳng thể được, tức cũng biết trong mười hai năm cầu tướng nam cũng chẳng thể được. Mười hai năm tức là mười hai nhập vậy.

Lìa tâm không có Phật, lìa Phật không có tâm, cũng như lìa nước thì không có băng, lìa băng thì không có nước. Nói là lài tâm, chẳng phải là lìa bỏ tâm, chỉ bảo chớ bám mắc tướng của tâm. Kinh nói: “ Chẳng thấy tướng gọi là thấy Phật.” Tức là lìa tướng của tâm vậy.

Nói lìa tâm không có Phật là nói Phật từ tâm xuất, tâm có thể sanh Phật. Nhưng Phật từ tâm sanh, mà tâm chưa từng sanh ra Phật. cũng như cá sanh trong nước, nhưng nước chẳng sanh ra cá. Muốn thấy cá thì chưa thấy cá mà thấy nước trước. Muốn thấy Phật thì chưa thấy Phật mà thấy tâm trước. Tức biết để thấy cá phải quên nước, để thấy Phật phải quên tâm. Nếu chẳng quên tâm thì bị tâm làm cảm xúc, nếu chẳng quên nước thì bị nước làm mê.

Chúng sanh và Bồ đề (giác ngộ) cũng như băng và nước. Bị ba độc thiêu đốt thì gọi là chúng sanh, do ba giải thoát môn mà thanh tịnh, gọi là Bồ đề. Bị ba mùa Đông đông cứng gọi là băng, do ba mùa hè làm tiêu, gọi là nước. Nếu bỏ băng thì không có riêng nước, nếu bỏ chúng sanh thì không có riêng Bồ đề. Phải rõ biết tánh băng tức là tánh nước, tánh nước tức là tánh băng. Tánh chúng sanh tức là tánh Bồ đề. Chúng sanh và Bồ đề đồng một tánh, cũng như ô đầu và phụ tử cùng một rễ, chỉ có thời tiết chẳng đồng. Mê thì thấy cảnh khác nhau, nên có hai tên chúng sanh và Bồ đề. Cho nên rắn hóa rồng chẳng đổi vảy, phàm biến thành thánh, chẳng thay đổi mặt, chỉ là trí huệ tỏ rõ tâm ở bên trong, giới hạnh soi chiếu thân ở bên ngoài.

Quả thật, chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, gọi là bình đẳng. Chúng sanh độ Phật là phiền não sanh hiểu ngộ. Phật độ chúng sanh là hiểu ngộ diệt phiền não. Thế nên biết rằng chẳng phải không có phiền não, chẳng phải không có hiểu ngộ. Thế nên biết rằng chẳng phải phiền não không có mà sanh được hiểu ngộ, chẳng phải hiểu ngộ không có mà diệt được phiền não.

Nếu khi mê thì Phật độ chúng sanh. Nếu khi ngộ thì chúng sanh độ Phật. Vì sao thế? Phật chẳng tự thành, đều do chúng sanh độ vậy. Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh, tham ái đều là tên khác của chúng sanh. Chúng sanh cùng vô minh cũng như tay trái với tay phải, bèn chẳng khác vậy.

Khi mê thì ở bờ bên này, khi ngộ thì ở bờ bên kia. Nếu biết tâm là Không, chẳng thấy tướng, liền lìa mê, ngộ. Đã lìa mê ngộ, cũng không có bờ kia. Như Lai chẳng tại bờ này cũng chẳng ở bờ kia, chẳng ở giữa dòng, giữa dòng là người Tiểu thừa. Bờ này là người phàm phu. Bờ kia là Bồ đề.

Phật có ba thân: hóa thân, báo thân, pháp thân. Hóa thân cũng gọi là Ứng thân. Nếu chúng sanh khi hiện làm thiện tức là hóa thân, khi hiện ra trí huệ là báo thân, hiện giác vô vi tức là pháp thân. Thường hiện bay khắp mười phương tùy nghi cứu giúp là hóa thân Phật. Nếu đoạn mê lầm thị hiện ở Tuyết sơn thành đạo là báo thân Phật. Không lời không nói, không làm không đắc, trong lặng thường trụ là pháp thân Phật vậy. Nếu luận cho cùng thì một Phật còn không có, huống gì là ba. Ba thân này chỉ y cứ trên trí người vậy.

Người có ba hạng thượng, trung, hạ. Người hạ trí vọng tạo phước đức, vọng thấy hóa thân Phật. Người thượng trí vọng chứng Bồ đề, vọng thấy pháp thân Phật. Người thượng thượng trí nội chiếu tròn lặng, rõ tâm là Phật, không dùng tâm mà đắc trí Phật, biết ba thân cùng vạn pháp đều chẳng thể nắm, chẳng thể nói. Đây là tâm giải thoát, trọn thành đại đạo. Kinh nói: “ Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh, chẳng chứng Bồ đề.” Đây là như vậy.

Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp chẳng tạo chúng sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau lãnh nhận quả báo, không thể tránh khỏi. Chỉ có người hoàn hảo, ở nơi thân này không tạo các nghiệp nên chẳng nhận quả báo. Kinh nói: ” Các nghiệp không tạo, tự nhiên đắc đạo.” Đó là lời hư vọng sao?

Người hay tạo nghiệp, nhưng nghiệp chẳng thể tạo ra người. người nếu tạo nghiệp thì nghiệp và người cùng sanh. Người nếu không tạo nghiệp, nghiệp và người cùng diệt. Thế nên biết, nghiệp do người tạo, người do nghiệp sanh. Người nếu không tạo nghiệp, thì nghiệp không do đâu mà sanh ra người. Cũng như người có thể hoằng đạo, đạo chẳng thể hoằng người.

Ngày nay phàm phu, mỗi mỗi tạo nghiệp, vọng nói là không có quả báo. Há chút ít chẳng có khổ sao? Nếu lý luận chút ít, thì tâm trước tạo nghiệp, tâm sau chịu báo, làm sao mà thoát? Nếu tâm trước không tạo, tức tâm sau không có quả báo. Chớ có hiểu sai nghiệp báo.

Kinh nói : “ Dù tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến. Dù tin có Phật mà nói Phật có quả báo xấu tốt thì tin ấy chẳng đầy đủ, gọi là nhất xiển đề.”

Hiểu thánh pháp gọi là thánh nhân, hiểu phàm pháp gọi là phàm phu. Chỉ xả bỏ pháp phàm, thành tựu pháp thánh, tức phàm phu thành thánh nhân vậy. Người ngu trong thế gian chỉ muốn cầu thánh nhân ở xa mà không tin tâm trí huệ hiểu biết này là thánh nhân. Kinh nói: “ Trong những người vô trí chớ nói kinh này.” Kinh nói: “ Tâm là pháp vậy.” Người vô trí chẳng tin tâm này, hiểu pháp là nằm nơi thánh nhân, chỉ muốn đi ngoài xa cầu học, yêu thích tượng Phật, quang minh, hương sắc… các thứ giữa hư không, đều sa vào tà kiến, mất tâm thành cuồng loạn.

Kinh nói: “ Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai.” Tám vạn bồn ngàn pháp môn, tất cả đều do Một Tâm mà khởi. Nếu bên trong, tướng của tâm thanh tịnh như hư không, bèn ra khỏi thân tâm bên trong.

Tám vạn bốn ngàn phiền não là gốc bệnh. Phàm phu đang sống mà lo chết, đang no mà sầu đói, đều là mê lầm lớn. Thánh nhân thì chẳng mưu tính tương lai, chẳng lo quá khứ, không bám luyến nơi hiện tại, niệm niệm đều vào trong Đạo. Nếu chưa ngộ được chân lý lớn lao này, nên sớm cầu thiện tri thức của trời người, chớ để mất cả hai.

Đạt Ma đại sư Ngộ Tánh Luận. –

( Hôm trước Ban biên tập Tại đây và Bây giờ đã dịch phần đầu Ngộ Tánh Luận, đến đây là chấm dứt Luận này).

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4385/feed 0
TÂM: MÊ VÀ NGỘ – NGỘ TÁNH LUẬN (BỒ ĐỀ ĐẠT MA) https://thuonghylenien.org/luu-tru/4382 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4382#respond Thu, 14 Jan 2021 02:13:43 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4382 TÂM: MÊ VÀ NGỘ – NGỘ TÁNH LUẬN (BỒ ĐỀ ĐẠT MA)

Đạo thì lấy tịch diệt làm thể, tu thì lấy lìa tướng làm tông. Thế nên Kinh nói: “Tịch diệt là Bồ đề (Giác ngộ), vì diệt các tướng vậy”. Phật là giác vậy. Người có tâm giác, đắc đạo giác ngộ, nên gọi là Phật. Kinh nói: “Lìa tất cả tướng gọi là chư Phật”. Thế nên hãy biết rằng có tướng là tướng của vô tướng, chẳng có thể lấy mắt mà thấy, chỉ có thể dùng trí mà biết. Nếu nghe Pháp này mà sanh một niệm tín tâm, người này đã phát Đại thừa, siêu vượt ba cõi.

 

Ba cõi là tham sân si. Ngược lại với tham sân si là giới định huệ, gọi là siêu vượt ba cõi. Nhưng tham sân si cũng không có thật tánh, chỉ nương nơi chúng sanh mà nói. Nếu có thể chiếu soi trở lại thì thấy rõ ràng tánh của tham sân si chính là Phật tánh. Ngoài tham sân si thì không có Phật tánh riêng khác. Kinh nói “Chư Phật từ xưa nay, thường ở nơi ba độc trưởng dưỡng pháp trắng sạch mà thành Thế Tôn”. Ba độc là tham sân si vậy.

 

Nói Đại thừa là Tối thượng thừa, đều là chỗ hành của Bồ tát. Không có chỗ nào chẳng thừa, cũng không có chỗ nào thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa. Đó là Phật thừa. Kinh nói “Không có thừa là Phật thừa”.

 

Nếu có người biết sáu căn chẳng thật, năm uẩn là giả danh, thế thì ở khắp nhưng tìm cầu thì không có chỗ cố định, nên biết người ấy hiểu được lời Phật. Kinh nói: “Hang động năm uẩn gọi là thiền viện, soi chiếu vào trong mà mở tỏ tức là cửa Đại thừa”. Há chẳng rõ ràng sao?

 

Chẳng nhớ nghĩ tất cả pháp thì gọi là thiền định. Biết tâm là Không gọi là thấy Phật. Vì sao thế? Mười phương chư Phật đều là vô tâm. Không thấy có tâm gọi là thấy Phật.

 

Bỏ thân không tiếc gọi là đại bố thí. Lìa các động tịnh gọi là đại tọa thiền. Vì sao thế? Phàm phu một mực hướng động, Tiểu thừa một mực hướng định. Tọa thiền vượt khỏi phàm phu và Tiểu thừa gọi là đại tọa thiền. Nếu hiểu được chuyện này, tất cả các tướng chẳng cầu mà tự giải thoát, tất cả các bệnh chẳng trị mà lành. Đây đều là lực đại thiền định.

 

Hể đem tâm cầu pháp là mê, chẳng đem cầu pháp là ngộ, không vướng chữ nghĩa gọi giải thoát, không nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp (bảo vệ, giữ gìn Pháp), ra khỏi sanh tử gọi là xuất gia, chẳng chịu đời sau gọi là đắc đạo, vọng tưởng chẳng sanh gọi là Niết bàn, chẳng chứa vô minh là đại trí huệ, không có chỗ cho phiền não gọi là Bát Niết bàn, không cso chỗ cho tâm và tướng gọi là bờ bên kia.

 

Mê thì có bờ bên này, ngộ thì không có bờ bên này. Vì sao thế? Vì phàm phu cứ một mực trụ ở bên này. Nếu giác tối thượng thừa, tâm chẳng trụ bên này cũng chẳng trụ bên kia, cho nên có thể lìa bờ này bờ kia. Nếu thấy bờ này khác với bờ kia, tâm người ấy chưa được không thiền định.

 

Phiền não gọi là chúng sanh, ngộ gọi là Bồ đề, cũng chẳng một chẳng khác, chỉ do mê ngộ mà cách nhau. Mê thì có thế gian để ra khỏi, ngộ thì không có thế gian nào để ra khỏi.

 

Trong pháp bình đẳng chẳng thấp phàm phu khác với thánh nhân. Kinh nói: “Pháp bình đẳng thì phàm phu chẳng thể nhập, thánh nhân chẳng thể hành”. Pháp bình đẳng duy chỉ Đại Bồ tát cùng chư Phật hành. Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tịnh, đều gọi là chẳng bình đẳng. Chẳng thấy phiền não khác với Niết bàn gọi là bình đẳng. Vì sao thế? Phiền não và Niết bàn cùng một tánh Không vậy.

 

Bậc Tiểu thừa do vọng đoạn phiền não, vọng nhập Niết bàn, bèn bị Niết bàn làm ngưng đọng. Bồ tát biết phiền não vốn tánh Không, tức chẳng lìa Không nên thường ở Niết bàn. Niết bàn này, Niết là chẳng sanh, Bàn là chẳng tử. Ra khỏi sanh tử, ngoài Bát Niết bàn, tâm không đến đi tức là nhập Niết bàn. Thế nên biết Niết bàn tức là tâm không. Chư Phật nhập Niết bàn là ở chỗ không có vọng tưởng. Bồ tát nhập đạo tràng, đó là chỗ không có phiền não.

 

Chỗ trống rỗng rảnh rang tức là không có tham sân si vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô sắc. Nếu một niệm tâm sanh tức vào ba cõi, một niệm tâm diệt tức ra ba cõi. Thế mới biết ba cõi sanh diệt, muôn pháp có không, đều do một niệm. Nói “pháp” tức là gồm cả những vật vô tình như gạch ngói, đá, cỏ cây.

 

Nếu biết tâm là giả danh, không có thật thể, tức biết tự tâm mình cũng chẳng phải là có, cũng chẳng phải là không. Vì sao thế? Phàm phu một bề sanh tâm, đó gọi là có. Tiểu thừa một bề diệt tâm, đó gọi là không. Bồ tát và Phật chưa từng sanh tâm, chưa từng diệt tâm, gọi là tâm chẳng phải có chẳng phải không. Tâm chẳng phải có chẳng phải không, đó gọi là Trung đạo. Thế nên biết lấy tâm để học pháp thì tâm, pháp đều mê. Không lấy tâm để học pháp thì tâm, pháp đều ngộ. Phàm mê là mê trong cái ngộ, ngộ là ngộ nơi cái mê. Người chánh kiến thì biết tâm không một vật, liền siêu vượt mê ngộ. Không có mê ngộ mới gọi là hiểu chân chánh.

 

Cái thấy chân chánh là sắc chẳng tự là sắc, do tâm nên có sắc; tâm chẳng tự là tâm, do sắc nên có tâm. Thế nên biết hai tướng tâm và sắc đều sanh diệt. Có là có đối với không, không là không đối với có. Đó là thật thấy. Phàm cái thấy chân thật thì không có cái gì chẳng thấy, mà cũng chẳng không thấy cái gì, thấy đầy khắp mười phương mà chưa từng thấy. Vì sao thế? Vì không có chỗ thấy, thấy không chỗ thấy, thấy mà chẳng thấy vậy. Chỗ thấy của phàm phu, đều là vọng tưởng. Nếu tịch diệt không có cái thấy, đó mới gọi là cái thấy chân thật.

 

Tâm cảnh đối nhau, cái thấy sanh ra ở giữa. Nếu trong không khởi tâm, thì ngoài không sanh cảnh; cảnh và tâm đều tịnh, gọi là cái thấy chân thật. Khi hiểu như vậy, thì gọi là hiểu biết chân chánh.

 

Chẳng thấy tất cả pháp bèn gọi là đắc đạo. Chẳng hiểu tất cả pháp bèn gọi là hiểu pháp. Vì sao thế? Thấy cùng chẳng thấy đều là không thấy. Hiểu cùng chẳng hiểu đều là không hiểu. Cái thấy của không thấy bèn gọi là thấy chân thật. Cái hiểu của không hiểu mới gọi là hiểu lớn.

 

Phàm chánh kiến thì chẳng phải thấy ngay nơi cái thấy, mà là thấy nơi chẳng thấy. Hiểu chân thật thì chẳng phải hiểu ở nơi cái hiểu, mà là hiểu nơi không có cái hiểu. Có chỗ để hiểu đều là chẳng hiểu. Không có chỗ hiểu mới gọi là hiểu chân chánh. Hiểu và chẳng hiểu đều là chẳng phải hiểu. Kinh nói: “Không bỏ trí huệ gọi là ngu si”. Vì tâm là Không, nên hiểu và chẳng hiểu đều là chân. Nếu tâm là có, thì hiểu và chẳng hiểu đều là vọng.

