ĐỊA LÝ PHONG THỦY-DỊCH LÝ – THƯỜNG HỶ LÊ NIÊN https://thuonghylenien.org Một trang web mới sử dụng WordPress Sat, 18 May 2024 03:43:42 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.5.18 Đạo và Thuyết âm dương https://thuonghylenien.org/luu-tru/6093 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6093#respond Sat, 18 May 2024 03:43:42 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6093 Đạo và Thuyết âm dương

 

Đạo là nguyên lý và tiến trình kết hợp con người và vũ trụ. Đạo được dịch là “con đường” hay “lối đi”. Về nguyên lý, Đạo phát sinh từ sự quân bình, sự hài hoà, hợp nhất của các động lực đối nghịch và bổ sung cho nhau. Qua sự hiểu biết về Đạo, các nhà phong thủy đi tìm sự quân bình để đạt tới hài hoà trong môi trường sống.

 

Lý thuyết về âm dương là một tên gọi của Đạo. Hai lực này đối nghịch nhau và cùng nhau tạo nên mọi hình thái của đời sống. Âm thì mờ tối , Dương thì sáng sủa, Âm thụ động, Dương tích cực. Quan niệm Âm- Dương xem con người và môi trường làm một. Đó là nhà ở, chỗ làm việc, núi đồi, sông suối, quả đất và không gian. Nếu bạn hiểu được những gì phong thuỷ trình bày, thì bạn có thể gìn giữ được sự quân bình bên trong, để được may mắn và cải thiện số mệnh của mình.

 

Môn Phong thuỷ có nhiệm vụ tìm kiếm để tạo ra một nơi cho việc sinh sống được quân bình, hài hoà, người ngụ cư được sức khoẻ dồi dào. Ý nghĩa của sự cân bằng không thuần ở sự đối xứng bên ngoài. Nó sắp xếp nhà cửa và con người với các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo để có được sự hài hoà và yên lành trong môi trường chung quanh.
Khí, nguồn năng lượng trong phong thủy

 

Khí được dịch là hơi thở hay năng lượng là ý niệm quan trọng nhất trong thuật phong thuỷ. Khí là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến đời sống loài người. Khí là năng lượng hay lực tạo nên núi, điều hướng sông suối, màu sắc, hình dạng cây cỏ. Năng lượng này người ta gọi là “long điểm”. Trong thuật Phong thuỷ, các chuyên gia thăm dò mạch tốt hay “dưỡng” khí và rồi khơi hướng, thanh lọc khí để bồi dưỡng sự sống và người ngụ cư.

 

Từ xa xưa, người Hoa cho rằng khí ảnh hưởng đến vận mạng và các liên hệ xã hội của một người. Dù sao cũng có giới hạn của nó. Tuy nhiên, dưỡng khí làm vận may khá hơn; khác với người có sẵn dịp may mà không luyện khí. Làm thế nào để cân bằng khí vận hành trong môi trường giúp tăng và hài hoà với năng lượng chúng ta. Khí của người và cả ngôi nhà giống nhau, cả hai phải vận chuyển điều hoà. Khí của một ngôi nhà ảnh hưởng đến bầu không khí và người ở nơi ấy. Có một vài nơi chúng ta cảm thấy thích thú dễ chịu, có nơi ta cảm thấy bứt rứt khó chịu: Có chỗ thì sinh động sáng sủa, có chỗ lại lạnh lẽo, âm u, nặng nề.

 

Điều hoà và tăng vận khí là mục đích căn bản của phong thủy. Vượng khí vào nhà làm vượng khí cho người ngụ cư. Ý niệm về khí là điều cốt tủy trong việc đánh giá nhà cửa, văn phòng, đất đai cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài.

 

Ngũ hành trong phong thủy

Cùng với Âm- Dương, ngũ hành là một phương thức bổ sung để phân tích và hòa điệu khí của người và ngôi nhà. Khí chia thành 5 nguyên tố sau: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Những hành này là tính chất tinh tuý của mọi sự, mọi vật. Các hành này cùng kết hợp với các màu sắc, mùa màng, phương hướng, tinh tú, các phủ tạng trong người v.v…Phong thủy dùng chu kỳ của các màu sắc để điều chỉnh khí.

Trong chu kỳ sáng tạo (tương sinh), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Trong chu kỳ hủy diệt (tương khắc), Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Giải pháp khắc phục nhược điểm của nhà và đất

Có hai cách giải quyết các khó khăn trở ngại là: nhập thế và xuất thế.Cánh nhập thế là giải pháp hợp lý theo kinh nghiệm và hiểu biết của chúng ta. Nhưng quan trọng không kém là cách chữa xuất thế, không hiểu được bằng lý luận thông thường và rất bí mật. Cách chữa nhập thế trên các bình diện của nó song hành với các tư tưởng hiện đại của vật lý, y khoa và trang tríCách chữa xuất thế thì cách xa tầm hiểu biết, khám phá nó như nằm trong tiềm thức của chúng ta vậy.

Kết quả mỹ mãn cách chữa xuất thế của môn Phong thủy là làm tăng luồng vận khí. Đặc tính phổ biến của thuật xuất thế được thực hành qua 3 kỹ thuật căn bản sau đây:

    1. Phương pháp tiếp khí: bằng cách tháp khí từ một nơi hay từ dưới lòng đất cách xa đó.

    2. Phương pháp bình khí: để làm môi trường xung quanh hoà nhập vào nhau. Nếu căn nhà có hình thù kỳ dị thì hãy tạo ra phong cảnh hay kiến trúc phụ thuộc để tạo quân bình.

    3. Phương pháp nổi bật: để gia tăng và bổ sung khí vận – bằng cách trang bị thêm một bóng đèn sáng, vòi phun nước, bể nuôi cá làm sinh động không khí yếu và tù hãm cũng như làm khí vận chuyển khắp nhà. Mặt khác, ta dùng vật có thanh nhạc như quạt gió, khánh hay chuông.

 

Theo TuviGlobal.com

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6093/feed 0
ĐIỂM ĐỒNG DỊ GIỮA DỊCH LÝ VIỆT NAM VÀ DỊCH HỌC TRUNG HOA / Kinh Dịch Xưa Và Nay / By Vưu Thanh Dịch Học Sỹ https://thuonghylenien.org/luu-tru/6019 https://thuonghylenien.org/luu-tru/6019#respond Sun, 03 Mar 2024 08:02:57 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=6019 ĐIỂM ĐỒNG DỊ GIỮA DỊCH LÝ VIỆT NAM VÀ DỊCH HỌC TRUNG HOA

,

 

,

1 – Cách lập quẻ:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch: Cách lập quẻ của Bốc phệ phức tạp, sau khi có được tượng quẻ phải nạp giáp cho tượng quẻ để xác định Lục thân, Lục Thần, hào Thế – Ứng..

Mai Hoa dịch và Dịch lý Việt Nam: Cách gieo quẻ (Hữu thường – Bất thường).

Cách thành lập: Chánh tượng, Hộ tượng, Biến tượng. Danh tượng, Danh lý, Danh ý, Hình tượng.

2.- Lý giải nguồn gốc Bát Quái Tiên Thiên:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch, Mai hoa dịch: Truyền thuyết kể rằng vua Phục Hy thấy con Long mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà, trên lưng có bức họa đồ 55 chấm trắng đen bèn theo đó thiết lập Hà đồ, vạch ra Bát Quái Tiên Thiên mở đầu Kinh Dịch. Có thuyết lại cho rằng Bát quái Tiên Thiên do Trần Đoàn hiệu Hi Di sống giữa đời Ngũ đại và đời Tống lập nên.

Dịch lý Việt Nam: Nguồn gốc Bát Quái Tiên Thiên: là do Âm Dương tương động, tương giao, tương cảm, sinh thành.

3.- Hào động và ứng dụng hào động:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch: Động cả 6 hào, mỗi hào sẽ ứng với một mối quan hệ trong Ngũ tình: Phụ Mẫu, Tử Tôn, Huynh Đệ, Thê Tài, Quan Quỉ.

Mai Hoa dịch: Động chỉ 1 hào, hào động là để phân định Thể – Dụng (phân ngôi Chủ -Khách).

Dịch lý Việt Nam: Động 1 hào, hào động cho biết mức độ động biến, giai đoạn diễn tiến của sự việc.

4.- Phương pháp suy luận:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch:

– Dùng phép Hỗn thiên Giáp Tý để xác định Lục thân. – Xác định Thế – Ứng, luận sinh khắc.

– Xác định Ngũ Thần: Nguyên, Dụng, Cừu, Tiết, Kỵ. – Xác định 12 cung Trường sinh.

– Xác định Lục Thú. – Xác định tứ thời vượng tướng, Nhật thần, Nguyệt kiến, Nguyệt phá, Không vong, luận sinh khắc với Dụng thần, để đoán định cát hung, phán đoán định kỳ.

Nhận xét: Với thật nhiều thông tin như thế làm cho người học thấy hình như tất cả mọi vấn đề họ thắc mắc đều được nêu lên trong quẻ Dịch. Người học chỉ cần ráp các mảng thông tin lại là có kết quả tiên đoán. Môn này chỉ cần người học chăm chỉ một chút, nhớ tốt một chút thì được. Thực tế động cả 6 hào như vậy, sẽ tạo ra một trạng thái hà lãng, không biết được đâu là trọng tâm của vấn đề, và sự việc đang diễn tiến đến giai đoạn nào.

Mai Hoa dịch: – Phương pháp này căn cứ vào lời quẻ và lời hào (hào từ) để đoán cát hung.