 

Khi hiểu thì pháp chạy theo người, khi không hiểu thì người chạy theo pháp. Nếu pháp theo người ắt phi pháp cũng thành pháp. Nếu người theo pháp ắt pháp cũng thành phi pháp. Nếu người theo pháp ắt pháp đều vọng. Nếu pháp theo người thì pháp đều chân. Thế nên thánh nhân không đem tâm cầu pháp, cũng chẳng đem pháp cầu tâm, cũng chẳng đem pháp cầu pháp. Do đó tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm, tâm và pháp cả hai đều tịch diệt, thế nên thường ở trong định.

 

Tâm chúng sanh mà sanh, ắt Phật pháp diệt. Tâm chúng sanh diệt ắt Phật pháp sanh. Tâm hể sanh thì chân pháp diệt, tâm diệt thì chân pháp sanh. Đã biết tất cả các pháp mỗi mỗi đều chẳng dính mắc nhau, đó gọi là người đắc đạo. Biết tâm chẳng dính mắc tất cả pháp, người này thường ở trong đạo tràng.

 

Mê thì có tội, hiểu thì vô tội! Vì sao thế? Tánh của tội vốn không vậy. Nếu mê thì không có tội mà thấy ra tội; nếu hiểu thì nơi tội mà chẳng phải tội. Vì sao thế? Tội không có xứ sở vậy. Kinh nói: “Các pháp không có tánh”. Hãy dùng ngay cái tánh Không này, chớ có nghi. Nghi tức thành tội. Vì sao thế? Tội do nghi ngờ mà sanh. Nếu hiểu như vậy, tội nghiệp đời trước liền bị tiêu diệt.

 

Mê thì sáu thức năm uẩn đều là pháp sanh tử phiền não, ngộ thì sáu thức năm uẩn đều là pháp Niết bàn không sanh tử.

 

Người tu đạo không cầu đạo ở ngoài. Vì sao thế? Vì biết tâm là đạo. Nếu đắc tâm bèn không có tâm để đắc. Nếu đắc đạo bèn không có đạo để đắc. Nếu nói đem tâm cầu đạo mà đắc, đều gọi là tà kiến. Mê thì có Phật, có Pháp; ngộ thì không Phật không pháp. Vì sao thế? Ngộ tức là Phật pháp.

 

Phàm tu đạo thì thân diệt đạo thành, như vỏ cây bóc khỏi thân cây. Thân do nghiệp báo này, niệm niệm vô thường, không có pháp nhất định. Chỉ theo niệm mà tu, cũng chẳng được ghét sanh tử, cũng chẳng được yêu sanh tử. Chỉ trong mỗi niệm mỗi niệm chẳng có vọng tưởng thì khi sống chứng Niết bàn Hữu dư, chết nhập Vô sanh pháp nhẫn.

 

Ban Biên Tập Tại Đây Và Bây Giờ dịch

(Ảnh: Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma làm bằng tóc phật tử tại Tây Tạng Tự – Bình Dương ,Pho tượng đã được công nhận là kỷ lục Việt Nam và đang được đề xuất kỷ lục Châu Á.)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4382/feed 0
Tư Tưởng Không Của Phật Giáo Đại Thừa – Thích Hạnh Bình https://thuonghylenien.org/luu-tru/4380 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4380#respond Thu, 14 Jan 2021 02:08:43 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4380 Tư Tưởng Không Của Phật Giáo Đại Thừa – Thích Hạnh Bình

1 Dẫn luận

 

Có không ít nhà nghiên cứu về triết học ‘tánh không’ (§ènyatˆ) của Long Thọ (NŒgŒrjuna) thường đứng từ 2 góc độ để phân tích lý giải hệ thống triết học này. Thứ nhất, những người chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc thường vay mượn triết học Lão Trang lý giải triết học Long Thọ; thứ hai những ai chịu ảnh hưởng Triết học Tậy Phương bèn sử dụng cách phân tích Triết học của Tây phương để giải thích triết học Long Thọ. Theo tôi cả hai cách này đều không thể làm sáng tỏ tư tưởng của Long Thọ. Với lý do bối cảnh ra đời triết học §ènyatˆ của Long Thọ là sự phản biện các hệ thống triết học trước đó của Ấn độ, nhất là chủ trương ‘thật có’ (bhˆva) của phái Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Sarvˆstivˆdin), do vậy, nó không liên quan đến hai loại triết học Trung Quốc và Tây phương.

 

Để cho tư tưởng của Long Thọ được trong sáng và rõ ràng, theo tôi cách hay nhất không nên vay mượn bất cứ một loại văn hoá hay hệ thống triết học nào lý giải hệ thống triết học ‘không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa, cần trả nó trở về với bối cảnh lịch sử của nó, để tìm hiểu lý do tại sao Long Thọ lại đưa ra hệ thống triết học của mình, đối tượng mà Long Thọ phê phán là ai?hệ thống triết học đó là gì?Nó là câu trả lời chính xác nhất trong việc tìm hiểu tư tưởng Long Thọ hay nói đúng hơn là hệ tư tưởng của Phật giáo Đại thừa.

 

Thế thì câu hỏi được đặt ra ở đây là: Bối cảnh lịch sử hay nguyên nhân nào dẫn đến sự xuất hiện tư tưởng của Long Thọ ? Nếu chúng ta đứng góc độ lịch sử nhìn về quá trình phát triển của Phật giáo Ấn độ, nó cho chúng ta thấy rõ rằng, tư tưởng ‘thật hữu’ của Hữu Bộ là nhân tố dẫn đến sự hình thành tư tưởng ‘tánh không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa. Nói một cách khác, đối tượng mà Phật giáo Đại thừa hay Long Thọ phê phán chính là Hữu Bộ. Điều này phù họp với bài kệ Tổng luận của Long Thọ được ghi trong tác phẩm “Trung Luận”. ‘bát bất’ là đối tượng phê phán của Long Thọ, trong đó có cả Hữu Bộ. Do vậy, để hiểu rõ về tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ), trước tiên chúng ta phải tìm hiểu lập trường và quan điểm của Hữu Bộ. Mặt trái của quan điểm ‘thật hữu’ là ý nghĩa khái niệm §ènyatˆ của Long Thọ. Khái niệm , này nó vốn không tương đồng với khái niệm ‘vô’ (無) của Lão Trang, cũng như khái niệm ‘không’ trong tiếng Việt, do vậy không nên vay mượn 2 khái niệm để hiểu về khái niệm ‘§ènyatˆ’. Đây là điểm chúng ta cần chú ý. Nếu không làm như vậy, điều đó chẳng khác nào như chúng ta tìm hiểu khái niện Phật (Buddha) trong Kinh Thánh. của đạo Ki Tô giáo hay tìm hiểu khái niệm God trong Kinh Phật.

 

Trong bài viết này, người viết phân tích tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại thừa bằng phương pháp so sánh giữa hai hệ tư tưởng ‘hữu’ và ‘không’, đối chiếu một số từ giữa dịch bản Hán văn và nguyên bản Phạn văn có liên quan đến chủ đề thảo luận. Đây là nội dung và phương pháp nghiên cứu của bài viết này.

 

2. Khái quát về bối cảnh lịch sử
trước khi tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ) xuất hiện

 

Phật giáo Ấn độ được phân chia làm 3 giai đoạn: 1. Phật giáo Nguyên thủy: 2. Phật giáo Bộ phái; 3. Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại thừa được xuất hiện vào giai đoạn thứ 3 thuộc Phật giáo Đại thừa, sau thời kỳ Phật giáo Bộ phái. Sự xuất tư tưởng này không phải tự nhiên mà có, nó bắt nguồn từ Phật giáo nguyên thủy, trải qua Phật giáo Bộ phái cho đến Phật giáo Đại thừa mới thật sự trổ quả.

 

Theo các nhà tư tưởng đương thời cho rằng, bản thân giáo lý của đức Phật có hai học thuyết mâu thuẫn lẫn nhau là thuyết ‘vô ngã’ và ‘nhân quả nghiệp báo’. Nếu như chấp nhận học thuyết ‘vô ngã’ (anˆtmam) thì không thể chấp nhận thuyết ‘nhân quả nghiệp báo’, vì không có chủ thể tạo tác thì làm gì có chủ thể thọ nhận kết quả và ngược lại. Đây chính là lý do mà nhiều lần ngoại đạo đã trực tiếp hoặc gián tiếp cật vấn đức Phật về điểm này, thế nhưng tất cả đều bị Thế Tôn từ chối bằng thái độ giữ im lặng, những vấn đề siêu hình1 là một ví dụ cụ thể. Trong đó, nghi vấn: Thân (nhục thể) và mạng (linh hồn) là một hay khác ? Thật ra, câu hỏi này muốn hỏi đức Phật rằng, nếu như Ngài cho là thân và mạng là một, điều đó có nghĩa sau khi thân hoại mạng chung, linh hồn cũng theo đó hủy diệt. Như vậy, chủ trương của Ngài cùng với phái có chủ trương ‘đoạn diệt’2 của ngoại đạo giống nhau, thế thì tại sao Ngài còn đưa ra thuyết ‘nhân quả nghiệp báo’ ? Ngược lại, nếu như Ngài cho rằng, ‘thân và mạng là khác’. Điều đó có nghĩa, sau khi chết, thân thể hoại diệt, nhưng linh hồn vẫn tồn tại. Như vậy, quan điểm này đồng nghĩa với thuyết ‘Phạm ngã đồng nhất thể’ của Bà la Môn, cho rằng ‘ngã’ (Œtman) là vĩnh hằng, thế thì tại sao Ngài lại đưa ra thuyết ‘Vô ngã’ (anˆtman), điều đó có nghĩa gì ? Phải chăng chính trong những học thuyết của Ngài tồn tại sự mâu thuẫn3 ? Cho dù được giải thích như thế nào đi nữa, trên thực tế, ở thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy những hoài nghi về những vấn đề siêu hình này vẫn chưa được giải thích. Theo người viết, những vấn đề này chính là nhân tố hình thành các hệ tư tưởng của giai đoạn Phật giáo Bộ phái.

 

Trong Phật giáo Bộ phái, quan điểm tư tưởng cho rằng ‘Ngã pháp hằng hữu’ (我法恆有)4 của phái Độc Tử Bộ (VŒts´putr´ya); hay chủ trương ‘Quá khứ vị lai vô, hiện tại vô vi hữu’(過去未來無,現在無為有)5 của phái Hoá Địa Bộ; hay chủ trương: ‘Ngã vô pháp hữu’(我無法有) 6của phái Thuyết Nhất thiết Hữu Bộ (SarvŒstivŒdin) là những câu trả lời khác nhau cho những vấn đề siêu hình mà trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy đức Phật giữ thái độ im lặng.

 

Theo lịch sử tư tưởng của Phật giáo, một trong 3 phái vừa đề cập, quan điểm tư tưởng của phái Hữu bộ chính là nhân tố dẫn đến sự hình thành tư tưởng của Phật giáo Đại thừa, bao gồm quan điểm tư tưởng: ‘Nhứt thiết pháp giai không’ (一切法皆空) của kinh Bát Nhã (般若經) hay tư tưởng: ‘Duyên khởi tánh không’ (緣起性空) của Long Thọ. Nếu như quan điểm này là phù hợp với sự thật lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn độ, thì tư tưởng ‘Ngã không pháp hữu’ của Hữu Bộ như thế nào để hình thành tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại Thừa ? Theo các nhà Hữu bộ giải thích, ‘Ngã không’ là cái mà Độc Tử bộ gọi là ‘ngã’ hay ‘Bổ-đặc-già-la (pudgala) là không có thật, tức phủ nhận ‘ngã’ không tồn tại; ‘Pháp hữu’ là chỉ cho bản thể của các pháp đều là thật có, không phải là giả. Quan điểm ‘có’ này, các nhà Hữu bộ cho rằng có hai loại: 1. ‘Tam thế thật hữu’(三世實有), có nghĩa là phái này không đồng tình chủ trương: ‘Quá khứ vị lai vô, hiện tại hữu’ của phái Hóa Địa, ngược lại Hữu bộ cho rằng, không phải chỉ có hiện tại là có thật mà ngay cả quá khứ và vị lai cũng có thật; 2. ‘Pháp thể hằng tồn’ (法體恆存), cho rằng bản chất của các pháp là thật có, không phải là giả có. Nếu chúng ta căn cứ vào các luận7 của Hữu bộ, cụ thể là “Thức Thân Túc Luận”, luận này sẽ cho chúng ta hiểu rõ điểm này. Các nhà Hữu bộ phản bác tư tưởng ‘Quá khứ vị lai vô’ của Hoá Địa bộ bằng cách căn cứ lời Phật dạy làm cơ sở lý luận. Nếu như chúng ta cùng chấp nhận lời khuyên của đức Phật: “Trong quá khứ ta tu tập như vậy, cho nên ta chứng đắc như vậy. Cũng vậy, nay các Tỷ kheo cũng tu tập như vậy trong tương lai cũng sẽ chứng đắc như vậy”. Các nhà Hữu bộ đi đến kết luận, trong lời dạy này, rõ ràng đức Phật xác nhận có quá khứ hiện tại và tương lai. Nếu không có khái niệm thời gian về ‘quá khứ hiện tại và vị lai’ thì khái niệm ‘chứng đắc’, ‘thành tựu’ hay ‘nhân quả’ trở thành vô nghĩa, vì không có ‘quá khứ’ thì làm gì có ‘hiện tại’,; không có ‘hiện tại’ thì làm gì có ‘tương lai’. Như vậy khái niệm quá khứ hiện tại và vị lai là có thật, không phải là giả có.

 

Ngoài xác định khái niệm về thời gian là có thật, các nhà Hữu bộ tiếp tục xác định ‘bản chất của các pháp là thật có’. Cái mà các nhà Hữu bộ cho là ‘thật có’ đó, nó không phải là những hiện tượng mà chúng ta có thể trông thấy, xúc chạm được mà là bản chất hay bản tánh của chúng, tức là những yếu tố để hình thành sự vật. Thế thì cái gì gọi là ‘bản chất’ của sự vật ? là tứ đại: (1) đất, (2) nước, (3) gió, (4) lửa, không phải là cái do tứ đại tạo ra, vì cái do tứ đại tạo ra như là con người, nhà cửa, xe cộ.v.v…thì những cái ấy là giả tạo, do nhân duyên hợp thành. Nhưng cái tạo ra những hiện tượng này là thật, nó là bản chất của sự vật. Nếu như bản chất này là giả là không thì vạn pháp không từ đâu mà có. Theo các nhà Hữu bộ, cái thật đó chính là ‘tứ đại’ hay còn gọi là ‘cực vi’ (paramˆnu) là đơn vị nhỏ nhất, không còn cái gì nhỏ hơn nó nữa, cái ấy là thật. Từ những cực vi này hình thành vạn sự vạn vật trên thế gian. Nhưng làm thế nào kết cấu những cực vi này hình thành các pháp ? Để giải đáp cho vấn đề này, các nhà Hữu bộ không thể lấy thuyết ‘Duyên khởi’ (prat´ya-samutpˆda), vì lý thuyết này mang tính nguyên tắc khái quát, chưa cụ thể, càng không thể sử dụng lý thuyết 12 nhân duyên, vì thuyết này chuyên giải thích về mặt tâm lý, do đó các nhà Hữu bộ hình thành lý thuyết 6 nhân8 4 duyên 9để lý giải sự hình thành vạn hữu. Đó chính là lý do tại sao Long Thọ trong tác phẩm “Trung Luận” của mình, phẩm thứ nhất: ‘Quán Nhân duyên’ với nội dung, Long Thọ đã phản bác lý thuyết ‘Nhân duyên’ (pratyaya), là từ viết tắc của lý thuyết 6 nhân 4 duyên này.

 

Như vậy quan điểm và chủ trương của phái Hữu bộ, nó là lý thuyết dẫn đến sự hình thành tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa. Nói một các khác, lý thuyết ‘Tam thế thực hữu, pháp thể hằng tồn’ của Hữu bộ là đối tượng phê phán của Phật giáo Đại thừa. Do vậy chúng ta muốn hiểu tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại thừa không thể vay mượn bất cứ loại văn hoá tư tưởng nào, để lý giải tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Ngược lại, người nghiên cứu cần tìm hiểu tư tưởng ‘thật hữu’ (bhˆva) của Hữu bộ để hiểu về tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa.

 

3. Tư tưởng ‘không’ trong hệ Bát Nhã

 

Theo người viết, tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa được chia thành hai giai đoạn. 1. Tư tưởng ‘nhứt thiết pháp giai không’ trong các kinh điển thuộc hệ Bát Nhã; 2. Tư tưởng ‘Duyên khởi tánh không’ của Long Thọ. Ở đây, trước tiên chúng ta tìm hiểu tư tưởng ‘nhứt thiết pháp giai không trong kinh Bát Nhã.