– Luận Ngũ Hành sinh khắc của Thể Dụng. – Xem tam yếu linh ứng.

– Căn cứ vào tự thân động tĩnh, quan sát sự nhanh chậm của hiện tượng tự nhiên, dựa vào Ngũ hành của Can, Chi, Thời mùa để dự đoán định kỳ.

Nhận xét: Khi luận đoán chỉ căn cứ vào lý luận sinh khắc có tính kinh điển, cứng nhắc. Người học sẽ cảm thấy dễ dàng hơn vì thông tin luôn có sẵn chỉ cần ráp lại với nhau rồi suy ra kết quả. Phương pháp này không cơ động tình lý ắt sẽ không thể nào đi sâu sát vào tình lý sự việc được.

Dịch lý Việt Nam: Chiết tính tình ý, so sánh, đối chiếu tình lý của sự việc với ý dịch tượng để tìm sự tương quan về giai đoạn diễn tiến của sự việc, vạch ra đường đi dĩ nhiên của tạo hóa.

Nhận xét: Cách luận đoán hoàn toàn dựa trên bờ mốc văn lý, rất cơ động, không có các bảng tra như các môn Lý học Đông phương khác. Người học Dịch lý Việt nam phải nắm vững Lý Dịch để tan biến vào từng phạm vi sự việc. Tuy nhiên đòi hỏi người dự đoán phải đắc đạo Dịch và có khả năng suy luận thật tốt thì mới có thể triển khai được. Đó là lý do môn học này rất kén chọn người học.

5.- Nội dung chính:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch, Mai hoa dịch: Chỉ bàn luận các vấn đề thuộc phạm vi Hình nhi Hạ học (Hậu thiên): từ Vô cực trở về sau.

Dịch lý Việt Nam: Không chỉ bàn luận các vấn đề về Hậu thiên mà còn lý giải được nguyên ủy của sự biến hóa – hóa thành Vô cực (Tiên Thiên).

6.- Sở đắc tối hậu:

Bốc Phệ chánh tông, Tăng san Bốc dịch, Mai hoa dịch: Ứng dụng Bát quái Hậu thiên vào thực tiễn, cụ thể là vào thuật chiêm bốc.

Dịch lý Việt Nam: Biện minh chứng nghiệm được Chân Lý của vũ trụ.

Sài gòn ngày 06 tháng 8 năm 2014

Giờ Độn – Đồng nhân

Tâm Thanh

 

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/6019/feed 0
Phật hoàng Trần Nhân Tông trong lịch sử Việt https://thuonghylenien.org/luu-tru/5751 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5751#respond Wed, 03 Jan 2024 02:45:11 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5751 Phật hoàng Trần Nhân Tông trong lịch sử Việt

Phạm Trần Anh

 

DI CHÚC MUÔN ĐỜI !

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải mà ta phải nghĩ tới chuyện khác lớn hơn là họ không bao giờ tôn trọng biên giới quy ước. Họ cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác… Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau. Quá khứ là gốc rễ của tương lai, rễ càng đâm sâu thì cây mới vững vàng và càng vươn cao”.

vua Trần Nhân Tôn(1279-1293)

 

Lịch sử Việt thời nhà Lý đã vô cùng oanh liệt với Danh Tướng Lý Thường Kiệt phá tan tành Trung Quốc năm 1075 cùng với bản Tuyên Ngôn Độc Lập “Nam Quốc Sơn Hà” viết bằng máu và nước mắt của biết bao con dân nước Việt. Thế nhưng, lịch sử Việt thời nhà Trần lại thêm phần hiển hách với chiến thắng đạo quân Mông Cổ tàn bạo khét tiếng lần đầu tiên trong lịch sử thế giới năm 1258 của Anh hùng Dân tộc Đại Đế Trần Thái Tông và 2 lần chiến thắng quân Nguyên Mông 1285 và 1288 của Hoàng Đế Trần Nhân Tông cùng với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương. Đặc biệt, Đại Đế Trần Thái Tông, người anh hùng dân tộc được xem là Ngọn đuốc mở đường cho Thiền học Việt Nam và Phật Hoàng Trần Nhân Tông, một Bồ Tát giữa đời thường “Cứu Nhân độ Thế’, khai mở Thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam.

Người anh hùng dân tộc ngọn đuốc mở đường cho thiền học việt nam

Trong lịch sử chiến tranh xâm lược, vó ngựa Mông Cổ chưa một lần thất bại. Trong nửa đầu thế kỷ 13, một đế chế rộng lớn chưa từng thấy “Đế quốc” Mông Cổ trải dài từ Á sang Âu, từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia bờ Hắc Hải châu Âu. Ngày 29 tháng 1 năm 1258 nhà vua ra lệnh Tổng phản công sau 10 ngày giặc chiếm đóngThăng Long. Đại quân ta tiến ngược dòng sông về Thăng Long, từ các hướng quân ta khép chặt vòng vây rồi nhất loạt tiêu diệt toàn bộ quân giặc tại Đông Bộ Đầu. Thừa thắng, đại quân tiến thẳng về kinh thành, đánh bật quân giặc ra khỏi Thăng Long. Viên đại tướng nổi tiếng thiện chiến Uriankhadai bỏ xác tại trận, số còn lại chạy thục mạng về Vân Nam. Tàn quân Mông Cổ tháo chạy về hướng Vân Nam chỉ còn 3 ngàn người và 1 vạn quân Đại Lý. Sau chiến thắng, nhà vua tổ chức lễ mừng chiến thắng vào đúng dịp tết Nguyên Đán 1258 rồi tuyên bố nhường ngôi cho Thái Tử, lên làm Thái Thượng Hoàng ở phủ Thiên Trường sau 33 năm giúp dân giúp nước.

Sau khi trở về Hoàng cung lo việc nước, nhà vua đã bắt đầu chuyên tâm tu tập theo Thiền tông Phật giáo. Tương truyền, khi vua Trần Thái Tông đọc kinh Kim Cương đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì hốt nhiên ngộ đạo. Nhà vua cũng dành thời gian để viết sách, năm 1252 hoàn tất quyển Thiền Tông Chỉ Nam Ca (Bài ca về yếu chỉ của Thiền tông) để truyền bá cho hậu sinh về kinh nghiệm giác ngộ của mình. Hoàng Đế Trần Thái Tông là một Hoàng Đế vĩ đại của Việt Nam, người đã chiến thắng đạo quân Mông Cổ thiện chiến hung hãn nhất thế giới lần đầu tiên trong lịch sử năm 1258. Ngoài ra, Ngài còn là một Thiền sư, một ngọn đuốc mở đường cho Thiền học Việt Nam với những tác phẩm lưu lại đời sau chỉ còn một số bài thơ, bài văn, một cuốn tựa kinh Kim cương, một tác phẩm Thiền Tông Chỉ Nam, và một tác phẩm từ lâu vốn vẫn nổi tiếng là Khoá Hư Lục.  Đại Đế Trần Thái Tông, là một nhân tài kiệt xuất Việt Nam, một “Bồ Tát” hóa thân để cứu đời cứu đạo, cứu dân cứu nước, một “Đại Danh Tướng không chỉ của Việt Nam mà còn của cả nhân loại”. “Người” quả là nhân tài kiệt xuất, vĩ đại trong lịch sử nhân loại muôn đời vậy…

Lịch sử đời nhà Trần thêm phần hiển hách với nhà vua Trần Nhân Tông với tài thao lược kinh bang tế thế đã xây dựng đất nước phú cường. Nhà Vua cùng với Hưng Đạo Vương 2 lần chiến thắng quân Nguyên Mông, Nhà vua trị vì 14 năm rồi năm 1293 truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng 5 năm, lên Am thiền trên núi Yên Tử sống một đời tu trì đạo hạnh suốt 8 năm rồi “hóa”. Nhờ trí huệ bát nhã nhà vua đã đốn ngộ lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

“Công danh chẳng trọng, Phú quý chẳng màng.
Kiếm chốn dưỡng than, Khuất tịch non cao, Náu mình sơn dã.
Vượn mừng hủ hỷ, Làm bạn cùng ta.
Vắng vẻ ngàn kia, Thân lòng hỷ xả.
Dốc chí tu hành, Giày sồi, áo vá
Thân này chẳng quản, Bữa đói, bữa no.

(Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, Trần Nhân Tông)

Trên phương diện tâm linh, nếu Đại Đế Trần Thái Tông chính là hóa thân của Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn trong đời sống bình thường của một con người, trọn nghĩa vẹn tình, chu toàn bổn phận của một con dân đất Việt trước đại họa mất nước thì vua Trần Nhân Tôn quả là một bậc chân nhân hiếm có trên cõi đời này đã tu chứng vượt qua cái bình thường của cuộc đời để đạt được cái phi thường.  Nhà vua Trần Nhân Tôn đã từ chối ngôi vua 2 lần để mong cầu tu trì nhưng một khi phải lên ngôi vua, ngài sẵn sàng “Cởi áo Cà Sa khoác chiến bào…” không đặt vấn đề sát sanh mà vì cộng nghiệp của dân tộc, buộc lòng cũng phải ra tay chém giết kẻ thù nhưng lòng không hiếu sát. Hình ảnh của Phật Hoàng “Cởi áo Cà Sa khoác chiến bào…” đã đi vào lịch sử mang tính chiến đấu nhưng không lãng mạn trữ tình như một Tiêu Sơn Tráng Sĩ, một Phạm Thái Trương Quỳnh Như đời thường mà toát lên vẻ kiêu hùng dũng liệt, thấm đậm ý vị Thiền giữa cuộc đời, hình ảnh cao đẹp tuyệt vời đi vào tâm thức Việt này đã được Đức Huỳnh Giáo Chủ thi vị hóa “Tu sĩ quyết chùa Am bế cửa, Tuốt ngựa vàng lên ngựa xông pha. Trả xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô…”. Trong dòng lịch sử Việt, “Mái Chùa đã ấp ủ che chở hồn Dân tộc, nếp sống muôn đời của Tổ Tông…”, dưới mái chùa nóc oằn đầu dao cong vút trong lũy tre làng nơi mà những nhà Sư yêu nước cùng những trai tráng trong làng đã bao lần đứng lên chống quân Tầu Hán xâm lược, chống Thực dân Pháp và chống cả Việt Minh Cộng sản … đã góp phần viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc Việt.

Nhà Vua Trần Nhân Tông với tâm từ bi, nhân từ đức độ như một tu sĩ nên được dân gian gọi là Phật Hoàng, thế mà trước cảnh giang sơn bị quân thù xâm lược “Người” đã tuốt gươm lên ngựa xông pha giết giặc thù. Nhà vua đã đặt việc nước trước việc nhà, đặt dân tộc lên trên tôn giáo (Đạo pháp) là tấm gương “Đời-Đạo” siêu vượt, chứng tỏ khí chất cao cả phi thường của một con dân đất Việt còn giá trị mãi đến muôn đời.

Lịch sử Việt mãi mãi khắc ghi lời Di Chúc muôn đời của một vị vua yêu nước trước kẻ thù truyền kiếp của dân tộc như sau: “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải mà ta phải nghĩ tới chuyện khác lớn hơn là họ không bao giờ tôn trọng biên giới quy ước. Họ cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác… Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau. Quá khứ là gốc rễ của tương lai, rễ càng đâm sâu thì cây mới vững vàng và càng vươn cao.

Lịch sử Việt cũng ghi nhận đời vua Trần Nhân Tông đã tổ chức Hội nghị Diên Hồng mời bô lão toàn quốc về triều đình cùng bàn việc nước. Toàn thể bô lão đã đồng thanh hô lớn “Quyết chiến, Quyết chiến”. Chính sức mạnh của toàn dân đã tạo nên chiến thắng oai hùng đánh tan tành đạo quân Nguyên Mông phải tháo chạy về nước năm 1285. Đây là hình thức Quốc Dân Đại Hội, một điểm son trong lịch sử diễn ra trong một triều đại gọi là Phong kiến ngay từ thế kỷ 13, thể hiện truyền thống “Trọng lão”, tôn trọng ý kiến của toàn dân thể hiện tinh thần dân chủ truyền thống của dân tộc. Hội nghị Diên Hồng chính là cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” một hình thức Dân chủ trực trị đầu tiên trong lịch sử nhân loại của triều đình quân chủ phong kiến Việt Nam ngay thế kỷ thứ 13. Toàn thể Bô lão tham dự Hội Nghi Diên Hồng đã xâm vào cánh tay hai chữ “Sát Đát” giết quân Mông rồi muôn người như một giơ cao tay hô to “Quyết chiến, Quyết chiến”, quyết chiến đấu cho đến hơi thở  cuối cùng để bảo vệ Tổ Quốc.

Lịch sử Việt cũng không quên lòng nhân từ, bao dung, độ lượng của nhà vua Trần Nhân Tông khi nhà vua ban lệnh đốt cả một “Tráp” là cái hộp để những “Biểu” là những văn bản, thư xin hàng giặc Nguyên của một số triều thần. Việc làm nhân từ khoan hồng cho những kẻ phản bội triều đình đã cảm hóa lòng người khiến kẻ xấu trở thành người tốt sau này. Ngay cả kẻ thù phương Bắc cũng phải thán phục nể trọng hành động nhân ái tràn đầy tính nhân văn cao đẹp của vua Trần. Nhà vua tự tay cởi áo hoàng bào để đắp lên thủ cấp của tướng giặc Toa Đô nằm dưới chân. Kẻ thù hung hãn bạo tàn nhất cũng phải cúi đầu tri ân đức hiếu sinh của vua Trần Nhân Tông đối với kẻ đã giết hại biết bao sinh linh dân Việt và có những hành động bất nhân đào mồ quật mộ phá hủy lăng mộ họ Trần. Truyện kể rằng sau chiến thắng Mậu Tý tháng 3 năm 1288, Hưng Đạo Vương cùng các tướng sĩ dẫn quân rước xa giá Thượng Hoàng và vua Trần Nhân Tông về kinh đô. Khi về đến Long Hưng, vua Trần đem bọn tướng Nguyên gồm Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc vào quỳ chịu tội làm lễ “Hiến Phù” trước Chiêu Lăng. Với đức hiếu sinh, lòng từ bi độ lượng, vua Trần quỳ lạy Chiêu Lăng rồi xin tha tội chết cho những kẻ thù đã đốt nhà cướp của, tàn sát dân Việt dã man. Với đức từ bi nhà vua cũng tha tội chết cho Ô Mã Nhi, kẻ  đã cho lính quật mồ vua Trần Thái Tông, phá nát lăng miếu nhà Trần ở Long Hưng.

Về đến Thăng Long, nhà vua cho mở tiệc khao thưởng tướng sĩ. Nhân dân vui hội Thái Bình Diên Yến suốt 3 ngày đêm bù lại những tháng ngày chiến đấu gian khổ với bao tang thương chết chóc của toàn quân toàn dân Việt. Nghĩ tới đất nước vừa trải qua cơn binh lửa nay lại thanh bình, Thái Thượng Hoàng cảm khái làm 2 câu thơ đi vào văn học Việt Nam:

“Đất nước hai phen chồn ngựa đá,                                                                            

Non sông thiên cổ vững âu vang…”.

 

Đất nước thanh bình, vua Trần Nhân Tông ung dung tự tại mỉm cười nghĩ tới cảnh những người lính già râu tóc bạc phơ, dưới ánh đèn leo lét kể mãi chuyện chiến thắng quân thù năm xưa (niên hiệu “Nguyên Phong”) cho con cháu nghe qua hai câu thơ bất hủ của hào khí “Đông A”:

Bạch đầu quân sĩ tại,

                 Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

                 

                Lính già phơ tóc bạc,

                 Kể chuyện thuở Nguyên Phong.

                 (Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng) Ngô Tất Tố dịch

Đặc biệt là sau khi đánh thắng quân thù thì nhà vua “Cởi chiến bào lên non để … Phật Đà Nam Mô”. Một con người xem nhẹ bệ ngọc ngai vàng công danh phù ảo, vượt qua cái bình thường của cuộc đời để đạt được cái phi thường nên ngay khi ngài còn sống, dân gian đã suy tôn là Phật Hoàng, hậu thế tôn kính ngưỡng phục như một Thánh nhân cứu nhân độ thế… Ngày xưa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo thành Phật là nhờ vào phép tu Thiền Định dưới gốc cây Bồ Đề thì Vua Trần Nhân Tông cũng tu thiền, luyện pháp tu thiền để đạt đạo. Thiền Sư Trúc lâm đã tập trung tư tưởng, ngồi tĩnh tọa tham thiền nhập định nơi thâm sơn cùng cốc để đốn ngộ được chân lý nhiệm màu của “Thiền Định”, khai mở Thiền Phái Trúc Lâm của Việt Nam.

Tương truyền sáng 10 (âm lịch) năm 1299, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đến núi Yên Tử (Quảng Ninh) tu trì, lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu Đà đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà hay Trúc Lâm Đại sĩ  và Giác hoàng Điều Ngự, tu hành theo “Thập nhị đầu-đà (mười hai điều khổ hạnh)”.  Giác Hoàng Điều ngự mở tịnh xá, thuyết giảng độ tăng, thâu nhận được khá nhiều đệ tử trên núi Yên Tử và hợp nhất các tông phái gồm 3 dòng thiền Tì-Ni-Đa-Lưu-ChiThảo Đường và Vô Ngôn Thông vào dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.

Thiền phái Trúc Lâm được xem là giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam truyền thừa nền tảng Phật giáo Nam Á và Đông Đô, dung hóa tinh hoa văn hóa Việt Nam, khuyến khích Phật tử cống hiến cho xã hội trên nền tảng Từ bi – Trí tuệ của Phật pháp. Giác Hoàng Điều ngự đi thuyết pháp giáo hóa Phật tử cả nước tới các chùa như Phổ Minh (Thiên Trường), Sùng Nghiêm (Chí Linh), Vĩnh Nghiêm (Lạng Giang) và Báo Ân – Siêu Loại (nay thuộc Gia LâmHà Nội) và xây dựng nhiều tự viện khắp nơi ở thành thị lẫn thôn quê. Giác Hoàng Điều Ngư dạy dân bài trừ các tập tục mê tín, dị đoan và tu dưỡng đức hạnh theo giáo pháp Thập thiện (mười điều thiện).  Ngoài việc hoằng dương đạo pháp, Giác Hoàng cũng không quên góp ý về việc triều chính, đồng thời khuyên bảo Anh Tông từ bỏ rượu chè và cúng dường cho tăng chúng.