 

1. Tư liệu

 

Theo Lữ Trưng10 Phật giáo Đại thừa chia làm 3 giai đoạn: (1). Sơ kỳ Đại thửa Phật giáo; (2). Trung kỳ Đại thừa Phật giáo; và (3). Hậu kỳ Đại thừa Phật giáo. Mỗi thời kỳ Phật giáo đều có những kinh luận khác nhau. Ở đây, chủ đề mà chúng ta đang thảo luận là tìm hiểu ý nghĩa khái niệm ‘không’ trong Phật giáo Đại thừa, điều đó có nghĩa là chúng ta thảo luận đến thời kỳ thứ nhất của Phật Đại thừa. Nguồn tư liệu chính trong thời kỳ này là cá c kinh điển thuộc hệ ‘Bát Nhã’. Tư tưởng chủ yếu của hệ kinh điển này là ‘tất cả pháp đều không’ (一切法皆空), sau đó phát triển thành “Bảo Tích”, “Hoa Nghiêm”, “Pháp Hoa”, “Duy Ma Cật” là những bộ kinh có nguồn gốc tư tưởng từ Kinh Bát Nhã. Sau đó, người kế thừa và xiển dương tư tưởng ‘không’ này chính là Bồ tát Long Thọ (Nˆgˆrjuna). Để cho công việc hoằng dương của mình được thuận duyên, trước tiên Bồ tát chú thích “Kinh Bát Nhã” thành “Đại Trí Độ Luận” (大智度論). Nếu như trong Kinh Bát Nhã những vấn đề thảo luận và phân tích vẫn còn dè dặt, không trực tiếp, thì ngược lại trong tác phẩm chú thích này, Bồ tát Long Thọ công khai và trực tiếp chỉ trích các lý luận của các bộ phái, nhất là phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Từ tư tưởng của tác phẩm chú thích này, Long Thọ tiếp tục viết nhiều tác phẩm khác nữa, trong đó tác phẩm nổi bật là “Trung Luận” (Mādhyamaka, Mādhyamika), với nội dung Bồ Tát đứng từ lập trường tư tưởng ‘Duyên khởi’ (prat´tya-samutpˆda) thuyết minh các pháp vốn là ‘không’, vì chúng không có tướng cố định, cho nên gọi là ‘duyên khởi tánh không’. Từ góc độ này Long Thọ phản bác những quan điểm tư tưởng khác của ngoại đạo, trong đó có cả các Bộ phái Phật giáo, đối tượng chính vẫn là phái Hữu Bộ. Có thể nói, đây là nguồn tư liệu chủ yếu, có liên quan đến tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại thừa mà chúng ta đang nghiên cứu.

 

3. 2 Tư tưởng

 

Phần mở đầu của “Luận Đại Trí Độ” Bồ tát Long Thọ giải thích lý do tại sao đức Phật nói “Kinh Bát Nhã”, vì:

 

“Ở trong Tam tạng, Phật dùng đủ mọi thí dụ để thuyết pháp cho hàng Thanh Văn mà không thuyết đến Bồ tát đạo…Nay Phật muốn giảng các Bồ tát hạnh cho Di Lặc v.v…cho nên thuyết “Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.”11

 

Nội dung và ý nghĩa của đoạn văn này, nói lên sự khác biệt giữa tư tưởng Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Sự khác biệt rõ nét giữa hai phái này là tinh thần Bồ tát đạo, là chủ trương của Phật giáo Đại thừa. Thật ra khái niệm Bồ tát (Boddhisatva) cũng đã được đề cập rất nhiều kinh trong A hàm hay Nikˆya, nhưng khái niệm Bồ tát ở những bộ kinh này khác với khái niệm Bồ tát trong Đại chúng bộ hay Đại thừa. Bồ tát trong A hàm hay Nikˆya là người chưa chứng quả, còn là vị cư sĩ bình thường. Nhưng theo kinh điển Đại chúng bộ hay Đại thừa, Bồ tát là vị xuất thế gian, đã chứng đắc thánh quả, là người đã vượt qua 4 quả thanh văn12. Nếu đứng từ góc độ này mà nói, Kinh điển A hàm hay Nikˆya vẫn chưa đề cập đến giáo lý Bồ tát như đại thừa đã đề cập. Thật ra, ý nghĩa này mang tính nói lên sự dị biệt hay bất đồng quan điểm giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Bộ phái. Như Long Thọ đã phê bình các luận sư của Hữu Bộ như sau:

 

Người Đại thừa nói: “Bọn đệ tử của Ca-chiên-diên ni tử, là người ở trong vòng sanh tử, không tụng không đọc kinh Đại thừa; họ chẳng phải Bồ tát, không biết thật tướng của các pháp, tự lấy căn trí lanh lợi, ở trong Phật pháp viết các luận nghị giải nghĩa về các kiết sử, tín, định, căn … còn nhiều chỗ sai quấy, huống gì muốn luận nghị Bồ tát….13

 

Theo H.T Ấn Thuận (印順) cho rằng, các luận sư của A tỳ đàm là 1. Xá-lợi-phất (êˆriputra), 2. Đại Mục-kiền-liên (MahŒmaudgalyŒyana), 3. Đại Câu-hi-la (MahŒkau•Êhila), 4. Đại Ca-chiên-diên (Mahˆkˆtyˆyana), 5. Phú-lâu-na (PurŒöa) và A-nan (Ënanda)14. Thật ra, 7 vị luận sư này là 7 vị nổi tiếng, tài đức kiêm toàn trong thời đức Phật còn tại thế, họ có thể thay thế đức Phật giảng pháp, chuyên phân tích những lời dạy của đức Phật, do vậy cho nên về sau được tôn xưng là những vị tổ sư, khai sáng A tỳ đàm (abhidharma). A tỳ đàm là chỉ cho luận tạng trong 3 tạng, được xuất hiện ở thời kỳ Phật giáo Bộ phái, cụ thể là 7 hay 8 (gồm Tỳ Bà sa Luận) là những bộ luận nổi danh của phái Hữu Bộ. Đại thừa là phái có tư tưởng ngược lại với tư tưởng Hữu Bộ, nhưng hệ thống tư tưởng và phương pháp luận của phái này, các luận sư của Hữu bộ căn cứ phương pháp phân tích của 7 vị này. Như vậy, nếu như Phật giáo Đại thừa phản bác tư tưởng của Hữu bộ, điều đó đồng nghĩa 7 vị luận sư này cũng là đối tượng bị phê phán của Đại thừa, mặc dù những vị này không có liên hệ gì với tư tưởng Đại thừa. Có lẽ đây chính là lý do tại sao trong các kinh luận của Phật giáo Đại thừa nhân vật Xá lợi phất, Mục Kiền liên, A nam thường bị chê trích, liệt vào hàng Thinh văn, không nghe hiểu giáo pháp Đại thừa, mỗi khi Phật giảng kinh Đại thừa liễu nghĩa hang Thinh văn đều đứng dậy bỏ đi. Do vậy, đoạn văn vừa trích dẫn ở trên, với nội dung phê phán đệ tử của Ca-chiên-diên là những người không phải là Bồ tát, không am hiểu giáo pháp Đại thừa, điều đó cũng không có gì ngạc nhiên khi chúng ta hiểu rõ sự bất đồng quan điểm tư tưởng giữa Hữu bộ và Đại thừa.

 

Ở đây, điểm mà người viết muốn đề cập đến vấn đề là, tư tưởng của hệ Kinh điển Bát Nhã và những tác phẩm của Long Thọ có liên hệ thiết thân đến tư tưởng của Hữu Bộ. Nói một cách khác, tư tưởng ‘tất cả pháp đều không’ của Bát Nhã hay ‘duyên khởi tánh không’ của Long Thọ đều có mục đích chung phản bác tư tưởng ‘thật hữu’ của Hữu Bộ15. Có thể nói đây là điểm được đề cập khá nhiều trong các tác phẩm này. Để cho vấn đề được rõ rang, trước hết chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa ‘không’ trong Kinh Bát Nhã.

 

3.2a Tư tưởng ‘tất cả pháp đều không’ trong Bát Nhã

 

Nếu như các nhà Hữu Bộ cho rằng, sự tồn tại của thế giới vật chất là có thật và vĩnh hằng. Ngược lại, “Kinh Bát Nhã” của Phật giáo Đại thừa có quan điểm tư tưởng không đồng, cho rằng ‘tất cả pháp đều là không’. Có thể nói, đây là tư tưởng cốt yếu của hệ tư tưởng Bát Nhã. Như “Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa” giải thích:

 

Nguyên văn:

 

如來常說:色空,受、想、行、識亦空…眼處空…法處亦空﹔如來常說:眼界空…意識界亦空…因緣性空、 等無間緣、所緣緣、增上緣性亦空…有色法、無色法空,有見法、無見法,有對法、無對法,有漏法、無漏法 ,有為法、無為法亦空﹔如來常說過去、未來、現在法空…我常說此諸法皆空。16

 

Việt dịch:

 

Như Lai nói: “sắc không, thọ tưởng hành thức cũng không…; nhãn xứ không…pháp xứ cũng không; Như lai nói: Nhãn giới không…pháp giới cũng không;…nhân duyên tánh không, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không…hữu sắc pháp vô sắc pháp không, hữu kiến vô kiến pháp không, hữu đối vô đối pháp không, hữu lấu vô lấu không,, hữu vi vô vi không; Như lai nói: quá khứ vị lai hiện tại pháp không, ta nói rằng, tất cả pháp đều không…”

 

Ở đây, đối tượng mà Kinh Bát Nhã thảo luận là: 5 uẩn (pa–ca-skandha), 12 xứ (dvŒda§a-Œyatana), 18 giới (a•ÊŒda§a-dhŒtu), 6 nhân (sad-hetavah) 4 duyên (catvārah pratyayāh), 3 thời quá khứ hiện tại và vị lai. Tóm lại tất cả sắc pháp dù là hữu kiến vô kiến, hữu đối vô đối, hữu vi vô vi đều gọi là ‘không’. Từ điểm này, nó cho chúng ta thấy, đối tượng mà Đại thừa Bát Nhã phân tích cho rằng không, nó cũng chính là đối tượng mà các nhà Hữu Bộ thảo luận và cho là ‘thật có’. Như vậy, đối tượng mà Bát Nhã phê phán, không còn ai khác hơn chính là Hữu Bộ, là một bộ phái có cực đoan chủ trương ‘thật hữu’ (bhˆva). Trở lại vấn đề mà chúng ta đang thảo luận. Nếu như Đại thừa cho rằng, các pháp vốn là không, thế thì những hiện tượng ở thế gian mà ta thấy được, cầm nắm được, chúng ‘có’ hay là ‘không’?Để giải thích vấn đề này, cũng trong kinh này đức Phật giải thích:

 

Nguyên văn:

 

諸法因緣和合,施設假名…於五蘊不可說,於十二處、十八界…於過去、未來、現在乃至在內在、外在兩間法 不可說…何以故?如上所說,諸法集散皆不可得,不可見故。17

 

Việt dịch:

 

Chư pháp do nhân duyên hoà họp, hiện bày sự giả danh…do vậy, đối với 5 uẩn là pháp ‘bất khả thuyết’, đối với 12 xứ, 18 giới…, cho đến các pháp thuộc quá khứ vị lai hiện tại đều là pháp ‘bất khả thuyết’…vì sao? như trên đã trình bày, vì sự họp hay tan của các pháp đều không tướng nhất định, không thể lấy đôi mắt có thể thấy được.

 

Câu trả lời ở đây chính là, các pháp do nhân duyên tạo thành, do vậy bản chất của chúng không thật, sự tồn tại của chúng như là vô thường giống như dòng chảy chảy của nước, chuyển biến không ngừng, không có tướng cố định, do vậy nên gọi chúng là giả danh. Cũng vậy, 5 uẩn (pa–ca-skandha), 12 xứ (dvŒda§a-Œyatana), 18 giới (a•ÊŒda§a-dhŒtu)…ngay cả những pháp thuộc quá khứ vị lai hay trong hiện tại cũng đều như thế cả. Cái gì do nhân duyên tạo thành thì cái ấy chịu sự vô thường biến hoại. Như vậy các pháp đang trong sự diễn biến, chúng ta không thể dùng một khái niệm phạm trù hay một hình tướng cố định nào gắng cho nó, cho rằng nó như thế này hay thế kia. Đó là lý do tại sao Kinh Bát Nhã gọi chúng là ‘bất khả đắc’ hay ‘bất khả thuyết’. Các pháp diễn biến theo qui luật tự nhiên của nó, thế nhưng chúng ta lại lấy một hình tướng cố định nào đó để mô tả về nó, đó là sự mô tả sai với sự thật. Sự nhận thức không phù hợp với thật tại, nhưng lại cố chấp cho rằng là đúng. Phật giáo Đại thừa gọi thái độ đó là ‘chấp trước’, Long Thọ gọi đó là ‘hí luận’. Bản chất của các pháp là như vậy, cho nên trong “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh” mô tả chúng bằng một bài kệ rằng:

 

一切有為法,

 

如夢幻泡影,

 

如露亦如電,

 

應作如是觀。18

 

Nhất thiết hữu vi pháp,

 

Như mộng huyễn bào ảnh,

 

Như lộ diệc như điển.

 

Ưng tác như thị quán.

 

Nhưng làm thế nào để chúng ta thấy được thật tánh của các pháp vốn là ‘không’ như trong Kinh Đại thừa vừa trình bày?Kinh Bát Nhã trả lời rằng:

 

Nguyên Văn:

 

觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。19

 

Việt dịch:

 

Bồ tát Quán Tự Tại khi thực hành bát nhã ba-la-mật-đa,thấy được bản chất của 5 uẩn vốn là không.

 

Trước hết, chúng ta cần chú ý từ mà Phật giáo Đại thừa thường mô tả cho tuệ giác của Phật là Bát-nhã-ba-la-mật-đa (般若波羅蜜多),vốn tiếng Phạn là praj–ˆ-pˆramitˆ, nhưng trong hệ kinh điển Pˆli thì không dùng từ này mà lại dùng từ pa––a. Thế thì có sự khác biệt nào giữa hai từ này? Theo tôi, hai từ này đều có ý nghĩa giống nhau, đều mô tả về tuệ giác của Phật, nhưng về mặt tư tưởng mà nhận xét, thì hai từ này vẫn hàm chứa ý nghĩa khác nhau. Nếu đứng về mặt ngữ nghĩa, từ praj–a (S) tương đồng với từ pa––a (P). Thế thì tại sao trong tiếng Phạn khi mô tả về tuệ giác của Phật phải thêm hình dung từ pˆramitˆ (đáo bỉ ngạn)20 ? Phải chăng Đại thừa Bát Nhã dùng từ này, ý muốn nói tuệ giác hoàn toàn siêu việt của Phật, không phải là tuệ giác của vị A la hán (Arhant) chăng ? Theo tôi, cách dùng này mang một ý nghĩa như thế.

 

Trở lại vấn đề. Nội dung và ý nghĩa của đoạn kinh vừa dẫn cho thấy, bất cứ người nào muốn nhìn thấy được thật tánh của các pháp là ‘không’, người đó phải sử dụng trí tuệ Bát-nhã-ba-la-mật (praj–ˆ- pˆramitˆ), mới có thể thấy được các pháp là ‘không’. Theo Phật giáo Đại thừa ai là người có được trí tuệ này?Câu trả lời chính xác phải là Bồ tát hay Phật, ngoài ra hàng nhị thừa Thinh văn, trong đó có cả địa vị A-la-hán cũng không có loại trí tuệ này. Đó là lý do tại sao mỗi lần đức Phật nói Kinh Đại thừa thì các hàng nhị thừa Thinh văn đều đứng dậy thối lui. Nếu đứng từ góc độ Đại thừa giải thích, vì họ không có trí tuệ ba-la-mật-đa này, cho nên không nghe được giáo pháp Đại thừa. Như vậy, khái niệm ‘không’ được mô tả trong Kinh Bát nhã chính là bản chất của các pháp vốn là sự tập họp của các pháp, có nghĩa là các pháp không có tướng cố định, do vậy không nên dùng một pháp cố định nào để mô tả các pháp như thế này hay thế kia. Đây là cách phê phán của Phật giáo Đại thừa đối với Hữu bộ, đã vay mượn khái niệm thời gian không gian, lý thuyết nhân duyên cố định hoá các pháp. Theo Đại thừa đây là quan điểm sai lầm, vì các pháp luôn luôn vô thường không có tướng nhất định.

 

Thế thì theo Đại thừa làm thế nào để nhận thức các pháp là ‘không’ ? Phật giáo Đại thừa giải thích, muốn thấy được các pháp là ‘không’, người ấy phải chứng quả vị Bồ tát. với địa vị này Bồ tát mới lấy trí tuệ Bát nhã-ba-la-mật-da quán chiếu mới có thể biết được các pháp là không. Có lẽ cách giải thích này không mấy thuyết phục, vì nó vẫn ẩn chứa ý nghĩa thần thoại siêu việt. Vì nếu vậy, phải chăng giáo pháp Đại thừa là giáo pháp không phải để cho chúng ta hiểu và thật hành sao? vì chúng ta đều là phàm phu, chưa chứng quả Bồ tát thì làm gì có loại trí tuệ này để hiểu được ý nghĩa ‘không’. Có lẽ đó chính là lý do mà triết học Long Thọ ra đời. Thật ra, tư tưởng Long Thọ chính là tư tưởng Bát Nhã, cái khác của Long Thọ chỉ là phương pháp luận, Long Thọ không sử dụng phương pháp luận của Bát Nhã, ngược lại sử dụng nguyên lý ‘duyên khởi’ (prat´ya-samutpˆda) của đức Phật phân tích các pháp, từ đó thấy được bản chất của các pháp là ‘không’ (§ènnyatˆ). Như chúng ta sẽ phân tích dưới đây.