Tháng 3 âm lịch năm 1301, Giác hoàng Điều Ngự du hóa đến châu Bố Chính, một vùng đất địa đầu phía Nam của Đại Việt và dựng lên am Trì Kiến. Từ Bố Chính, Giác Hoàng sang Chiêm Thành và ở lại đây gần một năm. Trong bức họa Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ đã mô tả về chuyến đi này diễn tả “ Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước…”. Chính trong chuyến viễn du này, để tạo mối giao hảo với chiêm Thành và cũng mong muốn mở mang lãnh thổ, Điều Ngự đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân, một Phật tử thuần thành. Vua Chiêm Chế Mân xin dâng nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt làm sính lễ và hôn lễ giữa công chúa Huyền Trân với vua Chiêm được cử hành vào năm 1306. Kể từ đó “Thiên Tình Sử Nước Non Ngàn dặm ra đi…” được lưu truyền trong dân gian với hai châu Ô, châu  được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa. Tương truyền bài “Nước non ngàn dặm” theo điệu Nam Bình, do chính công chúa vâng lời vua cha, vì chữ hiếu đành phải ngậm ngùi gạt lệ rời bỏ đấnước ra đi mang theo một mối tình đất nước xa vời trong lúc đi đường sang Chiêm: Nước non ngàn dặm ra đi… Mối tình chi! Mượn màu son phấnĐền nợ Ô, Lý… Xót thay vì, Đương độ xuân thì, Số lao đao hay là nợ duyên gì?…

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng dùng những chữ đầu trong bài này để viết thành ca khúc “Nước non ngàn dặm ra đi”, nói về tâm sự của Huyền Trân công chúa khi sang Chiêm Quốc: Nước non ngàn dặm ra đi… Dù đường thiên lý xa vờiDù tình cố lý chơi vơi… Cũng không dài bằng lòng thương mến người…

Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì sau lần viễn du hoằng dương Phật pháp ở Chiêm Thành, Điều ngự về phủ Thiên Trường vào tháng 1 âm lịch năm 1303 để “mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí”. Năm 1304, vua Trần Anh Tông và triều đình cử hành lễ đón tiếp Điều ngự đến kinh đô Thăng Long, vua Trần Anh Tông cùng vương hầu, quan lại đều được trao tâm giới Bồ-tát tại gia. Sách Tam Tổ Thực Lục chép rằng năm 1304, Giác Hoàng Điều Ngự thu nhận Pháp Loa (Đồng Kiên Cương 1284 – 1330) làm đệ tử xuất gia tại huyện Nam Sách (Hải Dương) rồi truyền thừa cho Pháp Loa trở thành người kế thừa thiền phái Trúc Lâm. Ngày 1 tháng 1 âm lịch năm 1308, Điều ngự chính thức cử hành Lễ Truyền Đăng cho Pháp Loa tại chùa Báo Ân-Siêu Loại.

Sách Tam Tổ Thực Lục chép rằng: “Ngày mồng một tháng 1 năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308),  Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Điều Ngự đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe sư thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì làm đời thứ hai của dòng Trúc Lâm. Lại đem ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại Tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích ra, để mở rộng việc học nội và ngoại điển”. Sự kiện lịch sử này chứng tỏ rằng Phật Hoàng Trần Nhân Tông với tư tưởng hội nhập tinh hoa Phật giáo vào đời thường “Bồ Tát lao vào vòng nước lửa để Cứu dân cứu nước, cứu đời cứu đạo còn vang vọng mãi tới muôn đời…

Thánh Đăng Ngữ Lục đã tường thuật về cuộc đối thoại cuối cùng giữa Điều ngự với thị giả Bảo Sát: “Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý. Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi! Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điều Ngự đáp:

 

Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt,

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?

 

        Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch. Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am Ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc che trên giàn hỏa”.

 

Trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, phần Văn tịch chí, Phan Huy Chú viết: “ Tính vua nhân từ, có trí lược, thương dân, ơn huệ cố kết lòng dân. Đời vua, quân Nguyên hai lần xâm phạm. Vua chọn tướng, rèn quân rồi bình được giặc lớn. Cái công trùng hưng rực rỡ hơn trước. Sau khi nhường ngôi, vua lưu tâm kinh điển nhà Phật, xây am Thiên Kiến, đúc đỉnh Phổ Minh, thờ Phật rất chăm. Về sau đi tu ở núi Yên Tử rồi mất ở am Ngọa Vân”.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông không những đã đi vào lịch sử với 2 chiến thắng oai hùng quân Nguyên Mông cùng với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương mà Văn học Sử Việt Nam còn trân trọng “Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông là một nhà thơ, nhà văn hóa tiêu biểu của Đại Việt thời Trung đại với các tác phẩm để đời nhất là Tập thơ Trần Nhân Tông (Trần Nhân Tông Thi Tập”. Các tác phẩm trên đều đã bị quân Minh tịch thu tiêu hủy, hiện chỉ còn lại 32 bài thơ, kệ chép trong Thánh Đăng Ngữ Lục, Thiền Tông Bản Hạnh, An Nam Chí LượcNam Ông Mộng LụcViệt Âm Thi Tập và Toàn Việt Thi Lục, cộng thêm 3 đoạn phiến trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và An Nam Chí Lược. Sách Thơ Văn Lý Trần đã nhận định “Thơ Trần Nhân Tông mang tính chất “kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thanh thoát của một nhà nghệ sĩ”.

Xin mời quý vị chúng ta cùng nghe bài Phú “Cư Trần Lạc Đạo” đầy ý vị Thiền của Phật Hoàng Trần Nhân Tông:

Cư trần Lạc đạo Phú

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Sống đời vui đạo thuận tùy duyên,

Đói ăn mệt ngủ chẳng ưu phiền

 Kho báu trong ta tìm chi nữa, 

Bình tâm đối cảnh đốn ngộ thiền…

 (Minh Đức Phạm Trần Anh cẩn dịch)

Thời đại Lý Trần đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc với chiến tích oanh liệt của danh thướng Lý Thường Kiệt phá tan tành Trung Quốc năm 1075 và chiến thắng Đạo quân Mông Cổ, xóa sổ danh hiệu “Bách chiến bách thắng” của đạo quân Mông Cổ khét tiếng trong lịch sử nhân loại của Đại Trần Thái Tông năm 1258 cùng với 2 lần chiến thắng Nguyên Mông của Hoàng đế Trần Nhân Tông và Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương. Văn Học Sử Việt Nam, một dân tộc hiếu hòa mở đầu với bản Tuyên Ngôn Hòa Bình tuyệt vời của Thiền sư Pháp Thuận: “Vận nước như mây cuốn, Trời Nam hưởng thái bình. An hòa nơi cung điện, khắp chốn hết binh đao …” Thế nhưng, trước kẻ thù truyền kiếp của dân tộc với bài Nam Quốc Sơn Hà của danh tướng Lý Thường Kiệt, một bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc được viết bằng máu của dân tộc Việt “Sông núi trời Nam của nước Nam, Sách trời định rõ tự muôn ngàn. Cuồng ngông giặc dữ vào xâm lấn, Chuốc lấy bại vong lũ bạo tàn…”.

Là con dân Việt chúng ta hãnh diện tự hào với chiến tích thần kỳ của Đại Đế Trần Thái Tông đánh tan tành 25 ngàn kỵ binh Mông Cổ khét tiếng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Là một Phật Tử, chúng ta phải cúi đầu kính phục ngưỡng mộ một vị Phật Hoàng Việt Nam: “Đại Đế Trần Thái Tông chính là hóa thân của Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn trong đời sống bình thường của một con người, trọn nghĩa vẹn tình, chu toàn bổn phận của một con dân đất Việt trước đại họa mất nước và nhà vua Trần Nhân Tôn quả là một bậc chân nhân hiếm có trên cõi đời này đã tu chứng vượt qua cái bình thường của cuộc đời để đạt được cái phi thường của một vị Phật Hoàng nhân từ “Lập đạo cứu đời”, tất cả đã đi vào dòng sinh mệnh bi hùng phi thường của dân tộc Việt chúng ta…”.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5751/feed 0
Dùng gỗ trong phong thủy mang ý nghĩa như thế nào? https://thuonghylenien.org/luu-tru/5675 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5675#respond Fri, 29 Dec 2023 08:24:44 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5675 Dùng gỗ trong phong thủy mang ý nghĩa như thế nào?

Gỗ là một trong những vật liệu luôn được ưa thích hàng đầu. Từ xa xưa con người không chỉ biết sử dụng gỗ để làm nhà và tận dụng gỗ trong các vật dụng của gia đình mà còn ứng dụng để tạo ra các vật phẩm phong thủy, tâm linh tín ngưỡng.

Một trong những nét đẹp của gỗ đó chính là độ bền, đẹp, sang trọng cùng với sự gần gũi với thiên nhiên. Đồ gỗ được sử dụng nhiều trong các thiết kế nội thất hiện nay. Đặc biệt là nội thất gỗ luôn đồng hành cùng với nhiều ngôi nhà trong các lối kiến trúc từ cổ điển tới hiện đại. Dù theo phong cách nào, gỗ cũng có thể đáp ứng được cả về nhu cầu sử dụng lâu bền cũng như tính năng vượt trội về độ thẩm mỹ.

Văn hóa phương Đông rất ưa sử dụng các vật dụng từ gỗ, từ đôi đũa ăn đến tủ, bàn, nhà cửa, đồ trang trí…Theo thuyết ngũ hành âm dương, đồ gỗ tiêu biểu cho hành mộc. Hành mộc tượng trưng cho mùa xuân, cho phương vị Đông và Đông Nam.

Gỗ tượng trưng cho hành Mộc, biểu tượng của mùa xuân. So với các hành khác, hành mộc chủ về nhân, dễ tạo không khí bình yên, hài hòa.

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, trong tương tác về ngũ hành, hành mộc làm giảm bớt tác động của hành kim và hành thổ, tạo sự cân bằng cho ngôi nhà. Những vật liệu được làm từ gỗ giúp môi trường sống thân thiện đồng thời tạo nên bầu không khí ấm cúng cho không gian sống. Không gian sống sử dụng nhiều vật liệu từ gỗ vừa sang trọng lại tạo cảm giác thân thiện, tự nhiên do màu sắc, chất liệu của gỗ mang lại.

Những vật dụng bằng gỗ rất cần có trong một không gian có nhiều đồ điện tử như tivi, dàn âm thanh… để giảm bớt sự lạnh lẽo. Không gian phòng ăn cũng ấm áp hơn nếu sử dụng bàn ghế gỗ. Giấc ngủ cũng sâu hơn, an lành hơn khi bạn nằm trên một chiếc giường ngủ gỗ thay vì một chiếc giường bằng sắt…

Những bộ đồ gỗ cổ điển mang đến không gian đơn giản mà không kém phần hiện đại. Còn với những không gian đòi hỏi sự tập trung, tư duy cao như làm việc, học tập thì vật liệu hành mộc sẽ góp phần kích thích tư duy sáng tạo rất lớn. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng quá nhiều vật dụng bằng gỗ trong một căn nhà vì sẽ gây khiếm khuyết các hành khác, mất cân bằng phong thủy. Nên phối hợp hài hòa để tạo sự tương tác giữa mộc và các hành khác trong quan hệ tổng thể.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5675/feed 0
Vai trò của Gỗ trong phong thủy nhà ở, nhà bếp, cầu thang https://thuonghylenien.org/luu-tru/5673 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5673#respond Fri, 29 Dec 2023 08:22:58 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5673 Vai trò của Gỗ trong phong thủy nhà ở, nhà bếp, cầu thang

Theo phong thủy, trong ngũ hành (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ) thì hành mộc được xem là yếu nhất, ít tác động lên vận mạng con người nhất. Nhưng hành mộc lại được coi là giải pháp khả thi nhất, dễ ứng dụng nhất cho bất kỳ ai muốn thay đổi, chỉnh sửa lại phong thủy trong nhà bởi nó rất trung chính bình hòa.

Hành mộc tượng trưng cho mùa xuân. Hành mộc thường được sử dụng để giảm bớt luồng khí (năng lượng) ồ ạt vào nhà, giúp phân tán, điều hòa đi khắp mọi nơi. Hành mộc cũng làm giảm bớt tác động của hành kim và thổi, tạo ra sự cân bằng trong ngôi nhà.

Vậy hành Mộc là gì?

Đó chính là cây cối, các đồ đạc bằng gỗ trong gia đình. Cây cối chính là những thứ duy nhất có thể làm sạch Khí ứ đọng trong nhà. Sử dụng nhiều đồ nội thấ bằng gỗ có thể làm “mềm” Khí trong nhà ngăn chặn ảnh hưởng của các góc nhọn chiếu thẳng vào người mà đôi khi chính chúng ta cũng không để ý và biết hết được. Hành mộc cũng tương sinh với hành Hỏa, tạo ra bầu không khí ấm cúng hơn. Trong phòng ăn, bàn ghế ngồi chỉ nên làm bằng gỗ mà không nên làm bằng sắt vì hàn Kim thuộc mùa thu, mùa thu thuộc âm, lại là binh cách. Vạn vật trong trời đất sinh vào mùa xuân, kết quả vào mùa thu. Ngồi trên những chếc ghế sắt lạnh lẽo mà ăn, chắc chắn cảm giác ngon miệng sẽ bị giảm đi rất nhiều, hơn thế, lại có cảm giác đầy bụng, ứ hơi, khôn tiêu…. Bàn ăn nên đóng hình tròn còn ghế, nhớ là để số chẵn.

Bếp là nơi giao hòa giữa hành Thủy (nước) và hành Hỏa (lửa). Hành Mộc có quan hệ tương sinh tương khắc với cả Thủy và Hỏa, vì thế, hãy đặt trong bếp nhà bạn một vài cái bát gỗ, một chiếc cốc gỗ ắn thìa và đữa gỗ. Tủ bếp cũng nên làm bằng gỗ , tránh đi cảm giác lạnh lẽo của một căn bếp. Căn bếp lạnh lẽo là điều tối khị trong phong thủy Trung Hoa cổ điển).

Nếu trong phòng khách nhà bạn có bộ dàn Hi-fi đồ sộ hay chiếc TV lớn thì nên kê chúng lên giá đỡ bằng gỗ, ngoài ra còn nên kê nhiều đồ đạc bằng gỗ, sofa, giá sách gỗ…. Bởi vì đồ điện tử, theo phong thủy, là tập hợp của hai hành Kim và Thủy, có ít thì tốt, lấn át hết mọi thứ lại là điều chẳng hay. Thêm hành Mộc ( đồ gỗ) vào cũng chính là để làm giảm bớt sự lạnh lẽo, mang lại cảm giác ấm cúng cho căn phòng khách, vốn là một nơi rất cần sự…ấm cúng.

Phong thủy với cầu thang

Trong phong thủy, ảnh hưởng của cầu thang rất lớn. Cho dù thiết kế kiểu gì thì cầu thang vẫn là những bậc nhỏ nhô ra đằng trước, cũng là một dạng góc cạnh có hại cho sức khỏe của người trong nhà. Vì thế, người ta thường cố gắng sử dụng cầu thang gỗ để giảm bớt sự có hại đó. Cầu thang nối từ tầng nọ tới tầng kia, tạo ra những lỗ hổng trong nhà, ẩn chứa những nguy cơ tiềm tàng về vấn đề khí bị ứ đọng và sau đó thoát ra ngoài.Cầu thang bằng gỗ chính là để ngăn tình trạng khí bị ứ đọng, phân tán bớt chúng ra những chỗ khác trong nhà.

Cầu thang thuộc hành Mộc. Để biết rõ ảnh hưởng của cầu thang gỗ vối cuộc sống, người ta còn xét đến cả vị trí của nó cũng như mạng của mọi người trong nhà. Nếu như cầu thang hướng thẳng ra cửa, tiền bạc trong nhà sẽ ít nhiều hư hao. Nhưng nếu trong nhà có người mạng Kim và cửa chính lại ở hướng tây thì rất có thể người đó lại gặp rắc rối trong chuyện tình cảm bởi phổi và tội ngoại tình có gắn bó chặt chẽ với hành Kim ở phía Tây (theo Kinh dịch). Nếu của nhà hướng về phía Nam thì rất có thể người trong nhà sẽ gặp phải các căn bệnh liên quan đến lưu thông, tuần hoàn máu bởi trái tim liên quan chặt chẽ với phương Nam và hành hỏa. Trong cả hai trường hợp trên, cầu thang thuộc hành Mộc sẽ làm cho hậu quả bớt nặng nề.

Theo phong thủy, ngôi nhà được ví như cơ thể người và cầu thang đặt ở giữa nhà chẳng khác nào một lỗ hổng nằm trên ngực. Với những người mạng Mộc và lại ngủ trong phòng hướng Tây Bắc, cầu thang đặt ở giữa nhà sẽ khiến họ hay bị nhức đầu và thường xuyên xảy ra sinh tâm trạng chán nản, dễ buông xuôi. Đó là do hành Mộc có ảnh hưởng đến tính kiên nhẫn con phí Tây Bắc gần với hành Kim và Khí ở trên đầu. Khi sự lưu thông của những luồng Khí này bị gián đoạn, chúng sẽ gây là những hậu quả khó lường.

Nếu cầu thang hướng thẳng vào cửa phòng ngủ cũng là điều chẳng hay. Những người sinh mạng Thổ và ngủ trong phòng hướng Đông Bắc sẽ chịu hậu quả nặng nền nhất: hay bực bội, cáu bẳn, dễ gây sự với người khác, hay bị ngạt mũi, khó thở. Cũng người mạng Thổ mà ngủ trong phòng hướng Bắc thì tâm trạng lại luôn buồn bã, rầu rĩ không mấy vui vẻ.

Cầu thang là nơi người ta lên xuống hàng ngày, vì thế, khí liên tục lưu thông ở chỗ đó nhưng lại ứ đọng không thoát ra ngoài chỗ khác được. Tốt nhất nên đặt cầu thang ở bên trái nhà, tức phía “khỏe”. Đây là nơi tâp trung năng lượng duy trì sức khỏe, mối quan hệ vững chắc giữa các thành viên trong gia đình. Đặt cầu thang vào vị trí này chính là kích thích nguồn năng lượng tốt này hoạt động mạnh mẽ hơn, và cầu thang gỗ chính là để phân tán ra khắp nơi trong nhà. Cầu thang không nên quá thẳng, phải hơi có chút lượn cong, rộng rãi và phải được chiếu sang cẩn thận.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5673/feed 0
13 yếu tố quyết định vận mệnh của mỗi người và cách điều chỉnh vận mệnh https://thuonghylenien.org/luu-tru/5671 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5671#respond Fri, 29 Dec 2023 08:19:57 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5671 13 yếu tố quyết định vận mệnh của mỗi người và cách điều chỉnh vận mệnh

chang-dong-tam-1108

Cổ nhân thường nói: “sống chết có số, phú quý do trời”, cuộc sống có quá nhiều thứ không theo ý muốn của con người, người ta gọi đó là vận mệnh. Vậy những yếu tố nào quyết định vận mệnh của chúng ta? Làm cách nào để thay đổi vận mệnh?