 

3. 2b Tư tưởng ‘Duyên khởi tánh không’ của Long Thọ

 

Nếu như tư tưởng chủ yếu của Đại thừa Bát Nhã là ‘tất cả pháp đều không’ thì Long Thọ lại cho rằng: ‘duyên khởi tánh không’. Hai quan điểm này có sự dị biệt nào? Thật ra ý nghĩa của hai quan điểm này giống nhau về mặt tư tưởng, nhưng phương pháp luận của chúng có sự khác nhau. Nếu như Bát Nhã cho rằng, muốn thấy được ‘tánh không’ của các pháp thì người đó phải ở vào địa vị Bồ tát và lấy trí tuệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa (praj–a-pˆramitˆ) mới thấu rõ bản chất của các pháp là không. Long Thọ giải thích khái niệm ‘không’ (§ènyatˆ) không cần phải ở vào địa vị Bồ tát, là người đã giác ngộ mới thấy các pháp là không, mà đứng từ góc độ ‘duyên khởi’ (prat´ya-samutpˆda) cũng có thể thấy được bản chất của các pháp là ‘không’. Do vậy, triết học của Long Thọ được gọi là ‘duyên khởi tánh không’. Thật ra, cách giải thích này, chúng ta cũng được thấy trong kinh điển của Phật giáo Đại thừa, nhưng cách lý luận của Long Thọ đặc biệt chú trọng đến lý duyên khởi, lấy pháp này để phân tích bản chất của sự vật, cho nên được mệnh danh là ‘duyên khởi tánh không’. Nhưng có một vấn đề mà chúng ta cần chú ý, học thuyết ‘Duyên khởi’ và thuyết ‘6 nhân 4 duyên’ là hai học thuyết khác nhau. Thuyết duyên khởi là học thuyết được đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, còn thuyết 6 nhân 4 duyên là học thuyết do các nhà Hữu bộ lập ra. Ở đây Long Thọ sử dụng thuyết ‘Duyên khởi’ đả phá thuyết ‘6 nhân 4 duyên’ của Hữu Bộ, do vậy chúng ta không nên nhầm lẫn cho rằng Long Thọ đả phá thuyết ‘Duyên khởi’.

 

Đại thừa Bát Nhã và Trung quán đều phủ nhận tư tưởng ‘thật hữu’ của Hữu Bộ, cho đây là lý thuyết sai lầm. Thế thì câu hỏi được nêu ra ở đây là, như vậy theo Long Thọ những hiện tượng ở thế gian như là con người, nhà cửa, ruộng vườn… nếu cho nó là không thì những thứ này là gì?Long Thọ giải thích:

 

Nguyên văn:

 

一切法有二分:若有、若無是般若中有亦不應取,無亦不應取,離是有、無,即是諸法性。21

 

Việt dịch:

 

Tất cả pháp có hai hiện tượng: có và không,theo tinh thần kinh Bát Nhã có cũng không nên chấp, không cũng không nên chấp. Tránh xa hai cực đoan này, đó là bản chất của pháp tánh.

 

Hoặc là

 

Lại nữa, không, không phải vì không thấy nên không,mà vì nó không thật dụng nên nói ‘không’. Vì vậy, nên nóii các pháp như biến hoá.22

 

Qua nội dung và ý nghĩa của hai đoạn văn vừa trích dẫn, nó cho cho chúng ta hiểu rằng, khái niệm ‘không’ trong “Luận Đại Trí Độ”, nó không mang ý nghĩa phủ nhận sự tồn tại của các pháp, không có gì, giống như hư vô, hay trống không, mà Long Thọ muốn đề cập đến sự tồn tại của các pháp như huyển như hóa, không có hình tướng cố định, có rồi không, không rồi lại có, chuyển biến theo từng sát na. Thông thường chúng ta khi thấy các pháp hiện hữu thì chúng ta gọi là ‘có’, nhưng khi nó không còn đủ duyên sự vật liền biến mất, chúng ta lại cho nó là ‘không’. Có và không là hai mặt của sự vật từ khi sinh ra cho đến khi chấm dứt. Thật tế từ hiện tượng có cho đến ‘không’ là một chuổi dài của sự sanh diệt diệt sanh. Trong sanh có mầm móng diệt, trong diệt lại ẩ tàng mầm móng sanh, với đôi mắt thường của con người làm sao biết được, 5 giác quan của chúng ta chỉ có thể nắm bắt nhận biết được những hiện tượng thô, những hiện tượng vi tế không làm sao biết được. Như vậy, cái mà chúng ta gọi là có hay không đó, đôi khi không đúng với sự thật. Đó chính là lý do tại sao Long Thọ định nghĩa bản chất các pháp là: ‘tránh xa hai cực đoan có và không là bản chất của các pháp’ hay ‘vì nó không thật dụng nên nói không’. Ở đây khái niệm ‘không thật dụng’, nó không mang ý nghĩa là không sử dụng được mà ý muốn nói đến tính thiên biến vạn hóa của sự vật, không có tướng nhất định cho nên gọi là ‘không’.

 

Qua đoạn văn này cho thấy, Long Thọ đã dùng nhiều khái niệm khác nhau để mô tả về bản chất vô thường của sự vật. Nguồn gốc của sự vô thường này, bắt nguồn từ định luật Duyên khởi (prat´ya- samutpˆda). Nói cách khác, không một pháp nào trên thế gian tồn tại độc lập, không do nhân duyên mà thành, do vậy chúng phải vận hành theo qui luật duyên khởi. Có thể nói, đây là điểm nổi bật của Long Thọ. Liên quan đến vấn đề này, trong “Luận Đại Trí Độ”, Long Thọ dùng bài kệ để nói lên quan điểm của mình về bản chất hay sự tồn tại của các pháp.

 

“Nếu pháp nhân duyên sanh,

 

Pháp ấy, tánh thật không.

 

Nếu pháp ấy chẳng không,

 

Không từ nhân duyên có.

 

Thí như bóng trong gương,

 

Chẳng gương cũng chẳng mặt,

 

Cũng chẳng người cầm gương,

 

Chẳng tự, chẳng vô nhân,

 

Chẳng có cũng chẳng không,

 

Cũng lại chẳng có không,

 

Lời ấy cũng không nhận,

 

Như vậy là Trung đạo.23

 

Ở đây Long Thọ lập luận: Nếu các pháp đều do nhân duyên sinh, thì bản chất của pháp ấy luôn luôn tồn tại theo qui luật vô thường chuyển biến; cái gì thuộc về vô thường chuyển biến thì cái ấy không có tánh chất cố định, do vậy không thể gán ghép qui định các pháp như thế này hay thế kia. Các pháp vốn không có tính cố định cho nên Long Thọ gọi nó là ‘không’ (§ènyatˆ). Nhưng khái niệm ‘không’ này không phải là ‘hư vô’, mà mang ý nghĩa ‘không có tướng cố định’, cho nên Long Thọ nói rằng: Nếu các pháp không phải là ‘không’, thì các pháp không phải là pháp do nhân duyên tạo thành, phải là pháp tồn tại độc lập, không tùy thuộc vào yếu tố khác thì pháp ấy mới gọi là ‘có’. Thế thì trên thế gian này, có pháp nào tồn tại độc lập, không do nhân duyên tạo thành ? Nếu trả lời là ‘không’ thì đồng nghĩa với sự chấp nhận quan điểm của Long Thọ là hợp lý.

 

Để làm rõ quan điểm của mình, Long Thọ đã lấy ví dụ ‘bóng trong gương’ thuyết minh các pháp là duyên khởi tính. Cái bóng trong gương ấy, không phải do gương tạo ra, cũng không phải do mặt tạo ra, cũng không phải người làm gương tạo ra, không phải do mình tạo ra, cũng không phải do người khác tạo ra. Như vậy, ai là chủ nhân tạo ra ‘bóng’ này?không có một chủ nhân nào tạo ra cả. Sở dĩ cái ‘bóng’ có trong gương là do tất cả những yếu tố này hình thành, nếu thiếu một trong những yếu tố đó thì ‘bóng’ ấy không xuất hiện. Như vậy, cái ‘bóng’ là do nhân duyên tạo thành. Cái gì do nhân duyên tạo thành, không làm chủ, thì cái ấy mang tính vô thường. Như vậy, chúng ta không nên có thái độ vội vàng khi thấy bóng cho là ‘có’, khi không thấy bóng lại cho là ‘không’. ‘Bóng’ ấy tồn tại trong điều kiện duyên khởi, nó không phải có cũng không phải không, cho nên gọi là ‘Trung đạo’. Như vậy triết lý Trung đạo là triết lý duyên khởi (prat´ya-samutpˆda), triết lý duyên khởi là triết lý tánh không, triết lý tánh không hay còn gọi là triết lý ‘Duyên khởi tánh không’. Đây là tư tưởng của Long Thọ.

 

Ở đây, nếu chúng ta muốn tìm hiểu nghiên cứu triết học tánh không của long Thọ qua tác phẩm “Trung Luận” do Thanh Mục (Pivgalanetra) chú thích, và được ngài Cưu-ma-la -thập (KumŒraj´va) dịch sang Hán văn thì cần chú ý đến cách dịch, nếu không sẽ phát sinh sự nhầm lẫn. Đối với dịch bản này có một số vấn đề cần được xem xét lại. Một ví dụ cụ thể là phẩm đầu tiên của luận này là: Pratyaya-par´k•ˆ nˆma prathamaµ prakaranaµ, được La Thập (KumŒraj´va) dịch sang Hán văn là: ‘Quán nhân duyên phẩm đệ nhất’ (觀因緣品第一). Trong đó từ Pratyaya được dịch là ‘nhân duyên’. Nhưng cũng trong luận này, ở “Phẩm quán Tứ Đế” (ˆryasatya-par´k•ˆ) thứ 24, trong ấy câu kệ 18: “Yaú prat´tyasamutpˆdaú §ènyatˆµ tˆµ pracak•mahe, sˆ praj–atir upˆdˆya pratipat, saiva madhyamˆ.” 24 Được La Thập dịch là: Chúng nhân duyên sinh sinh pháp, ngã thuyết tức thị vô, diệc vi thị giả danh, diệc thị trung đạo nghĩa”. Trong ấy từ từ prat´ya-samutpˆda cũng được La Thập dịch là ‘nhân duyên’(因緣). Thế thì ở đây chúng ta đặc câu hỏi là, giữa hai từ pratyaya và prat´ya-samutpˆda có ý nghĩa giống nhau hay khác nhau ? Nếu giống nhau thì tại sao trên mặt hình thức của từ này có sự khác nhau ? Nếu khác nhau thì khác nhau như thế nào ? và tại sao hai từ này đều dịch là ‘nhân duyên’, cách dịch như vậy có chuyển tải được ý nghĩa mà Long Thọ muốn mô tả không ?

 

Nếu chúng ta đọc kỹ phẩn: ‘Quán nhân duyên’ của luận này, với nội dung Long Thọ phản bác lý thuyết ‘nhân’ (hetu) và ‘duyên’ (pratyaya), tức là học thuyết 6 nhân (sad-hetu) và 4 duyên (catvˆra-pratyaya) của phái Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ, là đối tượng bị Phật giáo Đại thừa phê phán, thì khái niệm pratyaya này là từ chỉ cho thuyết 6 nhân 4 duyên, không phải là thuyết Duyên khởi hay Duyên sinh; Ngược lại, thuyết prat´ya-samutpˆda là thuyết ‘Duyên khởi’ được đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, cho nên Long Thọ mới căn cứ vào đạo lý Duyên khởi để lý giải các pháp vốn là không tánh, và tất nhiên Ngài phản bát lý thuyết 6 nhân 4 duyên, vì nó là lý thuyết để thuyết minh sự hình thành của các pháp thuộc vật chất. Do vậy, theo Long Thọ từ pratyaya và prat´ya-samutpˆda có ý nghĩa khác nhau. Có lẽ chính vì vậy, khi chú giải “Trung Luận” Kiết Tạng (549~623 là vị tăng của đời nhà Tùy đã sử dụng hai từ khác nhau là ‘chánh nhân duyên’ (正因緣) và ‘tà nhân duyên’ (邪因緣)để nói lên sự khác biệt giữa hai từ này. Ông gọi ‘chánh nhân duyên’ chỉ cho cái bất sanh bất diệt, là thuyết ‘duyên khởi’ (prat´ya-samutpˆda); ‘Tà nhân duyên’ là chỉ cho đoạn thường sanh diệt, tức chỉ cho thuyết 6 nhân 4 duyên của Hữu Bộ.25 Cũng cùng quan điểm này, Thanh Mục khi chú giải “Trung Luận” cũng đã xác định Long Thọ không phải bác bỏ thuyết ‘Duyên khởi’. Như nói:

 

“Do vậy, không nên phá lý thuyết ‘không’, nếu phá lý thuyết ‘không’, có nghĩa phá thuyết ‘nhân duyên’ (chỉ cho Duyên khởi); Nếu phá thuyết ‘Duyên khởi’ đồng nghĩa phá ‘Tam bảo’; Nếu phá ‘Tam bảo’ cũng đồng nghĩa phá hoại chính mình”26.

 

Ngoài ra, cũng trong bài kệ này, từ §ènyatˆ cũng được Ngài La Thập dịch là ‘VÔ’ (無), sau đó được ngài Thanh Mục (Pivgalanetra) chú thích thành từ ‘KHÔNG’ (空). Thế thì 3 từ này mang ý nghĩa như thế nào ? ‘Vô’ có nghĩa là không, không có; ‘không’ có nghĩa là hư không, không có; còn từ §ènyatˆ có nghĩa gì ? thật ra từ này không có từ tương đương trong tiếng Việt cũng như chữ Hán, nhưng chúng ta có thể mượn một vài ý để mô tả về ý này, nó chỉ cho các pháp đang trong trạng thái diễn biến, không có tướng nhất định, như dòng nước đang chảy. Trạng thái đó không phải có cũng không phải là không, chính trạng thái này được gọi là §ènyatˆ. Như vậy, khái niệm §èyatˆ hoàn toàn không đồng nghĩa với khái niệm vô cũng như không mà chúng ta đang dùng. Thế mà chúng ta vẫn vay mượm 2 khái niệm này để hiểu và giải thích tư tưởng §ènyatˆ của Phật giáo Đại thừa. vì tiếng Việt không có từ tương đương với khái niệm này, cho nên chúng ta vẫn phải sử dụng từ ‘KHÔNG’ để lý giải tư tưởng của Phật giáo Đại thừa.

 

Từ những điểm này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, nếu chúng ta chỉ dựa vào bản dịch chữ Hán của ngài La Thập, không đối chiếu nguyên bản, lại không am tường lịch sử phát triển tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, nhất là không hiểu được tư tưởng của Phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (SarvŒstivŒdin) thì việc nghiên cứu tư tưởng Long Thọ thật khó có thể tránh khỏi sự ngộ nhận, đây là một thực tế.

 

4. Kết luận

 

Nếu như chúng ta đứng từ góc độ sử học quan sát Phật giáo Ấn độ, sự xuất hiện tư tưởng ‘không’ (§ènyatˆ) của Phật giáo Đại thừa không phải tự nhiên mà có. Sự xuất hiện của nó có mối liên hệ thiết thân với các hệ tư tưởng trước nó, là Phật giáo Bộ phái, cụ thể là phái Hữu Bộ. Chính quan điểm tư tưởng cho rằng, các pháp là thật có, không phải giả có của phái này là một trong những nguyên nhân chủ yếu để hình thành tư tưởng ‘không’ của Phật giáo Đại thừa.

 

Hữu Bộ là phái thuộc Thượng tọa bộ (Sthavira) với chủ trương cho rằng ‘các pháp là thật có’. Sự hình thành tư tưởng ‘hữu’ (bhˆva) của phái này, do quá trình phản bác hai hệ tư tưởng: ‘Ngã (pudgala) hằng hữu’ của Độc Tử bộ (VŒts´putr´ya) và thuýêt ‘quá khứ và vị lai vô, chỉ có hiện tại vô vi là có’ của Hóa Địa bộ ((Mahi§Œsaka) mà hình thành tư tưởng của Hữu Bộ.

 

Các nhà Hữu bộ lập luận rằng, cái mà chúng ta gọi là ‘ngã’ (pudgala) ấy, nó vốn là do 5 uẩn tạo thành, do đó khái niệm ‘ngã’ không thật có, hay còn gọi là giả có. Nhưng những yếu tố hình thành con người phải là thật có, nếu như những yếu tố này là giả, không có thật, thì thế gian không có các pháp. Hữu bộ gọi cái thật có đó chính là ‘cực vi’, nhờ cực vi này mà hình thành các pháp. Như vậy, chủ trương của Hữu bộ là: ‘Ngã không pháp hữu’. Đối với thời gian, các nhà Hữu bộ căn cứ vào lời Phật dạy về vấn đề tu tập pháp gì sẽ thành tựu pháp gì.Từ đó các nhà Hữu bộ đưa đến lập luận rằng, trong quá khứ do tu tập pháp này, cho nên trong vị lai hành giả sẽ thành tựu quả như thế này. Nếu như không chấp nhận có quá khứ và vị lai thì khái niệm ‘thành tựu’ trở thành vô nghĩa. Do vậy, Hữu bộ hình thành ‘tam thế hữu’. Nếu như bản chất của các là những ‘cực vi’ thì làm thế nào những cực vi này kết lại thành sự kiện mà chúng ta có thể thấy nghe được?Đó là lý do tại sao các nhà Hữu bộ hình thành thuyết 6 nhân 4 duyên. Thuyết này nhằm thuyết minh các pháp liên hệ với như thế nào. Đây là phương pháp luận của Hữu Bộ.

 

Nếu như Hữu bộ là phái thuộc Thượng tọa bộ, thì Đại thừa Phật giáo có nguồn gốc xuất phát từ Đại chúng bộ. Từ điểm này, nó cho chúng ta thấy sự bất đồng quan điểm giữa Hữu bộ và Đại thừa cũng là vấn đề tự nhiên có truyền thống trước đó. Nhưng đứng về mặt tư tưởng mà xét, sự xuất hiện quan điểm tư tưởng của Phật giáo Đại thừa không phải là không có nguyên nhân. Cho dù các nhà Hữu bộ phân tích lý giải như thế nào, đứng về mặt logic học, tư tưởng ‘thật hữu’ của Hữu bộ ẩn tàng yếu tố mâu thuẫn với lý thuyết duyên khởi vô thường vô ngã của đức Phật. Vì để chấn chỉnh về mặt tư tưởng sai lầm này, Kinh Bát Nhã phản bác tư tưởng này bằng quan điểm tư tưởng: ‘tất cả pháp đều không’. Nhưng làm thế nào để biết được các pháp là không?Kinh Bát Nhã lại giải thích, cần phải thành tựu địa vị Bồ tát, là người đã giác ngộ giải thoát. Từ địa vị này lấy trí tuệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa (praj–ˆ-pˆramitˆ) mới có thể nhận biết các pháp vốn là không, không thể dùng trí phàm phu hay trí tuệ của 4 quả Thanh văn có thể nhận biết được. Đây là cách lý giải của Kinh Bát Nhã.

 

Long Thọ là người tích cực trong việc hoằng dương tư tưởng Phật giáo Đại thừa, nhưng cách giải thích của Bồ tát có phần khác. Long Thọ không sử dụng phương pháp phân tích của hệ thống Kinh Bát Nhã mà Bồ tát lấy đạo lý Duên khởi (prat´ya-samutpˆda) để lý giải các pháp vốn là không. Long Thọ phân tích, nếu như các pháp do duyên khởi mà thành, bản chất của chúng phải là ‘không’. Khái niệm ‘không’ ở đây không đồng nghĩa với khái niệm ‘hư không’ có nghĩa không có gì cả, mà khái niệm ‘không’ ở đây chỉ cho sự diễn biến không ngừng của sự vật, do vậy nó không có hình tướng nào nhất định, ngay cái gọi là ‘cực vi’, do vậy cho nên gọi là ‘không’ (§ènyatˆ). Có lẽ chính vì vậy mà hệ thống triết học của Long Thọ được gọi là triết học ‘tánh không’ hay nói đủ là ‘Duyên khởi tánh không’.

 

Taipei ngày 01 tháng 5 năm 2006

 

KINH SÁCH THAM KHẢO

 

– HT. Thiện Siêu “Kinh Tạp A-hàm”, Viện NCPHVN ấn hành.
– HT. Thiện Siêu “Kinh Trung A-hàm”, Viện NCPHVN ấn hành.
– HT. Minh Châu dịch “Kinh Trung Bộ”, Viện NCPHVN ấn hành.
– HT. Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành.

 

– 唐.玄奘譯:《大般若波羅蜜多經》(T05,No.0220)。

 

– 唐.玄奘譯:《般若波羅蜜多心經》(T08,No.0251)。

 

– 姚秦.羅什譯《金剛般若波羅蜜經》(T08,No.235)。

 

– 龍樹菩薩造,後秦.鳩摩羅什譯:《大智度論》(T25,No.1509)。

 

– 三枝充慎著,《中論》(下) 東京,明和印刷株式會社,1984年。

 

– 《中論》(T30,No.1564)。

 

– 《中觀論疏》(T42,No.1824)。

 

– 世友造,玄奘譯,《異部宗輪論》(T49,No.2031)。

 

– 呂澂《印度佛學思想概論》台北,天華出版社,民國七十一年。

 

– 印順著,《說一切有部為主的論書與論師之研究》台北,正聞出版社。

 

– Thích Hạnh Bình “Tìm hiểu Phật giáo Nguyên thủy” NXB Tôn giáo, 2004

 

1 HT. Minh Châu dịch “Kinh Trung Bộ” tập 2, ghi : “Rồi Tôn giả Malunkyaputta, trong khi độc trú tịnh cư, khởi lên sự suy tư như sau: Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: “Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Viện NCPHVN ấn hành, năm 2000, trang 193. Tương đương “Kinh Trung A hàm” tập 4, ‘Kinh Tiễn Dụ’, Viên NCPHVN ấn hành 1992, trang 737~748. Đồn thời trong “Kinh Tạp A-hàm” kinh số: 103~110, 166~169, 408, 411~415, 905, 957~968 đều có đề cập đến những vấn đề siêu hình này.

 

2 Phái có chủ trương ‘đoạn diệt’ là một trong 6 phái ngoại đạo, còn có tên là phái ‘duy vật’. Nhân vật tiêu biểu cho phái này là Ajita Kesa Kambala, xuất hiện trước đức Phật. Phái này cho rằng, 4 đại: địa thủy hoả phong là nguyên tố cấu thành vũ trụ, chúng tồn tại một cách độc lập, con người và thế giới cũng do 4 đại tạo thành. Phủ nhận sự tồn tại của linh hồn. Sauk hi chết là hết, than thể trả về cho 4 đại. Do vậy, mục đích của cuộc sống truy tìm những niềm vui hạnh phúc, tận hưởng những dục vọng. Có thể nói tư tưởng của phái này là một trong những hệ tư tưởng thuộc giai cấp bị trị, phản đối tư tưởng tế tự của giai cấp Bà-la-môn.. Liên quan đến tư tưởng và chủ trương của phái này được đề cập khá nhiều trong A hàm. Nơi đây trích dẫn một đoạn để chứng minh. Như trong “Kinh Tạp A hàm” Kinh số 156 ghi: “Các chúng sanh sống ở đời, sau khi chết tiêu mất, không còn gì. Con người do 4 đại hòa hợp, khi than hoại mạng chung, đất trở về đất, nước trở về nước, gió trở về gió, lửa trở về lửa, các căn đều trở về không…nếu cho là có là lời nói dối trá hư vọng. người ngu kẻ trí, sau khi chết qua đời khác là đoạn dứt, không còn gì nữa.”.

 

3 Xin Tham khảo Thích Hạnh Bình “Tìm hiểu Phật giáo Nguyên thủy” NXB Tôn giáo, 2004, trang 141~147.

 

4 Phái này cho rằng, Ngã (phái này gọi là Pudgala) hay linh hồn và vật thể (nhục thể), sau khi chết vẫn tồn tại không mất.

 

5 世有造,玄奘譯,《異部宗輪論》(T49,No.2031,p.16c)。Hoá Địa bộ là phái phản bác tư tưởng của phái Độc Tử bộ. Phái này chủ trương, quá khứ và vị lai là không có thật, chỉ có hiện tại vô vi là có thật.

 

6 世有造,玄奘譯,《異部宗輪論》(T49,No.2031,p.16a)。

 

7 1. “Pháp Uẩn Túc Luận” (法蘊足論), 2. “Tập Dị Môn Túc Luận” (集異門足論), 3. “Thi Thiết Luận” (施設足論), 4. “Phẩm Loại Túc Luận” (品類足論), 5. “Giới Thân Túc Luận” (界身足論), 6. “Thức Thân Túc Luận” (識身足論), 7. “Phát Trí Luận” (發智論). Ngoài ra còng có “Đại Tỳ Bà Sa Luận” (大毗婆沙論).

 

8 6 nhân là: 1. ‘Tương ưng nhân’ (samprayukta-hetu) là sự tương ưng giữa tâm và tâm sở, sự lien hệ giữa pháp này với pháp khác. Ví dụ khi nhận thức việc gì sự quan hệ chặc chẽ giữa tâm và tâm sở, hay giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, giữa ý xứ và pháp xứ; 2. ‘Câu hữu nhân’ (sahabhu-hetu) hay còn gọi là ‘cọng hữu nhân’, ‘cọng sanh nhân’ là mối quan hệ giữa nhân và quả. Ví dụ trong quả có nhân, trong nhân có quả; 3. ‘Đồng loại nhân’ (sabhŒga-hetu) cò gọi là ‘tự phân nhân, ‘tự chủng nhân’ , có nghĩa là tất cả pháp thuộc hữu lậu, từ quá khứ đến hiện tại có chung một chủng loại, như thiện pháp tương ưng cùng thiện pháp, ác pháp tương ưng với ác pháp, không thể tương ưng với thiện pháp; 4. ‘Biến hành nhân’ (sarvatraga-hetu) là những nhân tố phổ biến. Như mọi chúng sanh đều có phiền nào, phiền não là yếu tố phổ biến của chúng sanh, như vậy phiền não là nhân tố phổ biến của mọi chúng sanh; 5. ‘Dị thục nhân’ (vipŒka-hetu) chỉ cho những nhân tố chiu cảm thiện ác nghiệp quả của 3 đời; 6. ‘Năng tác nhân’ (kŒrana-hetu), còn gọi là ‘sở tác nhân’ ‘tùy tạo nhân’, chỉ cho bản than của vật đó có khả năng sinh ra cái khác. Như đất có khả năng sinh cỏ; con người có khả năng sanh suy tư…

 

9 4 duyên (catvara-pratyaya) là: (1). ‘Nhân duyên’ (hetu-pratyaya), tức chỉ cho bản thân sự vật có yếu tố khả năng sinh ra cái khác. Ví dụ như hạt giống có khả năng sinh ra mầm cây. Như vậy, hạt giống là nhân duyên của mầm cây; (2). ‘Đẳng vô gián duyên’ (samanantara-pratyaya) là ám chỉ cho những loại duyên liên tục, không dứt đoạn. Ví dụ như hít thở, ăn uống là điều kiện trợ giúp cho sự sống con người một cách lien tục không dứt đoạn. Như vậy, hít thở, thức ăn uống là ‘đẳng vô gián duyên’ của con người; (3). Sở duyên duyên (Œlambana-pratyaya), tức chỉ cho ‘pháp xứ’ trong 12 xứ, vì nó là đối tượng nhận thức của ý thức; (4). ‘Tăng thượng duyên’ (abhipati-pratyaya) chỉ cho các yếu tố trợ giúp cho nhân phát triển. Ví dụ như các loại phân bón, nước, ánh sang…là trợ duyên cho sự trưởng thành của hạt giống, các trợ duyên này gọi là ‘Tăng thượng duyên’.

 

10 呂澂《印度佛學思想概論》台北,天華出版社,民國七十一年。

 

11 Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1997, trang 14.

 

12 世友造,玄奘譯,《異部宗輪論》(T49,No.2031,p.15c).

 

13 Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1997, trang 181

 

14 印順著,《說一切有部為主的論書與論師之研究》台北,正聞出版社,民國八十一年,p.56.

 

15 Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, trang 255 ghi rằng: “ Tôi nói không là để phá các pháp hữu.’.

 

16 唐.玄奘譯:《大般若波羅蜜多經》(T05,No.0220,p.687a~b)。

 

17 唐.玄奘譯:《大般若波羅蜜多經》(T05,No.0220,p.205a)。

 

18 姚秦.羅什譯《金剛般若波羅蜜經》卷1:(CBETA, T08, no. 235, p. 752, b28-29).

 

19 唐.玄奘譯:《般若波羅蜜多心經》(T08,No.0251,p.848c)。

 

20 Nguyên từ ‘pŒramitŒ’ Hoa dịch là ‘Đáo bỉ ngạn’, tiếng Việt có nghĩa là ‘đã đến bờ bên kia’. Khái niệm này được mô tả cho vị đã giải thoát giác ngộ hoàn toàn. Thật ra, nguồn gốc của khái niệm này được xuất phát từ ‘Kinh Ví dụ Con Rắn’ trong “Kinh Trung Bộ”, tương đồng với ‘Kinh A-lê-sá’ trong “Kinh Trung A-hàm”. Trong đó kể đến 2 vị tỷ kheo đã qua được bờ bên kia.

 

21 龍樹菩薩造,鳩摩羅什譯:《大智度論》(T25,No.1509,p.497c).

 

22 Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1977, trang 254.

 

23 Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1977, trang 251~252.

 

24 Theo 三枝充慎著,《中論》(下) ghi nguyên văn là: “Yaú prat´tyasamutpˆdaú §ènyatˆµ tˆµ pracak•mahe sˆ praj–atir upˆdˆya pratipat, saiva madhyamˆ.” (東京,明和印刷株式會社,1984年,p.653 ).

 

25 吉藏《中觀論疏》(T42,No.1824,p.5c). Nguyên trong “Trung Luận” ghi: “眾因緣生法, 我說即是無;亦為是假名, 亦是中道義。(T30,No. 1564,p. 33b).

 

26《中論》(T30,No.1564,p.34c).ϛ�iế

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4380/feed 0
Phật Tánh https://thuonghylenien.org/luu-tru/4378 https://thuonghylenien.org/luu-tru/4378#respond Thu, 14 Jan 2021 02:05:28 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=4378 Phật Tánh

 

(Đã đăng trên Văn Hóa Phật Giáo)

  

Phật Tánh không phải là một danh hiệu. Nó không phải là một tính chất dành riêng cho đức Phật lịch sử hay những hành giả Phật giáo. Nó không phải một thứ được tạo ra hay tưởng tượng ra. Nó là trọng tâm hay thực chất bên trong tất cả mọi chúng sanh: một tiềm năng vô hạn để hành động, thấy, nghe, cảm nghiệm một sự việc. Nhờ Phật Tánh, chúng ta có thể học, có thể phát triển, có thể thay đổi. Mọi người trong chúng ta đều có thể và có quyền trở thành một đức Phật.

 

Nói về Phật Tánh, nó không liên hệ gì đến đạo hạnh và cung cách của một người trong bộ y vàng trên đường đi khất thực. Chữ Phật trong Phạn ngữ được dịch theo nghĩa đen là “bậc giác ngộ.” Nếu được coi là một danh hiệu, chữ nầy thường được chỉ cho đức Tất Đạt Đa Cồ Đàm, người đã đạt được giác ngộ tối thượng 2500 năm trước dưới cây Bồ Đề.

 

Tuy nhiên, Phật Tánh không phải là một danh hiệu. Nó không phải là một tính chất dành riêng cho đức Phật lịch sử hay những hành giả Phật giáo. Nó không phải một thứ được tạo ra hay tưởng tượng ra. Nó là trọng tâm hay thực chất bên trong tất cả mọi chúng sanh: một tiềm năng vô hạn để hành động, thấy, nghe, cảm nghiệm một sự việc. Nhờ Phật Tánh, chúng ta có thể học, có thể phát triển, có thể thay đổi. Mọi người trong chúng ta đều có thể và có quyền trở thành một đức Phật.

 

Phật Tánh không thể được diễn tả bằng những từ ngữ thuộc khái niệm tương đối. Nó cần được kinh nghiệm một cách trực tiếp, và kinh nghiệm trực tiếp thì không thể diễn tả bằng lời. Khi chúng ta nhìn một khung cảnh hùng vĩ, chúng ta có thể nói rằng nó hùng vĩ lớn lao, rằng những vách đá hai bên màu đỏ, không khí khô và có mùi của cây tuyết tùng… Nhưng dù có diễn tả hay ho cách mấy, sự diễn tả của chúng ta cũng không thể thật sự chứa đựng hết kinh nghiệm cảm nhận được khi đứng trước cái hùng vĩ đó. Hoặc khi chúng ta cố gắng diễn tả cảnh quan nhìn từ đài thiên văn Tapei 101 ở Đài Bắc, một trong những ngôi nhà cao nhất thế giới, được coi là một trong bảy kỳ quan hiện đại của loài người. Chúng ta có thể nói về bức tranh toàn cảnh, về con đuờng với xe cộ và con người được thấy như những con kiến, hoặc chúng ta phải nín thở khi đứng ở một nơi quá cao trên mặt đất. Nhưng chúng ta vẫn không thể truyền đạt sự sâu rộng trong kinh nghiệm của chúng ta.