1.Mệnh

Mệnh là cố định không thể thay đổi, là tiên thiên chú định. Nghĩa là khi một người xuất sinh thì đã được an bài một mệnh sẵn rồi. Từ nghĩa hẹp mà giảng, người Trung Hoa nói về “mệnh” chính là “Bát tự” (giờ, ngày, tháng, năm sinh viết theo Thiên can và Địa chi, là một cách xem số mệnh của Trung Hoa xưa). Căn cứ vào “Bát tự” của một người, người ta có thể suy tính ra quỹ đạo vận hành, vinh nhục, phúc họa, bần phú, thọ yểu trong cuộc đời của một người.

Từ nghĩa rộng mà giảng, trong cuộc đời của con người là có những điều mà họ có làm gì cũng không thể thay đổi được. Đây là điều mà người ta thường gọi là số phận. Trong Phật gia gọi điều này là “A lại da thức”, nó là thứ đi theo vòng luân hồi của con người.

2.Vận

Vận cũng được gọi là vận thế, là điều có thể thay đổi được. Nếu ví “mệnh” là một chiếc xe xuất phát từ điểm bắt đầu chạy đến điểm cuối cùng của cuộc đời, thì xe của một người là loại gì, con đường như thế nào, đó được gọi là “mệnh”. Còn cụ thể, một người lái xe như thế nào để đi hết cuộc đời thì đó lại được gọi là “vận”. Chính bởi vì “mệnh” là cố định không thay đổi, nhưng “vận” lại nằm trong tay của mỗi người.

Cho nên, chúng ta thường ngày vẫn nghe nói rằng “bói mệnh, đoán mệnh”, mà không có “đoán vận,” hay “đoán vận mệnh” là vậy.

3.Phong thủy

Phong thủy không chỉ bao gồm môi trường tự nhiên mà chúng ta sống mà còn bao gồm cả môi trường xã hội. Nếu ví con người như một cái cây thì phong thủy chính là môi trường mà cái cây này sinh sống, bao gồm thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng nước, các sinh vật khác ở xung quanh…

Môi trường bên ngoài này tất nhiên là rất quan trọng, nhưng gen di truyền và nỗ lực sinh trưởng của cái cây ấy cũng rất quan trọng. Cho nên có thể thấy, phong thủy chỉ là nhân tố bên ngoài, không phải nhân tố bên trong, không hoàn toàn quyết định con người. Tất nhiên nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong là có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

4.Tích công đức

Tích đức chính là làm việc tốt. Cổ nhân thường giảng: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Bất luận là văn hóa Nho gia, hay là văn hóa Phật gia, Đạo gia thì đều đề xướng việc giúp người tích đức hành thiện, từ đó mà thay đổi vận mệnh

5.Đọc sách thánh hiền

Đọc sách là một quá trình học tập suốt đời. Thông qua đọc sách, chúng ta có thể thu hoạch được tri thức, kết giao bạn bè, mở rộng tầm nhìn và còn có thể nâng cao bản thân.

Đọc sách giúp con người có thêm cái nhìn đúng đắn về thế giới quan, giá trị quan và nhân sinh quan. Nhờ đọc sách chúng ta có thể thông hiểu lời răn dạy của các bậc hiền triết thời xưa. Nhờ đọc sách, chúng ta có thể rút ra những bài học từ vô số các câu chuyện kim cổ, mở mang kiến thức, hấp thụ tinh hoa, hình thành những quan niệm đúng đắn cho bản thân.

6.Tên

Cổ nhân có câu: “Cho con nghìn vàng không bằng cho con một cái tên”. Từ nghĩa bề mặt cũng có thể thấy cổ nhân rất coi trọng việc đặt tên cho con cái. Một cái tên tốt, ý nghĩa sẽ có tác dụng khích lệ đối với cuộc đời mỗi người, thậm chí còn có tác dụng dẫn dắt, chỉ dẫn.

Người xưa đặc biệt là các gia đình danh gia vọng tộc hoặc dòng dõi Nho sinh đều rất coi trọng việc đặt tên cho con cái sao cho có ý nghĩa.

7.Tướng

Tướng chính là chỉ tướng mạo, bao gồm tướng mặt và tướng tay.
Tu đức tại tâm, cho nên điều cát hung là có thể thay đổi. Tâm khởi thiện niệm, các loại phúc báo sẽ lập tức đến.

8.Kính Thần

Kính Thần nghĩa là luôn có tâm kính sợ Thần linh thánh hiền. Mệnh trời tức là quy luật vận hành của Đạo Trời, cần phải kính trọng Đạo Trời. Sợ đại nhân tức là người tu dưỡng đạo đức rất cao, cần phải kính sợ họ, kính sợ bậc bề trên, bậc tôn giả. Sợ lời của thánh nhân, đối với những lời nói của bậc thánh hiền phải có lòng kính sợ. Người nào làm được ba điều sợ này, thì con đường đời sẽ rất vững vàng và ổn định.

9.Kết giao với quý nhân

Kết giao quý nhân tức là chọn người thiện mà kết giao. Người xưa có câu: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.” Nếu xung quanh một người đều là những người đạo đức cao thượng, thì đạo đức của người ấy cũng sẽ trở nên cao thượng. Trái lại, nếu một người luôn kết giao với những người có đạo đức thấp kém, thì dần dà phẩm hạnh đạo đức của người này cũng sẽ xấu đi.

10. Dưỡng sinh

Dưỡng sinh là giữ thân tâm đều khỏe mạnh. Thời xưa, dưỡng sinh không chỉ đơn giản là sự vận động thân thể giống như ngày nay người ta thường nói. Dưỡng sinh là bao gồm cả dưỡng tâm và dưỡng thân.

11.Trạch nghiệp

Trạch nghiệp tức là chọn nghề nghiệp công việc.

12.Trạch ngẫu

Trạch ngẫu là việc chọn bạn đời, kết hôn lập gia đình.

13.Xu cát tị hung

Trong cuộc đời, người ta cần phải luôn phân tích tình huống, xem xét thời thế, minh bạch lành dữ và họa phúc. Khi hoàn cảnh tốt lành thì cần thừa thế mà tiến lên. Trái lại, khi hoàn cảnh hung hiểm, thì cần chú ý cẩn thận.

Làm thế nào để điều chỉnh vận mệnh?  

Phương vị mà con người sống và làm việc thì có thể điều chỉnh được ở mức độ nhất định

Chẳng hạn chúng ta có thể chọn sống ở địa phương này, hay địa phương khác, ngôi nhà này hay ngôi nhà khác, phòng ngủ này hay phòng ngủ khác, phòng làm việc này hay phòng làm việc khác, chổ ngồi này hay chổ ngồi khác, tất cả những phạm trù của phương vị thuộc về “Nhân Định”

Ngành nghề, nghề nghiệp của con người cũng không nằm ngoài phạm trù ngũ hành.

Ngành nghề khác nhau thì sức mạnh của khí ngũ hành chứa đựng trong đó cũng khác nhau. Thí dụ ngành giáo dục có Hỏa khí mạnh, ngành tài chính có Kim khí mạnh, ngành y tế có Thủy khí mạnh, ngành xây dựng có Thổ khí mạnh, ngành trồng rừng có Mộc khí mạnh, và nếu trong vận mệnh chúng ta cần ngũ hành nào, thiếu ngũ hành nào thì nên chọn những ngành nghề phù hợp để cân bằng ngũ hành trong vận mệnh của bản thân.

Lối sống và hoạt động hằng ngày của con người cũng nằm trong phạm trù ngũ hành.

Mỗi hoạt động cũng tượng trưng cho một khí ngũ hành vượng nhất, nếu chúng ta biết rõ mình cần ngũ hành nào, thiếu ngũ hành nào thì việc sinh hoạt hằng ngày nên thường xuyên thực hiện, ví dụ cũng là ăn uống như ăn hải sản, cá là thủy khí vượng, ăn lẩu chua cay, đồ chiên xào là hỏa khí vượng, đọc sách là mộc khí vượng

Bất kỳ vật thể nào con người tiếp xúc cũng đều có màu sắc, màu sắc khác nhau cũng có khí ngũ hành mạnh yếu khác nhau.

Màu lục khí Mộc mạnh, màu đỏ khí Hỏa mạnh, màu vàng khí Thổ mạnh, màu trắng khí Kim mạnh, màu đen khí Thủy mạnh. Căn cứ nhu cầu của mỗi người về ngũ hành của vận mệnh, có thể lựa chọn hoặc tạo màu sắc phù hợp với mình về trang phục, trang trí nhà cửa, môi trường làm việc, một cách có ý thức

Lựa chọn người bạn đời, bạn bè, đối tác có khí ngũ hành mà chúng ta cần và họ cũng cần

Chẳng hạn chúng ta cần Thủy thì những người có thể giúp và hỗ trợ chúng ta nhiều nhất là những người vượng Thủy, vì bản thân mọi người điều có khí ngũ hành vượng nhất vì thế đây là phương pháp chọn lựa rất hữu ích để thay đổi cải vận mệnh của chúng ta.

Họ tên của con người cũng là một loại ký hiệu ngũ hành.