 

Tuy nhiên, mặc dù Phật Tánh không thể diễn tả được, đức Phật đã đưa ra một số gợi ý như tấm bản đồ giúp chúng ta biết phương hướng và con đường dẫn đến kinh nghiệm không thể diễn tả đó. Một trong những phương pháp của Ngài là nêu lên ba tính chất của Phật Tánh: Tự do vô hạn: khả năng nhận biết một cách tự tại về mọi sự việc – quá khứ, hiện tại và tương lai; năng lực vô hạn: sức mạnh không giới hạn để đưa chúng ta và tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ; và lòng từ bi vô hạn: ý thức không giới hạn về sự tương liên giữa tất cả vạn vật, một tâm thức mở rộng ra cho kẻ khác, điều được coi là động lực trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp tất cả chúng sanh tiến hóa.

 

Điều không thể nghi ngờ là có rất nhiều người tin tưởng vào đức Phật để qua học hỏi và thực hành, đã có thể thể nghiệm trực tiếp sự tự do, sức mạnh và lòng từ bi không giới hạn đó.

 

Trong nhiều kinh điển, chúng ta thấy đức Phật luôn luôn sẵn sàng trao đổi với những người có sự nghi ngờ về những điều Ngài nói. Ngài là một vị thầy duy nhất du hành khắp Ấn độ vào thế kỷ thứ tư trước Tây lịch với mục đích thuyết phục quần chúng về nhiều vấn đề. Tuy nhiên, không giống như nhiều người đương thời, Ngài không cố gắng thuyết phục quần chúng tin rằng phương pháp mà Ngài tìm ra trong việc giải thoát khổ đau là phương pháp duy nhất. Một điểm quan trọng xuyên suốt nhiều kinh điển Phật giáo có thể được tóm tắt bằng ngôn ngữ ngày nay: “Đó chỉ là điều tôi thực hành và điều tôi nhận ra. Đừng tin điều gì tôi nói vì điều đó do tôi nói. Các vị hãy tự mình thực hành để tự mình trãi nghiệm.”

Đức Phật không cực đoan ngăn cản người khác trong việc lựa chọn điều họ nên học và phương pháp học. Thay vì vậy, trong giáo lý về Phật Tánh, Ngài trình bày cho thính chúng một loại trãi nghiệm tư duy, kêu gọi họ khám phá từ trong kinh nghiệm của chính họ những biểu lộ của Phật Tánh trong mọi lúc của đời sống hàng ngày. Ngài trình bày thể nghiệm nầy bằng hình ảnh một ngôi nhà trong đó có một ngọn đèn đựợc thắp sáng với những bóng mờ và những cửa sổ đóng kín. Ngôi nhà tượng trưng cho cái thấy dày đặc do sự tùy thuộc vào những điều kiện vật lý, tâm lý, cảm xúc. Chiếc đèn tượng trưng cho Phật tánh. Dù cho những bóng mờ và những cửa sổ bị đóng kín, một chút ánh sáng của ngọn đèn từ bên trong vẫn chiếu xuyên qua.

 

Bên trong, ánh sáng từ ngọn đèn đem đến sự rõ ràng để phân biệt gữa một chếc ghế, một cái giường, hay một tấm thảm. Giống như ánh sáng ngọn đèn có thể xuyên qua những khoảng tối và những cửa sổ, chúng ta có thể kinh nghiệm được ánh sáng trí tuệ như là một trực giác, một cái “thấy ở chiều sâu.”

 

Từ và Bi chiếu sáng xuyên qua những chiếc cửa sổ trong những khoảnh khắc nầy khi chúng ta, một cách tự phát, giúp đỡ hay an ủi một người nào đó, không phải vì sự lợi ích bản thân, mà vì cảm thấy việc đó nên làm. Có thể là một điều rất đơn giản như cho một người tựa vào vai để khóc khi họ đau khổ, giúp một người băng qua đường, ngồi bên cạnh một người đang bịnh hay đang hấp hối. Tất cả chúng ta đã từng nghe có những người không nghĩ đến nguy hiểm nhảy vào dòng nước sâu để cứu người không quen biết…

 

Sức mạnh của Phật Tánh thường thể hiện trong sự vượt qua những biến cố khó khăn. Gần đây tôi có gặp một người đã thực hành Phật pháp lâu năm. Anh ta đầu tư vào chứng khoán từ năm 1990, và khi chứng khoán tuột, anh mất tất cả. Nhiều người bạn và người cộng tác với anh cũng mất tiền và một số bị rơi tình trạng khủng hoảng tinh thần. Một số người mất tự tin và không còn khả năng quyết định; một số rơi vào tình trạng nản chí; một số giống như trong đợt khủng hoảng kinh tế 1929, nhảy qua cửa sổ. Nhưng anh thì vẫn vững tâm, không mất lòng tự tin, không thối chí. Anh bình tỉnh đầu tư trở lại và xây dựng lại nền tảng tài chánh vững vàng.

 

Nhìn vẻ mặt trầm tỉnh của anh trong những biến cố lớn, một số bạn bè và người cộng tác hỏi anh làm thế nào anh có thể giữ được sự bình tỉnh. Anh trả lời: “Vâng. Tôi có được tất cả số tiền đó từ thị trường chứng khoán, rồi nó trở về với thị trường chứng khoán, và giờ thì nó quay trở lại. Điều kiện thay đổi, nhưng tôi vẫn còn. Tôi có thể thực hiện những qyết định. Tôi có thể ở trong một ngôi nhà lớn trong một năm, rồi ngủ trên ván ở nhà một người bạn trong năm kế, những điều đó không làm thay đổi sự việc rằng tôi có thể chọn lựa cách tôi suy nghĩ về chính mình và tất cả những vấn đề xảy ra quanh tôi. Thật sự, tôi thấy tôi rất may mắn. Một số người không có khả năng lựa chọn và một số nguời không nhận thấy khả năng lựa chọn của mình.”

 

Tôi cũng từng nghe những nhận xét tương tự từ những người đương đầu với những chứng bịnh kinh niên nơi họ, nơi cha mẹ, con cái họ, hay những thành viên trong gia đình, bạn bè. Một người đàn ông tôi gặp gần đây ở Bắc Mỹ nói về việc anh cố gắng giữ việc làm cũng như mối quan hệ tốt với vợ và con, trong khi vẫn tiếp tục thường xuyên thăm viếng người cha bị bịnhAlzheimer (một chứng mất trí). Anh ta nói: “Dĩ nhiên là khó mà giữ thăng bằng mọi chuyện. Nhưng đó là điều tôi thực hiện. Tôi không thấy có cách nào khác.”

 

Lời phát biểu đơn giản mà tươi mát làm sao! Mặc dù anh ta chưa bao giờ đến tham dự một buổi học Phật pháp, chưa bao giờ nghiên cứu kinh điển Phật giáo, và cũng không cần nhận mình là một Phật tử, sự diễn tả của anh về cuộc sống của mình và cách anh tiếp cận với cuộc sống đã là tiêu biểu cho một sự biểu lộ tự phát về ba phương diện của Phật tánh: trí tuệ nhìn thấy chiều sâu và chiều rộng trong hoàn cảnh của mình, khả năng giải thích sự việc và hành động theo cái thấy của mình, cách cư xử tự phát theo tâm từ bi.

Khi tôi nghe anh ta nói chuyện, tôi nhận ra rằng ba tính chất nầy của Phật Tánh có thể được tóm tắt bằng một từ đơn giản: can đảm – đặc biệt là can đảm để là, như chúng ta là, ngay tại đây và ngay bây giờ, với tất cả những nghi ngờ, bất quyết của chúng ta. Đối diện trực tiếp với kinh nghiệm mở ra cho chúng ta khả năng nhận thấy rằng điều mà chúng ta kinh nghiệm – tình yêu, sự cô độc, ganh ghét, niềm vui, lòng tham, nỗi buồn, và vân vân – từ bản chất là một sự biểu hiện tiềm năng vô hạn nền tảng của Phật tánh nơi chúng ta.

 

Nguyên lý nầy nằm trong sự “chẩn bịnh” của chân lý thứ ba của Tứ Diệu Đế – Diệt Đế. Bất cứ sự phiền não nào chúng ta cảm nhận – vi tế, mãnh liệt, hoặc ở mức độ trung gian – sẽ chìm xuống và chúng ta sẽ vượt qua sự dính chặc vào cái thấy giới hạn, tùy thuộc và bị tùy thuộc về chúng ta, để bắt đầu nhìn thấy bằng khả năng thật sự của chúng ta, thể nghiệm sự việc một cách toàn bộ. Cuối cùng, đến và dừng lại trong Phật Tánh – như một con chim dừng nghỉ khi trở về tổ ấm của mình. Ở đó, sự đau khổ chấm dứt. Không có gì để sợ hãi, không có gì để chống cự. Ngay cả cái chết cũng không làm chúng ta bối rối.

 

Thị Giới Chuyễn ngữ (Theo Sambala Sun)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/4378/feed 0
‘Đức’ và ‘nghiệp’: 2 chủng vật chất quyết định cảnh giới sinh mệnh https://thuonghylenien.org/luu-tru/3620 https://thuonghylenien.org/luu-tru/3620#respond Tue, 10 Nov 2020 02:47:25 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=3620 ‘Đức’ và ‘nghiệp’: 2 chủng vật chất quyết định cảnh giới sinh mệnh.

Đức và Nghiệp là gì? Tại sao người ta thường nói tránh những việc gây ‘tổn đức, thất đức’? Tại sao phải hành thiện, tích đức? Luân hồi trong Phật giáo như thế nào? Chết có thật sự là hết không?

Ngay từ lúc còn tuổi thơ, trong đầu tôi luôn tồn tại nhiều câu hỏi… Mình có thể sẽ là một con chó hay một con bò không? Linh hồn có tồn tại không? Linh hồn có chuyển sinh vào cơ thể khác hay động vật khác không? Rốt cuộc sự chuyển sinh và luân hồi có phải là một không… khác biệt với tái sinh như thế nào? Nghiệp hay nghiệp chướng là gì, có giống với định mệnh không?

Nhân sinh như mộng! Để sống một kiếp người có ý nghĩa thật khó lắm thay…

Quan niệm sai lầm về luân hồi

Có một quan niệm phổ biến về luân hồi: Kiếp sống như là một chuỗi dài dựa theo nhân – quả. Nôm na là: Một người có thể đã trải qua vô số kiếp, trong lục đạo luân hồi… Rồi kiếp này được sinh ra làm người. Kiếp sau lại trở thành động vật, tùy thuộc vào thái độ đối đãi hành xử của con người ta khi sống.

Thời nay người ta không lý giải được quan niệm trên, bởi từ nhỏ học theo khoa học thực chứng, họ cho rằng: “điều gì thấy mới tin, không thấy thì không tin”. Bởi vậy người hiện đại không kiểm chứng được linh hồn… không dám tiếp xúc với những điều siêu thường. Nên coi lục đạo luân hồi chỉ là bài học đạo đức để người xưa không dám hành ác; là những câu chuyện ngụ ngôn thần thoại để dẫn dắt người ta tiếp cận với chân lý.

Phật Thích Ca từng giảng tu Phật có 8 vạn 4 nghìn pháp môn và Phật Như Lai nhiều như số cát sông Hằng… Để tu thành Phật Như Lai thì cần học thông pháp lý ở cao tầng – khoa học siêu thường – Thần học. Luân hồi là một trong những pháp lý liên quan tới hành trình của sinh mệnh ở dạng tinh thần (năng lượng); siêu vượt khỏi những quy tắc vật lý liên quan tới cơ thể vật chất.

Luân hồi trong Phật giáo

Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là tam độc – ba tâm độc hại chết con người: tham, sân, si. Lại tùy thuộc vào nghiệp lực của mỗi người đã gây ra trong quá khứ mà chúng sinh đó sẽ phải chuyển sinh trong lục đạo luân hồi (sáu cõi): cõi Trời, cõi Thần (a-tu-la), người, súc sinh, quỷ đói (ngạ quỷ), địa ngục. Trong Đại Thừa Phật giáo, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết bàn.

Sau khi chuyển (tái) sinh, phần lớn các chúng sinh sẽ không còn nhớ gì về kiếp trước đó. Các chúng sinh sẽ có một cuộc đời mới. Việc chúng sinh sẽ chuyển (tái) sinh vào cõi nào sau khi chết có thể dự đoán được nếu quan sát cận tử nghiệp.

Ngày nay người ta thấy khó hiểu và dần coi luân hồi là một bài học giáo huấn đạo đức, thêm vào đó là những cám dỗ của danh lợi tình khiến cho người ta không còn muốn tin vào luân hồi nữa. Nếu thoát khỏi ý nghĩa bề mặt câu chữ có thể sẽ hiểu được những triết lý sâu xa… Câu hỏi là “sao không nói trắng ra để người ta có thể dễ dàng hiểu rõ?”. Có thể là mục đích không phải để người ta dễ dàng hiểu rõ… Có thể là pháp lý siêu thường nằm ngoài hiểu biết thông thường.

Đức và nghiệp là nguồn gốc của luân hồi trong Phật giáo

Nghiệp (nghiệp lực hay ác nghiệp) và đức (đức hạnh hay là phúc đức) có tồn tại vật chất và đồng hành cùng sinh mệnh. Tùy theo thái độ hành vi của con người ta mà sẽ sản sinh ra ‘đức’ hay ‘nghiệp’; và giữa chúng có mối quan hệ chuyển hóa qua lại. Sự vận hành này không chỉ theo nghĩa cơ học bề mặt vật chất mà còn ở mức vi tế hơn. Phật gia giảng “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” là có bao hàm ý này.

Khi con người làm gì đó, luôn tồn tại việc tốt và việc xấu. Làm việc tốt sẽ tích được đức, làm việc xấu sẽ tích nghiệp lực. Hai chủng vật chất này không mất đi mà chuyển hóa qua lại thông qua các hành vi ứng xử. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng là một trong những phương diện nhỏ minh chứng cho điều này.

Phân biệt Đức và Nghiệp với số phận của con người

Cần phân biệt đức – nghiệp và số phận của một cá nhân. Số phận đường đời được sắp đặt bởi tạo hoá và vượt ngoài tầm kiểm soát của con người. Còn nghiệp và đức thì lại tuỳ thuộc vào hành vi và hành vi thông thường được quyết định bởi ý thức. Trong Kinh Pháp Cú có giảng “Điều mà ta nhận được (quả) phụ thuộc vào suy nghĩ (nhân). Nó được hình thành bởi suy nghĩ”. Do vậy, một người trở nên cao quý hay thấp hèn chủ yếu phụ thuộc vào suy nghĩ của họ. Và suy nghĩ được biểu đạt bằng hành vi có tính tích cực hay tiêu cực.

Cõi giới

Phật giáo giảng về 10 cõi chúng sinh: Cao nhất là Phật rồi đến Bồ Tát, Bích Chi Phật (Duyên Giác); Thanh Vân; Cõi Trời; Cõi người, A-tu-la; súc sinh; ngạ quỷ và địa ngục.

Sau khi Phật Thích Ca niết bàn hàng trăm năm mới có Kinh sách Phật giáo. Thật khó cho những người học Phật hàng trăm năm sau có thể hiểu được nội hàm của Phật pháp do hoàn cảnh đã không còn, ngôn ngữ cũng đã thay đổi… Rất nhiều người không hiểu được pháp lý và cảnh giới tư tưởng của Phật nên đưa ra những lời giải thích nông cạn đơn giản kiểu như:

“Mười cõi chúng sinh không có ranh giới cụ thể, là bao gồm lẫn nhau. Nói cách khác, mỗi cõi trong đó bao gồm chín cõi còn lại. Ví dụ, cõi người có tất cả chín trạng thái khác từ địa ngục đến Phật vị. Con người trong ích kỉ, tự tư, dối trá sẽ tạo ra địa ngục của chính mình. Ngược lại, Thiện lương, Chân thành, Nhẫn nại phản ánh sự từ bi của Phật Đà. Các vị Phật cũng có chín cảnh giới khác trong tâm trí họ. Bởi vì để cứu độ những người trong địa ngục thì Ngài cũng phải hiểu nỗi khổ của chúng sinh. Qua đó, Ngài sẽ hướng dẫn họ tu luyện để tìm ra con đường giác ngộ”.

Những bài học giản đơn rút ra từ những nhận thức đơn giản

Hiểu được luân hồi, sẽ hiểu được ý nghĩa của sinh mệnh, khiến cho tư tưởng và đạo đức thăng hoa.

Khao khát danh, lợi, tình, thù thì tâm tính đã đang ở trong cõi Ngạ quỷ;

Khao khát thú vui xác thịt, tâm tính có khác chi cầm thú.

Chân thành, thiện lương và đại nhẫn từ bi thì là cảnh giới của Thần.

Cõi người chính là ở trung tâm của 10 cõi chúng sinh.

Vì vậy, con người có thể trượt xuống hoặc thông qua tu luyện để đề cao cảnh giới sinh mệnh.

Luân hồi chuyển kiếp, nhân sinh lắng đọng

Luân hồi là điều mà chúng sinh trong Tam giới đều phải trải qua. ‘Nghiệp’ và ‘đức’ là nguồn gốc của luân hồi. Luân hồi là để cân bằng giữa nghiệp và đức. Việc lựa chọn, quyết định cảnh giới của sinh mệnh tùy thuộc vào nghiệp và đức của mỗi cá nhân. Sống Chân thành, Thiện lương, Nhẫn nại làm người tốt và tốt hơn nữa là lựa chọn sáng suốt của sinh mệnh.

Theo Nguyện Ước

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/3620/feed 0
3 câu nói bị hiểu sai nhiều nhất trong mấy ngàn năm qua, đã hại biết bao nhiêu người https://thuonghylenien.org/luu-tru/3433 https://thuonghylenien.org/luu-tru/3433#respond Sun, 08 Nov 2020 23:12:31 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=3426 3 câu nói bị hiểu sai nhiều nhất trong mấy ngàn năm qua, đã hại biết bao nhiêu người.

3 câu nói bị hiểu sai nhiều nhất trong mấy ngàn năm qua, đã hại biết bao nhiêu người
Chữ Hán có hàm nghĩa rộng và sâu sắc. Nhiều lúc, nếu chỉ dựa vào chữ để lý giải thì rất dễ gây ra hiểu sai. Nhìn lại nền văn minh mấy ngàn năm của Trung Hoa, có ba câu nói thường xuyên bị hiểu sai và dùng sai, mà nguồn gốc là bắt nguồn từ sự lý giải sai lầm của 3 chữ Hán.

‘Nữ tử vô tài tiện thị đức’ – Phụ nữ không tài mới là đức

Khi người xưa đưa ra câu nói này, chữ “vô” được nói đến thật ra là một động từ, ý là “vốn có mà xem như không”. Vì vậy, “vô tài” thật ra có nghĩa là “vốn dĩ có tài, nhưng trong lòng lại xem như không có”, hàm ý diễn đạt một thái độ khiêm tốn.
Cũng có nghĩa là: Phụ nữ có thể có tài năng, nhưng đồng thời có thể hạ thấp cái tôi, không khoe khoang, không thể hiện thì đó mới là đức hạnh lớn nhất của người phụ nữ. Ngoài ra, câu nói này vẫn còn nửa câu trên: Nam tử hữu đức tiện thị tài (đàn ông có đức mới là tài).
Ý của câu này là: Đàn ông phải lấy đức hạnh làm trọng, tài cán là để bổ trợ, chứ không có nghĩa là khuyên đàn ông không xem trọng tài cán. Tương tự như vậy, “nữ tử vô tài tiện thị đức” cũng vẫn là khuyên phụ nữ phải lấy đức hạnh làm trọng, chứ không có ý khinh thường nữ giới.
Vì vậy, bất luận là “đàn ông có đức mới là tài” hay là “phụ nữ không tài mới là đức”, thật ra đều là đang giáo dục chúng ta phải chú trọng phẩm đức của bản thân, đây chính là trí tuệ của văn hóa Trung Hoa.

‘Lượng tiểu phi quân tử, vô độc bất trượng phu’ – Hẹp hòi không phải quân tử, không ác không phải trượng phu

Mấu chốt của câu nói này chính là nằm ở chữ “độc”. Nếu như dựa vào chữ viết để lý giải thì câu nói này giống như là yêu cầu mọi người phải tàn nhẫn độc ác, nhưng thật ra không phải như vậy. Câu nói này được bắt nguồn từ câu nói: “Lượng tiểu phi quân tử, vô độ bất trượng phu” trong “Vọng Giang Đình” của Quan Hán Khanh.
Nguyên văn ở đây là chữ “độ” – có nghĩa là độ lượng; chứ không phải là chữ “độc” – với nghĩa là độc ác. Vì vậy câu “vô độ bất trượng phu” nghĩa là nếu như không có đủ sự độ lượng và khí phách thì không được xem là “đại trượng phu”.
Chữ “độ” này và chữ “lượng” ở nửa câu đầu vừa hay hình thành sự đối ứng trước sau, nhưng do vì hai chữ này đều là chữ thanh trắc, không phù hợp với yêu cầu đối thơ, đọc lên sẽ hơi gượng gạo, vì vậy người xưa mới phát âm chữ “độ” trong câu này thành âm thứ hai (tức là chữ độ phát âm giống với chữ độc), kết quả lưu truyền qua nhiều đời thì bị biến đổi sai lệch trở thành câu “vô độc bất trượng phu”.
Lại còn có người tiếp tục xuyên tạc, thậm chí biến câu nói trên thành một ý nghĩa hoàn toàn khác: ‘Hận tiểu phi quân tử, vô độc bất trượng phu’, nghĩa là ít hận thù thì không phải quân tử, không độc ác thì không phải đại trượng phu.
“Lượng tiểu phi quân tử, vô độ bất trượng phu” vốn dĩ là một câu danh ngôn rất tích cực mang ý nghĩa đề cao phẩm chất hào hiệp độ lượng, truyền tới truyền lui lại trở thành câu nói biện hộ cho sự tàn bạo bất nhân và lòng dạ hẹp hòi, sao có thể không khiến người ta không thở dài cho được?

‘Nhân bất vị kỷ, thiên tru địa diệt’ – người không vì mình, trời chu đất diệt

Từ khóa chính gây ra sự hiểu lầm trong câu nói này chính là chữ “vị” (vì). “Vị” đọc là “wéi”, là chữ vi trong “tu vi”, đọc âm thứ hai, chứ không phải chữ “vị” của từ “là vì”, không phải là âm thứ tư. Vì vậy ý nghĩa thực sự của câu nói này là: Nếu như làm người mà không tu luyện bản thân, thì Trời đất cũng sẽ không dung tha.
Nhưng phần lớn mọi người lại hiểu sai câu nói này thành: “Con người sống trên đời nếu như không suy nghĩ cho bản thân mình, thì Trời đất cũng không dung tha”. Hiểu không đúng một chữ là toàn bộ ý nghĩa diễn đạt trong câu sẽ sai khác hoàn toàn, điều này thật sự khiến người ta không khỏi bàng hoàng.
‘Tu vi’ chính là tu luyện. Cuộc đời con người thật ra chính là một quá trình tu luyện. Người thực sự nhìn thấu thế giới này thì đều hiểu là phải không ngừng tu luyện bản thân: Khắc chế bản thân, đề cao phương diện tâm tính phẩm đức, có khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, suy nghĩ cẩn trọng, theo đuổi những thứ cao siêu hơn, ra sức thực hành chân lý.
Chỉ có không ngừng nâng cao cảnh giới của đời người thì mới có thể sống một cách rõ ràng, sống một cách nhẹ nhàng thoải mái, và sống một cách tự do tự tại. Ngoài ra, một số câu dưới đây cũng là những câu tục ngữ, danh ngôn thường xuyên bị mọi người hiểu sai và dùng sai:

Cha mẹ còn, không đi xa

Nguyên văn: Cha mẹ còn, không đi xa, đi phải có cách. Khi cha mẹ vẫn còn sống, con cái cố gắng không nên sống ở nơi xa trong thời gian quá lâu. “Đi phải có cách” có hai nghĩa: một là đi chơi xa cần phải có phương hướng, và phải cho cha mẹ biết nơi mà mình đến; hai là người thường xuyên sống ở bên ngoài, cũng cần phải sắp xếp tốt cho cha mẹ trước khi đi.

Nhân định thắng thiên

Hiểu sai: Con người nhất định có thể chiến thắng tự nhiên.
Hiểu đúng: “Định” là tính cố định, ý muốn nói lòng người an định, ý nghĩa của câu này là chỉ có lòng người an định, thuận theo tự nhiên thì mới có được sự chiếu cố từ tự nhiên.

Thiên tài là 1% linh cảm cộng với 99% mồ hôi

Nguyên văn: Thiên tài là 1% linh cảm cộng với 99% mồ hôi, nhưng 1% linh cảm là điều quan trọng nhất, thậm chí còn quan trọng hơn 99% mồ hôi.

Ba ông thợ giày, bằng một Gia Cát Lượng

“Thợ giày” thực tế là cùng âm với từ “bì tướng”, nghĩa là phó tướng. Ý muốn chỉ rằng trí tuệ của ba phó tướng hợp lại có thể bằng một Gia Cát Lượng.

Không nỡ bỏ con nhỏ không bẫy được sói

Nguyên văn là “không nỡ bỏ giày không bẫy được sói”, ý của câu này là nếu muốn săn được sói thì đừng ngại chạy bộ, đừng sợ làm mòn giày, chứ không phải lấy con của mình đi bẫy sói.

Vương bát đạn (đồ con rùa)

Câu này là một câu chửi người, nguyên văn là “vong bát đoan”.
Trong thời xưa, từ “bát đoan” là chỉ hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, tám đức tính này chính là gốc rễ để làm người, quên mất tám đức tính này cũng có nghĩa là quên mất gốc rể cơ bản để làm người.

Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại – Có ba điều bất hiếu, vô hậu là lớn nhất

Câu này không phải ám chỉ không có đời sau nối dõi thì là bất hiếu. “Vô hậu” ở đây là muốn nói không làm tròn trách nhiệm của hậu bối.

Tồn thiên lý, diệt nhân dục

Câu này không phải nói rằng con người không được có dục vọng. Mà ý nghĩa chính xác của câu này là: Để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người là phù hợp với lẽ tự nhiên, còn những dục vọng vượt qua nhu cầu cơ bản thì cần phải cố gắng kiểm soát. Thiên lý ở đây là chỉ những đạo đức tốt đẹp của con người, vì vậy câu này muốn nói là giữ lấy những giá trị đạo đức tốt đẹp, và bỏ những mong cầu ích kỷ của bản thân.

Lấy đức báo oán

Có người nói: “Lấy đức báo oán, thế nào?”.
Khổng Tử nói: “Lấy gì báo đức? Lấy trực báo oán, lấy đức báo đức”.
Từ trong câu trả lời của Khổng Tử có thể hiểu được là, đối với những người không tốt với chúng ta, những người cố tình gây thù kết oán với chúng ta, thì chúng ta cần phải dùng sự chính trực, ngay thẳng để đáp lại họ, phân tích cho họ biết đúng sai, dựa theo đạo lý đúng đắn mà làm. Điều này hoàn toàn không phải là mù quáng đối tốt với những người luôn có ác ý với chúng ta. Bởi vì dùng sự ân đức để đối xử với người phụ bạc mình, là một sự lãng phí đời người và lãng phí nhân cách.

Chỉ có nữ tử và tiểu nhân là khó nuôi, gần thì không cung kính, xa thì oán trách

Câu này của Khổng Tử nói. Rất nhiều người cho rằng Khổng Tử xem thường nữ giới, thật ra không phải vậy. Nữ tử ở đây là muốn ám chỉ những cô gái có phẩm hạnh không tốt, cũng giống như kẻ tiểu nhân là ám chỉ người đàn ông không tốt. Các cô gái có phẩm hạnh tốt thường được gọi là thục nữ. Ngoài ra, chữ ‘nuôi’ ở đây cũng không có nghĩa là nuôi sống, mà có nghĩa là tiếp xúc.

Thiên địa bất nhân lấy vạn vật làm chó rơm

Nguyên văn: Thiên địa bất nhân lấy vạn vật làm chó rơm; thánh nhân bất nhân lấy bách tính làm chó rơm. Ý nghĩa thực sự của câu này là: Thiên địa (đất trời) xem vạn vật đều bình đẳng như nhau, không có phân biệt cao thấp sang hèn. Thánh nhân cũng như vậy, cũng có cái nhìn bình đẳng đối với bá tánh trong thiên hạ.

Tam tư nhi hậu hành (suy nghĩ ba lần rồi làm)

Nguyên văn: Quý Văn Tử tam tư nhi hậu hành, Tử vấn chi viết: tái, tư khả hĩ. (Quý Văn Tử làm chuyện gì cũng suy nghĩ ba lần rồi mới làm, Khổng Tử nghe được chuyện này, mới nói: Hai lần, là được rồi). Cẩn trọng khi làm việc không phải là điều xấu, nhưng nếu luôn do dự không quyết, thiếu sự quyết đoán thì sẽ dễ làm hỏng chuyện.

Vô gian bất thương

Nguyên văn: Vô tiêm bất thành thương.
Thời xưa khi làm ăn mua bán gạo, người ta thường dùng cái đấu để đong gạo và tính tiền, người bán không những múc gạo đầy một cái đấu, mà còn phải múc thêm vào một ít, để cho gạo ở trong đấu nhô lên một chút, cố gắng để người mua được lợi, thể hiện đạo đức kinh doanh, cũng là mong tạo dựng mối quan hệ tốt với khách hàng. Cho nên gọi là ‘vô tiêm bất thương’, chứ không phải là ‘vô gian bất thương’.
***
Bài viết này hi vọng sẽ giúp quý độc giải hiểu thêm về ý nghĩa đạo lý và nhân văn thực sự của những câu cổ ngữ vốn đã bị dân gian lý giải và sửa đổi sai lệch. Cũng hi vọng, từ nay nếu gặp người nào hiểu sai về những câu nói trên thì bạn hãy nói cho họ biết ý nghĩa thực sự của chúng.

Theo Aboluowang
Châu Yến biên dịch

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/3433/feed 0
Trí huệ cổ nhân: Thiên tượng biến đổi là lời cảnh tỉnh với nhân loại https://thuonghylenien.org/luu-tru/3401 https://thuonghylenien.org/luu-tru/3401#respond Sat, 07 Nov 2020 08:56:35 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=3401 Trí huệ cổ nhân: Thiên tượng biến đổi là lời cảnh tỉnh với nhân loại.


Người xưa nhận thức Thiên – Nhân là một chỉnh thể, giữa chúng có tồn tại mối liên hệ và quan hệ đối ứng. Thiên tượng thay đổi sẽ dẫn động những biến hóa xảy ra trong xã hội nhân loại.

Sử ký – Nhạc thư viết: “Trời và con người tương thông, giống như quan hệ giữa hình với ảnh và khí. Người làm việc tốt, Trời báo phúc. Người làm việc xấu, Trời giáng họa. Giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, là đạo lý rất tự nhiên. Do đó người xưa giảng, suy Đạo Trời để hiểu rõ chuyện con người. Bậc quân vương cần hành động giống như Trời, tâm thái chí thành của quân vương có thể cảm động đến Trời, khiến âm dương biến đổi. Nếu quân vương trái với âm dương, trái với ý Trời, thì sẽ có tai họa, dị tượng xảy ra. Đó là Trời cảnh cáo quân vương”.

Cho dù là sự thay đổi triều đại, chiến tranh, nhỏ hơn là sự hưng vong của một người, đều có quan hệ đối ứng với các vì tinh tú. Trong lịch sử cũng có những ghi chép về sự tương hợp của Thiên tượng và các sự kiện xảy ra tại nhân gian.

Gia Cát Lượng xem thiên tượng biết trước ngày qua đời

Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, có một hồi miêu tả chi tiết về khả năng quan sát các vì sao của Gia Cát Lượng:
Đêm tối, Khổng Minh thân mang bệnh, vén lều ra ngoài, ngước nhìn lên trời quan sát thiên văn, xem xong ông vô cùng kinh hoàng. Ông vào lều nói với Khương Duy: “Ta nguy đến nơi mất rồi!”.
Khương Duy hỏi: “Thừa tướng cớ sao lại nói như vậy?” Khổng Minh đáp: “Ta thấy trong 3 ngôi sao, sao Khách Tinh sáng lên gấp bội, sao Chủ Tinh lại u ám, sao Tướng Phụ bóng tối lờ mờ; thiên tượng như vậy, đủ biết mệnh ta!”.

Tranh vẽ Gia Cát Lượng (ảnh: Wikimedia).
Khương Duy nói: “Cho dù thiên tượng như vậy, thừa tướng sao không dùng phép cầu an dâng sao giải hạn để vãn hồi?” Khổng Minh nói: “Ta am hiểu phép ấy, nhưng chưa biết Thiên ý ra sao”.
Mặt khác, Tư Mã Ý trong trại quân Nguỵ cũng bằng cách quan sát như thế mà phát hiện và đoán về Gia Cát Lượng: “Bỗng một đêm ngóng xem thiên văn, Tư Mã Ý mừng lắm, và nói với Hạ Hầu Bá: “Ta thấy tướng tinh đổi ngôi, Khổng Minh chắc chắn có bệnh, không lâu tất sẽ chết”.
Kết quả, bệnh của Khổng Minh bị Tư Mã Ý đoán chính xác, không lâu sau quả thật Khổng Minh qua đời ở gò Ngũ Trượng trong lúc cuộc Bắc phạt hãy còn dang dở.