Dựa vào nhu cầu ngũ hành của bản thân, chọn lấy một cái tên phù hợp cũng sẽ có tác dụng tốt đối với vận mệnh. Phương pháp này có một tác dụng nhất định vì họ tên sẽ theo con người suốt cuộc đời, chẳng hạn, nếu đứa trẻ sinh ra với giờ ngày tháng năm đã định thì thầy mệnh lý xem xét hỷ dụng thần của đứa trẻ này là gì, thì họ sẽ chọn một cái tên đúng với hỷ dụng thần của đứa trẻ, ví dụ đứa trẻ cần Hỏa, thầy có thể chọn tên Tâm hoặc Tuệ (Hỏa)

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5671/feed 0
PHONG THỦY VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC. https://thuonghylenien.org/luu-tru/5617 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5617#respond Thu, 28 Dec 2023 03:13:10 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5617 Phong-thuy-viet-nam-duoi-goc-do-khoa-hoc

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5617/feed 0
Ngũ hành của 9 con số trong bản đồ Lạc thư đại biểu cho 9 Sao https://thuonghylenien.org/luu-tru/5498 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5498#respond Sat, 23 Dec 2023 20:39:28 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5498 Số của bản đồ Lạc thư đại biểu cho 9 sao có tính chất và tên khác nhau mà ta vẫn thường dùng trong lựa chọn phương hướng của yếu tố phong thủy.

Số của bản đồ Lạc thư đại biểu cho 9 sao có tính chất và tên khác nhau mà ta vẫn thường dùng trong lựa chọn phương hướng của yếu tố phong thủy.

Trong bảng Hà đồ có 10 con số, trong bản Lạc thư chỉ có 9 con số, như vậy không gian của Hà đồ là vũ trụ còn không gian của Lạc thư là mặt đất. Khi đưa 9 con số trên bản đồ Lạc thư vào bản đồ Hậu thiên Bát Quái (dùng xác định phương hướng trong kiến trúc) thì khi đó Lạc thư (Hậu Thiên) được gọi tên 9 con số tương ứng với 9 ngôi sao theo tám phương và một phương ở trung tâm (Cửa Tinh) như sau:

  • Số 1 : Phương Bắc là sao Văn Xương, thuộc Thủy khí, mang hành Thủy, gọi là “Nhất Bạch thủy tinh”
  • Số 2 : Phương Tây Nam, là sao Cự Môn, thuộc Thổ khí, mang hành Thổ, gọi là “Nhị Hắc thổ tinh”
  • Số 3 : Phương Chính Đông, là sao Lộc Tồn, thuộc Mộc khí, mang hành Mộc gọi là “Tam Bích Mộc tinh”
  • Số 4 : Phương Đông Nam, là sao Văn Khúc, thuộc Mộc khí, mang hành Mộc gọi là “Tứ lục Mộc tinh”
  • Số 5 : Trung lâm là sao Liêm Trinh, thuộc Thổ khí, mang hành Thổ gọi là “Ngũ hoàng Thổ tinh”
  • Số 6 : Phương Tây Bắc, là sao Vũ Khúc thuộc Kim Khí, mang hành Kim gọi là “Lục Bạch Kim tinh”
  • Số 7 : Phương Tây, là sao Phá Quân, thuộc Kim Khí, mang hành Kim gọi là “Thất Xích Kim tinh”
  • Số 8 : Phương Đông Bắc, là sao Tả Phù, thuộc Thổ Khí, mang hành Thổ gọi là “Bát Bạch Thổ tinh”
  • Số 9 : Phương Nam, là sao Cửu Bật, thuộc Hỏa Khí, mang hành Hỏa gọi là “Cửu tử Hỏa tinh”

Thể hiện qua sơ đồ

Cửu tinh với phương hướng

Cửu tinh phối hợp với Bát Quái

Các số gọi theo Cửu Tinh phối hợp với Hậu thiên Bát quái được thể hiện trên một bản đồ gọi là Địa bàn Cửu tinh. Số trong Địa bàn là các số của bản đồ lạc thư đại biểu cho 9 sao có tính chất và tên khác nhau mà ta vẫn thường dùng trong lựa chọn phương hướng của yếu tố phong thủy.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5498/feed 0
Đạo và Thuyết âm dương https://thuonghylenien.org/luu-tru/5345 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5345#respond Wed, 20 Dec 2023 21:45:13 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5345 Đạo và Thuyết âm dương

 

Đạo là nguyên lý và tiến trình kết hợp con người và vũ trụ. Đạo được dịch là “con đường” hay “lối đi”. Về nguyên lý, Đạo phát sinh từ sự quân bình, sự hài hoà, hợp nhất của các động lực đối nghịch và bổ sung cho nhau. Qua sự hiểu biết về Đạo, các nhà phong thủy đi tìm sự quân bình để đạt tới hài hoà trong môi trường sống.

 

Lý thuyết về âm dương là một tên gọi của Đạo. Hai lực này đối nghịch nhau và cùng nhau tạo nên mọi hình thái của đời sống. Âm thì mờ tối , Dương thì sáng sủa, Âm thụ động, Dương tích cực. Quan niệm Âm- Dương xem con người và môi trường làm một. Đó là nhà ở, chỗ làm việc, núi đồi, sông suối, quả đất và không gian. Nếu bạn hiểu được những gì phong thuỷ trình bày, thì bạn có thể gìn giữ được sự quân bình bên trong, để được may mắn và cải thiện số mệnh của mình.

 

Môn Phong thuỷ có nhiệm vụ tìm kiếm để tạo ra một nơi cho việc sinh sống được quân bình, hài hoà, người ngụ cư được sức khoẻ dồi dào. Ý nghĩa của sự cân bằng không thuần ở sự đối xứng bên ngoài. Nó sắp xếp nhà cửa và con người với các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo để có được sự hài hoà và yên lành trong môi trường chung quanh.
Khí, nguồn năng lượng trong phong thủy

 

Khí được dịch là hơi thở hay năng lượng là ý niệm quan trọng nhất trong thuật phong thuỷ. Khí là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến đời sống loài người. Khí là năng lượng hay lực tạo nên núi, điều hướng sông suối, màu sắc, hình dạng cây cỏ. Năng lượng này người ta gọi là “long điểm”. Trong thuật Phong thuỷ, các chuyên gia thăm dò mạch tốt hay “dưỡng” khí và rồi khơi hướng, thanh lọc khí để bồi dưỡng sự sống và người ngụ cư.

 

Từ xa xưa, người Hoa cho rằng khí ảnh hưởng đến vận mạng và các liên hệ xã hội của một người. Dù sao cũng có giới hạn của nó. Tuy nhiên, dưỡng khí làm vận may khá hơn; khác với người có sẵn dịp may mà không luyện khí. Làm thế nào để cân bằng khí vận hành trong môi trường giúp tăng và hài hoà với năng lượng chúng ta. Khí của người và cả ngôi nhà giống nhau, cả hai phải vận chuyển điều hoà. Khí của một ngôi nhà ảnh hưởng đến bầu không khí và người ở nơi ấy. Có một vài nơi chúng ta cảm thấy thích thú dễ chịu, có nơi ta cảm thấy bứt rứt khó chịu: Có chỗ thì sinh động sáng sủa, có chỗ lại lạnh lẽo, âm u, nặng nề.

 

Điều hoà và tăng vận khí là mục đích căn bản của phong thủy. Vượng khí vào nhà làm vượng khí cho người ngụ cư. Ý niệm về khí là điều cốt tủy trong việc đánh giá nhà cửa, văn phòng, đất đai cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài.

 

Ngũ hành trong phong thủy

Cùng với Âm- Dương, ngũ hành là một phương thức bổ sung để phân tích và hòa điệu khí của người và ngôi nhà. Khí chia thành 5 nguyên tố sau: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Những hành này là tính chất tinh tuý của mọi sự, mọi vật. Các hành này cùng kết hợp với các màu sắc, mùa màng, phương hướng, tinh tú, các phủ tạng trong người v.v…Phong thủy dùng chu kỳ của các màu sắc để điều chỉnh khí.

Trong chu kỳ sáng tạo (tương sinh), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Trong chu kỳ hủy diệt (tương khắc), Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Giải pháp khắc phục nhược điểm của nhà và đất

Có hai cách giải quyết các khó khăn trở ngại là: nhập thế và xuất thế.Cánh nhập thế là giải pháp hợp lý theo kinh nghiệm và hiểu biết của chúng ta. Nhưng quan trọng không kém là cách chữa xuất thế, không hiểu được bằng lý luận thông thường và rất bí mật. Cách chữa nhập thế trên các bình diện của nó song hành với các tư tưởng hiện đại của vật lý, y khoa và trang tríCách chữa xuất thế thì cách xa tầm hiểu biết, khám phá nó như nằm trong tiềm thức của chúng ta vậy.

Kết quả mỹ mãn cách chữa xuất thế của môn Phong thủy là làm tăng luồng vận khí. Đặc tính phổ biến của thuật xuất thế được thực hành qua 3 kỹ thuật căn bản sau đây:

    1. Phương pháp tiếp khí: bằng cách tháp khí từ một nơi hay từ dưới lòng đất cách xa đó.

    2. Phương pháp bình khí: để làm môi trường xung quanh hoà nhập vào nhau. Nếu căn nhà có hình thù kỳ dị thì hãy tạo ra phong cảnh hay kiến trúc phụ thuộc để tạo quân bình.

    3. Phương pháp nổi bật: để gia tăng và bổ sung khí vận – bằng cách trang bị thêm một bóng đèn sáng, vòi phun nước, bể nuôi cá làm sinh động không khí yếu và tù hãm cũng như làm khí vận chuyển khắp nhà. Mặt khác, ta dùng vật có thanh nhạc như quạt gió, khánh hay chuông.