Hoàng đế cải chính, dị tượng tự chấm dứt

“Hán thư” ghi chép: Thời Hán Nguyên Đế, vùng kinh thành Trường An có những thiên tai như nhật thực, địa chấn… Nguyên Đế cảm thấy kinh sợ và lo lắng, ông hỏi quần thần về những điều làm được và không được về mặt chính trị.
Khuông Hoàng, người khi ấy đảm nhiệm chức Cấp sự trung, đã chiểu theo kinh điển Nho gia trả lời: “Từ quân vương đến thứ dân, tất cả đều kính Trời sùng thiện. Quân vương cần tiếp nhận Thiên ý để thực hành nền nhân chính, làm việc thiện, cầu phúc cho bách tính. Nên giảm quy mô cung thất, tu nội và ngoại, gần gũi người trung chính, tránh xa gian nịnh. Công khanh đại phu cần tuân theo lễ, cung kính khiêm nhường, thích nhân nghĩa, thí xả, trọng nghĩa khinh lợi, làm tấm gương cho dân chúng. Sau đó thúc đẩy đạo đức giáo hóa trong bách tính, hoằng dương phong khí nhân – hòa. Trên thực hành, dưới làm theo, như thế thì quốc gia có thể hưng vượng, bách tính có thể an cư lạc nghiệp”.
Khuông Hoành nhằm vào tệ nạn đương thời mà đề ra biện pháp tốt, được Nguyên Đế, các đại thần và bách tính ủng hộ và tán thành. Sau khi thực thi, quả nhiên phong khí xã hội trở nên tốt đẹp, các dị tượng không xảy ra nữa, quốc thái dân an.

Đại sự nhà Đường không tách rời biến hóa thiên tượng

Ngày 7 tháng 1 năm đầu Diên Hòa (tức 712) triều Đường Duệ Tông, sao Thái Bạch hiển hiện ngay giữa ban ngày. Hôm đó Đường Duệ Tông Lý Đán nhường lại ngôi vị cho Lý Long Cơ (tức Đường Huyền Tông sau này) và tự xưng là Thái thượng hoàng. Đây là điềm báo thay đổi quốc chủ!
Đến tháng 8, tháng 9, sao Thái Bạch lại xuất hiện, quốc hiệu được đổi thành “Tiên Thiên” (niên hiệu của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ). Ngày 7 tháng 2 năm thứ hai Tiên Thiên (713), Thái Bình công chúa (em gái Đường Duệ Tông) cùng Trung thư lệnh Tiêu Chí Trung và nhiều quan viên như tể tướng Đậu Hoài Trinh, Sầm Hi, Thôi Thực… mưu phản, định lật đổ Đường Huyền Tông. Cuối cùng âm mưu bị bại lộ, tất cả đều bị xử tử.
Trong những năm Nghi Phượng triều Đường Cao Tông (649 – 683), trên bầu trời có trường tinh chiếm cả nửa trời, xuất hiện ở phía đông, hơn 30 ngày mới mất hẳn. Bắt đầu từ lúc đó quốc gia liền có đại hoại: Thổ Phồn nổ dậy, Hung Nô tạo phản, Từ Kính Nghiệp làm loạn, Bạch Thiết Dư phản nghịch, Bác Dự gây rối, Trung Mặc hoành hành ngang ngược, Khiết Đan vượt qua Cung Phủ, Đột Quyết; tổng cộng khiến hơn một trăm vạn người chết. Hơn 30 năm, chiến tranh vẫn chưa dừng lại.
Trên đây chỉ là đưa ra vài ví dụ xảy ra về sự biến hóa của thiên tượng vào vương triều Đường. Trong lịch sử các triều đại Tống, Nguyên Minh Thanh những sự việc như thế này có rất nhiều, đều được những nhà tinh tượng học (xem độ sáng và vị trí chòm sao mà suy đoán số mệnh) quan sát và ghi chép lại.

Thiên tượng biến đổi là lời cảnh tỉnh với nhân loại

Mao Trạch Đông, Chủ tịch đầu tiên của ĐCSTQ, từng ngông cuồng phát ngôn: “Nhân định thắng thiên” (Người phải thắng Trời), “Đấu với Trời là niềm vui vô tận”. “Trận đấu” đó đã kéo dài suốt hơn 70 năm qua, đấu đến nỗi vùng đất Trung Hoa đâu đâu cũng hoang tàn đổ nát, người dân lầm than. Hành vi ngang ngược của ĐCSTQ đã khiến cho Trời giận, người oán thán.
Mười mấy năm nay, các loại thiên tai ở Trung Quốc liên tiếp xuất hiện để cảnh tỉnh con người: bão, lốc xoáy xảy ra dày đặc; bão cát, hạn hán liên tiếp trên diện rộng; lũ lụt và mưa lớn không theo mùa; dịch bệnh nghiêm trọng… Hiện tượng thời tiết xem ra có vẻ “kỳ dị”, thực ra lại là điều tất nhiên. Những thiên tai này là sự cảnh cáo của Trời đối với con người, cũng là sự trừng phạt đối với con người.
Kỳ lạ hơn nữa, tháng 6 năm 2002, một “tàng tự thạch” (tảng đá mang chữ) đã được phát hiện tại tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, trên đó có 6 chữ “Trung Quốc Cộng sản đảng vong” (nghĩa là “Đảng Cộng sản Trung Quốc diệt vong”). Điều làm các nhà nghiên cứu đau đầu là tảng đá và 6 chữ này có cùng niên đại vào 270 triệu năm trước.

Tàng tự thạch với dòng chữ “Trung Quốc Cộng sản đảng vong” có niên đại 270 triệu năm (ảnh: Epoch times).
Người Trung Quốc có câu nói dân gian là: “Người không trị thì Trời trị”, “Thiện ác tất có báo ứng, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.” Đối chiếu trong ghi chép lịch sử thì các rất nhiều thành cổ, nền văn minh phồn vinh đã bị tiêu hủy do đạo đức bại hoại.
Có thể tránh được thiên tai hay không, mấu chốt là ở nhân tâm. Nếu như mỗi người chúng ta đều có thể thực sự hành xử theo thiên đạo, duy trì đạo đức, nhân tâm hướng thiện, thì Trời cao tự nhiên sẽ cho thời tiết mát mẻ, mưa thuận gió hòa.

Theo Minh Huệ/ Chánh Kiến
Ngọc Mai (tổng hợp)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/3401/feed 0
10 trí huệ cổ nhân giúp bạn nhìn thấu cuộc đời, sống an lạc https://thuonghylenien.org/luu-tru/3397 https://thuonghylenien.org/luu-tru/3397#respond Sat, 07 Nov 2020 08:50:07 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=3397 10 trí huệ cổ nhân giúp bạn nhìn thấu cuộc đời, sống an lạc.


Làm người vốn khó, chính là khó tại lòng mình. Có người một đời truy cầu tiền tài, danh lợi, địa vị, tuy nhiên cũng có người truy cầu hạnh phúc bằng niềm vui tự tại trong chính nội tâm của mình.
Dưới đây là 10 đại trí huệ của Vương Dương Minh, là những gợi ý giúp mỗi chúng ta dễ dàng tìm kiếm được hạnh phúc trong chính tâm hồn của mình.

Giữa bạn bè: Khiêm nhường, chân thành là điều trọng yếu

Trong mối quan hệ ứng xử bạn bè, khiêm nhường chân thành ắt thọ ích, thu lợi, kỳ kèo so đo, tự đại ắt chịu tổn thương.
Cảm ngộ: Con người thì ai cũng có tư tâm, muốn thu lợi riêng cho mình, coi trọng lợi ích bản thân, khi cho đi đều mong muốn nhận lại. Đây cũng là lẽ thường tình dễ hiểu. Vậy nên trong mối quan hệ bạn bè, khiêm nhường, chân thành chính là nền tảng bền lâu, nó không chỉ giúp mỗi người đều thu được lợi ích mà còn khiến cho đôi bên thêm phần gắn kết, cộng sinh cộng hưởng, lợi ích thêm nhiều.

Sách không muốn xem lại càng phải xem

Ban ngày học tập nếu như cảm thấy phiền não bất an, vậy hãy tập trung tĩnh tọa, loại bỏ phiền não. Cũng như đọc sách, dù không muốn cũng nhất định phải xem, nó cũng như là kê thuốc đúng bệnh, cũng là một phương pháp đúng đắn.
Cảm ngộ: Những ưu phiền nông cạn trên bề mặt thường được bắt nguồn từ bản năng tránh khổ tìm sướng của con người. Tuy nhiên khi chúng ta càng muốn cuộc sống thanh nhàn hưởng thụ sự dễ chịu thoải mái thì lại càng không thể trưởng thành, không thể tiến xa hơn, thậm chí càng khiến bản thân thêm phiền toái lo âu.
Vậy nên, người càng muốn an nhàn thoải mái thì lại càng phải vượt lên nghịch cảnh, vượt lên chính mình. Khi chúng ta càng không muốn làm một điều gì đó thì lại càng phải cố gắng đi thực thi, đây cũng chính là sự tôi luyện tâm tính của chính mình.

Không được có tư tâm

Muốn khắc chế bản thân mình thì nhất định phải loại bỏ tư tâm, một chút cũng không thể để lại. Một khi con người còn tư tâm thì còn ác niệm, còn tư tưởng xấu chế ngự bản thân.
Cảm ngộ: Khắc chế dục vọng bản thân cũng như con người ta đắp đê chặn lũ. Đê phải chắc, thế phải vững, dù một giọt cũng không được rỉ, nếu không sớm muộn cũng có ngày đê thủng, bờ tan, dã tràng xe cát. Con người nếu như còn một chút dục vọng tư tâm thì cũng giống như khoan một lỗ trên đê chống lũ, rất dễ khiến cho nước tràn đê vỡ.

Hối hận chính là liều thuốc tốt nhất của đời người

Hối hận chính là liều thuốc quý để trị bệnh, quý ở chỗ biết sửa đổi. Tuy nhiên nếu như cứ mãi ôm chặt sự hối hận trong lòng thì lại vì thuốc mà sinh bệnh.
Cảm ngộ: Con người đâu phải bậc thánh nhân, sao có thể tránh khỏi sai lầm? Biết sai, sửa sai, quý là ở chỗ biết tỉnh ngộ mà sửa đổi. Vậy nên điều thứ nhất là cần biết tỉnh ngộ, điều thứ hai là cần biết sửa đổi, điều thứ ba là không được mãi ôm giữ sự hối hận trong lòng. Đây cũng chính là quá trình trưởng thành của mỗi người.

Cuộc sống bận rộn bất an, tất cả đều do tâm thái truy cầu được – mất tạo thành

Xử lý công việc xuất hiện tình trạng có lúc tốt có lúc không, khiến cho tình cảnh tệ hại. Đây phần nhiều đều do liên quan đến tâm lý đắn đo được và mất tạo thành, trên thực tế là không làm được tốt so với những gì lương tri có thể.
Cảm ngộ: Trong xã hội ngày nay, có rất nhiều người phải xử lý công việc đầu tắt mặt tối, cả ngày chân tay bận bịu, càng vội càng loạn khiến cho sự việc càng làm càng rối. Ngay cả bản thân rơi vào cảnh khốn đốn lúc nào cũng chẳng hay,. Tại sao lại vậy?
Vương Dương Minh từng nói: “Nguyên nhân tất cả những điều này đều chỉ vì tâm coi trọng được – mất quá nặng, chỉ muốn có kết cục tốt, sợ những điều bất hạnh cho nên tự mình đã che đậy mất khả năng vốn dĩ có thể xử lý nó được tốt hơn. Kỳ thực, cuộc sống được – mất đó là lẽ thường tình, sống nếu như có thể đối đãi vạn sự vạn vật một cách tùy kỳ tự nhiên mới là thái độ lý tưởng nhất”.

Trốn tránh sẽ không thể có tiền đồ

Con người cần phải rèn luyện hướng lên trên, trong công việc cần phải dụng tâm mới có thể thu được lợi ích. Làm người nếu như chỉ muốn yên tĩnh, nhẹ nhàng, đến khi gặp việc ắt sẽ hoảng loạn, sau cùng sẽ chẳng thể tiến bộ. Trốn tránh phiền phức chỉ được yên cái yên nhất thời, trên thực tế lại chính là tự dấn thân chỗ nguy hiểm.
Cảm ngộ: Xã hội ngày nay vô cùng phức tạp, cuộc sống ngày một áp lực, vậy nên ắt cần phải kiên cường mạnh mẽ, can đảm đối diện với khó khăn. Có như vậy mới có thể trưởng thành, trốn tránh chỉ làm chúng ta ngày một yếu đuối, vĩnh viễn không thể nào có tiền đồ.

Thứ đánh lừa chúng ta, vĩnh viễn đều là dục vọng vật chất

Nếu như không có sự cám dỗ của vật chất, tất cả đều dựa theo lương tri của chúng ta mà phát huy, vậy thì không lúc nào, không ở đâu là xa rời với Đạo. Thế nên bình thường đại đa số đều bị ham muốn vật chất dắt mũi đánh lừa, không thể thuận theo lương tri mà làm.
Cảm ngộ: Vương Dương Minh nói đến lương tri ở đây chính là nói tới “bản tính”. Bản tính lương tri mỗi người đều có, Vương Dương Minh nói cho chúng ta biết một điều: Đại đa số chúng ta không thể giữ vững được lương tri của mình đều là do dục vọng vật chất làm cho mê mờ.
Đặc biệt đối với xã hội ngày nay, khi con người coi trọng cuộc sống vật chất hơn bất kỳ điều gì khác thì tình trạng vì ham muốn cuộc sống vật chất làm cho lương tri bị mê mờ lại càng trở nên nghiêm trọng.

Muốn cười thì phải khóc

Chỉ có niềm vui sau đau khổ mới là niềm vui thực tại, còn như chưa có khóc ắt cũng chẳng có vui. Tuy có đau khổ nhưng lại nhờ đó mà được an vui, mà được vui vẻ.
Cảm ngộ: Ví dụ một người ngày nào cũng ăn sơn hào hải vị, sau một thời gian cũng cảm thấy hương vị bình thường, không còn thơm nữa. Và ngày ngày sống cuộc sống đủ đầy như ăn tết, đến khi tết đến lại chẳng biết cảm giác tết là gì.

Vậy nên làm người thì đừng ngại khổ, bởi đó cũng chính là nền tảng cho sự vui vẻ hạnh phúc mai sau. Cũng như người muốn thành công thì phải trải qua thất bại, muốn nên người thì phải trải đắng cay, người mà không qua rèn giũa thì đâu thể trưởng thành.

Chê bai người khác cũng chính là khinh thường tự thân

Dùng lời hạ thấp người khác, đây cũng chính là hành vi ngu xuẩn nhất, nông cạn của kẻ kém hiểu biết. Nếu như bản thân không có sự hiểu biết mà chỉ nói những lời sáo rỗng trên bề mặt thì đây cũng là hành vi tự phỉ báng chính mình.
Cảm ngộ: Kỳ thực hành vi này chính là thể hiện sự hiểu biết nông cạn của bản thân, không nhìn ra bản tính hẹp hòi, không đủ bao dung, đem sức lực đặt không đúng chỗ và để rồi bản thân lại không có thời gian đi cải thiện khuyết điểm của chính mình.

Làm việc gì chú tâm vào việc đó

Có câu chuyện kể về lão hòa thượng trước và sau khi đắc Đạo:
Một vị hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo ngài làm gì?”.
Lão hòa thượng trả lời: “Chặt củi, gánh nước, nấu cơm”.
Vị hành giả lại hỏi: “Vậy sau khi đắc Đạo thì sao?”.
Lão hòa thượng nói: “Chặt củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả lại hỏi: “Như vậy nghĩa là đã đắc Đạo rồi sao?”.
Hòa thượng già trả lời: “Trước khi đắc Đạo, khi chặt củi thì ta nhớ đến gánh nước, khi gánh nước ta lại nhớ đến nấu cơm. Sau khi đắc Đạo, chặt củi là chặt củi, gánh nước là gánh nước, nấu cơm là nấu cơm thôi”.
Kỳ thực chuyên nhất cũng chính là sự tu dưỡng, người có thể chuyên tâm làm gì nghĩ đó chính là người đang tu dưỡng.
Cuối cùng, đời người chính là không ngừng nỗ lực bằng chính đôi chân của mình, và chỉ có nỗ lực cho đi thì thực sự mới có thể thu về.

Theo Sound Of Hope
Minh Vũ biên dịch

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/3397/feed 0