 

Theo TuviGlobal.com

 

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5345/feed 0
Sơ Lược Phong Thủy https://thuonghylenien.org/luu-tru/5342 https://thuonghylenien.org/luu-tru/5342#respond Wed, 20 Dec 2023 21:44:09 +0000 https://thuonghylenien.org/?p=5342 Sơ Lược Phong Thủy

Con người – tuy cũng như mọi loài động, thực vật khác – mang tính độc lập, có thể tự phát sinh, phát triển và tồn tại. Nhưng trong tiến trình đó luôn luôn bị môi trường chung quanh, hoặc những xếp đặt trong tự nhiên chi phối. Những sự chi phối này có thể là hữu hình hoặc vô hình, có lúc cảm nhận được, nhưng có lúc không thể cảm nhận được bằng giác quan trực tiếp. Nếu có những phương pháp hay dụng cụ để nhận biết được chúng, con người sẽ có thể chọn cho mình một môi trường sống thích hợp và tốt đẹp. Còn ngược lại thì có thể sẽ tự đưa mình vào một môi trường độc hại, nguy hiểm mà vẫn không hề hay biết. Một trong những phương pháp đó chính là bộ môn Phong Thủy.

Phong thủy là một môn khoa học tìm hiểu và khám phá những ảnh hưởng vô hình của môi trường chung quanh đối với con người. Vì những ảnh hưởng này là “vô hình”, nên từ xưa đến nay, Phong thủy đã từng bị bài bác như một thứ “mê tín dị đoan”. Nhưng đó thường chỉ là do những quan điểm nông cạn, hoặc kém hiểu biết. Trên thực tế, Phong thủy đã ra đời và được ứng dụng ở Việt Nam và Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay. Kết quả ứng dụng của nó đã làm thay đổi bộ mặt cuộc sống của con người trong mọi thời đại, từ việc xây dựng hoàng cung, thiết lập các khu dân cư, cho đến việc thiết kế và chỉnh trang các gia cư.

Nói một cách cụ thể, Phong thủy được dùng để nghiên cứu những ảnh hưởng của sự xếp đặt trong tự nhiên, như những dãy núi, những con sông, những ao hồ, xa lộ hoặc đường xá… để thiết kế hay chỉnh trang những khu vực sinh hoạt của con người như gia cư, chung cư, thương xá, công xưởng, đô thị, nhằm tạo được một hoàn cảnh sinh hoạt tốt đẹp trong môi trường đang sống.

Có hiểu được những ảnh hưởng của môi trường chung quanh, con người mới có thể tìm được những biện pháp đối phó thích hợp, thông qua việc thiết kế và xây dựng nhà cửa. Ví dụ như đường xá có xe cộ tấp nập, sẽ phát ra nhiều chấn động do tiếng ồn và sự di chuyển của xe cộ. Hoặc nơi có ao hồ sẽ gây cảm giác yên tĩnh và bầu không khí mát mẻ… Sự hiện diện của chúng sẽ tạo ra những ảnh hưởng tuy vô hình, nhưng có thể đem đến những hậu quả tốt hoặc xấu cho con người sống gần nó. Từ sự nhận biết những ảnh hưởng “tốt”, “xấu” này, nên khi làm nhà, người ta mới cần phải chọn hướng và cửa, sao cho chúng nhìn về những phương vị “tốt”, hầu đón nhận được “cát khí” (hay khí tốt) của môi trường. Còn những phương vị “xấu” thì xây tường bít kín, không trổ cửa ra vào hay cửa sổ, để cho “khí xấu” (hoặc hung khí) không thể vào nhà mà gây ra những hậu quả tai hại.

Cho nên, từ những hiểu biết về Phong thủy, người ta mới có thể thực hiện những thiết kế phù hợp cho một căn nhà, cũng như tìm ra khuyết điểm của chúng mà tu sửa hoặc “hóa giải”. Hai yếu tố trên tuy thật đơn giản, nhưng đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu rộng và kinh nghiệm chuyên môn về Phong thủy, mới có thể khảo sát, nghiên cứu, cũng như đưa ra những giải pháp thích hợp và tốt đẹp nhất.

Bình Nguyên Quân

 

 

 

Đạo và Thuyết âm dương

 

Đạo là nguyên lý và tiến trình kết hợp con người và vũ trụ. Đạo được dịch là “con đường” hay “lối đi”. Về nguyên lý, Đạo phát sinh từ sự quân bình, sự hài hoà, hợp nhất của các động lực đối nghịch và bổ sung cho nhau. Qua sự hiểu biết về Đạo, các nhà phong thủy đi tìm sự quân bình để đạt tới hài hoà trong môi trường sống.

 

Lý thuyết về âm dương là một tên gọi của Đạo. Hai lực này đối nghịch nhau và cùng nhau tạo nên mọi hình thái của đời sống. Âm thì mờ tối , Dương thì sáng sủa, Âm thụ động, Dương tích cực. Quan niệm Âm- Dương xem con người và môi trường làm một. Đó là nhà ở, chỗ làm việc, núi đồi, sông suối, quả đất và không gian. Nếu bạn hiểu được những gì phong thuỷ trình bày, thì bạn có thể gìn giữ được sự quân bình bên trong, để được may mắn và cải thiện số mệnh của mình.

 

Môn Phong thuỷ có nhiệm vụ tìm kiếm để tạo ra một nơi cho việc sinh sống được quân bình, hài hoà, người ngụ cư được sức khoẻ dồi dào. Ý nghĩa của sự cân bằng không thuần ở sự đối xứng bên ngoài. Nó sắp xếp nhà cửa và con người với các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo để có được sự hài hoà và yên lành trong môi trường chung quanh.
Khí, nguồn năng lượng trong phong thủy

 

Khí được dịch là hơi thở hay năng lượng là ý niệm quan trọng nhất trong thuật phong thuỷ. Khí là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến đời sống loài người. Khí là năng lượng hay lực tạo nên núi, điều hướng sông suối, màu sắc, hình dạng cây cỏ. Năng lượng này người ta gọi là “long điểm”. Trong thuật Phong thuỷ, các chuyên gia thăm dò mạch tốt hay “dưỡng” khí và rồi khơi hướng, thanh lọc khí để bồi dưỡng sự sống và người ngụ cư.

 

Từ xa xưa, người Hoa cho rằng khí ảnh hưởng đến vận mạng và các liên hệ xã hội của một người. Dù sao cũng có giới hạn của nó. Tuy nhiên, dưỡng khí làm vận may khá hơn; khác với người có sẵn dịp may mà không luyện khí. Làm thế nào để cân bằng khí vận hành trong môi trường giúp tăng và hài hoà với năng lượng chúng ta. Khí của người và cả ngôi nhà giống nhau, cả hai phải vận chuyển điều hoà. Khí của một ngôi nhà ảnh hưởng đến bầu không khí và người ở nơi ấy. Có một vài nơi chúng ta cảm thấy thích thú dễ chịu, có nơi ta cảm thấy bứt rứt khó chịu: Có chỗ thì sinh động sáng sủa, có chỗ lại lạnh lẽo, âm u, nặng nề.

 

Điều hoà và tăng vận khí là mục đích căn bản của phong thủy. Vượng khí vào nhà làm vượng khí cho người ngụ cư. Ý niệm về khí là điều cốt tủy trong việc đánh giá nhà cửa, văn phòng, đất đai cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài.

 

Ngũ hành trong phong thủy

Cùng với Âm- Dương, ngũ hành là một phương thức bổ sung để phân tích và hòa điệu khí của người và ngôi nhà. Khí chia thành 5 nguyên tố sau: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Những hành này là tính chất tinh tuý của mọi sự, mọi vật. Các hành này cùng kết hợp với các màu sắc, mùa màng, phương hướng, tinh tú, các phủ tạng trong người v.v…Phong thủy dùng chu kỳ của các màu sắc để điều chỉnh khí.

Trong chu kỳ sáng tạo (tương sinh), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Trong chu kỳ hủy diệt (tương khắc), Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Giải pháp khắc phục nhược điểm của nhà và đất

Có hai cách giải quyết các khó khăn trở ngại là: nhập thế và xuất thế.Cánh nhập thế là giải pháp hợp lý theo kinh nghiệm và hiểu biết của chúng ta. Nhưng quan trọng không kém là cách chữa xuất thế, không hiểu được bằng lý luận thông thường và rất bí mật. Cách chữa nhập thế trên các bình diện của nó song hành với các tư tưởng hiện đại của vật lý, y khoa và trang tríCách chữa xuất thế thì cách xa tầm hiểu biết, khám phá nó như nằm trong tiềm thức của chúng ta vậy.

Kết quả mỹ mãn cách chữa xuất thế của môn Phong thủy là làm tăng luồng vận khí. Đặc tính phổ biến của thuật xuất thế được thực hành qua 3 kỹ thuật căn bản sau đây:

    1. Phương pháp tiếp khí: bằng cách tháp khí từ một nơi hay từ dưới lòng đất cách xa đó.

    2. Phương pháp bình khí: để làm môi trường xung quanh hoà nhập vào nhau. Nếu căn nhà có hình thù kỳ dị thì hãy tạo ra phong cảnh hay kiến trúc phụ thuộc để tạo quân bình.

    3. Phương pháp nổi bật: để gia tăng và bổ sung khí vận – bằng cách trang bị thêm một bóng đèn sáng, vòi phun nước, bể nuôi cá làm sinh động không khí yếu và tù hãm cũng như làm khí vận chuyển khắp nhà. Mặt khác, ta dùng vật có thanh nhạc như quạt gió, khánh hay chuông.

]]>
https://thuonghylenien.org/luu-tru/5342/feed 0